1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc

127 580 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính Toán Thủy Văn và Điều Tiết Hồ Chứa Xạ Hương – Huyện Bình Xuyên – Tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả Nguyễn Bá Huy
Trường học Trường Đại Học Thủy Lợi
Chuyên ngành Thủy Văn và Tài Nguyên Nước
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Thành phố Vĩnh Phúc
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 4,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trung du và miền núi phía bắc.

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 5

MỞ ĐẦU 9

CHƯƠNG I: ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 11

I.1 Tỉnh Vĩnh Phúc 11

I.1.1 Điều kiện tự nhiên 11

I.1.1.1 Vị trí địa lí 11

I.1.1.2 Địa hình 11

I.1.1.3 Địa chất 18

I.1.1.4 Thực vật và động vật 18

I.1.1.5 Khí hậu 20

I.1.2 Tình hình dân sinh kinh tế 21

I.1.2.1 Bản đồ hành chính 21

I.1.2.3 Dân cư dân tộc 22

I.1.2.4 Kinh tế 31

I.2 Huyện Bình Xuyên – Vĩnh Phúc 31

I.2.1 Địa lý 31

I.2.2 Hành chính 32

I.2.3 Giao thông 32

I.3 Hồ Xạ Hương 32

CHƯƠNG II: TÍNH TOÁN CÁC ĐẶC TRƯNG KHÍ TƯỢNG 33

II.1 Nhiệt độ 33

II.2 Nắng 33

II.3 Gió 33

II.4 Độ ẩm 34

II.5 Bốc hơi 34

II.6 Mưa 34

II.6.1 Quy luật biến đổi mưa theo thời gian 36

II.6.1.1 Xác định lượng tổn thất ổn định 36

II.6.1.2 Phân mùa mưa 37

II.6.2 Tính lượng mưa năm trung bình nhiều năm 37

Trang 2

II.6.3 Tính lượng mưa năm thiết kế 38

II.6.4 Phân phối mưa năm 38

II.6.4.1 Phân phối mưa năm trung bình 38

II.6.4.2 Phân phối mưa năm thiết kế 40

II.6.5 Mưa vụ 44

II.6.5.1 Tính toán mưa vụ thiết kế 44

II.6.5.2 Xác định mô hình mưa vụ thiết kế 45

II.6.6 Mưa lũ 47

CHƯƠNG III: TÍNH TOÁN THỦY VĂN THIẾT KẾ 48

III.1 Đặt Vấn Đề 48

III.1.1 Giới thiệu về mô hình toán 48

III.1.2 Giới thiệu mô hình TANK 52

III.1.2.1 Cấu trúc mô hình TANK đơn 52

III.1.2.2 Bộ thông số của mô hình 61

III.1.2.3 Nguyên lý của mô hình Tank 62

III.1.3 Ứng dụng mô hình Tank để tính toán dòng chảy đến hồ 62

III.1.3.1 Tài liệu dùng cho mô hình 63

III.1.3.2 Xác định bộ thông số mô hình 63

III.1.3.3 Tính toán dòng chảy đến hồ Xạ Hương 65

III.2 Tính toán dòng chảy 65

III.2.1 Tính toán dòng chảy năm 65

III.2.1.1 Dòng chảy năm 65

III.2.1.2 Lượng dòng chảy năm thiết kế 68

III.2.2 Phân phối dòng chảy năm 69

III.2.2.1 Phân mùa dòng chảy 69

III.2.2.2 Mô hình phân phối dòng chảy trung bình 70

III.2.2.3 Mô hình phân phối dòng chảy theo phương pháp năm đại biểu 71

III.2.3 Tính toán dòng chảy lũ 75

III.2.3.1 Tính toán lưu lượng đỉnh lũ thiết kế 76

III.2.3.2 Xác định tổng lượng lũ lớn nhất thiết kế 79

III.2.3.3 Xác định đường quá trình lũ thiết 79

Trang 3

III.2.4 Dòng chảy bùn cát 81

III.2.4.1 Bùn cát lơ lửng 81

III.2.4.2 Bùn cát di đáy 82

III.2.4.3 Tổng dung tích bùn cát 82

CHƯƠNG IV: ĐIỀU TIẾT DÒNG CHẢY 83

IV.1 Hồ chứa và điều tiết dòng chảy bằng hồ chứa 83

IV.1.1 Khái niệm về điều tiết dòng chảy và phân loại 83

IV1.1.1 Khái niệm về điều tiết dòng chảy 83

IV1.1.2 Phân loại điều tiết dòng chảy 83

IV.1.2 Các thành phần dung tích và mực nước của hồ chứa 84

IV.1.2.1 Mực nước chết Hc và dung tích chết Vc 84

IV.1.2.2 Mực nước bình thường H bt và dung tích hiệu dụng V h 84

IV.1.2.3 Mực nước siêu cao H sc và dung tích siêu cao V sc 85

IV.1.2.4 Mực nước trước lũ H TL với dung tích kết hợp V KH 85

IV.1.3 Tài liệu cơ bản dung trong tính toán hồ chứa 86

IV.1.3.1 Tài liệu khí tượng thủy văn 86

IV.1.3.2 Tài liệu về dân sinh kinh tế 86

IV.1.3.4 Tài liệu về địa hình hồ chứa 87

IV.1.3.5 Tài liệu về bùn cát 88

IV.2 Tính toán điều tiết cấp nước 88

IV.2.1 Khái niệm chung 88

IV.2.2 Xác định hình thức điều tiết của hồ 90

IV.2.3 Tính toán điều tiết năm bằng phương pháp lập bảng 91

IV.2.3.1 Nguyên lý tính toán điều tiết 91

IV.2.3.2 Trình tự tính toán 92

IV.2.3.3 Xác định dung tích hiệu dụng của hồ 93

IV.2.3.4 Nhận xét phương pháp 104

IV.2.4 Kết luận 104

IV.3 Tính toán Điều tiết lũ 105

IV.3.1 Khái quát chung 105

IV.3.2 Tính toán điều tiết lũ bằng phương pháp giản hóa của Kô-trê-rin 106

Trang 4

IV.3.3 Kết luận 110

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111

I Kết luận 111

II.Kiến nghị 113

PHỤ LỤC 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

Trang 5

MỞ ĐẦU

Như chúng ta đều biết, nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự hìnhthành, phát triển của xã hội loài người Bên cạnh vai trò quan trọng đó nước cũng làmột trong những tác nhân gây ra các hiểm hoạ như lũ lụt, hạn hán và sa mạc hoá,tác động trực tiếp đến đời sống của con người Thậm chí ở một số nơi trên thế giới,việc giành quyền sở hữu nguồn nước là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những cuộcxung đột đẫm máu giữa một số quốc gia

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hệ thống sông, hồ, kênh rạch phongphú và lượng mưa trung bình hàng năm tương đối lớn, từ 1.200 đến 3.000 mm Làmột trong những quốc gia có nguồn tài nguyên nước phong phú, thuộc loại cao trênthế giới và có trữ lượng nước dồi dào ở khu vực Châu Á Chính sự ưu đãi to lớn vềtài nguyên thiên nhiên như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh

tế - xã hội Tuy nhiên, sự phân bố rất không đều giữa các mùa trong năm và giữacác vùng, các lưu vực sông trong cả nước, gây ra lũ lụt vào mùa mưa và hạn hán,thiếu nước về mùa khô Cùng với quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đấtnước, những vấn đề mới nảy sinh như ô nhiễm môi trường, ô nhiễm dòng chảy sông

hồ, sự cạn kiệt nguồn nước… đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề, ảnh hưởngtiêu cực đến sự phát triển và an sinh xã hội

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đang phải từng ngày, từng giờ hứngchịu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu như hiện tượng trái đất nóng lên,hiện tượng El Nino, La Nina…mà Việt Nam là một trong những nước bị ảnh hưởngnặng nề nhất Nhiều vùng đất đai màu mỡ của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ

bị biến mất trên bản đồ trong vòng vài chục năm tới

Để tăng cường điều hòa dòng chảy, nhiều công trình thủy lợi, đặc biệt làcông trình hồ chứa đã được xây dựng nhằm phục vụ đời sống và sản xuất cũng nhưphòng, chống, giảm nhẹ thiên tai Các công trình này đã góp phần quan trọng trongviệc đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thờigian qua Với mong muốn vận dụng các kiến thức đã học về nghành Thủy văn, đặc

biệt là chuyên ngành Tính toán Thủy văn, em đã chọn đề tài: “Tính toán Thủy văn

và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc ” để làm đồ

Trang 6

án tốt nghiệp Nội dung chủ yếu của đồ án là nghiên cứu và tính toán một số đặctrưng Khí tượng - Thủy văn thiết kế cho lưu vực để phục vụ bài toán quy hoạch,tính toán điều tiết hồ chứa phục vụ cấp nước tưới cho nông nghiệp.

Với mục tiêu đề ra như trên, đồ án đã sử dụng những phương pháp sau đểphân tích tính toán:

- Phương pháp điều tra và thu thập số liệu

- Phương pháp thống kê xác suất

- Phương pháp sử dụng mô hình toán

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đồ án được trình bày trong 4 chương, baogồm:

Chương 1: Điều kiện địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu : Chương này

trình bày khái quát một số đặc điểm địa lý, địa hình của lưu vực và khái quát về tìnhhình dân sinh kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Bình Xuyên

Chương 2: Tính toán các yếu tố khí tượng: Chương này phân tích và tính

toán một số đặc trưng bao gồm: Lượng mưa bình quân trên lưu vực; lượng mưanăm thiết kế; phân mùa mưa, tính toán phân phối mưa năm

Chương 3: Tính toán thủy văn thiết kế: Chương này phân tích tính toán

dòng chảy năm; tính toán dòng chảy lũ; tính toán dòng chảy bùn cát

Chương 4: Điều tiết dòng chảy : Chương này tính toán điều tiết để xác định

dung tích hiệu dụng của hồ Xạ Hương từ đó phục vụ thiết kế xây dựng hồ chứa vàđiều tiết cấp nước cho khu vực Bình Xuyên Ngoài ra tính toán điều tiết lũ nhằmphòng lũ cho công trình

Với những nội dung đó, đồ án giúp Sinh Viên biết cách vận dụng các cáckiến thức đã học vào việc tính toán thủy văn phục vụ thiết kế xây dựng các côngtrình thủy lợi Ngoài ra đồ án còn giúp sinh viên biết phân tích lựa chọn nhữngphương pháp tính toán phù hợp, phân tích được tính quy luật của các yếu tố thủyvăn từ kết quả tính toán

Trang 7

CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Tỉnh Vĩnh Phúc có các điểm cực:

- Điểm cực bắc ở 210,35 vĩ bắc (Đạo Trù - Tam Đảo)

- Điểm cực nam ở 210,06 vĩ bắc (Tráng Việt - Mê Linh)

- Điểm cực đông ở 1060,48 kinh đông (Ngọc Thanh TX Phúc Yên)

- Điểm cực tây ở 1060,19 kinh đông (Bạch Lưu – Lập Thạch)

Tỉnh Vĩnh Phúc tiếp giáp với các tỉnh:

- Phía bắc giáp hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, đường ranh giới làdãy núi Tam Đảo, Sáng Sơn

- Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới tự nhiên là Sông Lô

- Phía nam giáp Hà Nội, ranh giới tự nhiên là sông Hồng

- Phía đông giáp hai huyện Sóc Sơn, Đông Anh – Hà Nội

(Nguồn: www.vi.wikipedia.org) I.1.1.2 Địa hình

Địa hình Vĩnh Phúc kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, là phươngchung của địa hình ở miền Bắc và Đông Bắc Bắc bộ Việt Nam Phía bắc của tỉnh códãy núi Tam Đảo với đỉnh Đạo Trù cao 1.592m, phía tây Nam được bao bọc bởi 2con sông lớn là sông Hồng và sông Lô, tạo nên dạng địa hình thấp dần từ đông bắc

Trang 8

xuống tây nam và chia ra 3 vùng có địa hình đặc trưng: đồng bằng, gò đồi, núi thấp

và trung bình

Địa hình đồng bằng: gồm 76 xã, phường và thị trấn, với diện tích tự nhiên là

46.800 ha Vùng đồng bằng bao gồm vùng phù sa cũ và phù sa mới, chủ yếu do phù

sa của các hệ thống sông lớn như: Sông Hồng, sông Lô, sông Đáy bồi đắp nên vùngphù sa cũ chiếm diện tích khá rộng, gồm phía bắc của thị xã Phúc Yên, cáchuyện Yên Lạc, Vĩnh Tường và phía nam của các huyện Tam Dương, Bình Xuyên,được hình thành cùng thời kì hình thành châu thổ sông Hồng Vùng phù sa mới dọctheo các con sông thuộc các huyện Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, nam BìnhXuyên, được hình thành vào thời kì Đệ tứ - Thống Holoxen Đất đai vùng đồngbằng được phù sa sông Hồng bồi đắp nên rất màu mỡ, là điều kiện lí tưởng cho việcphát triển kinh tế nông nghiệp thâm canh

Địa hình đồi : gồm 33 xã, phường và thị trấn, với diện tích tự nhiên là 24.900

ha, đây là vùng đồi thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và hoa màukết hợp với chăn nuôi gia súc, tạo điều kiện thuận lợi trong việc chuyển đổi cơ cấucây trồng và chăn nuôi theo hướng tăng sản xuất hàng hoá thực phẩm Vùng đồinúi Bình Xuyên là vùng được thành tạo vào thời kì Trung Trias giữa Đệ Tam, gồmcác lớp trầm tích bể cạn, gồm các phiến thạch, sa thạch, phiến sa và một số loại đákhác xen kẽ

Địa hình núi thấp và trung bình : Có diện tích tự nhiên là 56.300 ha, chiếm

46,3% diện tích tự nhiên của tỉnh Địa hình vùng núi phức tạp bị chia cắt, có nhiềusông suối, đây là một trong những ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh quanh HàNội, vì nó sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các khu công nghiệp tậptrung và các khu du lịch sinh thái Vùng núi Tam Đảo có diện tích rừng quốc gia là15.753ha

a Vùng núi Lập Thạch, Sông Lô, Tam Đảo

Vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới

ẩm mưa mùa vùng núi Lượng mưa ở đai cao của núi Tam Đảo khá lớn (2.600 mm)

vì ở đây có thêm lượng mưa địa hình Mùa mưa từ tháng 4 đến cuối tháng 10 chiếm90% tổng lượng mưa cả năm Mưa nhiều vào các tháng 6, 7, 8 và 9, cao nhất vào

Trang 9

tháng 8 dương lịch, thường gây xói mòn và lũ lớn Số ngày mưa khá nhiều trongnăm (trên 140 ngày) Nhiệt độ trung bình của vùng núi cao trung bình là 19-200C.Còn khu vực chân núi nhiệt độ cao hơn, khoảng từ 22-230C, tháng lạnh nhất làtháng 1 (11-150C), tháng nóng nhất là khoảng tháng 7 (26-280C) Riêng vùng đỉnhnúi có nền nhiệt độ thấp hơn cả, bình quân từ 18 - 190C, nhiệt độ xuống thấp nhất làtháng 1 (10,80C), nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 (khoảng 230C) Nhiệt độ khu nghỉmát Tam Đảo thấp hơn nhiệt độ ở thành phố Vĩnh Yên khoảng 60C Khí hậu vùngnúi Tam Đảo, Lập Thạch chia thành 2 tiểu vùng: tiểu vùng khí hậu núi cao TamĐảo quanh năm mát mẻ, thuận tiện cho việc phát triển du lịch, hình thành các khunghỉ mát, du lịch vui chơi giải trí Khu vực còn lại thuộc tiểu vùng mang đặc điểmcủa khí hậu gió mùa chí tuyến Đông Bắc Bắc Bộ Độ ẩm bình quân là 84- 85%, vàomùa mưa, nhất là khi có mưa phùn độ ẩm có thể lên tới 90%, nhưng vào mùa khô

độ ẩm giảm xuống có khi chỉ còn 70-75%

Do lượng mưa vùng khá lớn nên tạo ra mạng lưới sông suối trong vùng ngắn

và dốc, có dạng chân rết, cấu trúc dốc và hẹp lòng từ đỉnh xuống chân núi, lưulượng nước lớn, chảy vào các hồ trong vùng, thuộc lưu vực sông Đáy Chia làm haimùa rõ rệt: mùa lũ (xảy ra vào tháng 8) lũ tập trung nhanh và cũng rút nhanh; mùakiệt (tháng 2) Vùng có hệ thống hồ lớn nhỏ, lớn nhất là hồ Vân Trục nằm ở phíaNam vùng, hồ Bò Lạc, hồ Suối Sải, hồ Đá Ngang và nhiều hồ nhỏ khác

Đất vùng này chủ yếu là các loại đất xám, bao gồm: Đất xám mùn đá nông:Phân bố ở độ cao trên 700m Đất xám đỏ vàng đá nông: phân bố ở phần lớn diện tíchvùng núi Tam Đảo, ở độ cao dưới 700m Một phần nhỏ diện tích đất loang lổ chạydọc theo thung lũng sông Bá Phía Nam của vùng có đất xám đỏ vàng điển hình Dọctheo sông Cà Lồ và các nhánh của nó tồn tại các loại đất xám điển hình và các loạiđất xám loang lổ Dọc theo các sông suối, thung lũng, các đứt gãy trong vùng có cácloại đất cát chua và một số nơi có đất phù sa chua Phía Nam của vùng có đất xámvàng đá nông, phía Tây có đất xám điển hình glay sâu

Đối với vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô tính đặc thù của các nhân tốsinh thái phát sinh đã tạo nên đặc điểm đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vậtphong phú bao gồm các kiểu rừng:

Trang 10

Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp: Phân bố ở khu vực 700m,loại rừng này chiếm phần lớn dãy Tam Đảo với những loài cây có giá trị kinh tế caonhư: Chò chỉ (Choera chinensis), Giổi (Michelia Ital), Re (Cinnamomum Ital) Quần hệ thực vật kiểu rừng này gồm nhiều tầng, tán kín với những loài cây lá rộngthường xanh hợp thành Kiểu rừng này đang bị tàn phá nặng nề.

Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình: Phân bố ở độ cao800m trở lên (chỉ có ở dãy Tam Đảo) Quần hệ thực vật là các loài họ Dầu(Dipterocarpaceae), họ Re (Lauraceae) Dẻ (Fagceae), họ Chè (Theaceae), họ MộcLan (Magnoliaceae), họ Sau Sau (Hamamelidaceae) Ngoài ra, ở độ cao trên 1.000

m xuất hiện một số loài thuộc ngành hạt trần như: Thông (Dacrycarpus), Pơ mu(Fokienia hodginsii), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Thông yến tử(Podorcarpus pilgeri), Kim giao (Nageia fleuryi)

Rừng lùn trên đỉnh núi: Là một kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường xanhmưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình, được hình thành trên các đỉnh dốc, hay các đỉnhnúi cao đất xấu, nhiều nắng gió, mây mù Vì vậy cây cối thường thấp, bé và pháttriển chậm Rừng tre nứa: Mọc xen kẽ trong các kiểu rừng khác Các loại tiêu biểu

là Vầu, Sặt gai ở độ cao trên 800m; Giang thường ở độ cao 500- 800m; Nứa thường

ở độ cao dưới 500m

Rừng phục hồi sau nương rẫy: Kiểu rừng này hình thành từ rừng bị khai thác

gỗ nặng nề trước những năm 80, thường có ở vùng đệm của Vườn Quốc gia TamĐảo

Rừng trồng: Gồm các loại rừng: Rừng thông, rừng Bạch đàn, rừng Keo vàrừng lá rộng, được trồng ở độ cao khoảng từ 200-600m Rừng trồng được bao phủvới diện tích khá lớn ở phần phía Tây Bắc của vùng (vùng Lập Thạch) Ngoài

ra, những khu vực thung lũng, sông suối và phần phía Nam của vùng còn trồng câylương thực, rau màu Ngoài ra trong vùng còn có các kiểu trảng cây bụi, trảng cỏthứ sinh sau khai thác

b Vùng trung du: Bình Xuyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Tam Dương

Vùng này nằm trên nền đá biến chất cao, tạo thành dải kéo dài theo hướng

Trang 11

Tây Bắc - Đông Nam, gồm các đá gnei giàu plagioclas, biotit, silimanit, có tuổiProterozoi giữa (PR2- i1 sc), đôi chỗ gặp quarzit chứa mica hệ tầng Chiêm Hóa(PR3- € ch) Phía Tây của vùng có một vài khối đồi sót có tuổi Neogen sớm (N1) hệtầng Na Dương, là khối xâm nhập còn sót lại sau quá trình biển thoái cuối cùng.Ngoài ra, phần lớn diện tích vùng đồi này được cấu tạo bởi trầm tích Đệ tứ có tuổiPleistocen trung - thượng (QII-III), và tuổi Holocen trung - thượng (QIV2-3) Vùng đồi

có độ cao từ 20 đến 238m, độ dốc trung bình < 200, riêng khu phía Đông Bắc củavùng là vùng đồi cao > 200, khu vực này các dãy đồi cao chạy theo hướng Tây Bắc -Đông Nam Các đồi gò khác tồn tại ở dạng khối, phần lớn là các bề mặt Pedimentcao 20-60m với độ dốc trung bình cấp III (từ 8 đến 150) Dọc theo các sông suối cócác bậc thềm tích tụ sông bậc 1 và các bề mặt đồng bằng tích tụ tầng thấp giữa vùngđồi thấp Thấp hơn là những bãi bồi tuổi hiện đại bằng phẳng (< 30) Phần phíaĐông của vùng có dạng địa hình đồi cao, nằm trên phần kéo dài của khối Tam Đảo,

có tuổi Triat trung thuộc hệ tầng Nà Khuất và hệ tầng sông Hiến

Đây là vùng đồi gò nên các chỉ tiêu khí hậu được đo tại trạm khí tượng VĩnhYên Khí hậu thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa: Gió Đông Nam: thổi từ tháng 4đến tháng 9; Gió Đông Bắc: thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tạo ra 2 mùa rõrệt: Mùa nóng ẩm, mưa nhiều: từ tháng 4 đến tháng 9; Mùa lạnh khô, mưa ít: từtháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23- 240C, lạnh nhấtvào tháng 1 là 16,70C và tháng nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình tháng là30,2oC Lượng mưa hàng năm là 1.166,6mm, tháng khô nhất là tháng 11 - 12 vớilượng mưa chỉ vào khoảng 9,0 đến 9,5 mm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8 vớilượng mưa lên tới 236,0 mm Độ ẩm tương đối trung bình là 78 - 80%, trong đótháng độ ẩm nhỏ nhất là tháng 2 (72%), và độ ấm lớn nhất vào tháng 8

Mạng lưới thủy văn dày đặc, nhiều sông, suối, hồ, đầm Hệ thống lớn nhất là

hệ thống sông Đáy, với lưu lượng nước bình quân là 23 m3/s; lưu lượng cao nhất là833m3/s; mùa khô kiệt, lưu lượng chỉ 4 m3/s, có quãng sông cạn có thể lội qua được

Hệ thống sông này cung cấp nước tưới cho đồng ruộng của các huyện Tam Dương,Bình Xuyên Hệ thống kênh mương trong vùng tương đối dày, nhưng do nằm trongvùng hạ lưu các con sông chảy xuống từ Tam Đảo và do địa hình thoải, nên vàomùa mưa thoát nước kém, gây ngập úng, tạo ra nhiều hồ đầm trong vùng Hệ thống

Trang 12

hồ đầm có tác dụng tích nước cho mùa khô phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, trong

đó đầm lớn nhất phải kể đến là Đầm Vạc nằm ở phía Nam và hồ Đại Lải ở phíaĐông Đầm Vạc có diện tích mặt thoáng về mùa kiệt là 250ha, về mùa lũ lên tới500ha có tác dụng tưới tiêu nước cho khu vực Hồ Đại Lải là hồ nhân tạo lớn nhấttrong vùng với dung tích hữu ích là 25,4 triệu m3, diện tích tưới thiết kế là 2.700ha.Ngoài nhiệm vụ tưới nước và phòng lũ còn phục vụ du lịch sinh thái, tạo cảnh quanmôi trường hồ nước vùng trung du Ngoài ra, trong vùng còn có hệ thống kênhmương đào và các trạm bơm phục vụ công tác tưới, tiêu nước cho vùng

Do phát triển trên các đá gneis giàu plagioclas, biotit, silimanit nên loại đấtđược hình thành chủ yếu là đất xám, gồm các loại đất xám điển hình và đất xám đỏvàng Đất phù sa chua điển hình phân bố dọc theo các sông suối như sông Đáy,sông Xạ Hương và các chi lưu của nó Theo dải hẹp nhỏ dọc theo sông Đáy có đấtphù sa trung tính ít chua, ngập úng vào mùa mưa; Đất glay phân bố ở phía Namhuyện Lập Thạch, chủ yếu là glay chua điển hình Đất loang lổ có tồn tại ở khu vựcphía Đông Nam và Tây Nam của vùng Đất phù sa chua tồn tại phần lớn ở phía Tây

và phần trung tâm của Yên Lạc; đất loang lổ phân bố ở phần phía Tây, phía Bắc vàphía Đông Yên Lạc; đất gley có nhiều nhất ở phía Bắc Yên Lạc và một phần ở phíaNam thị trấn Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên Đất phù sa trung tính ít chua có ở ven cáccon sông chảy trong vùng Ngoài ra, còn có đất tầng mỏng trên vùng đồi cao thuộcthị trấn Xuân Hòa Phúc Yên Sản phẩm trên bề mặt vùng đồi Vĩnh Phúc là sảnphẩm phong hoá gồm các lớp đất sét nâu đỏ, laterit và các mũ sắt Nhân dân thườngdùng lớp đất sét có latarit này để làm gạch đá ong và gạch không nung

Thực vật trong vùng chủ yếu là rừng trồng rải rác khắp vùng và trồng cácloại cây ăn quả như vải, nhãn,… các loại cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương,lạc), cây lương thực được trồng ở những khu vực có địa hình thấp, độ dốc nhỏ

c Vùng đồng bằng Vĩnh Tường, Yên Lạc, Nam Bình Xuyên

Vùng này phần lớn diện tích nằm trên trầm tích sông tuổi Holocen trung thượng (aQIV2-3), phía Đông và Đông Nam có trầm tích biển tuổi Pleistocen (mQIII),trầm tích hồ - đầm tuổi Pleistocen (lbQIV2-3) và một khối sót có tuổi Neogen hạthuộc hệ tầng Na Dương (N1 nd)

Trang 13

-Đây là vùng đồng bằng ven sông có độ cao nhỏ hơn 30m Gồm các khu vựcven sông Hồng, vùng này có độ dốc nhỏ, dưới 50.

Khí hậu vùng thuộc kiểu khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhiệt độ trung bìnhkhoảng 230C, nhiệt độ trung bình tháng 7 là 280C, trung bình tháng 1 là 160C Mùanóng, nhiệt độ cực đại tuyệt đối có thể lên tới 400C Vùng này có mưa phùn nhiều vàotháng 1 và tháng 2 Lượng mưa trung bình khoảng 1500 - 2.000 mm

Do địa hình thấp nên vào mùa mưa thường gây ngập úng, tạo ra nhiều hồ đầmtrong vùng Nhiều hệ thống kênh mương dẫn nước, tưới tiêu nước cho khu vực nhưkênh Liễn Sơn kéo dài trên 7 huyện, thị từ miền núi, trung du tới vùng đồng bằng(Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường) Sông Cà Lồ chảy từ

xã Vạn Yên, huyện Mê Linh theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, giữa hai huyện BìnhXuyên và Mê Linh, có chiều dài 86km Nguồn nước sông Cà Lồ chủ yếu là tập trungnước các sông, suối bắt nguồn từ núi Tam Đảo, núi Sóc Sơn Lưu lượng bình quânchỉ 30 m3/s Lưu lượng cao nhất về mùa mưa là 286 m3/s Tác dụng chính của sông làtiêu úng vào mùa mưa lũ Riêng khúc sông đầu nguồn cũ từ Vạn Yên đến sông Cánh

đã được đắp chặn lại ở gần thôn Đại Lợi (Mê Linh), dài gần 20km, biến thành một hồchứa nước lớn tưới ruộng và nuôi cá Đầm Rưng trải dài trên khu vực 3 xã: TamPhúc, Tứ Trung, Ngũ Kiên (Vĩnh Tường) có diện tích mặt thoáng khoảng 205 ha, vềmùa lũ có khi lên tới 500 ha, có tác dụng tưới tiêu cho khu vực xung quanh và nuôitrồng thủy sản

Đất trong vùng chủ yếu là đất phù sa trung tính ít chua, trong đó có phù satrung tính ít chua điển hình, phù sa trung tính ít chua glay nông và sâu, phù sa trungtính ít chua loang lổ nông và sâu, phù sa trung tính ít chua có kết von Phù sa chua

là dải nằm ở phía sau dải đất phù sa trung tính ít chua tính từ sông vào Phía Đôngcủa vùng là dải đất loang lổ chiếm diện tích khá lớn, có xen lẫn đất xám

Thảm thực vật rừng trồng ít, do đây là vùng đồng bằng phù sa nên chủ yếutrồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây lương thực Ngoài ra, còn trồng cácloại cây dược thảo, các loại hoa Khu vực trong đê thường trồng lúa 1 vụ, 2 vụ; khuvực ngoài đê thường là đất được sử dụng chuyên trồng màu

Như vậy, sự phân hóa về địa bàn của Vĩnh Phúc khá phức tạp Dựa vào đặc

Trang 14

điểm điều kiện tự nhiên, sự phân hóa về địa hình, cấu trúc của lớp địa chất, thổnhưỡng, điều kiện khí hậu thủy văn, Vĩnh Phúc được chia thành 3 vùng địa lí tựnhiên, mỗi vùng có những đặc trưng riêng: vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô

có khí hậu mát mẻ, có tiềm năng du lịch lớn; đồng thời phát triển các loại hình kinh

tế hộ, kinh tế trang trại Vùng trung du Bình Xuyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, TamDương phát triển mạnh cả về công nghiệp lẫn nông nghiệp; vùng đồng bằng VĩnhTường, Yên Lạc, Nam Bình Xuyên đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp tậptrung, nông nghiệp hàng hóa Đây là vùng có lợi thế phát triển nông nghiệp, cáclàng nghề và tiểu thủ công nghiệp

I.1.1.3 Địa chất

Về đất, có thể nói tiềm năng to lớn nhất của Vĩnh Phúc là đất Đất ở đây cónhiều loại Không kể vùng núi cao Tam Đảo, Vĩnh Phúc chủ yếu là bán sơn địa,vùng trung du, vùng đồi đất thấp và đồng bằng

Vùng đồi gò trung du Vĩnh Phúc kéo dài từ Lập Thạch qua Vĩnh Yên đến

Mê Linh là vùng đất mở rộng từ chân núi Tam Đảo ra tới gần quốc lộ 2 Đây làvùng phù sa cổ được nâng lên, có tầng dày đất sét pha cát có lẫn một ít sỏi và cuộirất thích hợp để trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và cây lương thực phụ

Vùng đồng bằng châu thổ kéo dài từ vùng đồi gò ra tận thung lũng sôngHồng, sông Lô Đây là vùng đất phù sa mới, được bồi tụ trong thời toàn tân, chứanhiều khoáng chất và vi lượng nên rất phì nhiêu, mầu mỡ, sẵn nước cộng với khíhậu ôn hoà, rất thuận lợi cho việc thâm canh phát triển nền công nghiệp trồng lúanước Nhờ vậy, mà đất ở Vĩnh Phúc, kể cả vùng gò đồi lẫn đồng bằng châu thổ đãsớm được khai phá trồng trọt từ thời dựng nước đầu tiên của dân tộc

I.1.1.4 Thực vật và động vật

Thảm thực vật ở đây thể hiện rõ trong nền cảnh chung của rừng nhiệt đới giómùa Vào cuối thời cảnh tân và thời toàn tân, trên đất Vĩnh Phúc rừng rậm khôngchỉ phủ kín dãy Tam Đảo với nhiều loại gỗ quý hiếm, mà vùng đồi gò nhấp nhô,thậm chí cả vùng đồng bằng bao suốt từ Lập Thạch, Tam Dương đến Bình Xuyên,

Mê Linh cũng là những cánh rừng bạt ngàn

Trang 15

Qua hàng ngàn, hàng vạn năm bị khai thác, tàn phá nghiệm trọng, đồng bằng

đã trở thành những làng trù phú, những cánh đồng xanh mướt, gò đồi trở nên trơtrụi bạc màu, còn vùng núi cao rừng sâu Tam Đảo bị chặt phá thảm hại Thế màngày nay, Tam Đảo vẫn được xem là vùng đa dạng sinh học lớn Xem thế đủ biết,tiềm năng thực động vật thời tiền sơ sử phong phú biết bao

Gần đây thôi và cũng chỉ mới qua khảo sát bước đầu các nhà thực vật học đãthống kê được trong vườn quốc gia Tam Đảo có tới 130 họ, 344 chi, 490 loài thựcvật bậc cao Trong đó, nhóm quyết thực vật có 21 họ, 32 chi, 53 loại, nhóm thực vậthạt kín có 102 họ, 305 chi, 426 loài Xét về công dụng, có thể phân chia thực vật ởrừng Tam Đảo thành các nhóm sau Nhóm cho gỗ có 83 loài, nhóm làm rau ăn có

54 loài, nhóm làm thuốc có 214 loài và nhóm cho quả ăn có 62 loài Trong số đó, cónhiều loài có giá trị cao như Pơmu, La Hán, Kim Giao, Sam Pông, Trầm hương.Những loại thực vật quý hiếm này tập trung ở đỉnh Rùng Rinh và phân bố ở độ caotrên 800m Các loại gỗ tứ thiết đinh, lim, sến, táu, lát hoa, nhiều cây thuốc quý như

Sa nhân, Ngũ gia bì, Hà thủ ô, v.v và nhiều loại cây búng báng thường gặp trongrừng núi Tam Đảo

Về động vật, thống kê cho thấy rừng Tam Đảo có tới 4 lớp, 26 bộ, 86 họ, 281loài Trong đó, lớp lưỡng cư có 19 loài, đặc biệt là loài cá lóc Tam Đảo được đưavào sách đỏ những là động vật cực kỳ quý hiếm Lớp bò sát có 46 loài, trong đó tắc

kè, kỳ đà, thằn lằn là những loài có số lợng lớn Lớp chim nhiều hơn cả, có tới 158loài, trong đó có nhiều loại quý hiếm như gà lôi trắng, gà tiền Lớp thú có 58 loài,các loài lớn nh gấu, hổ, báo, các loại nhỏ như cầy, sóc, chuột, hươu, nai, hoẵng ,một số có giá trị khoa học cao như cheo cheo, voọc đen má trắng, voọc mũi hếch…

Trong số hàng mấy trăm loại động vật ở núi rừng Tam Đảo, có 47 loài đượcxem là động vật quý hiếm, trong đó có loài có nguy cơ bị tuyệt diệt Hiện nay, vườnquốc gia Tam Đảo vẫn được xem là một bảo tàng thiên nhiên vô giá Chắc hẳn vàothời cách tân và toàn tân, không chỉ rừng núi Tam Đảo mà cả Vĩnh Phúc là mộtquần thể động thực vật vô cùng phong phú, nguồn cung cấp lương thực quan trọngcho con ngời lúc bấy giờ, nhất là trong thời kỳ sinh sống bằng săn bắt và hái lượm

Cũng cần nói thêm, Vĩnh Phúc có sông lớn bao quanh 3 mặt, có nhiều đầm

Trang 16

hồ lớn nhỏ đều khắp các huyện, không những là nguồn cung cấp nước quan trọng

mà còn là nơi cung cấp thực phẩm cần thiết cho cuộc sống con ngời Đó là các loạithuỷ sản như cá, tôm, cua, ốc, hến…, trong đó có nhiều loại nổi tiếng cho mãi đếnhôm nay, như cá Anh Vũ trong lòng sông Hồng, vùng Việt Trì - Bạch Hạc đượcxem là một đặc sản, một loại cá quý của Vĩnh Phúc Hoặc như hến trong lòng sôngPhan, đã trở thành một món ăn đặc sản của nhân dân vùng quê Yên Lạc hôm nay.Chắc hẳn từ thuở xa xưa, người dân nơi đây đã biết đến hến và khai thác hến làmthức ăn Trong di chỉ Yên Lạc đã phát hiện được khá nhiều vỏ hến bị đốt cháy làminh chứng cụ thể sinh động về việc bắt hến chế làm thức ăn của ngời xa xưa

Bảng 1-2: Lượng mưa trung bình các tháng tỉnh Vĩnh Phúc (mm)

Tam Đảo 10,7 79,5 78,9 112.6 107,8 227,4 167,2 185,5 310,3 117,9 26,6 38,0

Trang 17

I.1.2 Tình hình dân sinh kinh tế

I.1.2.1 Bản đồ hành chính

Trang 18

- Huyện Tam Dương có 1 thị trấn và 12 xã

- Huyện Tam Đảo có 1 thị trấn và 8 xã

- Huyện Vĩnh Tường có 3 thị trấn và 26 xã

- Huyện Yên Lạc có 1 thị trấn và 16 xã

(Nguồn: www.vi.wikipedia.org) I.1.2.3 Dân cư dân tộc

a Thành phần dân cư

Ngay từ thời dựng nước, người Việt cổ đã sinh sống tại địa bàn Vĩnh Phúc.Các cuộc khai quật khảo cổ học cho phép đoán định rằng người Việt cổ có mặt ởVĩnh Phúc từ hơn 3.500 năm nay Từ hơn 1.500 năm trước Công nguyên, ngườiViệt cổ đã tiến ra chinh phục vùng đỉnh châu thổ sông Hồng, định cư tại các địađiểm mà người xưa gọi là chạ, trang, ké, làng v.v Từ thế kỷ II, dân cư Vĩnh Phúc

đã có những biến động do phiêu tán và nhập cư Vào thế kỷ XVII-XVIII, một số tộcngười ở miền nam Trung Quốc bị phong kiến nhà Minh, nhà Thanh chèn ép, bóc lột

và bị thiên tai đã tìm đường sang Việt Nam sinh sống Sau khi du canh, du cư ởnhiều nơi, một bộ phận người Cao Lan, người Dao, người Sán Dìu đã đến định cư ởVĩnh Phúc Thời kỳ thuộc Pháp, ở Vĩnh Phúc còn có một số ngoại kiều đến làmviệc, buôn bán Sách "Niên giám đại cương các nước Đông Dương" năm 1903 ghi:

Trang 19

"Vĩnh Yên có 39 người Âu, 7 người Hoa Người Âu là quan và lính Pháp, ngườiHoa là các nhà buôn", “Phù Lỗ có 18 người Âu và 4 người Hoa"

Năm 1930 tỉnh Vĩnh Yên có 208.282 người Kinh; 56 người Âu; 2.008 ngườiCao Lan và Sán Dìu; 45 người Thổ; 31 người Hoa Tỉnh Phúc Yên có 174.467người Kinh; 22 người Âu; 727 người Sán Dìu; 34 người Hoa

Năm 1990 – 1996 tỉnh Vĩnh Phúc, không kể người Kinh và người nướcngoài, tòan tỉnh có 30 dân tộc thiểu số Các dân tộc Sán Chay (nhóm Cao Lan), SánDìu, Dao (nhóm Dao Quần Chẹt) có dân số đông hơn cả so với các dân tộc thiểu sốkhác

Tuy vậy, ở tỉnh Vĩnh Phúc, thành phần dân tộc chủ yếu chỉ bao gồm 8 dântộc có từ 100 người trở lên là Kinh (1.055.390 người), Tày (870 người), Thái (155người), Mường (347 người), Nùng (451 người), Dao (666 người), Sán Chay (nhómCao Lan, 1.281 người), Sán Dìu (32.495 người), trong đó người Kinh chiếm đa số(96,6%), còn lại là các dân tộc thiểu số (3,4%) Sán Dìu là dân tộc đông dân nhấttrong các dân tộc thiểu số ở Vĩnh Phúc, chiếm 88,63% tổng dân số các dân tộc thiểu

số trong tỉnh

Tỉnh Vĩnh Phúc có 39 xã được công nhận là xã miền núi, trong đó 25 xã ởhuyện Lập Thạch, 9 xã ở huyện Tam Đảo, 3 xã ở huyện Tam Dương, 1 xã ở huyệnBình Xuyên (xã Trung Mỹ) và 1 xã ở thị xã Phúc Yên (xã Ngọc Thanh) Tính đếnthời điểm 31/ 12 / 2007, người dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh có 9.127 hộ với43.056 khẩu (tăng 1,09% so với năm 2005), chiếm 3,58% dân số toàn tỉnh, bao gồmcác dân tộc: Sán Dìu có 39.539 khẩu chiếm 91,82%; Sán Chay (nhóm Cao Lan) có1.493 khẩu, chiếm 3,46%; Nùng có 752 khẩu, chiếm 1,75%; Dao có 723 khẩuchiếm 1,68%; Tày có 336 khẩu, chiếm 0,78%; Mường có 139 khẩu, chiếm 0,32%;Ngái có 20 khẩu, chiếm 0,05%; Lào có 17 khẩu, chiếm 0,04%; Hoa có 15 khẩu,chiếm 0,034%; Thái có 14 khẩu, chiếm 0,032%; các dân tộc thiểu số khác có 19khẩu, chiếm 0,04%

Các dân tộc thiểu số được phân bố trong các huyện, thị xã như sau:

- Huyện Tam Đảo: ở 9 xã, thị trấn với 6.455 hộ, 30.959 khẩu;

Trang 20

- Huyện Lập Thạch: ở 36 xã, thị trấn với 912 hộ, 3.512 khẩu;

- Huyện Bình Xuyên: ở 01 xã với 785 hộ, 3.345 khẩu;

- Thị xã Phúc Yên: ở 01 xã với 975 hộ, 4.981 khẩu

Trừ dân tộc Kinh, các dân tộc thiểu số như Sán Chay (nhóm Cao Lan), SánDìu, Dao (nhóm Dao Quần Chẹt) đến định cư ở Vĩnh Phúc sớm và đông người hơn

cả Cả ba dân tộc này đều sinh sống tập trung ở ven phía nam chân núi Tam Đảo,thuộc địa bàn các huyện Tam Đảo, Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên và thị xãPhúc Yên

Người Sán Dìu từ lâu vẫn tự nhận là Sán Dẻo Nhín (họ còn có những tên gọikhác là Trại Đất, Mán Quần Cộc, Mán Đất, Slản Dáo, v.v.) nhập cư vào tỉnh VĩnhPhúc khoảng 300 năm trước Do không chịu được sự áp bức, bóc lột, đàn áp thời kỳcuối đời Minh, đầu đời Thanh, người Sán Dìu từ Quảng Đông, Trung Quốc đã tìmđường sang Việt Nam sinh sống Con đường di cư của họ trải qua Hoàng Chúc, CaoSơn đến Hà Lôi, Tiên Yên rồi tỏa ra vùng ven biển Quảng Ninh, ngược lên BắcGiang, Thái Nguyên, Tuyên Quang và xuống vùng chân núi Tam Đảo thuộc tỉnhVĩnh Phúc Địa bàn cư trú của người Sán Dìu là vùng bán sơn địa, phía bắc các tỉnhtrung du và phía nam các tỉnh miền núi phía Bắc Ở Vĩnh Phúc họ sống rải rác theochân núi phía sườn Tây - Nam của dãy Tam Đảo thuộc các huyện Lập Thạch, TamĐảo, Tam Dương, Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên Từ giữa thế kỷ XX, họ đã cư trú

ổn định trên một dải đất dài hàng trăm km từ xã Ngọc Thanh (Phúc Yên) tới xãQuang Sơn và Yên Dương, huyện Lập Thạch, Sông Lô Người Sán Dìu thích chọnnơi đất ở là vùng bán sơn địa, có đồi, núi, đất bằng ven sông suối để khai khẩnthành ruộng lúa nước Vùng đất đầu tiên họ đến là ven chân núi Tam Đảo, nơi córừng nguyên sinh rậm rạp, nhiều chim thú, đất đai mầu mỡ, có tầng đất mùn dàythích hợp trồng cấy các loại cây lương thực, lại có nguồn nước vô tận từ các dòngsuối lớn nhỏ bắt nguồn từ núi Tam Đảo Các xã Minh Quang, Tam Quan, Trung

Mỹ, Hồ Sơn, Hợp Châu tuy xưa kia là núi rừng rậm rạp nhưng đến nay đã là dảiđất khá bằng phẳng, đã quy tụ nhiều người Sán Dìu sinh sống Người Sán Dìu ở các

xã Đạo Trù, Yên Dương, Bồ Lí, Quang Sơn, Bắc Bình v.v phía đông - bắc huyệnLập Thạch cũng có địa thế sinh tụ tương tự

Trang 21

Hai nhóm người Cao Lan và Sán Chỉ có nguồn gốc ở Quảng Đông và QuảngTây, Trung Quốc đến Việt Nam vào khoảng cuối đời Minh, đầu đời Thanh, vượtqua biên giới Việt - Trung ở khu vực từ Móng Cái đến Lạng Sơn, sau đó chuyểndần về phía nam đến các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, TuyênQuang, Yên Bái Theo tài liệu của Ban Dân tộc tỉnh Vĩnh Phú (1972), người CaoLan có nguồn gốc ở Quảng Đông, Trung Quốc, bị nhà Minh đàn áp, bóc lột mới di

cư sang Việt Nam vào khoảng những năm 1624 Người Cao Lan nhập cư vào VĩnhPhúc trên 100 năm nay, họ chủ yếu cư trú tại xã Quang Yên, huyện Sông Lô Nơiđây có thể coi là điểm chót của dải đất lớn mà người Cao Lan sinh sống vốn trải dài

từ huyện Trấn Yên, Yên Bình, Lục Yên (tỉnh Yên Bái), huyện Đoan Hùng, PhùNinh (tỉnh Phú Thọ), huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang).Trong xã Quang Yên, người Cao Lan cư trú tập trung trong 4 thôn bám vào chânnúi Sáng, núi Bồ Thần và núi Thét, đó là: Đồng Dong, Đồng Dạ, Bản Mo (XómMới) và bản Đồng Găng (hay Đồng Căng) Theo số liệu Ban dân tộc tỉnh Vĩnh Phúcđến tháng 12 -2007, dân số người Cao Lan chiếm hơn 20% dân số toàn xã, phân bốtrong các thôn như sau: Đồng Dạ (63 hộ, 251 khẩu), Đồng Găng (43 hộ, 205 khẩu),Xóm Mới (90 hộ, 407 khẩu) và Đồng Dong (94 hộ, 600 khẩu) Đồng Dong, Đồng

Dạ và Đồng Găng ở chân núi, Xóm Mới ở đồng bằng Thôn Đồng Dong và XómMới thuộc diện thôn bản đặc biệt khó khăn (vùng 3)

Người Dao tự gọi mình là Dìu Miền hay Kìm Miền, ngoài ra trước đây họcòn các tên gọi khác là Mán, Trại, Động, Xá, v.v Người Dao đến Việt Nam bằngnhiều con đường khác nhau, sớm nhất có thể vào thế kỷ XI Hiện nay, ở nước ta cókhoảng 30 nhóm Dao Họ cư trú khá phân tán trên một địa bàn rộng lớn thuộc cáctỉnh miền núi trung du Bắc Bộ và trải dài cho đến Ninh Bình, Thanh Hóa Sau năm

1975, đất nước thống nhất, người Dao còn đến làm ăn sinh sống ở các tỉnh TâyNguyên và miền Đông Nam Bộ Theo Nguyễn Xuân Lân, người Dao từ QuảngĐông, Trung Quốc đến Việt Nam đã mấy trăm năm nay Gia phả của họ Dương ởbản Thành Công, xã Lãng Công ghi rằng sau khi di cư qua các tỉnh Quảng Ninh,Thái Nguyên, Hòa Bình, người Dao đã đến sinh cơ lập nghiệp ở bản Thành Công,

xã Lãng Công, huyện Lập Thạch, lúc đó chỉ có 20 hộ với hơn 100 nhân khẩu Từ đóđến trước năm 2000, người Dao ở bản Thành Công, xã Lãng Công đã được hơn 170

Trang 22

năm, qua 7 thế hệ con cháu, có 113 hộ với 585 khẩu Ngoài bản Thành Công, ngườiDao còn 6 hộ ở xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên và 7 hộ ở xã Quang Yên, huyệnLập Thạch Người Dao ở xã Lãng Công là Dao Quần Chẹt, thuộc nhóm Dao ĐạiBản, còn được người dân ở đây gọi là Mán Sơn Đầu, Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo,Dao Nga Hoàng Đến tháng 12 / 2007, bản Thành Công có 186 hộ, 834 khẩu ngườiDao.

b Dân số

Quy mô dân số

Đến năm 1930, tỉnh Vĩnh Yên có 5 huyện (Tam Dương, Bình Xuyên, LậpThạch, Yên Lạc và Vĩnh Tường), với 46 tổng, 302 làng, dân số 210.422 người(trong đó 208.282 người Kinh, 56 người Âu, 2.008 người Cao Lan, Sán Dìu, 45người Thổ, 31 người Hoa) Tỉnh Phúc Yên có 4 huyện (Yên Lãng, Đa Phúc, KimAnh, Đông Anh) với 34 tổng, 217 làng, dân số 175.250 người (174.467 người Kinh,

22 người Âu, 727 người Sán Dìu, 34 người Hoa) Tổng dân số Vĩnh Phúc lúc này là385.672 người

Năm 1950, khi hợp nhất tỉnh, Vĩnh Phúc có diện tích 1.715 km2 với dân sốgần 47 vạn người, bao gồm 14 dân tộc, trong đó đông nhất là người Kinh (chiếm98,38%) Đồng bào dân tộc thiểu số sống rải rác ở 17 xã dọc dãy núi Tam Đảo vànúi Sáng thuộc 5 huyện (Tam Dương, Bình Xuyên, Lập Thạch, Kim Anh và ĐaPhúc)

Theo bảng thống kê dân số năm 1956 của tỉnh Vĩnh Phúc đã được Bộ Nội vụđiều chỉnh số liệu thì tổng số hộ là 123.098 và số dân 541.038 người

Tính đến 31/12/1985, toàn tỉnh có 841.390 người Năm 1997, ngay sau khitái lập tỉnh, dân số toàn tỉnh là 1.103.810 người Năm 1999, theo kết quả Tổng điềutra dân số và nhà ở, toàn tỉnh có 1.091.973 người (trong đó có 560.077 nữ)

Từ năm 2000 đến năm 2007, dân số toàn tỉnh tương ứng đạt quy mô:1.110.111; 1.125.415; 1.137.316; 1.148.731; 1.154.792; 1.168.889; 1.180.418 và1.190.428 Bình quân mỗi năm dân số Vĩnh Phúc tăng thêm hơn 10 nghìn người;nhiều gấp 1,3 lần dân số một xã trung bình của tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

Trang 23

Với mức dân số 1.014.488 người, Vĩnh Phúc là tỉnh có quy mô dân số nhỏhơn so với dân số trung bình của một tỉnh trong toàn quốc và thấp hơn nhiều so vớidân số trung bình của một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng.

Bảng 1-7: Đơn vị hành chính, diện tích, dân số trung bình và mật độ dân số

tỉnh Vĩnh Phúc năm 2008

STT Tên huyện, thị xã, thành

Số phường, thị trấn

Diện tích (Km 2 )

Dân số trung bình (Người)

Mật độ dân số (Người/Km 2 )

Từ ngày hòa bình lập lại (1954) cho đến sau này, dân số Vĩnh Phúc phát triểnvới tốc độ khá nhanh, chủ yếu do tăng cơ học So sánh khái quát (trừ dân số cáchuyện Đông Anh, Đa Phúc, Kim Anh tách về Hà Nội), trong vòng 70 năm (1930-2000), dân số tỉnh Vĩnh Phúc tăng gấp 4 lần (hiện nay, mỗi năm dân số Việt Namtăng trên 1 triệu người Kết quả điều tra và thống kê dân số học cho thấy sau 85năm, dân số nước ta tăng lên 5,3 lần, trong khi cùng thời gian này dân số thế giớichỉ tăng khoảng 3,6 lần)

Trang 24

Từ năm 1990 đến năm 2004, tuy tốc độ phát triển dân số ở Vĩnh Phúc cóchiều hướng giảm nhưng quy mô dân số vẫn tiếp tục gia tăng bình quân 12.850người/năm, lớn hơn 1,7 lần dân số một xã trung bình năm 2004 của tỉnh, do đó năm

1990 dân số trung bình toàn tỉnh mới có 962.003 người, nhưng sau 15 năm đã đạt1.154.792 người (thấp hơn so với dự báo trong Chiến lược dân số giai đoạn 2001-2010; dự báo năm 2004 đạt 1.164.400 người) Theo dự báo của Cục Thống kê tỉnhVĩnh Phúc, trong 10 năm từ 2001 đến 2010, mỗi năm dân số vẫn tăng trung bình11.685 người, quy mô dân số sẽ đạt 1.241.000 người vào năm 2010

Tốc độ tăng dân số tỉnh Vĩnh Phúc có xu hướng tăng, nhưng đến năm 2002

và 2003 mức tăng đã có biểu hiện giảm xuống Nếu coi tốc độ tăng dân số năm

1990 là 100% thì năm 2001 đạt 101,38% và năm 2004 chỉ ở mức 100,53% Dân sốphát triển với tốc độ cao và chưa ổn định đã gây sức ép không nhỏ tới sự phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh

Quy mô dân số tăng lên kéo theo số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15- 49)cũng sẽ tăng trung bình 7.750 người/năm trong giai đoạn 2001-2010 Uớc tính bìnhquân trong giai đoạn 2001-2010, mỗi năm cứ có 1 phụ nữ bước ra khỏi tuổi sinh đẻthì có 2,94 phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ Tỷ lệ này cho thấy một tiềm năng sinh sảncao của dân số Vĩnh Phúc trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI

Theo kết quả điều tra dân số 01/04/2009 dân số tỉnh Vĩnh Phúc là 1.000.838người

Phân bố dân số

Quy mô dân số tăng lên trên một diện tích tự nhiên vốn tương đối ổn định,dẫn đến mật độ dân số Vĩnh Phúc cũng tăng theo: từ 680 người/km2 năm 1989 đãtăng lên tới 867 người/km2 năm 2007, cao hơn 3 lần so với mật độ trung bình củanước ta (Việt Nam năm 2007: 257 người/km2) Để đảm bảo chất lượng cuộc sống,bình quân 1 km2 chỉ nên có 35 - 40 người sinh sống, tuy nhiên, mật độ dân số ởVĩnh Phúc đã cao gấp nhiều lần so với mật độ dân số chuẩn Do mật độ dân số caolại là tỉnh trung du, miền núi nên bình quân đất canh tác trên đầu người ở Vĩnh Phúcrất thấp, chỉ có 0,04 ha/người trong khi bình quân toàn quốc là 0,09 ha/người

Trang 25

Cũng giống như tình trạng chung của toàn quốc, mật độ dân số ở Vĩnh Phúckhông đều, tập trung dày ở đô thị và thưa thớt ở nông thôn, miền núi Ví dụ năm

2007 cao nhất ở thành phố Vĩnh Yên (1.663 người/km2) và các huyện đồng bằngnhư Yên Lạc (1.387 người/km2), Vĩnh Tường (1.390 người/km2), nhưng thấp ở cáchuyện miền núi, trung du như Tam Đảo (291 người/ km2), Lập Thạch (666 người/

km2) Điều bất hợp lí là vùng đồng bằng có đất đai màu mỡ, thuận lợi phát triểnnông nghiệp, chỉ chiếm hơn 18% diện tích của tỉnh nhưng lại tập trung tới hơn 29%dân số

Cơ cấu dân số

- Cơ cấu theo tuổi

Tháp dân số năm 1989 của tỉnh Vĩnh Phúc có đáy rộng, đặc trưng cho môhình dân số ở các nước đang phát triển, biểu thị cơ cấu dân số có tỉ trọng trẻ em lớnnhất, là kết quả của mức sinh đẻ còn cao Tuy vậy, chỉ sau một thập kỉ, năm 1999tháp dân số của tỉnh đã có biến đổi rõ rệt theo chiều hướng giảm tỉ trọng trẻ emnhóm 0 - 4 và 5 - 9 tuổi Kết quả này là do tác động của công tác dân số của tỉnhtrong một thời gian lâu dài

Tháp dân số năm 1999 tỉnh Vĩnh Phúc đã có biến đổi theo chiều hướng đáytháp thu hẹp lại Tỉ trọng trẻ em dưới 15 tuổi có xu hướng giảm từ 40% năm 1989xuống còn 32,1% năm 2000 (tương đương với toàn quốc: 39,2% và 33,0% ) và dựkiến còn 28% năm 2010 Tuy vậy, tỉ trọng này cũng vẫn là thách thức lớn đối vớiviệc chăm sóc, nuôi dạy trẻ em và tạo việc làm cho người lao động Bên cạnh đótình trạng già hóa dân số cũng diễn ra dù chậm chạp, với tỉ trọng nhóm người 60tuổi trở lên tuy thấp nhưng đang tăng lên từ 7,5% năm 1989 đến 8,6% năm 2000 và

dự kiến đạt 10% vào năm 2010, sẽ liên quan đến việc gia tăng các phúc lợi xã hội

và dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người già

Tỉ trọng nhóm tuổi lao động (15 - 59) chiếm 50,5% năm 1989 (thấp hơn sovới toàn quốc: 53,7%), tăng lên 60,6% năm 2000 (toàn quốc năm 1999: 59,0%) và

dự kiến sẽ tăng lên 62% năm 2010 Sự tăng lên không ngừng của dân số trong tuổilao động trong giai đoạn 2001- 2010 là lợi thế cho nguồn lao động nhưng cũng trởthành nguy cơ bùng nổ dân số nếu chính sách dân số không được thực hiện tốt

Trang 26

Với cơ cấu tuổi như nêu trên, tỉ số phụ thuộc trong dân số Vĩnh Phúc cũnggiống như của cả nước đã và sẽ không ngừng giảm xuống, mỗi người lao động sẽnhẹ gánh người ăn theo hơn, tạo điều kiện tốt cho nền kinh tế quốc dân, kinh tế giađình có tiết kiệm để đầu tư và phát triển.

- Cơ cấu dân số theo giới

Từ năm 1990 đến năm 2007, những số liệu có được đã cho thấy ở tỉnh VĩnhPhúc, số lượng nữ trong dân số luôn nhiều hơn so với số lượng nam Tỉ lệ nam giớitrong dân số ở Vĩnh Phúc năm 1990 chiếm 47,8%, năm 1997 là 48,6% và năm 2004

là 48,3% đều thấp hơn so với tỉ lệ nam trong dân số toàn quốc (tương ứng là48,54%; 48,96% và 49,15%)

Đến hết 31/12/ 2006, theo số liệu thống kê chuyên ngành Dân số Gia đìnhTrẻ em, số trẻ sinh ra trong toàn tỉnh là 18.711 cháu, trong đó số trẻ là nữ có 8.632cháu, tỉ lệ giới tính của trẻ khi sinh là 117 nam/100 nữ, báo hiệu sự mất cân bằnggiới tính khi sinh

- Cơ cấu dân số theo khu vực thành thị và nông thôn

Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ dân đô thi thấp so với thế giới và các nước đangphát triển Tỉ lệ dân số thành thị của tỉnh Vĩnh Phúc còn rất thấp so với toàn quốc,tuy hàng năm có tăng dần, năm 1990 là 5,8%, nhưng đến năm 1999 mới đạt10,17%, thấp xa so với mức của toàn quốc (23,48%) và của vùng đồng bằng sôngHồng (21,06%) Đến năm 2007, tỷ lệ dân số thành thị của tỉnh Vĩnh Phúc mới đạt17,23%, trong khi mức của toàn quốc là 27,44%

Tỉ lệ dân số thành thị ở Vĩnh Phúc không đều giữa các đơn vị hành chínhtrực thuộc tỉnh; năm 2007, đạt 83,9% ở thành phố Vĩnh Yên hoặc 70,2% ở thị xãPhúc Yên, nhưng rất thấp ở khu vực huyện, nhất là các huyện Tam Đảo (1,1%),Vĩnh Tường (2,6%), Lập Thạch (4%), v.v

Cùng với quá trình đô thị hóa của cả nước, tỉ lệ dân số thành thị ở Vĩnh Phúc

đã tăng dần hàng năm, đạt 13,9% năm 2004 và 17,23% năm 2007 Tuy nhiên, sovới dự báo của Chiến lược dân số tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2001- 2010 thì kết quảnày không đạt (năm 2004: chỉ tiêu là 18,4% ) và không đạt được mức 25,7% vào

Trang 27

năm 2005 cũng như rất khó đạt mức 28,9% vào năm 2010 Trong những năm gầnđây, tỉ lệ dân đô thị ở Vĩnh Phúc tăng mạnh Mặc dù so với một số tỉnh ở vùng đồngbằng sông Hồng, vào năm 1999, tỉ lệ dân đô thị ở Vĩnh Phúc còn cao hơn Hà Tây(7,8%), Thái Bình (5,6%), Hà Nam (6%).

I.1.2.4 Kinh tế

Vĩnh Phúc vốn là một tỉnh thuần nông đang chuyển đổi cơ cấu

Năm 1997 cơ cấu kinh tế là nông nghiệp 52%, dịch vụ 36%, công nghiệp12%, thu ngân sách đạt gần 100 tỷ đồng

Năm 2004 có cơ cấu kinh tế là công nghiệp (49,7%); dịch vụ (26,2%); nôngnghiệp (24,1%);

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 8 năm (1997-2004) là 16,6%

Năm 2006, Vĩnh Phúc đã vươn lên đứng thứ 9 trong các tỉnh thành trên cảnước về thu ngân sách với 4.027 tỷ đồng Với hàng trăm doanh nghiệp trong nước

và nước ngoài với tổng mức vốn đầu tư khoảng gần 600 triệu USD và 15.600 tỷđồng, được đầu tư ở 14 cụm, khu công nghiệp, khu vui chơi, giải trí, du lịch trênkhắp địa bàn

Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh liên tục đứng ở vị trí tốp đầu về chỉ sónăng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong bảng xếp hạng những năm gần đây

I.2 Huyện Bình Xuyên – Vĩnh Phúc

I.2.1 Địa lý

Bình Xuyên là một huyện bán sơn địa (trung du), phần phía bắc có địa hình

gò đồi Huyện Bình Xuyên có ranh giới phía Đông Nam giáp huyện Mê Linh, phíaĐông giáp thị xã Phúc Yên, phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Tam Đảo, phía TâyBắc giáp huyện Tam Dương, phía Tây giáp thành phố Vĩnh Yên, phía Tây Namgiáp huyện Yên Lạc

Huyện Bình Xuyên có diện tích 145.67 km2

I.2.2 Hành chính

Trang 28

Huyện Bình Xuyên có 3 thị trấn: Hương Canh (huyện lỵ và là một nơi làmngói và sản phẩm đồ gốm nổi tiếng), Thanh Lãng, Gia Khánh Có 10 xã: Đạo Đức,Tam Hợp, Hương Sơn, Trung Mỹ, Sơn Lôi, Quất Lưu, Phú Xuân, Bá Hiền, TânPhong, Thiện Kế.

I.2.3 Giao thông

Đường bộ: có quốc lộ 2 chạy qua;

Đường sắt có tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy dọc theo quốc lộ 2

I.3 Hồ Xạ Hương

Hồ Xạ Hương nằm trong thung lũng núi con Trâu thuộc xã Minh Quanghuyện Bình Xuyên Hồ Xạ Hương có diện tích lưu vực 24km2 với nhiều ngách lớnxuyên vào các cánh rừng, có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho 850ha diện tích nôngnghiệp của huyện Bình Xuyên

Tình hình tài liệu sử dụng trong tính toán thủy văn và điều tiết hồ Xạ Hương

- Tài liệu bốc hơi tháng trạm Vĩnh Yên từ năm 1960 – 2004

- Tài liệu mưa tháng trạm Vĩnh Yên từ năm 1960 – 2004

- Tài liệu mưa ngày trạm Vĩnh Yên từ năm 1980 – 2004

- Do khu vực hồ Xạ Hương không có tài liệu dòng chảy nên khi tính toánthủy văn cần mượn tài liệu dòng chảy trung bình tháng trạm thủy văn Ngọc Thanh –Sông Thanh Lộc với diện tích lưu vực là 19.5 km2 đo đạc dòng chảy từ năm 1967–

1980 để tính toán

Trang 29

CHƯƠNG II TÍNH TOÁN CÁC ĐẶC TRƯNG KHÍ TƯỢNG II.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình năm là 23,5 – 250C, nhiệt độ cao nhất là 41.10C, nhiệt độthấp nhất là 20C Tuy nhiên do ảnh hưởng của yếu tố địa hình nên có sự chênh lệchkhá lớn về nhiệt độ giữa vùng núi và vùng đồng bằng Vùng Tam Đảo, ở độ cao1.000 m so với mực nước biển có nhiệt độ trung bình năm là 18,40C

Bảng 2-1: Đặc trưng nhiệt độ không khí đo tại trạm Vĩnh Yên

Nă m

Bảng 2-2: Số giờ nắng trung bình tháng và năm trạm Vĩnh Yên (1960-2000)

II.3 Gió

Trong năm có 2 loại gió chính: Gió đông nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9;gió đông bắc: thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tốc dộ gió lớn nhất đo được tạitrạm Vĩnh Yên là 2.2 m/s

Bảng 2-3: Tốc độ gió trung bình các tháng trong năm

Nă m Ma x

Trang 30

Bảng 2-4: Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm

Vĩnh Yên 75,0 72,0 87,0 79,0 73,0 76,0 77,0 80,0 78,0 76,0 76,0 82,0Tam Đảo 84,0 92,0 98,0 87,0 84,0 89,0 90,0 89,0 85,0 86,0 66,0 94,0

II.5 Bốc hơi

Lượng bốc hơi: Bốc hơi bình quân trong năm là 958.0 mm, lượng bốc hơibình quân trong tháng 5 là lớn nhất, lượng bốc hơi bình quân trong tháng 2 là nhỏnhất

Bảng 2-5: Lượng bốc hơi tháng trung bình nhiều năm trạm Vĩnh Yên

Trang 31

mưa năm và chế độ mưa gây lũ là rất cần thiết trong tính toán thủy văn Tùy yêu cầucủa bài toán cụ thể mà mưa được tính theo các thời khoảng.

Trong thủy văn mưa được coi là một thành phần quan trọng trong cân bằngnước Việc tính toán mưa giúp cho ta đánh giá được tài nguyên nước của lưu vực.Biết được quy luật hình thành và phân phối mưa giúp cho ta đánh giá được tínhđúng đắn trong tính toán phân tích sự hình thành và phân phối dòng chảy Từ việctính toán được phân bố mưa các mùa, các tháng ta có thể tính toán được lượng nướcdùng trong thủy lợi, trong nông nghiệp

Khu vực Vĩnh Phúc có hai trạm khí tượng đó là trạm khí tượng Vĩnh Yên vàtrạm khí tượng Tam Đảo

Hình 2-1: Mạng lưới trạm khí tượng tỉnh Vĩnh Phúc

Trạm khí tượng Vĩnh Yên có tọa độ 21o17’B – 105o35’Đ đóng tại thị xãVĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc, trạm bắt đầu hoạt động từ năm 1960 đến nay Trạm chịutrách nhiệm đo đặc các yếu tố khí tượng: mưa, bốc hơi, nhiệt độ không khí…

Trạm khí tượng Tam Đảo có tọa độ 21o28’B – 105o39’Đ đóng tại thị trấnTam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, trạm bắt đầu hoạt động từ năm 1960 đến nay Trạm chịutrách nhiệm đo đặc các yếu tố khí tượng: mưa, bốc hơi, nhiệt độ không khí…

Trong tính toán mưa khu vực tỉnh Vĩnh Phúc sử dụng 45 năm số liệu mưatrạm Vĩnh Yên để tính toán Sở dĩ không chọn số liệu mưa trạm Tam Đảo vì khuvực Tam Đảo là tâm mưa khá lớn, chịu ảnh hưởng nhiều của địa hình đồi núi cụ thể

là dãy núi Tam Đảo nên không phản ánh khách quan được đặc điểm mưa của toàn

Trang 32

khu vực tỉnh VĨnh Phúc.

II.6.1 Quy luật biến đổi mưa theo thời gian

Ở nước ta lượng mưa trong năm biến động khá lớn, có tháng lượng mưa rấtnhiều (có nơi đạt trên 1000 - 1500mm) có tháng lượng mưa rất ít, thậm chí trongnăm có nhiều tháng liên tục không mưa Những tháng có mưa nhiều thường gây nên

lũ lụt, úng ngập Để phân biệt thời kỳ mưa nhiều và thời kỳ mưa ít tương ứng vớimùa lũ và mùa cạn trong sông ta thường phân chia một năm thành hai mùa, mùamưa và mùa khô

Mùa mưa gồm những tháng liên tục có lượng mưa tháng vượt quá lượng tổnthất ổn định nào đó Lượng tổn thất đó có thể dùng khả năng bốc hơi (lấy lượng bốchơi mặt nước đo bằng thùng, chậu) tương ứng làm đặc trưng tính toán Mức độ ổnđịnh có thể lấy tần suất P ≥ 50% cho vùng có sự tương phản rõ rệt giữa mùa mưa vàmùa khô và dùng P ≥ 75% đối với vùng còn lại Vùng có sự tương phản giữa haimùa là vùng đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên Trong tính toán cụ thể chỉ cần xétđối chiếu chỉ tiêu với những tháng chuyển tiếp từ mùa khô qua mùa mưa và từ mùamưa qua mùa khô tương ứng

i

Zi Z

Trong đó:

Z : lượng bốc hơi tháng trung bình nhiều năm

Zi : lượng bốc hơi tháng năm thứ i

Bảng 2-6: Lượng bốc hơi tháng trung bình nhiều năm

Trang 33

Z TB mm 66.7 59.4 63.9 73.4 104.

0 99.4 96.4 79.0 79.3 83.1 77.1 76.1

- Xác định lượng tổn thất ổn định:

8012

95812

12 1

Trong đó: Ztb : lượng bốc hơi ổn định

Zi : lượng bốc hơi tháng trung bình trong nhiều nămNhư vậy lượng tổn thất ổn định hàng tháng lấy bằng 80mm

II.6.1.2 Phân mùa mưa

Để phân mùa mưa tiến hành như sau:

- Sử dụng tài liệu mưa tháng trạm Vĩnh Yên từ 1960-2004

- Chọn lượng tổn thất ổn định là 80mm

- Đánh dấu các tháng có lượng mưa tháng vượt trên 80mm (Phụ lục 2-1)

- Tính tần suất xuất hiện:

Tổng số năm thống kê

- Chọn các tháng có tần suất P ≥ 75% là mùa mưa

Kết quả tính toán phân mùa mưa trạm Vĩnh Yên được kết quả tổng hợp như

trong Phụ lục 2-1 Ta thấy có có 5 tháng vượt chỉ tiêu với tần suất trên 75% xuất

hiện lượng mưa trên 80mm Như vậy khu vực Vĩnh Yên mùa mưa kéo dài 5 thángbắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng IX, mùa khô kéo dài 7 tháng bắt đầu từ

tháng X đến tháng IV năm sau (Phụ lục 2-2).

II.6.2 Tính lượng mưa năm trung bình nhiều năm

Lượng mưa năm trung bình nhiều năm hay còn gọi là chuẩn mưa năm làthành phần quan trọng nhất trong cân bằng nước thẳng đứng là cơ sở để xác địnhlượng mưa năm ứng với tần suất thiết kế

Từ tài liệu 44 năm lượng mưa tháng theo năm thủy văn trạm Vĩnh Yên (Phụ

Trang 34

lục 2-2), tính lượng mưa năm trung bình nhiều năm cho khu vực Vĩnh Phúc theo

công thức:

`44

44 1

Trong đó: X0 : lượng mưa năm trung bình nhiều năm (chuẩn mưa năm)

Xi : lượng mưa năm thứ i

II.6.3 Tính lượng mưa năm thiết kế

Tính toán lượng mưa năm ứng với tần suất thiết kế phục vụ cho việc đánhgiá nguồn tài nguyên nước, tính toán được thành phần cân bằng nước trên lưu vực

Để xác định được lượng mưa năm thiết kế ta cần phải xác định được cáctham số thống kê: Trị số bình quân của chuỗi số X ; hệ số biến đổi Cv và hệ sốkhông đối xứng CS của chuỗi mưa năm Các tham số này được xác định bằng cách

vẽ đường tần suất lý luận

Dựa vào số liệu 44 năm lượng mưa của trạm Vĩnh Yên (Phụ lục 2-2) sử dụng phần mềm FFC vẽ đường tân suất lý luận lượng mưa năm (Phụ lục 2-3) và xác định

lượng mưa năm ứng với tần suất thiết kế

Kết quả các thông số thống kê và lượng mưa năm ứng với tần suất thiết kếthống kê trong bảng sau:

Bảng 2-7: Các thông số thống kê và Lượng mưa năm ứng với tần suất thiết kế

II.6.4 Phân phối mưa năm

II.6.4.1 Phân phối mưa năm trung bình

Phân phối mưa năm trung bình cho thấy sự thay đổi của lượng mưa trongnăm trung bình nhiều năm, đồng thời có thể so sánh một cách tương đối lượng mưagiữa các vùng

Trang 35

Từ số liệu lượng mưa tháng trạm Vĩnh Yên (Phụ lục 2-2) xác định lượng

mưa tháng trung bình nhiều năm và vẽ phân phối lượng mưa tháng trung bình nhiềunăm

Lượng mưa tháng trung bình nhiều năm xác định theo công thức:

44

44 1

Trong đó: XTB : lượng mưa tháng trung bình nhiều năm

Phân phối lượng mưa tháng trung bình nhiều năm

0 50

V VI VII VIII IX X XI XII I II III IV Tháng

Hình 2-2: Mô hình phân phối mưa tháng trong năm

Trang 36

Qua các bảng và mô hình phân phối lượng mưa hàng tháng ta thấy phân phốimưa trong năm rất không đều Lượng mưa trong 5 tháng mùa mưa chiếm khoảng74.8 % lượng mưa cả năm còn mùa khô chỉ chiếm khoảng 25.2% lượng mưa cảnăm Trong đó tháng mưa lớn nhất là tháng VIII và tháng mưa nhỏ nhất là thángXII Riêng tháng IV là tháng cuối mùa khô có lượng mưa khá lớn chiếm khoảng6.3% lượng mưa cả năm.

II.6.4.2 Phân phối mưa năm thiết kế

Mô hình mưa tháng trung bình nhiều năm có nhược điểm là mô hình ảokhông xảy ra đúng với thực tế, mặt khác nó chỉ nêu lên được tính trung bình còn đốivới những năm mưa ít ta không lường được

Để khắc phục nhược điểm trên đáp ứng với yêu cầu nghiên cứu ta tiến hànhtính phân phối mưa năm thiết kế (tức sử dụng phương pháp năm đại biểu)

Phương pháp năm đại biểu là phương pháp lựa chọn một mô hình mưa nămđại biểu thực tế rồi thu phóng thành mô hình phân phối mưa năm thiết kế

Các bước tính toán

- Lập chuỗi mưa năm của trạm (Phụ lục 2-2).

- Vẽ đường tần suất lý luận và xác định lượng mưa năm ứng với tần suất

thiết kế (Phụ lục 2-3)

Kết quả được thống kê trong Bảng 2-7

- Chọn năm đại biểu ứng với tần suất thiết kế theo các nhóm năm mưa nhiều,mưa trung bình và mưa ít như sau:

Năm đại biểu mưa nhiều là năm có lượng mưa ứng với tần suất P= 1÷33%,

có thời gian mùa mưa kéo dài trong năm, lượng mưa mùa mưa khá lớn, tháng mưalớn nhất rơi đúng vào tháng mưa lớn nhất xuất hiện nhiều trong nhóm năm quantrắc

Năm đại biểu mưa ít là năm có lượng mưa tương ứng với tần suất P=67÷99%, có thời gian mùa khô kéo dài trong năm, lượng mưa mùa khô tương đối ít,

Trang 37

có tháng mưa nhỏ nhất rơi đúng vào tháng mưa nhỏ nhất xuất hiện nhiều trongnhóm năm quan trắc.

Năm đại biểu mưa trung bình là năm có lượng mưa tháng, lượng mưa nămbằng số trung bình nhiều năm của số năm quan trắc

Theo chỉ tiêu trên, dựa vào lượng mưa năm thiết kế ở Bảng 2-7 và tài liệu

lượng mưa năm (Phụ lục 2-2), ta chọn các mô hình mưa năm đại biểu sau:

-Năm mưa nhiều chọn năm thực tế 1960-1961, có lượng mưa năm X =1790.2mm, có lương mưa mùa mưa khá lớn và kéo dài

-Năm mưa trung bình chọn năm thực tế 2002-2003, có lượng mưa năm X =1575.4mm, có phân phối giống với phân phối mưa trung bình nhiều năm

-Năm mưa ít chọn năm thực tế 1991-1992, có lượng mưa năm X = 1330.5

mm, có mùa khô kéo dài và lượng mưa mùa khô nhỏ

- Tính hệ số thu phóng mô hình phân phối mưa năm đại biểu thành mô hìnhphân phối mưa năm thiết kế

Hệ số thu phóng xác định theo công thức:

K25%= 25 % 17901764..22

db X

X

= 1.03

-Nhân hệ số K với lượng mưa từng tháng của năm đại biểu ta được mô hình phân phối mưa năm thiết kê

Lượng mưa năm thiết kế cho nhóm năm mưa nhiều là 1764.2mm

Lượng mưa năm thiết kế cho nhóm năm mưa trung bình là 1583.9mm

Lượng mưa năm thiết kế cho nhóm năm mưa ít là 1365.7mm

Trang 38

Bảng 2-9: Mô hình mưa năm theo phương phâp năm đại biểu trạm Vĩnh Yên

Tháng V VI VII VIII IX X XI XII I II III IV Xcn

Năm mưa nhiều P = 25%

X ĐB (mm

) 85.6 93.5 421.7 474 451 91.7 22.6 1.5 4.5 12.9 27.3 103.9 1790.2γ% 4.8 5.2 23.6 26.5 25.2 5.1 1.3 0.1 0.3 0.7 1.5 5.8 100

X P (mm) 84.4 92.1 415.6 467.1 444.4 90.4 22.3 1.5 4.4 12.7 26.9 102.4 1764.2

Năm mưa trung bình P = 50%

X ĐB (mm

) 213.9 257 214.5 211.3 210.9 113.6 54.9 37.3 59.7 23.3 73.6 105.4 1575.4γ% 13.6 16.3 13.6 13.4 13.4 7.2 3.5 2.4 3.8 1.5 4.7 6.7 100

X P (mm) 215.1 258.4 215.7 212.4 212.0 114.2 55.2 37.5 60.0 23.4 74.0 106.0 1583.9

Năm mưa it P = 75%

X ĐB (mm

) 111.6 203.2 497.2 180.5 62.4 56 48.4 38.4 33.3 44.5 16.7 38.3 1330.5γ% 8.4 15.3 37.4 13.6 4.7 4.2 3.6 2.9 2.5 3.3 1.3 2.9 100

X P (mm) 114.6 208.6 510.4 185.3 64.1 57.5 49.7 39.4 34.2 45.7 17.1 39.3 1365.7Đối với mô hình phân phối mưa năm thiết kế năm mưa nhiều nhận thấylượng mưa mùa mưa lớn chiếm 85.2% lượng mưa cả năm còn mùa khô lượng mưachỉ chiếm 14.8%

Đối với mô hình phân phối mưa năm thiết kế năm mưa trung bình nhận thấy

mô hình phân phối mưa năm giống với mô hình phân phối mưa trung bình nhiềunăm

Đối với mô hình phân phối mưa năm thiết kế năm mưa ít nhận thấy lượngmưa mùa khô nhỏ và thời gian mùa khô kéo dài từ tháng IX đến tháng IV năm sau

Như vậy các năm đại biểu được chọn đã phù hợp với yêu cầu chọn năm đạibiểu

Trên các Hình 2-3 đến 2-5 là mô hình phân phối lượng mưa năm ứng với tầnsuất thiết kế tương ứng với các nhóm năm

Trang 39

0 50 100

V VI VII VIII IX X XI XII I II III IV Tháng

Hình 2-3: Mô hình phân phối mưa năm thiết kế trạm Vĩnh Yên

Năm mưa nhiều

0 50 100

V VI VII VIII IX X XI XII I II III IV Tháng

Hình 2-4: Mô hình phân phối mưa năm thiết kế trạm Vĩnh Yên

Năm mưa trung bình

0 50 100

V VI VII VIII IX X XI XII I II III IV Tháng

Hình 2-5: Mô hình phân phối mưa năm thiết kế trạm Vĩnh Yên

Trang 40

Năm mưa ít II.6.5 Mưa vụ

Lượng mưa ở nước ta rất phong phú nhưng phân bố không đều cả về khônggian và thời gian Đặc điểm đó rất bất lợi cho cây trồng trong nông nghiệp Để phục

vụ cho sản xuất nông nghiệp chúng ta cần xem xét khả năng cung cấp nước tự nhiên

do mưa đối với cây trồng như thế nào

Thời vụ tính toán được chọn phụ thuộc vào yêu cầu sản xuất của từng địaphương, vào thời tiết, giống cây trồng và nguồn nước

Đối với khu vực tỉnh Vĩnh Phúc, thời vụ được chia như sau:

Vụ Chiêm: từ tháng I – 15/V (Từ 01/I – 15/I gieo mạ, từ 16/I bắt đầu xuốngđồng)

Vụ Mùa: từ tháng VI – 12/IX (Từ 01/VI – 15/VI gieo mạ, từ 16/VI bắt đầuxuống đồng)

Vụ Đông: từ 13/X – 31/XII

II.6.5.1 Tính toán mưa vụ thiết kế

Để xác định lượng mưa từng vụ ứng với tần suất thiết kế cho khu vực tỉnhVĩnh Phúc, các bước tính toán lượng mưa vụ:

- Tính lượng mưa vụ Chiêm Xuân (I-V), vụ Mùa (VI-IX), vụ Đông (X – XII)

(Phụ lục 2-4).

- Vẽ đường tần suất lượng mưa vụ (Phụ lục 2-5, Phụ lục 2-6 Phụ lục 2-7).

Các đặc trưng thống kê lượng mưa từng vụ ứng với tần suất thiết kế nhưbảng sau:

Bảng 2-10: Các đặc trưng thống kê của mưa vụ

Ngày đăng: 25/04/2013, 10:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2-1: Mạng lưới trạm khí tượng tỉnh Vĩnh Phúc - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 2 1: Mạng lưới trạm khí tượng tỉnh Vĩnh Phúc (Trang 31)
Hình 2-2: Mô hình phân phối mưa tháng trong năm - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 2 2: Mô hình phân phối mưa tháng trong năm (Trang 35)
Hình 3-1: Cấu trúc mô hình TANK - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 3 1: Cấu trúc mô hình TANK (Trang 49)
Hình 3-5: Hiệu chỉnh bộ thông số - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 3 5: Hiệu chỉnh bộ thông số (Trang 59)
Hình 3-6: Kết quả hiệu chỉnh bộ thông số - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 3 6: Kết quả hiệu chỉnh bộ thông số (Trang 60)
Hình 3-8: Mô hình Phân phối lượng dòng chảy trung bình tháng - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 3 8: Mô hình Phân phối lượng dòng chảy trung bình tháng (Trang 67)
Hình 3-9: Mô hình phân phối dòng chảy năm thiết kế năm nhiều nước khu vực hồ - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 3 9: Mô hình phân phối dòng chảy năm thiết kế năm nhiều nước khu vực hồ (Trang 70)
Hình 3-10: Mô hình phân phối dòng chảy năm thiết kế năm nước trung bình - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 3 10: Mô hình phân phối dòng chảy năm thiết kế năm nước trung bình (Trang 70)
Hình 3-11: Mô hình phân phối dòng chảy năm thiết kế năm ít nước - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 3 11: Mô hình phân phối dòng chảy năm thiết kế năm ít nước (Trang 70)
Hình 3-12: Đường quá trình lũ ứng với tần suất thiết kế khu vực hồ Xạ  Hương - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 3 12: Đường quá trình lũ ứng với tần suất thiết kế khu vực hồ Xạ Hương (Trang 77)
Hình 4-3: Lượng nước đến và nước dùng hàng tháng ứng với tần suất P = 75% - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 4 3: Lượng nước đến và nước dùng hàng tháng ứng với tần suất P = 75% (Trang 87)
Bảng 4-3: Lượng nước đến và nước dùng  hàng tháng ứng với tần suất 75% - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 4 3: Lượng nước đến và nước dùng hàng tháng ứng với tần suất 75% (Trang 87)
Bảng 4-8: Bảng tính dung tích hiệu dụng khi đã  kể tổn thất - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 4 8: Bảng tính dung tích hiệu dụng khi đã kể tổn thất (Trang 98)
Bảng 4-9: Bảng tính dung tích hiệu dụng khi đã  kể tổn thất - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 4 9: Bảng tính dung tích hiệu dụng khi đã kể tổn thất (Trang 101)
Hình 4-4: Đường quá trình lũ đến Q m  và lũ xả q m - Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 4 4: Đường quá trình lũ đến Q m và lũ xả q m (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w