Phương hướng và giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư vào tỉnh Hà Tây
Trang 1Tuy nhiên trong thời gian tới liệu Hà Tây còn giữ được lợi thếcạnh tranh đó hay không, còn giữ được nhịp độ thu hút đầu tư vào tỉnh về cảquy mô và tốc độ tăng vốn đầu tư trong và ngoài nước vao tỉnh hay không?Liệu đầu tư vào Hà tây có bị bão hòa, các nhà đầu tư không còn để ý đếntỉnh Hà Tây nữa! xuất phát từ thực tế đó và nhận thức được tầm quan trọngcủa vốn đầu tư đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấukinh tế ở tỉnh Hà Tây Trong quá thực tập tại Trung tâm xúc tiến đầu tư – sở
Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tây Em đã lựa chọn đề tài “Phương hướng vàgiải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư vào tỉnh Hà Tây”
Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp đỡcủa thầy giáo và các Cô, Chú trong trung tâm nhưng do kinh nghiệm và trình
độ của bản thân nên bài đề án còn nhiều thiếu sót Em xin chân thành cảm
ơn các bác lãnh đạo và ban cán bộ trong Trung tâm xúc tiến đầu tư – sở Kếhoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tây đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bài báocáo này Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo – PGS.TS Lê Huy Đức đã tậntình chỉ bảo và hướng dẫn em hoàn thành báo cáo
Trang 2Chương I Vai trò của vốn đầu tư trong phát triển kinh tế ở tỉnh Hà Tây.
I Vốn đầu tư và phân loại vốn đầu tư.
1 Khái niệm vốn đầu tư.
Vốn đầu tư sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặcgia tăng mức vốn sản xuất Vốn đầu tư sản xuất được chia thành vốn đầu tư
cơ bản và vốn đầu tư vào tài sản lưu động Đến lượt mình, vốn đầu tư vào tàisản cố định lại được chia thành vốn đầu tư cơ bản và vốn đầu tư sửa chữalớn Vốn đầu tư cơ bản làm gia tăng thực tế tài sản cố định, đảm bảo bù đắp
số tài sản cố định bị hao mòn và tăng thêm phần xây lắp dở dang Còn vốnsửa chữa lớn không làm tăng khối lượng thực tế của tài sản, do đó nó không
có trong thành phần của vốn đầu tư cơ bản Nhưng vai trò kinh tế của vốnsửa chữa lớn tài sản cố định cũng như vai trò kinh tế của vốn đầu tư cơ bản
là nhằm đảm bảo thay thế tài sản bị hư hỏng
Như vậy hoạt động đầu tư cho sản xuất là việc sử dụng vốn đầu tư đểphục hồi năng lực sản xuất và tạo thêm năng lực sản xuất mới, nói một cáchkhác, đó là quá trình thực hiện tái sản xuất các loại hình tài sản sản xuất.Hoạt động đầu tư là hết sức cần thiết xuất phát từ 3 lý do
Thứ nhất là, do đặc điểm của việc sử dụng tài sản cố định tham gianhiều lần vào quá trình sản xuất, giá trị bị giảm dần và chuyển dần từngphần vào trong giá trị sản phẩm Trái lại đối với tài sản lưu động lại tham giamột lần vào quá trình sản xuất và chuyển toàn bộ giá trị vào trong giá trị sảnphẩm Vì vậy, phải tiến hành đầu tư đề bù đắp giá trị tài sản cố định bị hao
Trang 3Thứ hai là, nhu cầu quy mô sản xuất xã hội ngày càng mở rộng đòihỏi phải tiến hành đầu tư nhằm tăng thêm tài sản cố định mới và tăng thêm
dự trữ tài sản lưu động Tức là, thực hiện tái sản xuất mở rộng tài sản sảnxuất
Thứ ba là, trong thời đại của tiến bộ công nghệ diễn ra rất mạnh mẽ,nhiều máy móc, thiết bị… nhanh chóng bị rơi vào trạng thái lạc hậu côngnghệ Do đó phải tiến hành đầu tư mới, nhằm thay thế các tài sản sản xuất đã
bị hao mòn vô hình
Tái sản xuất tài sản cố định được xem là một hoạt động hết sức quantrọng, có tính chất lâu dài và có mối quan hệ ổn định, ảnh hưởng đến tất cảcác ngành, các khâu và các yếu tố trong nền kinh tế Tái sản xuất tài sản cốđịnh và năng lực sản xuất mới, bao gồm 3 giai đoạn của một quá trình đầu tưthông nhất: Giai đoạn một – hình thành các nguồn, khối lượng và cơ cầu vốnđầu tư cơ bản; Giai đoạn hai – giai đoạn chính “chín muồi” của vốn đầu tư
cơ bản và biến vốn đó thành việc đưa tài sản cố định và năng lực sản xuấtmới vào hoạt động; Giai đoạn ba – hoạt động của tài sản cố định và năng lựcsản xuất mới trong thời hạn phục vụ của chúng
Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới hai hình thức đầu tưtrực tiếp và đầu tư gián tiếp
Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trựctiếp vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục đích đầu tư
và phương hướng hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra Hoạt động đầu tưnày có thể được thực hiện dưới các dạng: hợp đồng, liên doanh, công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Đầu tư gián tiếp là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đemlại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội, nhưng người có
Trang 4thường được thực hiện dưới dạng: cổ phiếu, tín phiếu,… Hình thức đầu tưnày thường ít gặp rủi ro hơn so với đầu tư trực tiếp.
2 Phân loại vốn đầu tư.
2.1 Vốn đầu tư trong nước.
Vốn đầu tư trong nước là vốn được huy động tư các nguồn, các thànhphần trong nền kinh tế Nói cách khác, là số vốn được huy động trong giớihạn lãnh thổ của một quốc gia
2.1.1 Dầu tư của nhà nước.
Đầu tư của nhà nước là số vốn được lấy từ ngân sách nhà nước để đầu
tư Nguồn vốn này chủ yếu được đầu tư cho các hàng hóa công cộng như: anninh quốc phòng, giao thông vận tải và chi trả để duy trì hoạt động của bộmáy hành chính nhà nước
2.1.2 Đầu tư của người dân: là vốn do người dân bỏ ra để đầu tư nhằm
mang lại lợi ích kinh tế cho bản thân họ
- Đầu tư trực tiếp: người dân bỏ vốn ra và trực tiếp tiến hành hoạt độngquản lý sản xuất kinh doanh Họ chịu trách nhiệm về việc lỗ hay lãi của hoạtđộng đầu tư Người dân có thề đầu tư theo các hình thức như: một cá nhân
bỏ vốn ra hoặc góp vốn với một nhóm người khác để tiến hành sản xuất kinhdoanh
- Đầu tư gián tiếp: hiện nay tại Việt Nam thị hình thức đầu tư này chủyếu được thông qua mua bán cố phiếu trên thị trường cổ phiếu Hoặc ngườidân có thể mua trái phiếu hay cho vay vốn…
2.2 Vốn đầu tư nước ngoài: là nguồn vốn được huy động từ ngoài nước để
đầu tư vào trong nước
Trang 52.2.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Là nguồn vốn do các công ty hay các cá nhân ở nước ngoài đầu tư vào nềnkinh tế Việt Nam và họ trực tiếp quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh.Chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình
2.2.2 Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Là nguồn vốn do các công ty hay các cá nhân đưa vốn vào nền kinh tế ViệtNam nhưng họ không trực tiếp quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh họ sẽlấy lời từ việc chia cổ phần
2.2.3 Vốn kiều hối.
Là nguồn vốn do các kiều bào sống và làm việc ở nước ngoài mang ngoại tệ
và công nghệ về nuớc Họ có thể đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp
2.3 Nguốn vốn viện trợ của các quốc gia và của các tổ chức phi chính phủ.
2.3.1 Viện trợ không hoàn lại.
Là nguồn vốn do các quốc gia hay các tổ chức phi chính phủ viện trợ chocác quốc gia Nguồn vốn này sẽ được sử dụng nhưng sẽ với mục tiêu của cácnhà viện trợ Hay nói cách khác là họ sẽ hướng dẫn chúng ta đầu tư vào mộtkhu vực của nền kinh tế hay đầu tư để nhằm vào mục tiêu nào đó và chúng
ta sẽ làm theo điều đó Điều quan trọng ở đây là khu vực và mục tiêu đó cóphù hợp với chúng ta hay không, chúng ta có nên đầu tư hay không Chínhphủ sẽ phải thương lượng với các quốc gia và tổ chức viện trợ để tiếp nhậnhay không tiếp nhận
2.3.2 Viện trợ có hoàn lại.
Là số vốn viện trợ của các tổ chức hay các quốc gia Tuỳ vào các trườnghợp, số vốn này chúng ta chỉ phải hoàn lại một phần hay hoàn lại với những
ưu đãi về mặt lãi suất và thời gian Nguồn vốn này chúng ta có thể đầu tư
Trang 62.4 Nếu đứng trên góc độ tính chất của hoạt động đầu tư thì vốn đầu tư được chia ra làm hai loại bao gồm:
2.4.1 Vốn đầu tư khôi phục.
Là bộ phận vốn có tác dụng bù đắp các giá trị hao mòn của vốn sản xuất, đâychính là quỹ khấu hao (Dp)
2.4.2 Vốn đầu tư thuần thúy.
Chính là phần tích luỹ để tái sản xuất mở rộng quy mô
Từ cách phân loại trên, có thể định nghĩa tổng vốn đầu tư là tổng giátrị xây dựng và lắp đặt thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định(kể cảxây dụng và lắp đặt thay thế)
II Vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh tế xã hội nói chung và với Hà Tây nói riêng.
1 Vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh tế xã hội của nền kinh tế 1.1 Đánh giá dựa trên việc phân tích mô hình Harrod – Domar.
Trong hệ thống lý thuyết tăng trưởng kinh tế vào cuối những năm 30 đã xuấthiện một học thuyết kinh tế mới, đó là học thuyết kinh tế của J MaynardKeynes Khác với tư tưởng của các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển,Keynes cho rằng, nền kinh tế có thể đạt tới và duy trì sự cân bằng dưới mứcsản lượng tiềm năng Tuy nhiên, ông cũng nhận thấy một su hướng pháttriển của nền kinh tế đưa mức sản lượng thực tế càng về gần mức sản lượngtiềm năng càng tốt Để có được sự chuyển dịch này thì đầu tư đóng vai tròquyết định
Khi nghiên cứu mô hình kinh tế do hai nhà kinh tế học là Harrod ởAnh và Domar ở Mỹ đồng thời đưa ra được dựa trên tư tưởng của Keynes,
Trang 7Nều gọi đầu ra là Y và tốc độ tăng trưởng của đầu ra là g, có nghĩa làg=∆Y/Y
Nếu gọi S là mức tích lũy của nền kinh tế thì tỷ lệ tích lũy là s trongGDP sẽ là s=S/Y
Vì tiết kiệm là nguồn của đầu tư, nên về mặt lý thuyết đầu tư luônbằng tiết kiệm do đó cũng có thể viết: s = I/Y
Mục đích của đầu tư là để tạo ra vốn sản xuất, nên I =∆K Nếu gọi k là
tỷ số gia tăng giữa vốn và sản lượng thì ta sẽ có
K = ∆K/∆Y hoặc k = I/∆Y
Và vì ∆Y/Y = I ∆Y/(I.Y) = (I/Y)/(I/∆Y)
Do đó chúng ta có g = s/k
Hệ số ICOR nói lên rằng, vốn sản xuất được tạo ra bằng đầu tư dướidạng nhà máy, trang thiết bị là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, các khoản tiếtkiệm của dân cư và các công ty chính là nguồn gốc cơ bản của vốn đầu tư
Cần lưu ý rằng tỷ số gia tăng vốn – sản lượng chỉ đo năng lực sản xuấtcủa phần vốn – đầu ra phản ánh năng lực toàn bộ của vốn sản xuất
1.2 Tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế:
phân tích dựa trên mô hình AS – AD Đầu tư là một bộ phận lớn vàhay thay đổi trong chi tiêu vì vậy khi đầu tư thay đổi sẽ tác động đến chitiêu, công ăn việc làm… Khi đầu tư tăng làm cho đường tổng cầu tăng vàdịch chuyển sang phải làm cho sản lượng của nền kinh tế tăng, chi tiêu vànhu cầu việc làm cũng tăng theo
Đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, nghĩa là có them các nhà máy,thiết bị, phương tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất, làm tăng khả năngsản xuất của nền kinh tế sự thay đổi này tác động đến tổng cung Khi đườngtổng cung dịch chuyển sang phải đồng thời cũng làm cho sản lượng tăng lên
Trang 8Cần lưu ý rằng sự tác động của vốn đầu tư và vốn sản xuất đến tăng trưởng kinh tế không phải là quá trình riêng lẻ mà nó là sự kết hợp, đan xen lẫn nhau, tác động liên tục vào nền kinh tế.
Ngày này vốn đầu tư và vốn sản xuất được coi là yếu tố quan trọngcủa quá trình sản xuất Vốn sản xuất vừa là yếu tố đầu vào, vừa là sản phẩmđầu ra của quá trình sản xuất của các doanh nghiệp và nền kinh tế, mà còn làđiều kiện để nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, góp phần đáng kể vàoviệc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hóa quá trình sản xuất Việc tăng vốnđầu tư cũng góp phần vào giải quyết công ăn, việc làm cho nguời lao độngkhi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất Cuối cùng,
cơ cấu sử dụng vốn đầu tư là điều kiện quan trọng tác động vào việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế đất nước
2 Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Hà Tây.
Dựa trên những phân tích ở trên chúng ta có thể thấy được vai tròquan trọng của vốn đối với việc tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nềnkinh tế nói chung và ở Hà Tây nói riêng Thực tế cho thấy bắt đầu từ năm
1992 đến nay thì việc tăng trưởng kinh tế ở Hà Tây chủ yếu dựa vào vốn đầu
tư Đặc biệt trong những năm gần đây thì tốc độ tăng trưởng kinh tế đượcthấy rõ là chủ yếu dựa vào vốn đặc biệt là dựa vào vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài
Hà Tây là một trong những tỉnh có mật độ dân cư lớn trong nước, hơnnữa là một khu vực chiến lược để mở rộng thành phố Hà Nội cho nên nhucầu về vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng là rất lớn
Là một tỉnh có lợi thế về vị trí địa lý tuy nhiên các mặt hàng xuất khẩu
Trang 9Hà Tây được coi là vành đai xanh của thành phố Hà Nội Là nơi cungcấp lương thực thực phẩm cho thành phố Hà Nội Người dân sống chủ yếubằng nghề nông nghiệp Vì vậy, nhu cầu về vốn để đầu tư cho nông nghiệpcũng rất lớn.
Từ những lý do ở trên chúng ta có thể thấy vốn đầu tư có vai trò đặcbiệt quan trọng đối với việc tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Hà Tây Tỉnh
Hà Tây cần phải có cơ chế và chính sách cho phù hợp để thu hút vốn đầu tưvào tỉnh
III Sự cần thiết phải tăng cường vốn đầu tư cho phát triển kinh tế
ở tỉnh Hà Tây.
Dựa trên những phân tích về vai trò của vốn đầu tư và về đặc điểmtỉnh hình kinh tế xã hội cũng như về điều kiện tự nhiên của tỉnh Hà Tây chothấy cần vốn đầu tư vào tỉnh là rất quan trọng cho việc phát triển kinh tế xãhội của tỉnh
1 Đầu tư làm tăng công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong tỉnh.
Khi đầu tư được tăng lên nghĩa là vốn sản xuất tăng lên, các công ty
mở rộng sản xuất kinh doanh vì vậy nhu cầu vê việc làm cũng gia tăng, cầu
về lao động tăng lên làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế
2 Đầu tư làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển cân đối giữa các vùng.
Đầu tư gia tăng, lượng đầu ra của các hàng hóa tăng lên cùng với nhucầu đa dạng các hàng hóa, dịch vụ Cùng với nó là việc đầu tư vào các ngànhnghề mới, nhu cầu về lao đông có trình độ ngày càng gia tăng thúc đẩychuyển dịch cơ cấu ngành nghề từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp; từcông – nông nghiệp sang công nghiệp – dịch vụ
Đầu tư làm gia tăng tiến bộ khoa học công nghệ Tiến bộ khoa học kỹ
Trang 10tố quyết định thay đổi cơ cấu ngành nghề kinh tế Thực tế cho thấy sự tácđộng của tiến bộ kỹ thuật đến cơ cấu ngành được thể hiện ở chỗ: Tiến bộ kỹthuật thúc đẩy ngành mới ra đời Tiến bộ kỹ thuật làm nâng cao năng suấtlao động, tác động đến cơ cấu lao động và tiến bộ kỹ thuật, nâng cao sứccạnh tranh quốc tế của sản phẩm, thúc đẩy việc hợp lý cơ cấu ngành Trongtrường hợp hệ số kỹ thuật của các ngành không thay đổi, nếu thay đổi cơ cấutài sản cố định và tỷ lệ các yếu tố trung gian đầu vào thì năng lực sản xuấtcủa các ngành cũng thay đổi Vì trong trường hợp trình độ kỹ thuật khôngthay đổi, nếu tăng lực lượng sản xuất của tài sản cố định gia tăng và theo đógia tăng các sản phẩm trung gian thì ngành này cũng sẽ tăng sản phẩm đầu
ra Sự thay đổi cơ cấu tài sản cố định và yếu tố trung gian đầu vào chính làkết quả của sự thay đổi cơ cấu đầu tư Cơ cấu đầu tư là tỷ lệ phân phối vốnđầu tư vào các ngành khác nhau Do đó, có thể nói cơ cấu đầu tư là yếu tốquyết định đối với cơ cấu ngành kinh tế
3 Có vốn để phát huy lợi thế so sánh.
Hà Tây có lợi thế về nguồn nhân lực đồi dào, tuy nhiên lợi thế nàyvẫn chưa được phát huy mạnh mẽ vì thiếu vốn đầu tư, số lao động thấtnghiệp vẫn chiểm tỷ lệ lớn đặc biệt là lao động trẻ tuổi Cần có vốn đầu tưphát triển những ngành sử dụng nhiều lao động Lao động trẻ tuổi, họ có tốchất là năng động tuy nhiên về kiến thức và tay nghề lại hạn chế Vì vậy, cóvốn đề đầu tư cho giáo dục nhằm phát huy được lợi thế về con người
Trang 11Chương II Thực trạng hoạt động thu hút đầu tư của tỉnh
Hà Tây trong những năm gần đây.
I Khái quánt những đặc điểm cơ bản về tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Hà Tây.
1 Khái quát về tự nhiên, kinh tế, xã hội:
1.1 Vị trí địa lý:
Hà Tây là một tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ, có tọa độ địa lý : 20,310 – 21,170 vĩ độ Bắc, 105,170 –
1060 kinh độ Đông, là vùng đất nối liền giữa vùng Tây bắc và vùng trung duBắc bộ với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, có địa hình đa dạng: miềnnúi, trung du và đồng bằng rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp, côngnghiệp, du lịch và dịch vụ
Với diện tích2192,02 km2, Phía Đông Bắc tiếp giáp với Thủ đô HàNội – Trung tâm chính trị, kinh tế và thương mại của đất nước, phía ĐôngNam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp tỉnhHòa Bình, phía Bắc giáp hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ
Trang 12Vùng đồi thấp chiếm khoảng 24,8% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu có
độ cao từ 30m đến 300m Địa hình vùng đồi thấp dốc thoải với độ dốc trungbình từ 8% đến 20% Đây là vùng đất nâu vàng, đỏ
Vùng đồng bằng nằm ở phía đông tỉnh chiếm 67,3% diện tích đất tựnhiên Chia thành hai dạng: vùng có độ cao từ 10 m đến 30m, ở khu vực Ba
Vì với độ dốc < 10%, vùng đất xây dựng tốt, vùng đồng bằng thấp trũng,vùng này có địa hình tương đối bằng phẳng, song lại có khu vực quá trũng,
đó là: khu vực Mỹ Đức (trong đê hữu ngạn sông Đáy) và khu vực Ứng Hòa Thường Tín (trong đê tả ngạn sông Đáy) Ngoài ra còn có khu vực PhúXuyên cũng rất thấp
-1.3 Khí hậu:
Tỉnh Hà Tây nằm trong vùng khí hậu đồng bằng Bắc bộ mang đặc thùcủa miền khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm mưanhiều
Mùa đông lạnh rõ rệt so với mùa hạ, chênh lệch giữa hai mùa trungbình tháng lạnh nhất và tháng nóng nhất lên tới 120C Song nhiệt độ trungbình tháng lạnh nhất chỉ xuống đến 16-170C, rất thuật lợi cho phát triển cây
vụ đông giá trị kinh tế cao
1.4 Thủy văn:
Tỉnh Hà Tây có các sông lớn chảy qua là: sông Đà, sông Hồng, sôngĐáy, sông Tích, sông Bùi và sông Nhuệ Ngoài hệ thống sông, suối chínhcòn có các kênh tiêu, mương máng, sông suối nhỏ chằng chịt khắp vùng.Đặc biệt là hệ thống hồ, đập nhân tạo khá phong phú
Hệ thống ao hồ của tỉnh tuy không lớn nhưng đóng vai trò quan trọng
Trang 131.5 Đặc điểm kinh tế, chính trị của Hà Tây:
Hà Tây có 14 đơn vị hành chính gồm : 2 thành phố (TP) Hà Đông vàSơn Tây 12 huyện: Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Quốc Oai,Hoài Đức, Thường Tín, Phú Xuyên, Thanh Oai, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Chương
Mỹ Tỉnh lỵ đặt tại TP.Hà Đông Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Đồngbằng Bắc Bộ - gồm các tỉnh thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây ở vị trí bao quanh thủ
đô Hà Nội về hướng Tây, Tây nam và Phía Nam Đây có thể được xem làmột thế mạnh riêng biệt của Hà Tây mà không một địa phương nào có thể
có Chính điều này đã tạo nên một nét hấp dẫn riêng thu hút các nhà đầu tưkhi đến với Hà Tây
Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2007 : 13,5% , định hướngphát triển cho giai đoạn 2007 – 2010 là 13,5%, giai đoạn 2010 – 2015 là13%, định hướng cho năm 2020 là 12% Với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ giảm dần tỷtrọng ngành nông nghiệp
2 Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội:
Tài nguyên đất:
Nhìn chung, đất Hà Tây có độ phì cao, với nhiều loại địa hình nên cóthể bố trí được nhiều loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, câythực phẩm, cây công nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, cây ăn quả, trồng rừng.Vùng đồng bằng thuận lợi cho phát triển cây lương thực, rau đậu, cây côngnghiệp ngắn ngày, chăn nuôi lợn, vịt, thuỷ đặc sản
Vùng đồi gò thuận lợi cho trồng cây công nghiệp dài ngày (cà phê,trẩu, sở, thông) cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc Do có vùng đồi gò nên
Trang 14Hà Tây có điều kiện dành cho xây dựng, nhất là xây dựng các khu côngnghiệp tập trung và các cơ sở hạ tầng khác.
Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất:
Gồm những loại khoáng sản chủ yếu như đá vôi (vùng Mĩ Đức,
Chương Mĩ), đá granít ốp lát (vùng Chương Mĩ), sét (Chương Mĩ, Sơn Tây,Thạch Thất, Quốc Oai), Cao Lanh (Ba Vì, Quốc Oai), Đồng, pirít (Ba Vì),nước khoáng (Ba Vì)
Trước mắt có thể lựa chọn khai thác một số tài nguyên như: đá vôi vàsét sản xuất xi măng mác cao, gạch nung sét đồi với quy mô, sứ trang trí xâydựng, than bùn sản xuất phân vi sinh…
2.3 Tài nguyên rừng:
Trang 15theo dự đoán của các nhà thực vật học, có tới trên 1.700 loài Từ năm 1992,nhà nước đã công nhận khu vực rừng Ba Vì là vườn quốc gia Khu vực rừng
tự nhiên thuộc huyện Mĩ Đức (vùng Hương Sơn) cũng bao gồm nhiều chủngloại động, thực vật quí, hiếm Cùng với việc nhà nước công nhận khu vănhoá - lịch sử, - môi trường, rừng ở đây được phân loại thành rừng đặc dụng.Rừng tự nhiên được quản lý, tu bổ, cải tạo kết hợp với trồng rừng, phủ xanhđất trống, đồi núi trọc sẽ là tài sản quí giá của Hà Tây và của cả nước
2.4 Tiềm năng con người:
Hà Tây là tỉnh đông dân, có nguồn lao động dồi dào trên 1,1 triệungười Dân số nông thôn chiếm đại bộ phận (93%) và chủ yếu là nôngnghiệp chiếm 82% tổng số dân và chiếm 80% số lao động xã hội Lao độngnông nghiệp có trình độ văn hoá khá (trên 83%lao động có trình độ cấp II trởlên Lao động có trình độ thâm canh khá, nhiều nghề tinh xảo, nổi tiếng nhưdệt lụa (Vạn Phúc), rèn (Đa Sĩ), sơn mài, khảm, điêu khắc, thêu ren (vùngThường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên) Nhìn chung nguồn nhân lực dồi dào,
có kỹ năng, có trình độ văn hoá, nhanh nhậy tiếp thu tiến bộ khoa học, kỹthuật
2.5 Về cơ sở hạ tầng:
Toàn tỉnh đã có hệ thống thuỷ lợi căn bản giải quyết được hạn và tiêuúng (với lượng nước dưới 300 mm) bằng 5 hệ thống đại thuỷ nông, hơn 300trạm bơm tiêu với 1600 máy cùng với hệ thống sông đào, kênh mương khádày
Mạng lưới dẫn điện đến hầu hết các xã (98,3% số xã có điện), 95% số
hộ nông thôn được dùng điện với 695 trạm biến thế với gần 180 ngàn KVA
Trang 16Hàng năm đã sử dụng trên 260 triệu KWh điện cho sản xuất và sinh hoạt(bình quân đầu người 120 KWh).
Màng lưới giao thông thuỷ, bộ khá phát triển thuận lợi cho giao lưutrong và ngoài tỉnh, có hơn 400 km đường sông, 43 km đường sắt, gần 3.000
km đường ôtô đến tất cả các xã trong tỉnh Những tuyến giao thông huyếtmạch về đường bộ có đường 1A, đường số 6, đường 11A, đường 21, đường
32, đường 70, 71, 73 đường sắt Bắc - Nam Đường thuỷ có sông Hồng,sông Đà, sông Đáy
II Thực trạng huy động vốn đầu tư vào phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Hà Tây trong những năm gần đây.
1 Kết quả thu hút
1.1 Giai đoạn trước năm 2007
Tính đến 31/12/2006, trên địa bàn tỉnh Hà Tây đã thu hút được 536 dự
án đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 36.328 tỷđồng (trong đó, dự án đầu tư trong nước là 459 dự án với tổng vốn đầu tưđăng ký là 13.576 tỷ đồng; dự án có vốn đầu tư nước ngoài 77 dự án vớitổng vốn đầu tư đăng ký 1.422 triệu USD), cụ thể:
Đầu tư trong nước: Từ năm 2001-2006, tỉnh Hà Tây đã chấp thuậncho phép các doanh nghiệp đầu tư trong nước thuê đất và thực hiện 459 Dự
án đầu tư với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 13.576 tỷ đồng, diện tích đất xinthuê 1.377,2 ha, thời gian thuê đất từ 30 đến 50 năm
Trang 17Tổng hợp vốn đầu tư trong nước( vốn thực hiện và vốn đăng ký)Năm Số Dựán Diện tích đất(m2) Vốn đăng ký(triệu đồng)
vốn đã giảingân (triệuđồng)
(bảng 1: số liệu đầu tư trong nước 2001 – 2006)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Giai đoạn 1992 đến năm 2006, tỉnh HàTây đã thu hút được tổng số 77 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng sốvốn đầu tư đăng ký là 1.422 triệu USD (quy mô đạt trung bình khoảng 18,4triệu USD/01 dự án); trong đó riêng năm 2006 đã thu hút được 19 dự án, vốnđầu tư đăng ký đạt 794,9 triệu USD bằng 123 % của cả giai đoạn 1992-2005); các nhà đầu tư đến từ 18 quốc gia và vùng lãnh thổ
Trang 18tổng hợp đầu tư nước ngoài 2001 - 2006năm số dự án vốn đăng ký(USD) Vốn giải ngân(USD)
(bảng 2: số liệu đầu tư nước ngoài 2001 – 2006)
1.2 Giai đoạn năm 2007.
1.2.1 Đầu tư trong nước: Năm 2007, tỉnh đã thu hút được 143 dự án đầu tư
trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 24.697,8 tỷ đồng (tăng 32,4% về
số dự án và gấp 4,41 lần tổng vốn đầu tư đăng ký so với năm 2006) Giảingân được được khoảng 30% số vốn đăng ký tức là khoảng 7.409.363 tỷđồng
ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC NĂM 2007
Trang 19- Thu hút đầu tư tại các cụm, điểm công nghiệp: Năm 2007, Sở Kếhoạch và Đầu tư đã xem xét, báo cáo và được UBND tỉnh chấp thuận cấpGiấy chứng nhận đầu tư 122 dự án, tăng 20,7% so với năm 2006; tổng sốvốn đầu tư 14.489,1 tỷ đồng, gấp 2.58 lần so với năm 2006, khi đi vào hoạtđộng, tạo nguồn thu cho ngân sách hàng năm khoảng 600 tỷ đồng, sử dụng33.000 lao động hàng năm với tổng diện tích đất xin thuê là 2.772 ha.
Với kết qủa thu hút đầu tư năm 2007 đã đưa tổng số dự án đầu tưtrong nước ngoài các khu công nghiệp, khu công nghệ cao tính đến nay là
572 dự án Trong tổng số 572 dự án, 243 dự án đã đi vào sản xuất – kinhdoanh (chiếm 42,2 %), 126 dự án đang trong giai đoạn xây dựng (chiếm21,6%), 203 dự án chưa triển khai thực thi hoặc chưa được giao đất (chiếm35,6%) Các dự án trong năm 2007 đã xuất hiện trên các huyện, thị xã trongtoàn tỉnh nhưng chủ yếu tập trung tại các huyện, thị có điều kiện thuận lợi vềgiao thông như Hoài Đức, Đan Phượng, Chương Mỹ
- Thu hút đầu tư tại khu công nghiệp Bắc Phú Cát: Trong năm 2007,Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã tiếp nhận 05 dự án vào đầu tư tạiKhu công nghiệp Bắc Phú Cát với tổng vốn đầu tư là 1.001 tỷ đồng, tăng3,19 lần về vốn đầu tư so với năm 2006; các dự án chủ yếu tập trung tronglĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, với tổng diện tích khoảng
341 ha, dự kiến các dự án sẽ tạo tiền đề thu hút nguồn vốn đầu tư thứ phát từ
1 – 1,2 tỷ USD và khoảng 41.000 lao động trực tiếp; qua đó tạo nguồn thucho ngân sách hàng năm hàng trăm tỷ đồng
Như vậy, tính đến 31/12/2007 đã có 13 dự án đầu tư vào đầu tư tạiKhu công nghiệp Bắc Phú Cát với tổng vốn đầu tư là 2.037,3 tỷ đồng; diệntích đất thuê là 37,9 ha; đang sử dụng khoảng 1.400 lao động
Trang 20- Thu hút đầu tư tại Khu công nghệ cao Láng – Hoà Lạc: Năm 2007,Khu công nghệ cao Hoà Lạc thu hút được 02 dự án đầu tư với tổng vốn đầu
tư đăng ký là 1.401 tỷ đồng Tính đến 31/12/2007, có 03 dự án đầu tư trongnước hoạt động trong Khu CNC Hoà Lạc với vốn đăng ký là 1.498 tỷ đồng,diện tích đất thuê là 8,9 ha
- Các dự án đô thị và nhà ở: Năm 2007, Sở Xây dựng là đầu mối tiếpnhận và báo cáo UBND tỉnh phê duyệt chấp thuận cho 14 dự án đô thị vànhà ở trong nước, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 7.805,9 tỷ đồng (tăng 2,3lần về số dự án và 6,05 lần về vốn đầu tư đăng ký so với năm 2006)
• Về cơ cấu đầu tư: Các dự án chủ yếu tập trung vào lĩnh vực Công
nghiệp (54 dự án); Du lịch - Dịch vụ (12 dự án) và Nông – Lâm nghiệp (9
dự án); Giáo dục đào tạo và y tế (08 dự án); Xây dựng hạ tầng khu, cụm,điểm công nghiệp (10 dự án)
(bảng 4 cơ cấu đầu tư trong nước năm 2007)
Trang 21cơ cấu nguồn vốn đầu tư trong
nước
nhà ở, đô thị sản xuất công nghiệp
du lịch dịch vụ xây dựng hạ tầng giáo dục
y tế nông - lâm nghiệp
(biểu đồ 1: cơ cấu đầu tư trong nước 2007)
• Về quy mô đầu tư: Các dự án có quy mô vốn đầu tư lớn ngày càng
tăng và chủ yếu tập trung trong lĩnh vực du lịch và xây dựng cơ sở hạ tầngcác khu, cụm, điểm công nghiệp vốn là thế mạnh của tỉnh Hà Tây Kết quả
là có 28 dự án với quy mô vốn đầu tư đăng ký dưới 15 tỷ đồng, chiếm 16,1%tổng số dự án; 59 dự án có quy mô vốn đầu tư từ 15 tỷ đồng đến dưới 300 tỷđồng, chiếm 63,4% tổng số dự án; 6 dự án có quy mô vốn đầu tư trên 300 tỷđồng, chiếm 6,4% tổng số dự án
Trong 10 tháng đầu năm 2007, đã xuất hiện một số dự án đầu tư trongnước có mức vốn kỷ lục từ trước đến nay như Dự án khu du lịch sinh tháiTuần Châu của Công ty cổ phần Tuần Châu Hà Tây với số vốn đầu tư đăng
ký trên 3.000 tỷ đồng, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cụm côngnghiệp Đồng Mai của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển Phong Phú vớiquy mô 1.265 tỷ đồng
Trang 22Tóm lại: Tính đến 31/12/2007 trên địa bàn tỉnh Hà Tây đã có 550 dự
án đầu tư trong nước, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 25217 tỷ đồng, diệntích đất xin thuê khoảng 3.792,8 ha
1.2.2 Đầu tư nước ngoài:
- Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài: Tính đến 31/12/2007, trên địa bàn tỉnh Hà Tây có 101 dự án có vốnđầu tư nước ngoài còn hiệu lực, trong đó 51 dự án đã đi vào hoạt động vớikết quả như sau:
+ Doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt
395 triệu USD, tăng 1,3% so với năm 2006;
+ Xuất khẩu đạt 12,3 triệu đô la Mỹ;
+Nhập khẩu 57,3 triệu đô la Mỹ;
+ Nộp Ngân sách ước đạt 407 tỷ đồng (5,7% so với năm 2006);
+ Thu hút 8.025 lao động thường xuyên với thu nhập bình quânkhoảng 70USD/người/tháng
+ Số vốn giải ngân đến hết năm 2006 của các doanh nghiệp nướcngoài ước đạt khoảng 500 triệu USD Mỹ
- Về đầu tư:
+ Cấp mới: Năm 2007 đã có phép 30 dự án được cấp phép với tổngvốn đầu tư đăng ký là 836,2 triệu USD, tăng 58% về số dự án và 5% về vốn
Trang 23Ban quản lý các khu công nghiệp cấp với tổng vốn đầu tư là 240,4 triệuUSD.
Quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án trong năm 2007 đạt 27,8triệu USD/dự án Đặc biệt, trong số các dự án mới cấp phép có một số dự án
có quy mô vốn đầu tư đăng ký lớn là: Công ty TNHH Xây dựng và pháttriển HS Việt Nam đầu tư xây dựng kinh doanh Khu công nghiệp BắcThường Tín với tổng vốn đầu tư là 90 triệu USD; Công ty TNHH SilliconThái Dương Hằng Chính Việt Nam với tổng vốn đầu tư là 92 triệu USD hoạtđộng trong lĩnh vực sản xuất vật liệu mới trong ngành công nghiệp sử dụngnăng lượng mặt trời
+ Về tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất: Trong năm 2007 có 03 doanhnghiệp thực hiện thêm dự án tại tỉnh; 05 dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sảnxuất với số vốn tăng thêm là 2,6 triệu USD
Tính chung cả dự án cấp mới và tăng vốn, năm 2007 tổng vốn đăng
ký đạt 838,8 triệu đô la Mỹ
Trong số 30 dự án được cấp mới, có 4 dự án đã đi vào hoạt động, 10
dự án đang triển khai xây dựng, còn 16 dự án mới được cấp phép gần đâyđang nhanh chóng hoàn thành các thủ tục sau đầu tư để triển khai xây dựng
và đi vào hoạt động Dự kiến khi đi vào hoạt động ổn định, số dự án này sẽthu hút đến trên 10.000 lao động trên địa bàn tỉnh, nộp Ngân sách hàng nămkhoảng 500 tỷ đồng (bằng 30,3% thu ngân sách Nhà nước năm 2006)
- Rút Giấy phép các doanh nghiệp không triển khai dự án như đã cam kết: năm 2007, tỉnh Hà Tây đã rút Giấy phép đầu tư của 05 dự án có
vốn đầu tư nước ngoài không triển khai dự án như đã cam kết, với tổng vốnđầu tư trên 5 triệu USD
Trang 24- Đối tác đầu tư: Hàn Quốc tiếp tục dẫn đầu trong 7 nhà đầu tư có mặt
tại Hà Tây trong 10 tháng đầu năm với số dự án là 6, vốn đầu tư đăng ký đạt320,2 triệu USD Vị trí thứ 2 về số dự án là Đài Loan (số dự án là 5, vốn đầu
tư đăng ký 9,8 triệu USD)
- Cơ cấu đầu tư: Công nghiệp (17 dự án, vốn đầu tư đăng ký 97,2
triệu USD); Du lịch - Dịch vụ (02 dự án, vốn đầu tư đăng ký 1,5 triệu USD);Bất động sản (03 dự án, vốn đầu tư đăng ký 374,9 triệu USD) và Y tế (01 dự
án, vốn đầu tư đăng ký 30,9 triệu USD)
Trang 25(bảng 5: cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2007)
cơ cấu đầu tư nước ngoài
nhà ở, đô thị sản xuất công nghiệp nông - lâm nghiệp giáo dục
y tế
du lịch, dịch vụ
(Biểu đồ 2: cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2007)
- Hình thức đầu tư: Trong 10 tháng đầu năm 2007, các nhà đầu tư
tiếp tục tập trung đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài với số vốnđăng ký 457,7 triệu USD, chiếm 88,7% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp đến làhình thức liên doanh với số vốn đăng ký 58 triệu USD, chiếm 11,3% tổngvốn đầu tư đăng ký
- Quy mô vốn đầu tư: 16 dự án có quy mô vốn đầu tư dưới 300 tỷ
đồng (tương đương 19,5 triệu USD), chiếm 70% tổng số dự án; 7 dự án cóquy mô vốn đầu tư trên 300 tỷ đồng, chiếm 30% tổng số dự án đầu tư
Tình hình chính trị - an ninh ổn định và tiến trình hội nhập của Việt
Trang 26hợp cải cách mạnh mẽ hành chính theo hướng ngày càng thuận tiện cho cácnhà đầu tư là nguyên nhân thúc đẩy sự tăng lên mạnh mẽ của khối cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về số dự án và tổng vốn đầu tư Nếunhư so sánh với cùng kỳ 2006, quy mô mỗi dự án đầu tư nước ngoài khoảng3,8 triệu USD thì đến 2007 quy mô vốn đầu tư cho mỗi dự án đầu tư nướcngoài đạt 22,4 triệu USD, tăng gấp 6 lần
2 Tổng hợp chung:
Với kết quả thu hút trong năm 2007, tính đến nay trên địa bàn tỉnh HàTây có 101 Dự án có vốn đầu tư nước ngoài; vốn đầu tư đăng ký đạt2.255,6 triệu đô la Mỹ, quy mô vốn trung bình mỗi dự án đạt khoảng 22,3triệu USD (tăng 18,4% quy mô vốn giai đoạn 1990-2006), khi tất cả các dự
án đi vào sản xuất dự kiến sẽ thu hút được khoảng 28.000 lao động, nộpNgân sách hàng năm đạt khoảng 900 tỷ đồng (bằng 54,5% tổng thu ngânsách toàn tỉnh năm 2006) Kết quả trên đã chính thức đưa Hà Tây vào nhómcác tỉnh, thành phố có đầu tư trực tiếp nước ngoài với giá trị trên 1 tỷ USDMỹ
Nhìn vào hai đồ thị về cơ cấu vốn đầu tư cả trong và ngoài nước tathấy nguồn vốn đầu tư không đồng đều giữa các lĩnh vực Lĩnh vực giáodục đào tạo, y tế và lĩnh vực công nghệ cao còn ít dự án và quy mô đầu tưthấp Tỷ trọng đầu tư vào bất động sản lớn chưa hài hòa và phù hợp với tỷ lệvốn đầu tư trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ
3 Đóng góp của vốn đầu vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Tây.
Trang 275 năm qua, Hà Tây đã đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực: Côngtác tuyên truyền, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh cải cách thủtục hành chính, tăng cường thu hút đầu tư, đẩy mạnh hoạt động xúc tiếnthương mại, du lịch, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp…Trong đó, ngoài sự cố gắng của các tầng lớp nhân dân và các doanh nghiệp,
sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND các cấp, các ngành chứcnăng và các đoàn thể đóng vai trò rất quan trọng trong việc triển khai thựchiện chủ trương, quan điểm của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế và khuvực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc
tế, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi íchchính trị, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môitrường… Tỉnh đã chủ động xây dựng và tổ chức triển khai nhiều chươngtrình phát triển kinh tế - xã hội gắn kết với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế,bám sát Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế và lộ trình
Cùng với đó, Hà Tây tiếp tục tăng cường công tác quản lý Nhà nước trongviệc thực hiện các chính sách đối với người lao động, chú trọng đào tạonghề, vừa qua, đã giải quyết việc làm mới cho 30.500 lao động trong cácdoanh nghiệp trên địa bàn, đưa 1.900 người đi lao động có thời hạn ở nướcngoài…
UBND tỉnh đã chỉ đạo xây dựng quy hoạch các khu đô thị, khu nhà ở, trên
cơ sở đó, lựa chọn các nhà đầu tư có đủ năng lực để thực hiện các dự án.Đặc biệt, là công tác cải cách hành chính diễn ra mạnh mẽ, tạo điều kiện đểcác doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn, thuê đất, phát triển sản xuất kinh
Trang 28thực hiện Nghị quyết về cải cách hành chính nhằm nâng cao hiệu lực điềuhành của bộ máy chính quyền các cấp Từ đó, môi trường đầu tư của tỉnhđược cải thiện rõ rệt: Tính đến hết 31/12/2007, trên địa bàn Hà Tây đã có
595 dự án đầu tư trong nước, với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 38.273 tỉđồng Riêng năm 2007, thu hút 143 dự án với số vốn đăng ký 24.697,8 tỉđồng Môi trường thu hút đầu tư không ngừng được cải thiện Tính đến nay,trên địa bàn tỉnh có 118 dự án có vốn đầu tư nước ngoài; vốn đầu tư đăng kýđạt 2.255,6 triệu USD Dự kiến, các dự án sẽ thu hút được khoảng 28.000lao động, nộp ngân sách hàng năm khoảng 900 tỉ đồng, đưa Hà Tây vàonhóm các tỉnh, thành phố có đầu tư trực tiếp nước ngoài với giá trị trên 1 tỉUSD Đồng thời, Hà Tây đã mở rộng quan hệ hợp tác đầu tư với 20 quốcgia, hình thành 1 khu công nghệ cao, 5 khu công nghiệp, 27 cụm côngnghiệp, nhiều nhà máy lớn đang hoạt động trong các lĩnh vực cơ khí, điện
tử, sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may, chế biến nông sản thực phẩm…
Bên cạnh những kết quả tích cực, Hà Tây vẫn còn một số hạn chế được chỉ
ra như: nhận thức, tiếp nhận thông tin, việc triển khai, hiệu quả trong hộinhập kinh tế quốc tế còn chưa đạt hiệu quả tốt; Cơ cấu vốn, chất lượngnguồn nhân lực, quy mô, trình độ khoa học công nghệ và quản lý của doanhnghiệp chưa cao; thiếu sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chủ lực có thươnghiệu trên thị trường; đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại chưa đáp ứng
Để công tác kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quảcao, thời gian tới, Hà Tây sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo
Trang 29tranh về môi trường đầu tư Trong đó, chủ động chuyển dịch cơ cấu kinh tế,đổi mới công nghiệp và trình độ quản lý, phát huy lợi thế của tỉnh, tạo ranhững ngành, sản phẩm chủ lực cạnh tranh, phát triển đồng bộ các yếu tố thịtrường theo định hướng XHCN; Có kế hoạch cụ thể đẩy mạnh công tác đàotạo nguồn nhân lực vững vàng về chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, nghiệp vụ giỏi, đáp ứng yêucầu hội nhập kinh tế quốc tế gắn kết với nhiệm vụ giữ vững ổn định chínhtrị, trật tự an toàn xã hội…
4 Đánh giá về thực trạng thu hút vốn đầu tư của tỉnh.
4.1 Mặt được:
Sau sự kiện Ban thường vụ Tỉnh ủy Hà Tây đã có nghị quyết 14 và kếhoạch số 59 KH/TU ngày 4/6/2005 về tổ chức đợt sinh hoạt kiển điểm nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh về môi trường đầu tư, khắc phục những điểmyếu, quyết tâm nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện môi trường đầu tưkinh doanh trên địa bàn tỉnh, đổi mới nhận thức coi thu hút đầu tư là mộttrong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc thúc đẩy kinh tế xãhội địa phương phát triển và hội nhập, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư
ở đây là: đề ra và quyết tâm thực hiện đúng “ Quy định về một số chính sáchkhuyến khích đầu tư trên địa bàn Hà Tây” để tạo động lực cho đầu tư pháttriển mạnh mẽ trong thời gian tới Quyết tâm thực hiện tốt quy định về cơchế “một cửa” đối với các dự án đầu tư, trong đó quy định rõ trình tự, thờigian, cơ quan giải quyết các thủ tục hành chính theo nguyên tắc tuân thủpháp luật, minh bạch, đơn giản, thuận tiện, góp phần tiết kiệm thời gian vàchi phí cho các nhà đầu tư Quy định và áp dụng các chế tài mạnh, sử lý các
vi phạm từ phía cơ quan công quyền làm ảnh hưởng đến quyền và lợi íchhợp pháp của nhà đầu tư Tăng cường hiệu quả và tính pháp chế của công
Trang 30dân, chính quyền địa phương sự hợp tác, hữu nghị, cùng có lợi về kinh tế,bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ về mặt pháp lý, áp dụng công nghệthong tin hiện đại, tạo lập các kênh thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ việc tìmhiểu, tra cứu của các nhà đầu tư muốn tìm cơ hội đầu tư tại tỉnh Hà Tây.
Đặc biệt để tiếp tục đẩy mạnh công tác thu hút các nguồn vốn đầu tưtrong phát triển kinh tế, đồng thời đưa công tác này trở thành một trongnhững công tác trọng tâm và mang tính chuyên nghiệp, ngày 31/5/2005, chủtịch UBND tỉnh đã ký quyết định số 608 QD – UB thành lập trung tâm xúctiến đầu tư trực thuộc Sở Kế hoạch đầu tư Tỉnh
Việc ban hành nghị quyết 14, kế hoạch số 59 KH/TU, thành lập trungtâm xúc tiến đầu tư và những chính sách đổi mới, cải thiện môi trường đầu
tư của Hà Tây là những quyết định sáng suốt và là những giải pháp mangtính đột phá của ban thường vụ tỉnh ủy và lãnh đạo tỉnh Hà Tây Kế quả lànăm 2006 Hà Tây đã vươn lên đứng ở vị trí thứ 3 cả nước về thu hút đầu tưnước ngoài Đặc biệt là các dự án thu hút được nguồn vốn đầu tư lớn như:
dự án khu chung cư quốc tế booyoung với số vốn đầu tư đăng ký 171 triệuUSD và dự án xây dựng làng việt kiều Châu Âu TSQ, vốn đầu tư đăng ký là59.2 triệu USD
Cho đến nay, Hà Tây vẫn tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư,tạo dựng và quảng bá hình ảnh về môi trường đầu tư thông thoáng, minhbạch và lành mạnh để thu hút đầu tư vào tỉnh Cụ thể, trong lộ trình cải thiệnmôi trường đầu tư, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính Sở Kế Hoạch Đầu
tư đã phối hợp với các ngành lien quan soạn thảo văn bản và ban hành quychế mới về tiếp nhận, cấp phép các dự án đầu tư với mục đích giảm các
Trang 31ngành: kế hoạch đầu tư, công an, thuế, giúp doanh nghiệp thực hiện các thủtục đăng ký kinh doanh Kết quả cho thấy, chỉ tính riêng 5 tháng đầu năm
2007, Hà Tây đã thu hút được 45 dự án đầu tư với tổng số vốn là 6.644 tỷđồng nhiều hơn cả năm 2006, khẳng định chủ trương cải thiện môi trườngđầu tư gắn với thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính của địa phương là đúngđắn
Về công tác đào tạo nguồn nhân lực: Tỉnh Hà Tây cũng chủ trươngthúc đẩy đầu tư cho giáo dục nhằm từng bước tạo nguồn nhân lực có chấtlượng phục vụ cho việc phát triển kinh tế và hội nhập
4.2 Mặt hạn chế.
Có được kết quả thu hút đầu tư nêu trên trước hết là do lãnh đạo tỉnh
Hà Tây, các sở, ngành, địa phương lien quan đã rất chú trọng đến vai trò củavốn và công tác thu hút đầu tư; tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng nhưxây dựng cơ sở hà tầng: đường giao thông, hệ thống cấp điện, cấp, thoátnước, hệ thống thông tin liên lạc; đổi mới cơ chế chính sách theo hướng đầu
tư vào tỉnh Hà Tây được hưởng quyền lợi cao nhất và đóng góp nghĩa vụthấp nhất theo quy định hiện hành của pháp luật; công tác cải cách thủ tụchành chính được đề cao và tập trung thực hiện khẩn trương; công tác quyhoạch, chuẩn bị đầu tư đã được quan tâm, chỉ đạo đúng hướng nên đã đượcmột số kết quả về phát triển sản xuất, tạo thêm nguồn thu ngân sách, giảiquyết việc làm cho người lao động,
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chếtrong thu hút đầu tư ở tỉnh như sau:
- Năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư – kinh doanh của tỉnh đãđược cải thiện hơn so với trước, tuy vậy so với yêu cầu của công cuộc pháttriển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập,