1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam

55 720 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam
Tác giả Bùi Thị Quỳnh
Người hướng dẫn Th.s. Nguyễn Thị Hương Trà
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 524,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam đang trong thời kì tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, mở cửa toàn diện nền kinh tế để từng bước hội nhậpsâu vào khu vực và thế giới Trong bối cảnh hiện nay, khi mà nền kinh tế còngặp nhiều khó khăn thì nhu cầu thu hút ODA của Việt Nam để bổ sung nguồnlực cho phát triển lại được đặt trong sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước, cáckhu vực về thu hút nguồn vốn này Vấn đề đặt ra là chúng ta phải làm thế nào

-để tăng cường thu hút và sử dụng cho có hiệu quả nguồn vốn ODA? Là mộttrong những nhà tài trợ hàng đầu cho Việt Nam, trong năm 2009 này ADB đãcam kết cho Việt Nam trên 1,5 tỉ USD Với con số lớn như vậy, chúng ta cầnphải làm gì để các cam kết đó được hợp thức hoá và được sử dụng một cáchhiệu quả nhất, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam?

Từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài : “Nâng cao hiệu quả thuhút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam”

để làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình

Mục đích nghiên cứu:

- Làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lí luận về viện trợ phát triển chínhthức ODA, vai trò của nguồn vốn ODA nói chung và vốn ODA của ADB nóiriêng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam

- Đánh giá tình hình cam kết, kí kết và giải ngân nguồn vốn ODA củaADB để tìm ra những khó khăn và các nguyên nhân cần giải quyết trong quátrình sử dụng vốn

- Đề xuất các giải pháp chung và riêng đối với ODA của ADB trướcmắt cũng như giai đoạn tới nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốnODA nói chung và vốn ODA của ADB nói riêng

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động thu hút và sử dụng

nguồn vốn ODA của ADB trong thời gian từ khi Việt Nam nối lại quan hệ vớiADB (1993) đến nay

Kết cấu đề tài: gồm 3 chương:

- Chương I: Tổng quan về ODA và nguồn vốn ODA của ADB

Trang 2

- Chương II: Thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODA của ADB trongthời gian qua

- Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụngODA của ADB

Chuyên đề : “ Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA củaADB cho Việt Nam” được hoàn thiện với sự giúp đỡ của cô giáo – Th.s.Nguyễn Thị Hương Trà và các chuyên viên Vụ Tài chính Tiền tệ – Bộ Kếhoạch và Đầu tư Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lòng kínhtrọng đặc biệt

Trong quá trình triển khai và thực hiện đề tài, mặc dù đã có sự cố gắngrất nhiều nhưng nhưng vẫn không tránh khỏi những sai sót Vậy mong được

sự quan tâm, bổ sung, ý kiến chỉ đạo của thầy giáo, cán bộ hướng dẫn chuyên

đề để chuyên đề ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ODA VÀ NGUỒN VỐN ODA CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á (ADB) 1.1 Tổng quan về ODA.

1.1.1.Khái niệm về ODA

Sau chiến tranh thế giới thứ II, hầu hết các nước châu Âu, châu Á đềuđứng trước cảnh đổ nát hoang tàn Chỉ có châu Mỹ nói chung và nước Mỹ nóiriêng là không bị ảnh hưởng gì, trái lại còn phất lên nhờ chiến tranh (Năm

1945, GDP của Mỹ là 213,5 tỉ USD, bằng 40% tổng sản phẩm của toàn thếgiới, tăng gần gấp đôi so với 125,8 tỉ USD năm 1942) Vì thế, Mỹ lập “ Kếhoạch Marshall” để viện trợ cho châu Âu với tên gọi là khoản: “ Hỗ trợ pháttriển chính thức – ODA” Từ đó đến nay, theo sự phát triển của mối quan hệquốc tế, các dòng vốn ODA liên tục được đưa vào các nước đang phát triển.Nghiên cứu về dòng vốn này có rất nhiều quan điểm Trong phạm vi bài viếtxin đề cập đến một số quan điểm sau:

- Khái niệm ODA được Uỷ ban viện trợ phát triển DAC(Develoment Asistance Committee) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế(OECD) đề cập vào năm 1969 Theo DAC thì ODA là nguồn vốn hỗ trợ chínhthức từ bên ngoài, bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện

ưu đãi ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém pháttriển được các cơ quan chính thức của Chính phủ Trung ương và địa phươnghoặc các cơ quan thừa hành của Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổchức phi Chính phủ tài trợ

Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu thiết yếu của một quốc gia, một địaphương, một ngành được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tàitrợ, thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên( Bên nhận vốn và Bên hỗ trợ vốn) kí kết Hiệp định quốc tế hỗ trợ này đượcchi phối bởi Công pháp Quốc tế

- Theo quan điểm của Chương trình phát triển của Liên hợp quốc(UNDP) thì nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm cả các khoản cho

Trang 4

không và các khoản vay đối với các nước đang phát triển, đó là nguồn vốn docác bộ phận chính thức cam kết ( nhà tài trợ chính thức ), nhằm mục đích cơbản là phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội được cung cấp bằng các điều khoảntài chính ưu đãi ( nếu là các khoản vay, sẽ có yếu tố cho không ít nhất là 25%)

- Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB) thì “ ODA làkhoản tài trợ hoặc giải ngân vốn vay ưu đãi (sau khi đã trừ phần trả nợ ) đượccung cấp bởi các cơ quan chính thức của các nước thuộc Uỷ ban phát triểnOECD, một số quốc gia và tổ chức đa phương khác như Ngân hàng Thế giớivới mục đích phát triển Viện trợ quân sự không được tính vào khái niệm này

Hình thức cung cấp ODA chủ yếu là ODA không hoàn lại và ODA vay

ưu đãi có yếu tố hoàn lại ít nhất 25%

Phương thức cung cấp ODA bao gồm: Hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗtrợ chương trình và hỗ trợ theo dự án

Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là một nguồn vốn phát triển quantrọng đối với các nước đang phát triển để tăng cường quản lí kinh tế, phúc lợi

xã hội, tái thiết, xây dựng đất nước và phát triển kinh tế, hỗ trợ cán cân thanhtoán, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội,…

1.1.2 Đặc điểm của ODA

* Thứ nhất, vốn ODA mang tính ưu đãi.

Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạnlâu (chỉ trả lãi, chưa trả nợ gốc) Và thông thường, trong ODA có “yếu tốkhông hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) Đây chính là điểm phân biệtgiữa viện trợ và cho vay thương mại

Tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng chocác nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển Có hai điều kiện cơbản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA:

+ Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product- GDP) bình quânđầu người thấp Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được

tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất

Trang 5

+ Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chínhsách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bênnhận ODA.

Thông thường, các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưutiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khảnăng về kỹ thuật và tư vấn công nghệ, kinh nghiệm quản lý… Đồng thời, đốitượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giaiđoạn cụ thể Vì vậy, nắm được hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các

tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết

* Thứ hai, vốn ODA mang tính chất ràng buộc.

Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận vàlợi ích của nước viện trợ Vốn ODA mang yếu tố chính trị

Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích chomình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ

tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ Nhìn chung, 22% viện trợ của Uỷ ban Hỗtrợ Phát triển (Development Assistance Committee- DAC) phải được sử dụng

để mua hàng hoá và dịch vụ của các quốc gia viện trợ

Kể từ khi ra đời đến nay, viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồntại song song Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảmnghèo ở những nước đang phát triển Mục tiêu thứ hai là tăng cường vị thếchính trị của các nước tài trợ Chính vì vậy, khi nhận viện trợ, các nước nhậncần cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện của các nhà tài trợ, không vì mục đíchtrước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài Quan hệ hỗ trợ phát triểnchính thức phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không canthiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi

* Thứ ba, ODA là nguồn vốn có khả năng để lại gánh nặng nợ.

Khi tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, do tính chất ưu đãi nên gánh nặng

nợ nần thường chưa xuất hiện Một số nước do sử dụng chưa có hiệu quảODA, có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian lại lâmvào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn

Trang 6

ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩutrong khi việc trả nợ lại chủ yếu dựa vào xuất khẩu để thu ngoại tệ Do đó,trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các loạinguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.

1.1.3 Vai trò của ODA đối với các nước đang phát triển

* Thứ nhất, ODA là một nguồn vốn có vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển.

Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều nước ở châu Á thiếu vốn để khôiphục và phát triển nền kinh tế Đầu tư vào cơ sở hạ tầng đòi hỏi một lượngvốn lớn, lãi suất thấp, thời gian thu hồi vốn lâu, nhiều rủi ro Vì vậy các nướcgặp nhiều khó khăn trong việc thu hút vốn FDI vào lĩnh vực này Nhiều nước

đã tranh thủ được nguồn vốn ODA từ các nước giàu

Do tính chất ưu đãi, vốn ODA thường dành cho đầu tư vào cơ sở hạtầng kinh tế xã hội như đầu tư vào đường sá, cầu cảng, công trình điện, côngtrình cấp thoát nước và các lĩnh vực giáo dục, y tế văn hoá và phát triển nguồnnhân lực Vào đầu những năm 1970, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội của các nướcĐông Nam Á sau khi giành độc lập còn rất nghèo nàn và lạc hậu Các quốcgia đã sớm nhận thấy vai trò quan trọng của việc phát triển các hoạt động giaothông vận tải, thông tin liên lạc và bưu chính viễn thông… Nhiều công trình

hạ tầng kinh tế xã hội như sân bay, bến cảng, đường cao tốc, trường học, bệnhviện, trung tâm nghiên cứu khoa học mang tầm cỡ quốc gia ở Thái Lan,Singapore, Indonesia, Philippines đã được xây dựng bằng nguồn vốn ODAcủa Nhật Bản, Hoa Kỳ, WB, ADB để hiện đại hoá hệ thống giao thông vận tảicủa mình

* Thứ hai, ODA giúp các nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực.

Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước nhận tài trợ

là công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lý tiêntiến Các nhà tài trợ còn ưu tiên đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực vì họ tin

Trang 7

triển nguồn nhân lực Đây mới chính là những lợi ích căn bản, lâu dài đối vớinước nhận tài trợ Chỉ có điều là những lợi ích này thật khó có thể lượng hoáđược.

* Thứ ba, ODA giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế.

Do dân số tăng nhanh, sản xuất tăng chậm và cung cách quản lý kinh

tế, tài chính kém hiệu quả, các nước đang phát triển đặc biệt là các nước ChâuPhi đang vấp phải nhiều khó khăn kinh tế như nợ nước ngoài và thâm hụt cáncân thanh toán quốc tế ngày càng tăng Để giải quyết vấn đề này, các quốc giađang cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng cách phối hợp với WB, Quỹ tiền

tệ quốc tế (International Monetary Fund- IMF), các tổ chức quốc tế khác tiếnhành chính sách điều chỉnh cơ cấu Chính sách này có xu hướng là chuyểnchính sách kinh tế Nhà nước đóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyếnkhích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển khu vực kinh tế tưnhân Thế giới đã thừa nhận sự cần thiết của loại hình viện trợ này đối với cácnước đang phát triển

* Thứ tư, ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện

để mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang phát triển.

Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vàomột nước trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước

đó Họ luôn cảnh giác với những nguy cơ làm tăng các phí tổn của đầu tư

Một cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh,phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp nănglượng (điện, nhiên liệu) không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư

vì rằng những phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng những tiện nghi hạ tầng

sẽ lên cao, chưa kể đến thiệt hại như hoạt động của nhà máy, xí nghiệp phảidừng vì mất điện, công trình xây dựng bỏ dở vì không có nước…

Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do làm cho các nhà đầu tư engại, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự thiếu thốncác dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tư gia tăng, dẫn tớihiệu quả đầu tư giảm sút

Trang 8

Như vậy, việc đầu tư của Chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xâydựng mới các cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cầnthiết, nhằm làm cho môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn Nhưng vốn đầu tưcho việc xây dựng cơ sở hạ tầng rất lớn, trong nhiều trường hợp, các nướcđang phát triển cần phải dựa vào nguồn vốn ODA để bổ sung cho vốn đầu tưhạn hẹp từ ngân sách Nhà nước Như vậy, việc sử dụng vốn ODA để đầu tưcải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trongnước tập trung đầu tư vào các chương trình sản xuất kinh doanh có khả năngmang lại lợi nhuận.

1.1.4.Phân loại ODA

Dựa vào các tiêu chí khác nhau lại có các cách phân loại ODA khácnhau

* Theo tính chất tài trợ, ODA bao gồm:

- Viện trợ không hoàn lại: là các khoản cho không, nước nhận việntrợ không có nghĩa vụ hoàn trả lại

- Viện trợ có hoàn lại: các khoản vay ưu đãi (tín dụng với điều kiện

“mềm”)

- Viện trợ hỗn hợp: gồm một phần cho không, phần còn lại thựchiện theo hình thức tín dụng (có thể là tín dụng ưu đãi hoặc tín dụng thươngmại)

* Theo mục đích sử dụng, ODA bao gồm:

- Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và môi trường Đây thường là những khoảncho vay ưu đãi

- Hỗ trợ kỹ thuật: là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức,công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứutiền đầu tư, phát triển thể chế và nguồn nhân lực… loại hỗ trợ này chủ yếu làviện trợ không hoàn lại

* Theo điều kiện, ODA bao gồm:

Trang 9

- ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợkhông bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng nào.

- ODA có ràng buộc nước nhận:

+ Bởi nguồn sử dụng: việc mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch

vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sởhữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc các công ty của cácnước thành viên (đối với viện trợ đa phương)

+ Bởi mục đích sử dụng: chỉ được sử dụng nguồn vốn ODA cho một sốlĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể

- ODA có thể ràng buộc một phần: một phần chịu ràng buộc, phầncòn lại không phải chịu bất kỳ ràng buộc nào

* Theo đối tượng sử dụng, ODA được chia thành:

- Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự

án cụ thể Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho khônghoặc cho vay ưu đãi

- Hỗ trợ phi dự án:

+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp(chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hỗ trợ qua nhập khẩu (ngoại tệhoặc hàng hoá được chuyển qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợngân sách)

+ Hỗ trợ trả nợ: giúp thanh toán các khoản nợ quốc tế đến hạn

+ Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổngquát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽđược sử dụng như thế nào?

* Theo nhà cung cấp, ODA được chia thành:

- ODA song phương: là ODA của một Chính phủ tài trợ trực tiếpcho một Chính phủ khác

- ODA đa phương: là ODA của nhiều Chính phủ cùng đồng thời tàitrợ, thường được thực hiện thông qua các tổ chức quốc tế (WB, IMF,ADB…)

Trang 10

- ODA của các tổ chức phi Chính phủ (NGO).

1.2.Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và nguồn vốn ODA của ADB

1.2.1.Giới thiệu về ADB

ADB là tên viết tắt tiếng Anh của Ngân hàng Phát triển Châu Á ( AsianDevelopment Bank ) Đầu thập kỉ 60 của thế kỉ XX, các nước Châu Á đềuthuộc hàng ngũ những nước nông nghiệp, trình độ phát triển thấp, thu nhậpcủa dân cư thấp nhất thế giới.Các nước đều có nguyện vọng tập hợp nhau lại,

hỗ trợ nhau cùng phát triển kinh tế, nâng cao đời sống dân cư, xây dựng nềnkinh tế độc lập, tự chủ Trong trào lưu thành lập các ngân hàng khu vực, trên

cơ sở đềxuất từ 1963 của Uỷ ban kinh tế – xã hội Châu Á– Thái Bình Dươnghọp tại Manila, Philippin năm 1965 đã kí kết Điều lệ thành lập Ngân hàngPhát triển Châu Á Ngân hàng chính thức đi vào hoạt động ngày 19/12/1966với 43 thành viên sáng lập có Hội sở tại Manila và vốn điều lệ 956 triệu USD

1.2.1.1 Mục tiêu hoạt động của ADB

*Mục tiêu hoạt động của ADB bao gồm:

- Hỗ trợ cho việc chuẩn bị và phối hợp các chương trình phát triểnquốc gia của các nước trong khu vực

- Viện trợ kĩ thuật cho việc xây dựng và thực hiện các dự án pháttriển cụ thể của các nước trong khu vực

- Cho vay dài hạn cho các dự án phát triển của các quốc gia trongkhu vực

- Thúc đẩy đầu tư Chính phủ và đầu tư tư nhân

- Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác trong phát triển kinh tế cácnước trong khu vực

- Cung cấp các dịch vụ nghiên cứu và quản trị cho các nước trongkhu vực

1.2.1.2 Nguồn vốn hoạt động của ADB

* Nguồn vốn thông thường (OCR) : Gồm vốn điều lệ, vốn huy động

Trang 11

- Vốn điều lệ: Được các nước thành viên đóng góp với mức tươngđương 0,5% GDP bình quân của 5 năm liên tục tính đến thời điểm gia nhập.Theo qui chế, tối thiểu 60% vốn điều lệ do các nước trong khu vực nắm giữ.Hiện nay, tỉ lệ này là 64,5% trong khu vực và 35,5% ngoài khu vực

- Vốn huy động: Nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động là vốn huy độngtrên thị trường tài chính quốc tế thông qua phát hành trái phiếu ADB tươngđối thận trọng trong chính sách vay nợ Tỉ lệ vay nợ trên vốn tự có là 1:1,nghĩa là các khoản vay không vượt quá vốn cổ phần ( cả phần đã nộp và phầnphải nộp) và vốn dự trữ Trái phiếu của ADB được xếp hạng AAA

- Vốn dự trữ: Hình thành từ lợi nhuận ròng của Ngân hàng Hiện nayđạt gần 4 tỉ USD

* Nguồn vốn đặc biệt (ADF):

Hình thành do sự đóng góp của một số nước phát triển trong và ngoàichâu lục để tạo lập các Quỹ đặc biệt nhằm tài trợ cho các nước nghèo trongkhu vực với những điều kiện ưu đãi so với những khoản tài trợ từ nguồn vốnthông thường - Quỹ phát triển châu Á : Thành lập từ năm 1974 với số vốn là

525 triệu USD, và được thương lượng nâng vốn định kì 4 năm một lần, naytăng lên 2,45 tỉ USD Lãi suất ưu đãi 1%, thời hạn vay nợ 40 năm Thườngcho vay với Bangladesh (30%), Nepan, Srilanca, Myanmar,…

- Quỹ đặc biệt hỗ trợ kĩ thuật: Thành lập năm 1976 Ngoài vốn góp củacác thành viên giàu còn có khoản trích hàng năm từ Quỹ phát triển châu Á.Hiện nay đã đạt hơn 220 triệu USD

- Quỹ Nhật Bản: Thành lập năm 1988 với số vốn ban đầu là 35,8 triệuUSD, hiện nay đạt trên 200 triệu USD

1.2.1.3 Hoạt động tài trợ của ADB

Để nâng cao hiệu quả các khoản tài trợ cho các nước thành viên châulục, ABD có nhiều điều chỉnh trong chính sách trong những năm gần đây Cụthể:

- Vừa kiên trì chính sách tài trợ nhằm vào khu vực kinh tế công,trước áp lực của Mỹ và một số nước Tây Âu, ADB đã chú ý tài trợ khu vực

Trang 12

doanh nghiệp tư nhân với số tiền hàng tỉ USD, chiếm khoảng 10% số tài trợcủa ADB

- Bên cạnh chú ý tài trợ cho các dự án năng lượng (30%), cơ sở hạtầng giao thông, vận tải, phát triển nông nghiệp, ADB đã chú ý tài trợ các dự

án phát triển đô thị, giáo dục, y tế, xoá đói, giảm nghèo, tăng cường vai tròphụ nữ, bảo vệ môi trường…(khoảng 14 – 18% số tiền tài trợ hàng năm)

- Trong thời gian gần đây, ngoài tài trợ trực tiếp cho các dự án lớn,

đã áp dụng phương pháp tài trợ gián tiếp qua các định chế tài trợ của các nướcthành viên với các dự án vừa và nhỏ với số vốn nhiều tỉ USD

- Đối với các dự án nhỏ, ADB đã thực hiện tài trợ theo ngành Tứctài trợ một khoản tín dụng duy nhất cho một nhóm các dự án nhỏ trong mộtngành, tiểu ngành theo khu vực địa lí nhất định hoặc nằm trong một giai đoạnnào đó trong một chương trình đầu tư nhất định ( chiếm khoảng 11% tổng vốntài trợ của ADB hàng năm)

- ADB cũng có vai trò lớn trong sự phát triển của thị trường vốnchâu Á Từ năm 1991, sau khi hoàn thành công trái phiếu tại 3 thị trường ĐàiLoan, Singapore, Hong Kong với mức vốn 300 triệu USD thì các đợt pháthành trái phiếu mang tên “ Dragon” của ADB liên tục được thực hiện ADBchú ý phát triển thị trường vốn thứ cấp và đặt ra yêu cầu thành lập ra mạngthanh toán bù trừ giữa các thị trường vốn châu Á mà hiện nay cón khá rời rạc

- Trong hoạt động tài trợ cần phải nói tới hiệu qủa cao của cáckhoản tài trợ đặc biệt của ADB giúp các nước thành viên đối phó với các biếnđộng về chính trị, thiên tai, khủng hoảng tài chính – tiền tệ trong khu vực vàtrên thế giới

1.2.2 Nguồn vốn ODA của ADB

Các khoản tài trợ ODA của ADB được hình thành từ chính nguồn vốnđặc biệt (ADF) Nói cách khác, ADF đây thực chất là nguồn vốn hỗ trợ pháttriển chính thức (ODA) của ADB

Từ khi bắt đầu hoạt động năm 1993, các hoạt động của ADB đã được

Trang 13

49 khoản vay ODA cho khu vực công ( đạt 3,9 tỉ USD ); 178 dự án hỗ ODAtrợ kĩ thuật ( đạt 120 triệu USD ); và 7 dự án ( đạt 337 triệu USD ) từ các hoạtđộng khu vực tư nhân của mình ADB cũng đã tài trợ nhiều dự án ODA tạikhu vực Tiểu vùng Mêkông mở rộng bao gồm cả Việt Nam Việt Nam là mộttrong số các nước nhận hỗ trợ ODA nhiều nhất

Nguồn vốn ODA của ADB tập trung vào phục hồi và cải cách kinh tế

Từ năm 2002 ( thuộc Chiến lược và Chương trình Quốc gia CSP trước ), ADB

đã hỗ trợ cho các nỗ lực Chính phủ nhằm giảm nghèo với trọng tâm:

- Tăng trưởng bền vững

- Phát triển xã hội đồng đều

- Quản trị điều hành tốt

- Và đặt trọng tâm về mặt địa lí vào các khu vực miền trung

Mục tiêu của việc hỗ trợ ODA của ADB là giúp các Chính phủ giảm tỉ

lệ nghèo xuống còn 10 – 11% vào năm 2010 ADB dự định thực hiện mụctiêu này, bằng cách hỗ trợ các nỗ lực của các Chính phủ trong việc triển khai

Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, với trọng tâm đặc biệt vào thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế vì người nghèo, dựa trên các hoạt động kinh doanh Duy trìđược tăng trưởng mạnh mẽ bằng các hoạt động kinh doanh cực kì quan trọngtrong việc thúc đẩy các cơ hội tạo việc làm, tăng thu nhập

Nguồn vốn ODA của ADB đựoc ưu tiên dành cho các mụctiêu sau:

- Phát triển cơ sở hạ tầng

- Cải thiện môi trường thuận lợi cho kinh doanh

- Củng cố trung gian tài chính

- Đáp ứng nhu cầu ngày một tăng về nguồn nhân lực có kĩ năng

- Giảm nghèo và phát triển xã hội

- Hệ thống y tế và kiểm soát dịch bệnh

- Quản lí môi trường

- Phát triển đô thị và môi trường

- Các hoạt động tư nhân

Trang 14

ADB ưu tiên hỗ trợ phát triển chính thức cho các lĩnh vực sau:

- Phát triển cơ sở hạ tầng: ADB đóng vai trò chủ đạo trong phát triển cơ

sở hạ tầng của Việt Nam Sự hỗ trợ của ADB trong việc giảm bớt các vướngmắc cơ sở hạ tầng sẽ tập trung vào vận tải và năng lượng

- Các nhu cầu cơ bản của con người, ủng hộ cung cấp dịch vụ y tế, giáodục cơ sở, nước sạch, vệ sinh, nhà ở

- Phát triển khu vực tư nhân: củng cố môi trường, khuyến khích cáchoạt động tư nhân, hỗ trợ trực tiếp cho phát triển khu vực tư nhân nhằm pháttriển kinh tế bền vững và đồng đều

- Môi trường: giúp các nước đang phát triển bảo vệ môi trường, đónggóp vào việc giải quyết các vấn đề môi trường chung của khu vực và toàn cầu

Nhìn chung, cũng như hầu hết các nhà tài trợ ODA, ADB cũng cónhững điều kiện đối với các nước nhận tài trợ, nhất là trong lĩnh vực mua sắmhàng hoá Như:

- Chỉ dùng vốn vay để mua sắm hàng hoá (phục vụ sản xuất) được cungcấp hoặc sản xuất tại các nước thành viên của Ngân hàng, trừ khi Hội đồngquản trị có quyết định khác đi

- Tạo cơ hội cho tất cả các nước thành viên cung cấp hàng hoá, dịch vụ

do Ngân hàng tài trợ

Trang 16

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA CỦA ADB TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

2.1 Mối quan hệ giữa ADB và Việt Nam.

Năm 1968, Việt Nam trở thành thành viên của ADB Trong khoảngthời gian từ năm 1968- 1975, ADB cũng đã có một vài khoản tài trợ nhỏ chocác dự án đầu tư ở miền Nam Việt Nam Nhưng sau khi đất nước thống nhất,năm 1976, do sự cấm vận của Mỹ, tất cả các tổ chức Tài chính Quốc tế, kể cảADB, đã tạm ngừng các hoạt động tài trợ cho Việt Nam Mãi đến tháng10/1993, ADB mới nối lại quan hệ tài trợ với Việt Nam

Các nước thành viên đi vay của ADB được chia thành 3 nhóm A, B, và

C Các nước thuộc nhóm A được vay vốn từ nguồn ADF Các nước thuộcnhóm B có thể vay từ cả hai nguồn ADF và OCR, các nước thuộc nhóm Ckhông được vay từ nguồn ADF Đối với Việt Nam, ADB xếp Việt Nam vàonhóm B1 bắt đầu từ năm 1999, có nghĩa là các hoạt động tài trợ của ADBkhông chỉ được thực hiện bằng nguồn vốn ADF mà cả bằng nguồn hỗn hợpADF, OCR Mặc dù vẫn là nước vay vốn ADF lớn nhất của ADB, song trongnhững năm vừa qua nguồn vốn ADF cho Việt Nam vay ngày một giảm do hạnchế về nguồn vốn nói chung của ADB và cũng do ADB phải dành nhiều vốnhơn cho các nước tái thiết sau xung đột trong khu vực

Để xác định định hướng tài trợ của mình, ngay từ năm 1995, ADB đãxây dựng chiến lược hoạt động của ADB tại Việt Nam Theo đó ADB sẽ tậptrung tài trợ cho 5 lĩnh vực chủ yếu: (i) Cải tổ chính sách và phát triển thể chế;(ii) Phát triển hạ tầng cơ sở; (iii) Phát triển nông thôn; (iv) Phát triển nguồnnhân lực; (v) Quản lý môi trường và nguồn tự nhiên

2.2 Thực trạng thu hút và sử dụng ODA của ADB tại Việt Nam thời gian qua.

2.2.1 Tình hình thu hút vốn ODA tại Việt Nam nói chung

Trang 17

Sau hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu pháttriển kinh tế và tiến bộ xã hội vượt bậc, được dư luận trong nước và quốc tếthừa nhận rộng rãi: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ bình quân7,5%/năm, mức đói nghèo giảm từ trên 50% vào đầu những năm 90 xuốngcòn trên 10% vào năm 2008, hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấubằng việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO), được bầu là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo

an Liên Hợp Quốc, Việt Nam là thành viên tích cực của ASEAN, APEC, vànhiều Diễn đàn, tổ chức quốc tế khác, Những thành tựu mà Việt Nam đạtđược trong thời gian qua có phần đóng góp quan trọng của viện trợ phát triểnnhư một phần trong sự nghiệp phát triển của Việt Nam

Kể từ khi nối lại quan hệ với cộng đồng quốc tế (1993) đến nay, tổngvốn ODA mà các nhà tài trợ cam kết cho Việt Nam đạt 46,889 tỉ USD vớimức cam kết năm sau cao hơn năm trước, kể cả những năm kinh thế thế giớigặp khó khăn như khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 Tuy nhiênviệc kí kết và giải ngân thì lại không được cao Tổng ODA mà các nhà tài trợ

kí kết cho Việt Nam là 37,662 tỉ USD chiếm 72,56% tổng vốn cam kết và giảingân thì chỉ đạt 22,575 tỉ USD chiếm 48,14% tổng vốn ODA cam kết và 60%tổng vốn ODA đã kí kết

Biểu đồ 2.1 Tình hình cam kết, kí kết và giải ngân của các nhà tài trợ cho Việt Nam

Trang 18

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Nhìn vào biểu đổ 2.1 ta thâý mặc lượng vốn giải ngân còn chưa caonhưng có những cải thiện nhất định với chiều hướng tích cực qua các năm.Đặc biệt là trong mấy năm trở lại đây, tỉ lệ giải ngân đã chiếm khoảng trên70% Đó đã là cả một nỗ lực lớn từ phía chúng ta trong việc thu hút nguồnvốn hỗ trợ này Tuy nhiên, mức giải ngân này vẫn chưa đạt mục tiêu đề ratrong các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và vẫn còn thấp hơn mứctrung bình của thế giới và khu vực

2.2.2 Thực trạng thu hút vốn ODA của ADB tại Việt Nam

2.2.2.1 Tình hình cam kết ODA của ADB cho Việt Nam

Là một trong những nhà tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, tronghơn 15 năm qua, ADB đã cam kết tài trợ cho Việt Nam gần 10 tỉ USD, chiếm19,23% tổng vốn ODA cam kết của tất cả các nhà tài trợ Bảng số liệu sau cho

ta cái nhìn cụ thể về lượng vốn ODA mà ADB cam kết dành cho Việt Namtrong suốt thời gian kể từ khi nối lại quan hệ đến nay

Trang 19

Bảng 2.1 Vốn ODA cam kết của ADB cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2009:

Đơn vị tính: Triệu USD

Năm

Tổn

ODA camkết

ADB

ODAcam kết

Tỉ lệ %/tổngODA cam kết

Trang 20

Ghi chú: số liệu năm 2009 là con số ước tính

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Từ bảng 2.1 ta có thể thấy mức ODA trung bình của ADB cho ViệtNam trong giai đoạn qua vào khoảng 665 triệu USD/năm và có sự tăng nhanh

cả về số lượng và tỉ trọng Nếu như năm 1993 mức cam kết viện trợ của ADBcho Việt Nam là 272 triệu USD chiếm 15,03% tổng mức ODA mà các nhà tàitrợ cam kết cho Việt Nam thì đến năm 2009 con số này đã lên tới 1,566 tỉUSD và chiếm 31,23% Một tỉ trọng không hề nhỏ.Nhìn vào bảng số liệu tathấy càng về những năm gần đây lượng ODA mà ADB tài trợ cho Việt Namcàng tăng cả về số lượng và tỉ trọng Trong hai năm vừa qua( 2007 và 2008),ADB liên tục dẫn đầu trong danh sách các nhà tài trợ cho Việt Nam Và đếnnăm 2009 ADB đã vươn lên chiếm 30,23% tỉ trọng vốn ODA các nhà tài trợcam kết cho Việt Nam, con số lớn nhất trong suốt 15 năm qua Con số đóminh chứng cho một điều là Việt Nam đã thực sự chiếm được lòng tin của tổ

chức tài trợ này

Biểu đồ 2.2 Tình hình cam kết ODA của ADB cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2009:

Trang 21

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

2.2.2.2 Tình hình ODA kí kết giữa ADB và Việt Nam

Kể từ khi các hoạt động của ADB được nối lại vào năm 1993 và chođến cuối năm 2008, ADB đã cung cấp cho Việt Nam 49 khoản vay với tổng

số vốn trên 4,8 tỉ USD, chiếm 57,77% số vốn đã cam kết

Các cam kết ODA của ADB cho Việt Nam qua các năm được hợp thứchoá bằng các Điều ước quốc tế được ký kết giữa nhà tài trợ và Việt Nam Nếunhư tháng 10/1993 đánh dấu sự trở lại chính thức của ADB tại Việt Namthông qua Hội nghị CG tại Paris với mức cam kết tài trợ cho năm sau (năm1994) là 272,4 triệu USD, thì ngay trong 3 tháng cuối năm này, ADB đã bướcđầu ký kết tài trợ cho Việt Nam với tổng trị giá là 7,22 triệu USD Con số nàytuy không nhiều và mới chỉ đạt 0,79% số ODA được ký kết cho Việt Namtrong năm này nhưng nó cũng phần nào thể hiện sự quan tâm của ADB đốivới Việt Nam ngay sau khi trở lại viện trợ

Trang 22

Biểu đồ 2.3 Tình hình kí kết ODA của ADB dành cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2008:

Nguồn : Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Triệu USD

7.22

268.47 371.4

159.91

288.9 211.88 358.15

153.64 214 263.44 308.06 349 289.27290

257 310

Trang 23

Bảng 2.2.Vốn ODA kí kết của ADB dành cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2008

Đơn vị: Triệu USD

Năm

Tổn

g ODA kí kết của các nhà tài trợ

OD

A cam kết của ADB

OD

A kí kết của ADB

Tỉ

lệ ODA kí kết/đã cam kết (%)

OD

A kí kết của ADB/tổng ODA kí kết của các nhà tài trợ (%)

272

7,22

2,65

0,79

47

74,57

10,81

40

116,06

21,83

91

59,23

7,94

90

104,67

15,04

88

76,77

7,80

15

111,57

17,62

64

47,86

8,53

324

214

66,05

8,80

44

67,20

14,42

06

55,91

17,49

Trang 24

1001

410

40,95

12,86

1032

530

51,35

15,00

1350

680

50,37

16,49

Tổn

g

37662

,34

57,77

12,91

Nguồn : Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Nhìn vào bảng 2.2, ta thấy đáng chú ý và nổi bật hơn cả là trong cácnăm 1995, năm 1997 và năm 1999, số vốn ODA mà ADB kí kết tài trợ choViệt Nam đã vượt mức cam kết Đặc biệt là năm 1995 với con số vượt mứccao nhất là 16,06% Với con số này ADB trở thành nhà tài trợ lớn nhất choViệt Nam trong năm 1995, chiếm 21,83% tổng lượng ODA được ký kết trongnăm này So với năm đầu tiên còn rụt rè (ODA ký kết của ADB chỉ đạt 0,79%trên tổng ODA ký kết) thì có thể nói đây là một nỗ lực rất lớn của không chỉnước nhận ODA mà còn là nỗ lực của cả nhà tài trợ cùng với những ưu ái màADB dành cho Việt Nam Tuy nhiên, cũng có một thực tế đáng buồn đó làmặc dù trong những năm gần đây lượng vốn cam kết cũng như kí kết củaADB cho Việt Nam đề tăng nhưng tỉ lệ phần trăm giữa số vốn kí kết trên sốvốn đã cam kết bị giảm Tỉ lệ bình quân trong cả giai đoạn là 57,77% Nếunhư trong giai đoạn từ 1993 – 2005 con số này nằm trong khoảng 62% thìtrong mấy năm gần đây tỉ lệ này chỉ còn khoảng 58% Mặc tỉ lệ ODA kí kếtcủa ADB trên tổng ODA đã kí kết của các nhà tài trợ tăng nhưng đây vẫn làmột thực tế đáng buồn cho Việt nam

Như vậy, tính chung trong cả giai đoạn 1993- 2008, tổng số vốn ODAđược kí kết giữa ADB và Việt Nam khoảng trên 4,8 tỉ USD chiếm 12,91%tổng ODA kí kết với các nhà tài trợ và đạt 57,77% tổng ODA mà ADB đã

Trang 25

2.2.2.3 Tình h ình giải ngân ODA của ADB.

Tình hình thu hút ODA của ADB tại Việt Nam nhìn chung có nhữngbước tiến triển khá, năm sau cao hơn năm trước và thực hiện tốt kế hoạch giảingân hàng năm Nguồn vốn ODA của ADB được giải ngân trong giai đoạn từnăm 1993 đến hết năm 2008 đạt khoảng 3,49 tỷ USD,bằng 41,48% tổng vốnODA cam kết, bằng 71,8% tổng vốn ODA ký kết và chiếm 15,47% trongtổng vốn ODA mà tất cả các nhà tài trợ đã giải ngân cho VN

Trang 26

Bảng 2.3.Vốn ODA giải ngân của ADB cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2008

Đơn vị tính: triệu USD

ODA kíkết củaADB

ODAgiảingâncủaADB

ODA giảingân/ODAcam kết(%)

ODAgiảingân/ODA

kí kết(%)

ODA giảingân củaADB /tổngODA giảingân củacác nhàtài trợ(%)

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Nhìn vào bảng 2.3 ta có thể nhận thấy lượng ODA mà ADB giải ngâncho Việt Nam trong suốt thời gian qua là tương đối ổn định và có xu hướngtăng

lên theo các năm Nếu như năm 1993 con số giải ngân được là khá khiêm tốn,chỉ 5 triệu USD (lí do cũng bởi trong năm này lượng ODA mà ADB cam kết

Trang 27

tăng lên tới 104,3 triệu USD Cũng từ đó đến nay, vốn ODA giải ngân đượctăng khá đều đặn Đến năm 2008 thì con số này đạt mức kỉ lục là 615,6 triệuUSD

Mặc dù vốn giải ngân tăng nhưng vốn cam kết lại cũng tăng thậm chícòn tăng mạnh hơn nên thành ra tỉ lệ giữa giải ngân và cam kết ODA củaADB cho Việt Nam không có chiều hướng tăng lên Tỉ lệ này hàng năm chỉkhoảng trên dưới 41,48%, là thấp hơn rất nhiều so với tỉ lệ giải ngân và camkết chung của Việt Nam với các nhà tài trợ (48,14%) Tuy ADB là một trongnhững nhà tài trợ hàng đầu của Việt Nam, mỗi năm đều cam kết tài trợ chochúng ta một lượng ODA lớn hơn rất nhiều các nhà tài trợ khác nhưng việcgiải ngân được lại không cao như lẽ ra phải được Điều này cho thấy năng lựcyếu kém của chúng ta trong việc thu hút vốn ODA từ nhà tài trợ này

Cũng từ bảng số liệu trên ta thấy mặc dù tỉ lệ vốn giải ngân trên vốncam kết của ADB là thấp hơn so với mặt bằng chung của các nhà tài trợnhưng tỉ lệ giữa giải ngân và kí kết lại cao hơn rất nhiều, bình quân cả giaiđoạn là 71,8% trong khi mặt bằng chung chỉ là 60% Đặc biệt trong 2 năm trởlại đây con số này đều đạt trên 90% Đó là một tín hiệu đáng mừng cho ViệtNam và cũng là một nỗ lực không chỉ của chúng ta mà còn là của cả ADBnữa

Giải ngân của ADB so với các nhà tài trợ khác bình quân cả giai đoạnchiếm khoảng 15,47% và cũng tăng dần qua các năm.Đặc biệt trong hai nămvừa qua, tỉ lệ tăng mạnh vào khoảng trên dưới 24%

Từ những con số trên đây có thể thấy, lượng ODA mà ADB giải ngâncho Việt Nam tuy không được như mong đợi nhưng vẫn chiếm một tỉ trọngkhá lớn trong tổng ODA mà các nhà tài trợ giải ngân cho chúng ta Một lầnnữa khẳng định, ADB luôn là một nhà tài trợ lớn của Việt Nam Chúng ta cầnphải tăng cường việc thu hút vốn ODA của ADB tận dụng nguồn vốn này

Biểu đồ 2.4 Tình hình giải ngân của ADB cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2008

Ngày đăng: 25/04/2013, 10:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Vốn ODA cam kết của ADB cho  Việt Nam giai đoạn 1993 – 2009: - Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam
Bảng 2.1. Vốn ODA cam kết của ADB cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2009: (Trang 19)
Bảng 2.2.Vốn ODA kí kết của ADB dành cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2008 - Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam
Bảng 2.2. Vốn ODA kí kết của ADB dành cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2008 (Trang 23)
Bảng 2.3.Vốn ODA giải ngân của ADB cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2008 - Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam
Bảng 2.3. Vốn ODA giải ngân của ADB cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2008 (Trang 26)
Bảng 2.5: Cơ cấu sử dụng ODA theo ngành, lĩnh vực  tính đến 31/8/2008) - Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam
Bảng 2.5 Cơ cấu sử dụng ODA theo ngành, lĩnh vực tính đến 31/8/2008) (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w