1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

22 459 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiến Trình Cổ Phần Hoá Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Việt Nam
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 183,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn hiện nay, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá là một vấn đề tất yếu.

Trang 1

Danh mục chữ viết tắt

1. DNNN : Doanh nghịêp Nhà nước

2. CPHDNNN: Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn hiện nay, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá

là một vấn đề tất yếu.Việt Nam, trong 20 năm mở cửa nền kinh tế hướng tới thịtrường khu vực và thế giới, nước ta đã trải qua các giai đoạn hình thành và pháttriển nhằm tiếp cận và đuổi kịp với sự tiến bộ của nền kinh tế nhân loại Đổi mới

tư duy trên con đường hội nhập và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế

sẽ là một bước quan trọng trong tiến trình hội nhập toàn cầu CPHDNNN trongthời gian qua là một cách thức đổi mới tư duy, đổi mới cơ chế quản lý kinh tếđặc biệt là đối với các DNNN, điều này đã và đang góp phần làm tăng tính tựchủ của các DNNN, và giúp cho các DN này nâng cao hiệu quả hoạt động và thểhiện được rõ nét vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế nước ta Trong hơn

15 năm qua chúng ta đã tiến hành CPH được một số lượng lớn các DNNN vàthực tế đã chứng minh được một điều đã có rất nhiều DN trong số đó đã hoạtđộng một cách rất hiệu quả và khả năng sinh lời cao, mang lại cho nền kinh tếnhững sắc màu mới điều này càng khẳng định thêm chủ trương và phương thứcquản lý của Nhà nước về lĩnh vực CPH là rất đúng đắn Là một sinh viên kinh

tế, đặc biệt học chuyên ngành về quản lý kinh tế, em rất quan tâm đến nhữngvấn đề mang tính hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, cụ thể vấn đề ở đây làtiến trình CPHDNNN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, em đã chọn đề

tài “TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở

VIỆT NAM” qua đó em đã nghiên cứu và trình bày những hiểu biết của mình

về vấn đề mà mình quan tâm Đề tài được thể hiện bởi bố cục gồm 4 phần:

I Cơ sở lý luận về Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà Nước( CPHDNNN)

II Thực trạng tiến trình CPHDNNN ở Việt Nam.

IV Giải pháp và kiến nghị về quá trình CPHDNNN.

Trang 4

I Cơ sở lý luận về Cổ phần hoỏ Doanh nghiệp Nhà Nước

1 Tổng quan về CPHDNNN

a) CPHDNNN là gỡ?

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc là quá trình chuyển đổi doanh

nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần, trong đó Nhà nớc có thể vẫn giữ t cách

là một cổ đông, tức là nhà nớc có thể là chủ sở hữu một bộ phận tài sản củadoanh nghịêp

“Cổ phần húa doanh nghiệp nhà nước (CPHDNNN) là đột phỏ vào sở

hữu nhà nước của CNXH mụ hỡnh cũ, theo tư duy mới của Đảng ta về sở hữu

xó hội chủ nghĩa XHCN trong quỏ trỡnh tỡm tũi, thể nghiệm và cụ thể húa conđường đi lờn CNXH ở nước ta.”1

CPH nhằm huy động sự tham gia của cỏc tổ chức, cỏ nhõn trong vàngoài nước, trong và ngoài DN vào việc phỏt triển xõy dựng và SXKD đổimới và nõng cao năng lực hiệu quả của bộ mỏy quản lý DNNN, từng bướccải thiện đời sống và nõng cao vị trớ làm chủ thực sự của người lao độngtrong DN, gúp phần đẩy lựi hiện tượng tiờu cực trong lao động và trong quản

lý Việt Nam, một đất nước đang trờn con đường đổi mới, tất yếu phải cúnhiều sự thay đổi và đặc biệt là đổi mới sao cho phự hợp với quy luật LLSX

và QHSX CPHDNNN là một sự đổi mới về tư duy kinh tế Trong giai đoạnhiện nay, khi nền kinh tế đang trong tiến trỡnh hội nhập và phỏt triển thỡ việcđổi mới tư duy và cỏch thức quản lý doanh nghiệp Nhà nước là một điều vụcựng quan trọng và nú mang tớnh nhạy cảm, đặc biệt là Việt Nam một nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN Thực chất, nú là sự kết hợp chặt chẽgiữa LLSX và QHSX, QHSX phải phự hợp với sự phỏt triển của LLSX, tiếntrỡnh CPHDNNN sẽ gúp phần đẩy nhanh và hoàn thiện hơn chủ trương CPH

b) Vai trũ của CPHDNNN trong nền kinh tế quốc dõn

Trang 5

Như chỳng ta đó biết, DNNN là một bộ phận của thành phần kinh tếnhà nước hiện tại đang giữ vai trũ chủ đạo trong nền kinh tế so với cỏc thànhphần kinh tế khỏc, thỡ việc đổi mới DNNN là một bước tiến mới nhằm nõngcao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, gúp phần đảm bảo tốt nhiệm vụnũng cốt của DNNN trong nền kinh tế, phỏt huy vai trũ của mỡnh trong giaiđoạn CNH- HĐH đất nước.

“Như đó biết, kinh tế cổ phần là hỡnh thức kinh tế ra đời trong chế độ

tư bản từ thế kỷ XIX, nhằm động viờn những nguồn vốn lớn trong cỏc nhà

tư sản cú tài sản lớn, cả trong cỏc tầng lớp dõn cư; qua đú, hỡnh thành nờnnhững doanh nghiệp “đa chủ sở hữu”, dưới nhiều hỡnh thức và quy mụ khỏcnhau, để mở rộng sản xuất, kinh doanh”.2

Nh vậy, thực hiện chủ trơng cổ phần hoá những doanh nghiệp Nhà nớc

mà Nhà nớc không cần nắm giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực

và cơ chế quản lý năng động, thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả

2 Sự thay đổi về chất của cỏc DNCPH

Công ty cổ phần là dạng công ty mà chủ sở hữu vốn không phải là mộtchủ sở hữu duy nhất mà là sự sở hữu hỗn hợp do vốn của nhiều chủ sở hữu góplại, quá trình cổ phần hoá ở nớc ta không phải là quá trình t nhân hoá Vì t nhânhoá là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ Nhà nớc sang t nhân đồng thờichuyển các lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ độc quyền của Nhà nớc cho t nhân

đảm nhiệm theo các quy luật của kinh tế thị trờng (quy luật cung-cầu, quy luậtgiá cả, quy luật cạnh tranh) Với nớc ta cổ phần hoá là chuyển một phần sở hữutài sản và lĩnh vực sản xuất kinh doanh lâu nay do Nhà nớc nắm vào tay cácthành phần kinh tế, trong đó có các thành phần kinh tế t nhân và thành phầnquốc doanh

Cổ phần hoỏ là thừa nhận sở hữu tư nhõn về tư liệu sản xuất Tuynhiờn, ở Việt Nam cú một điều đặc biệt là cỏc doanh nghiệp được cổ phầnhoỏ vai trũ của nhà nước trong doanh nghiệp đú vẫn là chủ đạo Hiện nay, ở

2 http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/03/24/6747868/

Trang 6

Việt Nam các DNCPH vẫn có tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước ít nhất là 51%,điều này nhằm đảm bảo tính đúng đắn của đường lối xây dựng kinh tế Việt

Nam do Đảng và Nhà nước đặt ra là “ kinh tế thị trường định hướng XHCN , các DNCPH chuyển từ chỗ chịu sự quản lý của Nhà nước sang Nhà

nước quản lý thông qua các công cụ như chính sách, pháp luật,… nhằm dầnđưa vào tính tự chủ và tự quyết của các doanh nghiệp để linh hoạt các yếu tốbên trong của mỗi doanh nghiệp Sau khi cổ phần hoá, doanh nghiệp khôngchỉ chịu sự quản lý của Nhà nước, của các cổ đông mà còn là của cả thịtrường và của cả xã hội Thị trường chứng khoán là một thị trường linh hoạt

và có nhiều biến động, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế cónhiều sự thay đổi bất ngờ và không theo tính chu kỳ, bất kỳ và hầu hết cácdoanh nghiệp sau khi đã cổ phần hoá đều được niêm yết trên thị trườngchứng khoán OTC nhằm thiết lập một kênh thu hút vốn, huy động nguồn vốn

từ bên ngoài với mục đích kích thích sự phát triển của công ty phù hợp với

sự phát triển của nền kinh tế thị trường Các công ty sẽ bán trái phiếu và cổphiếu của mình trên thị trường chứng khoán và chính điều này buộc các công

ty phải minh bạch hoá các số liệu về tình hình kinh doanh và tài chính củacông ty cho các cổ đông và toàn thị trường biết để họ có thể cân nhắc và raquyết định có nên mua vào hoặc bán ra cổ phiếu hay traí phiếu của công ty

mà họ đang nắm giữ hay không Điều này có một ý nghĩa vô cùng quan trọngtrong tiến trình cổ phần hoá của các DNCPH, các doanh nghiệp sẽ không còn

sự kiểm soát 100% của Nhà nước như trước kia nữa mà sẽ rộng hơn là sựkiểm soát của cả thị trường, mà thị trường là yếu tố khách quan, các DNCPH

sẽ phải hoạt động sao cho phù hợp với quy luật của thị trường và toàn bộ nềnkinh tế

“Quy mô sản xuất của nền kinh tế VN hiện nay còn nhỏ bé, hiệu quảthấp do không tận dụng hết các nguồn lực.Việc cổ phần hoá sẽ làm cho thànhphần doanh nghiệp Nhà nước - lực lượng nắm giữ nguồn vốn và tài sản lớn,

Trang 7

nhưng hiện nay hiệu quả sản xuất và kinh doanh lại rất thấp - hoạt động cúhiệu quả hơn trước"3

Thực chất của CPHDNNN là đa dạng hoỏ và xó hội hoỏ quyền sở hữucỏc DNNN và sẽ khụng cú một cụng ty hay một tổ chức, cỏ nhõn nào đượcnắm giữ 50% cổ phiếu khi trở thành cụng ty cổ phần để cú thể biến nú thành

sở hữu tư nhõn Chớnh cơ sở đú tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi hỡnh thức và

cơ cấu tổ chức của cỏc DNCPH, cũng như cỏc hỡnh thức phõn phối hoạt độngtrong cụng ty, và cỏc CTCP sẽ cú điều lệ hoạt động và thể thức hoạt độngtheo Luật Cụng ty

Việc chuyển từ cổ phần hoá theo hớng cơ bản khép kín, nội bộ sang hìnhthức đấu giá công khai, bán cổ phiếu ra bên ngoài Đây đợc coi là sự chuyểnbiến có “chất nhất” thể hiện sự thay đổi căn bản quan điểm và chủ trơng cổ

phần hoá, góp phần tạo ra sức bật mạnh mẽ để đẩy nhanh, mạnh tiến trình cảicách hệ thống DNNN một cách công khai, minh bạch và tạo điều kiện cho cácthành phần kinh tế trong và ngoài nớc cùng tham gia

II Thực trạng tiến trỡnh CPHDNNN ở Việt Nam.

1 Giai đoạn chuẩn bị cho CPHDNNN.

“Để đẩy mạnh cải cỏch, nõng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, Nhà nước xõy dựng và hoàn thiện khung phỏp lý về đổi mớidoanh nghiệp Nhà nước, trong đú phõn định rừ chức năng quản lý của Nhànước và doanh nghiệp, nhất là cỏc quyền của chủ sở hữu nhà nước đối vớidoanh nghiệp; ban hành chế độ phõn phối cổ phần hợp lý; đổi mới phươngphỏp xỏc định giỏ trị doanh nghiệp, giỏm sỏt hoạt động kinh doanh và việcchấp hành quy định của Nhà nước tại doanh nghiệp”4

Chủ trương CPHDNNN ở Việt Nam cú từ những năm 1992, đõy là chủtrương của Nhà nước nhằm đổi mới DNNN, từ những năm 1992 đó thực hiệnCPH thớ điểm một số DNNN, “mục đớch của chương trỡnh này là tạo ra loại

3 http://vietbao.vn/Kinh-te/Co-phan-hoa-doanh-nghiep-Nha-nuoc-khong-nam-100-von/10842632/87/

4 http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20021105122135

Trang 8

hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có chủ sở hữu là người laođộng, để quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tạo cơ chế quản lý năngđộng cho doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp có thể huy động vốntrong toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh, thúcđẩy sự phát triển doanh nghiệp”.5 Tuy nhiên, trong thời gian đầu từ 1992 đến

1997 khi vấn đề CPHDNNN vẫn đang ở trong giai đoạn đầu tiến hành CPHnên số lượng doanh nghiệp được cổ phần hoá chỉ có khoảng 38 doanh nghiệpđược CPH, số lượng doanh nghiệp được CPH vẫn còn chiếm một con sốkhiêm tốn trong hệ thống các DNNN Thời gian đầu khi các hệ thống vănbản pháp luật quy định về vấn đề này còn chưa được hướng dẫn cụ thể thìCPH chỉ là một điều mới mẻ với cách thức đổi mới DNNN và chưa được cácdoanh nghiệp lưu ý

Thực sự, tiến trình CPH doanh nghiệp có những bước chuyển hoá rõnét là kể từ khi Nhà nước có văn bản quy định Nghị định về việc chuyểncông ty Nhà nước thành công ty cổ phần vào tháng 6/1998 Trong văn bảnNghị định này có nêu rõ các chính sách ưu đãi đối với người lao động vàcông nhân viên chức trong DNCPH nó đã trở thành đòn bẩy đưa lộ trìnhCPHDNNN tiến xa và nhanh hơn so với lúc đầu

2 Quá trình thực hiện CPHDNNN và những kết quả đạt được.

a) Qúa trình thực hiện CPHDNNN

Kể từ thời điểm bắt đầu CPH vào tháng 6/1992 đến ngày 31/12/2005

cả nước có tất cả 2.935 DNNN đã được CPH, trong đó các ngành thuộc côngnghiệp, giao thông, xây dựng chiếm 66%, ngành thương mại, dịch vụ chiếm27,6%; ngành nông lâm ngư nghiệp chiếm 6,4% Nếu phân theo chủ sở hữuthì số doanh nghiệp thuộc sự quản lý của các tỉnh, thành phố trực thuộcTrung Ương chiếm 61,7%; thuộc các bộ ngành chiếm 29%; thuộc các tổngCông ty 91 chiếm 9,3% Phân theo quy mô vốn thì các doanh nghiệp có vốn

5 http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20021105122135

Trang 9

nhà nước dưới 5 tỷ đồng chiếm 54%, từ 5-10 tỷ đồng chiếm 23%, trên 10 tỷđồng chiếm 23% Phần lớn các doanh nghiệp được CPH thuộc các bộ: BộCông nghiệp, Nông nghiệp và phát triển nông thôn,Bộ Xây dựng, Bộ Giaothông vận tải Các tỉnh thành thực hiện CPH nhanh và hiệu quả là: Thành phố

Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hóa,Nghệ An và một số các Tổng Công ty thực hiện CPH hiệu quả như: tổngcông ty Bưu Chính Viễn Thông, Hoá chất, Các đơn vị trong quá trình thựchiện CPH vẫn còn chậm và còn nhiều thiếu sót như: Tổng Công Ty BưuChính Viễn Thông, Dầu khí, Xi Măng, Công nghiệp tàu thuỷ và các tỉnh nhưKiên Giang, Vũng Tàu là những tỉnh thực hiện CPH chưa được kịp với tiến

độ thực hiện và còn tồn tại nhiều vướng mắc

Ban chỉ đạo thực hiện CPHDNNN, đã từng cho biết rằng kế hoạch củaNhà nước là đến năm 2005 cả nước sẽ rút xuống còn 2000 DNNN ít hơn sovới con số hiện nay là 5600 DNNN Nhà nước vẫn khuyến khích thành lậpthêm các DNNN nếu thấy cần thiết, tuy nhiên cần phải dựa trên những quyhoạch mang tính kế hoạch và định hướng chiến lược phát triển KT- XH củatừng ngành, từng địa phương và cao hơn nữa là của quốc gia sao cho phù hợpvới sự đi lên của nền kinh tế trong thời kỳ có nhiều thách thức và cơ hội mớicho các DNNN nhưng vẫn dựa trên nguyên tắc là thành lập những DNNN có100% vốn Nhà nước và chỉ là những DNNN mà lĩnh vực Nhà nước độcquyền hoặc các thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không có khảnăng tham gia

Xét về lâu dài, thì Nhà nước vẫn mong muốn hình thành nên những tậpđoàn kinh tế lớn mà nguồn gốc là các DNNN như về lĩnh vực tài chính, điệnlực, bưu chính viễn thông , dầu khí,… để nắm giữ vai trò đầu tàu trong nềnkinh tế, có đủ tiềm lực và sức mạnh nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, có đủkhả năng cạnh tranh với các tập đoàn kinh tế hàng đầu khác trên thế giới.Trước mắt, hiện nay chúng ta mới tiến hành thí điểm hình thành những tậpđoàn kinh tế ở các ngành: Dầu khí, Viễn Thông, Điện Lực, Xây dựng Những

Trang 10

tập đoàn này sẽ kinh doanh đa lĩnh vực và đa ngành, có sự tham gia của cáccông ty tài chính, nhằm đa dạng hoá hình thức kinh doanh và nâng cao vị thếcủa các tập đoàn này, thúc đẩy các tập đoàn này lớn mạnh đóng góp vàoGDP của quốc gia, chi phối nền kinh tế quốc dân.

b) Kết quả đạt được của quá trình CPHDNNN

Công tác sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được đẩymạnh hơn sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể sắp xếp,đổi mới doanh nghiệp nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương, Tổng công

ty 91 theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 9(khóa IX) Giai đoạn này (2001-2005), cả nước sắp xếp được 3.590 doanhnghiệp nhà nước, trong đó đã cổ phần hóa 2.347 doanh nghiệp nhà nước,bằng gần 80% toàn bộ doanh nghiệp đã cổ phần hóa; hoàn thành kế hoạch cổphần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo đề án tổng thể sắp xếp, đổi mớidoanh nghiệp nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (2.347doanh nghiệp /2.258 doanh nghiệp) “Một số số liệu cụ thể về số lượngdoanh nghiệp nhà nước và số công ty cổ phần có vốn nhà nước cũng

như các chỉ tiêu vốn, lao đông, tài sản và doanh thu của từng loại doanhnghiệp từ năm 2000 đến 2005 như sau:6

6http://www.vnba.org.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=233&Itemid=65

Trang 11

Một số chỉ tiêu về doanh nghiệp NN và công ty cổ phần có vốn NN(2001-2005)

Trang 12

Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy rõ được tiến trình CPHDNNN tronggiai đoạn (2001-2005) đã đạt được những mục tiêu và kết quả đáng rõ nét CácDNNN được CPH đã tăng lên cả về số lượng và chất lượng, năng lực sản xuấtkinh doanh và hiệu quả hoạt động của các DN càng ngày càng được cải thiện,đồng thời bên cạnh đó các DN được CPH và các DN vẫn có 100% vốn Nhànước cùng hoạt động song song và đem lại hiệu quả hoạt động lớn, doanh thuhàng năm tăng đáng kể Số lượng doanh nghiệp được CPH ngày được tăng lên

và số DN chưa được CPH ngày cảm giảm đi, tỷ trọng các DN được CPH tănglên từ 5,3% cuối năm 2000 lên đến 26,8% đến thời điểm cuối năm 2005

Về số lao động trong các doanh nghiệp nhà nước tuy có giảm đi sau 5 năm,nhưng không nhiều, chỉ giảm 73.465 người và bình quân mỗi năm giảm 14.693người Tuy nhiên, về các chỉ tiêu vốn cho sản xuất kinh doanh, giá trị tài sản cốđịnh & đầu tư tài chính dài hạn, doanh thu thuần từ sản suất kinh doanh củadoanh nghiệp khu vực kinh tế 100% vốn nhà nước sau 5 năm đẩy mạnh cổ phầnhoá và sắp lại không những không giảm mà còn được tăng lên khá lớn:

- Vốn sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp nhà nước từ 781.705 tỷđồng có đến cuối năm 2001 đã lên 1.338.255 tỷ, tăng lên 556.550 tỷ, bìnhquân mỗi năm tăng 111.310 tỷ

- Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanhnghiệp nhà nước từ 263.153 tỷ đồng có đến cuối năm 2001 đã lên487.210 tỷ đến thời điểm cuối năm 2005, sau 5 năm đã tăng thêm224.057tỷ, bình quân mỗi năm tăng 44.811,4 tỷ

- Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp nhà nước từ460.029 tỷ đồng trong năm 2001 đã lên 838.396 tỷ trong năm 2005, sau 5năm tăng thêm 378.367 tỷ, bình quân mỗi năm tăng lên 75.673,4 tỷ

c) CPH 2005 - 2008 tiến trình bị chậm lại.

Giai đoạn 2005-2008 là giai đoạn mà thị trường chứng khoán có nhiềubiến động, do sự ngưng trệ của nó và sự giảm sút của nền kinh tế đã làmcho qúa trình CPH bị ảnh hưởng không nhỏ Một thực tế đã chỉ ra rằng, sự

Ngày đăng: 25/04/2013, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w