--- Bμi giảng sinh thái học công nghiệp 1 ĐVHT - Lớp 52 CLC --- Mục đích môn học: Cung cấp các kiến thức cơ bản về : 1 Sinh thái học nói chung và sinh thái công nghiệp nói riêng và cá
Trang 1ViÖn Khoa häc & kü thuËt m«i tr−êng
-
Bμi gi¶ng Sinh th¸i häc C«ng nghiÖp
Ng−êi so¹n :
PGS TS NguyÔn ThÞ Kim Th¸i
N¨m 2010
Trang 2-
Bμi giảng sinh thái học công nghiệp
1 ĐVHT - Lớp 52 CLC -
Mục đích môn học:
Cung cấp các kiến thức cơ bản về :
1) Sinh thái học nói chung và sinh thái công nghiệp nói riêng và các ứng dụng của sinh thái học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
2) Sự tương thích sinh thái và phát triển bền vững
3) Bản chất của ô nhiễm môi trường, các nguyên nhân gây ô nhiễm; các tác động của ô nhiễm tới chất lượng môi trường và sức khoẻ cộng đồng và các biện pháp
kỹ thuật và quản lý để giảm thiểu ô nhiễm-
4) Các khái niệm cơ bản về hệ thống quản lý môi trường doanh nghiệp
Nội dung bμi giảng
Chương 1 Các khái niệm chung
1.1 Sinh thái học , sinh thái công nghiệp
1 2 Các hệ sinh thái
1 3 Môi trường và năng lượng
1 4 Các khái niệm về ô nhiễm
1 5 Độc học và độc học sinh thái
1.6 Rủi ro, sự cố môi trường và đánh giá các tác động
Chương 2 : Các chu trình sinh địa hoá học
2.1 Khái niệm về vòng tuần hoàn vật chất trong tự nhiên
2 2 Chu trình cacbon và các rối loạn vận hành
2 3 Chu trình ni tơ và các rối loạn vận hành
2.4 Các chu trình khác
Chương 3 ô nhiễm môi trường – Tác động của ô nhiễm
3.1 Bản chất của ô nhiễm
3.2 Các nguồn và các chất gây ô nhiễm
3.3 Độc học sinh thái và các tác động, rủi ro và nguy cơ
3.4 Các tác động của ô nhiễm
3.5 Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Chương 4 Hệ thống quản lý môi trường công nghiệp
4 1 Khái niệm về hệ thống quản lý môi trường doanh nghiệp
4.2 Các loại chất thải
4.3 Các đặc tính của môi trường trong hoạt động sản xuất
4.4 Các hoạt động thu hồi, tái chế và giảm thiểu chất thải
4.5 Những lĩnh vực hoạt động quan trọng về môi trường trong công nghiệp
Trang 3-
Chương 1 Các khái niệm chung
1.1 Sinh thái học , sinh thái công nghiệp
Sinh thái học là khoa học tổng hợp về quan hệ tương hỗ giưã sinh vật và môi trường
và giữa các sinh vật với nhau
Vào những năm thứ 40 của thế kỷ XX, các nhà sinh thái học bắt đầu nhận thức rằng quần xã sinh vật và môi trường không chỉ quan hệ tương hỗ với nhau mà tạo thành một đơn vị thống nhất - hệ sinh thái Hệ sinh thái là đơn vị cơ sở của tự nhiên, được mô tả như một thực thể, xác định chính xác trong không gian và thời gian Nó bao gồm không chỉ các sinh vật sống trong đó mà cả các điều kiện tự nhiên: khí hậu, đất, nước cũng như tất cả các mối tương tác giưã các sinh vật với nhau và giưã sinh vật với điều kiện môi trường Các hệ sinh thái trên
bề mặt trái đất tập hợp lại thành sinh quyển
Những năm gần đây sinh thái học đã trở thành khoa học toàn cầu Rất nhiều người cho rằng con người cũng như các sinh vật khác không thể sống tách khỏi môi trường cụ thể của mình Tuy nhiên, con người khác với các sinh vật khác là có khả năng thay đổi điều kiện môi trường cho phù hợp với mục đích riêng
Sinh thái học là khoa học cơ sở cho công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Thuật ngữ Sinh thái học: Ecology (bắt nguồn từ chữ Hy Lạp Oikos là nhà, nơi ở) được
Ernst Heckel, nhà bác học người Đức đề xướng năm 1866 và dùng nó để xác định khoa học
về mối quan hệ tương hỗ giưã sinh vật và môi trường, là tập hợp tất cả những hiểu biết về kinh
tế tự nhiên Nói cách khác, sinh thái học nghiên cứu mối quan hệ tổng hợp phức tạp mà Dac-uyn gọi là các điều kiện sinh ra đấu tranh sinh tồn Học thuyết tiến hoá của Dac-Dac-uyn được hình thành trên cơ sở nhận thức về mối quan hệ chặt chẽ giưã sinh vật và môi trường
Sinh thái học công nghiệp nghiên cứu về quan hệ tương hỗ giã các quá trình sản xuất
và các hoạt động dịch vụ mang lại hiệu quả kinh tế và cải thiện môi trường thông qua việc giảm chất thải và làm tăng khả năng khai thác các nguồn tài nguyên
ý tưởng mô hình hóa công nghiệp theo hệ sinh thái là ý tưởng cơ bản của sinh thái công nghiệp Đây là khái niệm về một phương thức sản xuất mới sử dụng ít năng lượng, và sản phẩm phụ của công đoạn sản xuất này lại là nguyên liệu thô cho công đoạn sản xuất tiếp theo Trên lý thuyết, hệ thống này hoạt động theo vòng tuần hoàn sao cho chỉ sử dụng nguyên liệu đủ bù cho lượng vật chất bị tiêu hao
Người ta thường áp dụng chu trình tuần hoàn nhiều cấp để năng lượng và vật chất sử dụng đều được ít nhiều quay vòng Mức độ thứ nhất là quay vòng có sự tham gia của nhiều ngành Mức độ thứ ba là kéo người tiêu thụ tham gia vào sự hoạt động của các chu trình tuần hoàn vật chất Một công ty hoặc một nhà máy sẽ tiết kiệm được kinh phí, khi chuyển chất thải của bộ phận này sang bộ phận khác hoặc dùng chất thải đó tạo ra năng lượng cho một công
đoạn khác Tương tự như vậy, các công ty và nhà máy trong một ngành công nghiệp có thể trao đổi và tái sử dụng chất thải của nhau Cũng như vậy, các ngành khác nhau sẽ trao đổi vật
Trang 4-
liệu và năng lượng cho nhau, hình thành các khu công nghiệp sinh thái Nhờ vậy, tất cả các bên và môi trường đều có lợi
Quá trình quay vòng vật liệu và năng lượng cũng mở rộng đối với khách hàng Các loại bao bì và sản phẩm đã qua sử dụng có thể quay vòng trở lại nơi sản xuất ban đầu để tái sử dụng hoặc trở thành nguyên liệu cho một ngành kinh tế khác
Thí dụ về một số mẫu hình khu công nghiệp sinh thái:
Thí dụ 1: ở một cảng Tây Bắc nước Mỹ có một nhà máy được quyền sử dụng một lượng nước từ các giếng khoan trong địa giới quản lý của mình
Quy trình sản xuất của nhà máy tạo ra hai dòng nước thải không chứa các chất hòa tan và độc hại Cách đó 3 km, có một nhà máy nhiệt điện cần nước để làm lạnh nhưng không được phép khai thác thêm nước từ các nguồn hiện có
Cả hai nhà máy đều phải chịu chi phí khai thác nước và chi phí xử lý nước thải Lượng nhiệt thừa của nhà máy nhiệt điện và lượng nước thừa của nhà máy nước tạo ra những tiềm năng cho các nhà máy khác có nhu cầu sử dụng
Bằng cách lắp đặt hệ thống đường ống có thể tạo ra khả năng chuyển nước thải của nhà máy nước sang làm lạnh cho nhà máy điện và nhiệt lượng thừa từ nhà máy điện đi các nơi khác Các công việc trên làm giảm lượng nước sạch tiêu thụ, đồng thời tăng mức độ sử dụng nhiệt lượng thừa mà trước đó thường bị lãng phí,
Thí dụ 2: Đĩa xanh (Green Disks) là một công ty do Davi Beschen ở Seattle (Mỹ) thành lập,
có chức năng chuyên tái sử dụng các đĩa mềm đã qua sử dụng và các bộ phận tin học Mục tiêu của công ty là tái sử dụng tất cả các loại vật liệu trong các phần mềm bỏ đi
Công ty tái sản xuất được 99,5 kg vật liệu từ 100 kg các vật liệu thải ra Trong 0,5 kg chất thải còn lại có cả phần chất thải của bản thân công ty Mỗi ngày công ty tái chế được từ 10-60 tấn phế liệu, năm 1994 tái chế được 8000 tấn, năm 1995 gần 20.000 tấn Các vật liệu được gửi tới công ty, được tháo rỡ, phân loại và gửi đi các cơ sở tiêu thụ
Các đĩa mềm được chia ra làm hai loại: Các đĩa mềm còn mới hoặc mới chỉ ghi một lần, được xoá đi các thôngtin và bán lại như những đĩa mới, các đĩa khác thì phân loại
Phần kim loại chuyển vào nhà máy luyện kim, phần nhựa thì được gửi tới nhà máy nhựa để tái sản xuất lại nhựa Bản thân đĩa mềm không tái chế được thì được cắt ra để sản xuất các thẻ
từ Công ty đang tiếp tục tìm kiếm nguồn đĩa cũ và thị trường tiêu thụ các sản phẩm tái chế của họ
1.2 Các hệ sinh thái
Hệ sinh thái là một hệ thống bao gồm các quần xã (cơ thể sống) và môi trờng sống của chúng
(các thành phần vô sinh)
Hệ sinh thái tự nhiên : Hệ sinh thái phát triển không có sự can thiệp của con người Thí dụ
hệ sinh thái ao hồ, hệ sinh thái rừng nguyên sinh, hệ sinh thái đồng cỏ
Hệ sinh thái nhân tạo: Hệ sinh thái phát triển trong đó có sự can thiệp của con người Thí
dụ hệ sinh thái đô thị, hệ sinh thái nhà ở, hệ sinh thái các công trình xử lý nước, hệ sinh thái nhân văn
Trang 5-
- Hệ sinh thái tự nhiên :nh rừng, sông, hồ, đồng cỏ, biển
- Hệ sinh thái đô thị: các thành phố lớn, các khu công nghiệp
- Hệ sinh thái nông nghiệp: cây lâu năm, cây ngắn ngày, đồng cỏ chăn nuôi, ao cá
Hình 1.1 Sơ đồ của một hệ sinh thái tự nhiên
Cấu trúc của hệ sinh thái gồm 4 thành phần cơ bản:
Môi trường (E): Môi trường là tập hợp tất cả các điều kiện và hiện tợng bên ngoài tác động
lên cá thể Khí quyển, thuỷ quyển, thạch quyển tồn tại trớc khi sự sống xuất hiện trên hành tinh chúng ta, nhng chỉ khi các cơ thể sống xuất hiện mới gọi chung là môi trờng Có nghĩa chỉ có cơ thể sống mới có môi trường
Môi trường tự nhiên là tổng thể các nhân tố tự nhiên xung quanh các quần thể sống
(thành phần hữu sinh) Thí dụ bầu khí quyển, nước, thực vật, thổ nhưỡng, bức xạ mặt trời
Môi trường nhân tạo là hệ thống môi trường được tạo ra do con người lợi dụng và cải
tạo tự nhiên;
Động vật
ăn thực vật
P Cây xanh
phân huỷ D
Động vật
ăn thịt
Chất thải sau
khi đã xử lý
Nhiệt
Thông qua hoạt động
trao đổi chất C
Mặt trời
Trang 6-
Đối với sinh vật trên trái đất tồn tại 4 kiểu môi trường:
- Môi trường đất;
- Môi trường nớc;
- Môi trường không khí và
- Môi trường các sinh vật khác (đối với các sinh vật ký sinh)
Vật sản xuất (P): Vật sản xuất bao gồm các vi khuẩn hoá tổng hợp và cây xanh tức là bao
gồm các sinh vật có khả năng tổng hợp được chất hữu cơ nhờ năng lượng mặt trời để tự xây dựng lấy cơ sở của mình Vật sản xuất là các sinh vật tự dưỡng
Vật tiêu thụ (C): Vật tiêu thụ bao gồm các động vật sử dụng các chất hữu cơ lấy trực tiếp hay gián tiếp từ vật sản xuất Vật tiêu thụ là các sinh vật dị dỡng Vật tiêu thụ đợc chia thành:
- Vật tiêu thụ sơ cấp : các loại động vật ăn thực vật
- Vật tiêu thụ thứ cấp: các loại động vật ăn động vật và thực vật
Vật phân huỷ (D): Vật phân huỷ bao gồm các vi khuẩn và nấm Chúng phân huỷ các sản
phẩm bài tiết (chất thải ) và xác chết của các vật sản xuất & vật tiêu thụ
Các nhân tố sinh thái : Các nhân tố môi trờng tác động lên cơ thể sống là không như nhau
Một số nhân tố không thể hiện ảnh hởng rõ rệt lên đời sống của các sinh vật Ví dụ : một số khí trơ chứa trong vũ trụ
Nhân tố ảnh hưởng quyết định tới cơ thể sinh vật gọi là nhân tố sinh thái Ví dụ : ánh sáng,
nhiệt độ, nước, các chất khoáng, chuyển động của không khí, phóng xạ là những nhân tố sinh thái
Hệ sinh thái có hai chức năng cơ bản là vòng tuần hoàn vật chất và dòng chuyển hoá năng lượng giữa 4 thành phần trong hệ Hai chức năng này biểu thị hai đặc trng cơ bản của hệ sinh thái là: Cân bằng giữa cá thể - môi trường và tính thích nghi sinh thái
1.3.Môi trường và năng lượng
Dòng năng lượng xảy ra đồng thời với vòng tuần hoàn vật chất ở hệ sinh thái Năng lượng cung cấp cho hoạt động của tất cả các hệ sinh thái trên trái đất là nguồn năng lượng mặt trời Năng lượng mặt trời chiếu lên một đơn vị diện tích bề mặt trái đất trong một đơn vị thời gian gọi là thông lượng mặt trời = 1cal/cm2/phút
Có rất nhiều hệ đơn vị đo năng lượng, nhưng cho tới nay người ta vẫn dùng Calorie là
đơn vị chính để đo Calorie được định nghiã là tổng năng lượng cần thiết (yêu cầu) để nâng 1g nước tăng lên 1oC
Trang 7-
Mặt trời nhận được nguồn năng lượng của nó thông qua quá trình nóng chảy của các hạt nhân và ở đây sinh khối được chuyển hoá thành năng lượng tương ứng với định luật Anhstanh (Einsteins):
E = m.C2
Trong đó: C là vận tốc ánh sáng = 300 000 km/s
Các nguồn năng lượng: Một sự hiểu biết đầy đủ tất cả các vấn đề này đòi hỏi một kiến thức
tổng thể về những nguồn năng lượng khác nhau, đặc biệt là về mặt tính chất tái tạo được hay không và về tác động lên môi trường về việc thực hiện các vấn đề đó
Khía cạnh đầu tiên liên quan trực tiếp với quản lý lâu dài các tài nguyên, như đối với nguyên liệu, và bao gồm chủ yếu các loại nhiên liệu mỏ
Khía cạnh thứ hai, gắn với tính chất riêng của mỗi loại năng lượng, trở thành một tiêu chí chính của việc lựa chọn loại năng lượng này khác Những nguồn năng lượng chính bao gồm:
- Các nguồn năng lượng mỏ: than, dầu hỏa, khí thiên nhiên
- Năng lượng hạt nhân
- Các loại năng lượng tái tạo được có nguồn gốc:
+ từ đất: địa nhiệt + từ mặt trời: trực tiếp (chuyển thành nhiệt năng và quang năng) hay gián tiếp (sinh khối, phế liệu, năng lượng gió )
+ từ biển: năng lượng thủy triều, năng lượng của các dòng chảy
Các dạng năng lượng:
- Năng lượng bức xạ: là năng lượng mặt trời, dạng năng lượng quan trọng nhất đối
với chúng ta Năng lượng mặt trời truyền trong chân không với tốc độ gần 300.000 Km/s Năng lượng ánh sáng được sắp xếp thành phổ rộng lớn bởi các bước sóng
điện từ phát ra từ mặt trời
- Năng lượng liên kết hóa học: dạng năng lượng này tương ứng với liên kết hóa học
được hình thành giữa các nguyên tử cấu thành các phân tử Đây là năng lượng tích luỹ trong các hợp chất hoá học Trong thời gian quang hợp, ánh sáng được sử dụng
để sản xuất hydratcacbon, lipit trong thực vật Trong quá trình phát triển qua các bậc dinh dưỡng của hệ sinh thái các nguyên liệu thực vật được chuyển thành các cơ chất tổng hợp xây dựng nên cơ thể động vật Sự biến đổi sinh học này phải sử dụng năng lượng Khi tất cả các cơ chất này được phá vỡ lần nữa, như hô hấp chẳng hạn thì năng lượng được giải phóng Các hợp chất này vì thế có thể xem như kho dự trữ năng lượng
- Năng lượng điện: Năng lượng xuất hiện khi các hạt tích điện (điện tử) được gom
lại trong một vùng không gian (trường hợp của dòng điện)
- Năng lượng cơ: Năng lượng này được gắn với khái niệm vị trí (thế năng của nước
bị giữ bởi một con đập) và sự chuyển động (sự đổ xuống của nước và tuốcbin) của một khối lượng vật chất Năng lượng gió và thủy triều minh họa dạng năng lượng này
- Năng lượng nhiệt: Năng lượng nhiệt là kết quả từ sự biến đổi ngẫu nhiên đến sự
chuyển động có hướng của các phân tử Năng lượng này được gọi là sức nóng Đó
Trang 8-
là một dạng cơ bản của việc sử dụng năng lượng Dạng năng lượng này được giải phóng bất cứ lúc nào sinh ra công
- Năng lượng của vật chất: dạng năng lượng này được biết đến nhiều dưới cái tên
năng lượng hạt nhân Đó là liên kết giữa các hạt tạo thành nhân của một nguyên
tử Năng lượng này thu được bằng sự phân hạch (phân hạt nhân thành nhiều hạt) hoặc bằng sự hợp nguyên tử (hợp hai nhân nghèo thành hạt) Trong hai trường hợp
đó năng lượng được giải phóng dưới dạng của một tia phóng xạ hoặc theo một lượng nhiệt
Trong hệ sinh thái năng lượng được tích luỹ trong các nguyên liệu thực vật Nó có thể biểu thị bằng nhiều cách, nhưng chủ yếu là sinh khối chất khô trên một đơn vị diện tích Số năng lượng giảm dần từ mức độ đinh dưỡng này sang mức độ dinh dưỡng kế tiếp Điều đó xảy ra
do hai nguyên nhân:
- Năng lượng mất đi giưã các bậc dinh dưỡng Như chúng ta đã biết, sự biến đổi năng lượng từ dạng này sang dạng khác không được bảo toàn 100% Bất cứ lúc nào dòng năng lượng từ mức độ dinh dưỡng này sang mức độ dinh dưỡng khác và nguyên liệu của một cơ thể này, biến đổi để xây dựng nguyên liệu cho cơ thể khác
đều tiêu hao năng lượng
- Năng lượng mất đi trong mức độ dinh dưỡng Tất cả các sinh vật đều phải hô hấp
để sống Hô hấp làm oxy hoá hydratcacbon và giải phóng năng lượng Quá trình
đó có thể tóm tắt như sau: Hydratcacbon + O2 - CO2 + H2O + năng lượng
Bằng cách đó năng lượng được sử dụng trong mỗi một mức độ dinh dưỡng Tác động tổng hợp của hai nguyên nhân trên có nghĩa là dòng năng lượng giảm dần theo các mức độ kế tiếp
Như vậy mỗi dạng trong các dạng năng lượng có thể chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác
và ngược lại Đây chính là một đặc trưng nhất của năng lượng trong đời sống và hoạt động kinh tế
Việc quản lý và xử lý phế liệu có mối quan hệ đặc biệt với năng lượng ở nhiều mặt:
- Sản xuất phế liệu ở công trường khai thác tài nguyên, vận chuyển và sử dụng: phế thải của mỏ, bùn khoan, lưu huỳnh của khí thiên nhiên
- Tiêu thụ năng lượng đòi hỏi các công đoạn thu thập, tuyển chọn, xử lý phế liệu, sửa chữa cơ khí
- Khả năng sử dụng năng lượng (trường hợp vật liệu chất dẻo và sinh khối)
1.4 Các khái niệm về ô nhiễm
Khái niệm ô nhiễm được hiểu là sự rối loạn vận hành bình thường của chu trình sinh địa
hoá mà người ta có thể nhận biết và đo lường, quan sát được ở mức độ khác nhau trong các môi trường liên đới
Trang 9-
Những ô nhiễm có thể đánh giá theo định tính hoặc định lượng của một tham số (sự thay đổi
nồng độ một yếu tố hoá học trong nước hay không khí )
Thí dụ 1: Nguồn nước bị coi là ô nhiễm khi thành phần và tính chất lý hoá sinh học của nước
bị thay đổi, không bảo đảm chất lượng của nguồn cung cấp và các yêu cầu khác
Thí dụ 2: Môi trường không khí bị coi là ô nhiễm khi các thành phần bị biến đổi khác với
trạng thái bình thường Chất gây ô nhiễm là chất có trong khí quyển ở nồng độ cao hơn nồng
độ bình thường của nó trong không khí hoặc chất đó thường không có trong không khí
Sự ô nhiễm không khí là kết quả của việc thải ra các khí, hơi, giọt và các lượng khí khác có nồng độ vượt quá thành phần bình thường trong không khí gây nên các tác động có hại hoặc gây sự khó chịu (do mùi, do bụi, )
Ô nhiễm lưu niên toàn cục: Là sự nhiễu loạn dài hạn sự hoạt động của bộ máy của hành
tinh gây ra bởi tác động của nhiều sự ô nhiễm khác nhau mà hậu quả của chúng lại phải có thời gian dài mới có thể thấy trước được Thí dụ mưa axít
Ô nhiễm bất thường: Là những ô nhiễm không thể lường trước được Thí dụ ô nhiễm gây ra
bởi động đất, núi lửa Ô nhiễm gây ra do sự cố công nghiệp
1.5 Độc học và độc học sinh thái
Độc chất học theo định nghĩa là những chất gây độc hại hoặc rõ hơn là những sản phẩm nguy
hiểm đôí với con người
Thời cổ đại, trong thời Paracelse, nhà luyện đan (alchimiste) thế kỷ XVI, Sola dosis fecit venerum (chỉ có liều lượng tạo ra chất độc) lưu hành hai khái niệm cơ bản sau đây:
Không có sự khác nhau về bản chất giữa một chất được cho là độc và tất cả chất hoá học khác: oxy là duy trì sự sống nhưng cho thở quá nhiều oxy (hyperoxy genation) có thể giết chết những loài thú
Khái niệm về liều lượng: trọng lượng của chất có thể gây độc cho một đối tượng cụ thể Liều
lượng được biểu thị bằng mg/kg trọng lượng
Khái niệm về nồng độ: lượng chất có trong một đơn vị mang nó (nước, không khí, đất )
Độc học sinh thái học từ tiếng Hy Lạp oikos (cái nhà) và toxicon (mũi tên) là sự nghiên cứu
những chất độc trong môi trường Môn khoa học này cho phép xác định vị trí cái cung tính
được đường bay của mũi tên và cuối cùng biết được mục tiêu
Độc học sinh thái quan tâm tới các tác động có hại của các tác nhân hóa học và vật lý lên các cơ thể sống, đặc biệt là các quần thể và cộng đồng nằm trong hệ sinh thái, nó bao gồm các
Trang 10-
con đường vận chuyển của các tác nhân này và tác động của chúng với môi trường (Butler, 1978)
Mục tiêu chính của độc học sinh thái là tạo ra những cộng cụ phù hợp dùng cho thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng môi trường, đánh giá và dự đoán nồng độ trong môi trường, để đánh giá nguy cơ cho các quần thể tự nhiên (có cả con người) bị tác động nặng nề của sự ô nhiễm môi trường
1.6 Rủi ro, sự cố môi trường và đánh giá các tác động
Rủi ro là xác xuất của sự kiện hoặc hành động sẽ gây hại cho sức khỏe hoặc môi trường Rủi
ro là một khái niệm gắn một nguy hiểm với xác suất xuất hiện của nó
Một trong những ứng dụng đầu tiên của độc tố sinh thái học là sự phân tích những rủi ro về môi trường gắn liền với những chất độc nguy hiểm Trong trường hợp ấy, tai hoạ là một tác hại độc lên một hệ sinh thái
Rủi ro về sức khỏe con người được định nghĩa là một hoạt động khoa học để đánh giá các đặc tính độc hại của hóa chất và các điều kiện khi con người tiếp xúc với hóa chất nhằm: (1) xác
định xác suất bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi con người tiếp xúc với hóa chất, và (2) phân loại
đặc tính các ảnh hưởng có khả năng bị khi tiếp xúc
Đánh giá rủi ro là một phương thức hữu hiệu để tổ chức và giới thiệu thông tin liên quan đến
các vấn đề tiềm tàng của sức khoẻ con người khi tiếp xúc với hóa chất trong môi trường
Các mục tiêu đánh giá rủi ro nhằm:
- Làm việc và sống một cách an toàn với các hóa chất
- Thiết lập các mức tiếp xúc an toàn
- So sánh qui định hoặc các lựa chọn riêng về địa điểm
Việc đánh giá rủi ro sức khỏe bao gồm cả phép phân tích các tiếp xúc môi trường xảy ra trong quá khứ, các ảnh hưởng nghiêm trọng có thể xảy ra hoặc chưa xảy ra Nó còn bao gồm cả việc dự tính các hậu quả có thể của tiếp xúc mà vẫn chưa xảy ra