Định hướng chiến lược cho thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời kỳ sau khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới 2008-2009
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-0o0 -
Đề tài tham dự cuộc thi
“Sinh viên nghiên cứu khoa học đại học ngoại thương năm 2009”
Tên đề tài:
Định hướng chiến lược cho thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
thời kỳ sau khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới 2008-2009
Giáo viên hướng dẫn: PGS – TS Vũ Chí Lộc
Chủ tịch Hội đồng nhà trường
Sinh viên thực hiện:
1 Hoàng Tuấn Anh (chịu trách nhiệm chính)
Lớp: A9 Khoá: 47 Khoa: Tài chính Ngân hàng
2 Nguyễn Lan Anh Lớp: A6 Khóa: 47 Khoa: Tài chính Ngân hàng
Hà Nội, tháng 7 năm 2010
Trang 3http://svnckh.com.vn iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Biểu đồ 1.1 : Tăng trưởng thương mại thế giới về trao đổi hàng hóa và dịch vụ (%),
2000-2007
Biểu đồ 1.2 : FDI nhập các quý từ năm 2007 đến 2009 của Thế giới và khu vực
Bảng 3.1 : Danh sách các công ty, tập đoàn lớn nhất Nhật Bản
Bảng 3.2 : Danh sách các công ty, tập đoàn lớn nhất Hàn Quốc
Trang 4
http://svnckh.com.vn iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương ARM Vay thế chấp lãi suất thả nổi
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BITs Hiệp định đầu tư song phương
CARIFORUM Diễn đàn Caribe và Mercosur
CDS Hợp đồng hóa đổi rủi ro tín dụng
CIS Cộng đồng các quốc gia độc lập
DTTs Hiệp định chống đánh thuế hai lần
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GCC Hội đồng hợp tác Vùng Vịnh
IIAs Hiệp định đầu tư quốc tế
IWFs Quỹ hợp tác đầu tư quốc tế
M&A Mua bán & Sáp nhập
MBS Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
R&D Nghiên cứu & Phát triển
SWFs Quỹ lợi ích quốc gia
TNCs Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia
UNCTAD Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển UNDP Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên hiệp quốc
Trang 5http://svnckh.com.vn v
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I: TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG VÀ SUY
THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI 2007-2009 ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN TOÀN CẦU
2
1 Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới
2 Tác động của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới giai
đoạn 2007-2009 đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn
cầu
8
2.1 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế
thế giới đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của các
công ty, tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs)
10
2.1.1 Tác động làm thiếu hụt nguồn lực tài chính của các công ty, tập
2.1.2 Tác động do tâm lý e ngại về tình hình kinh tế ảm đạm đến hoạt
2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế
2.2.1 Khu vực các nền kinh tế phát triển: Bắc Mỹ, khu vực EU, các quốc
gia phát triển tại châu Á, khu vực Cộng đồng các quốc gia độc lập
CIS, các quốc gia phát triển khác
14
2.2.2 Khu vực các nền kinh tế đang phát triển (Đông, Nam và Đông Nam
3 Chính sách đối phó của các quốc gia trên thế giới trước cuộc khủng
hoảng và suy thoái kinh tế và tác động đến hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài
16
3.1 Những xu hướng chính về chính sách thúc đẩy hoạt động đầu
3.2 Chính sách đối phó cụ thể của một số nền kinh tế trong khu
Trang 6http://svnckh.com.vn vi
CHƯƠNG II: BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀ XU HƯỚNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TRÊN TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN SAU KHỦNG HOẢNG VÀ SUY
THOÁI KINH TẾ
26
1.3 Những yếu tố thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 36
1.4 Nhận xét về bản chất dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
2 Xem xét các nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
2.4 Sự cạnh tranh ngày càng lớn từ các quốc gia trong khu vực 50
2.5 Trọng tâm xây dựng thế mạnh chiến lược của Việt Nam trong
3 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn
3.1.3 Xu hướng dịch chuyển cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư 58
Trang 7http://svnckh.com.vn vii
CHƯƠNG III: XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CHO THU
HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM GIAI
1 Tổng quan về Định hướng chiến lược cho thu hút Đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn sau khủng hoảng kinh tế thế giới
2008-2009
62
2 Nội dung Định hướng chiến lược cho thu hút Đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Việt Nam giai đoạn sau khủng hoảng kinh tế thế giới
2008-2009
66
2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ của hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp
2.3.3 Nhóm giải pháp đặt ra cho khu vực doanh nghiệp trong nước 88
MỞ ĐẦU
Trang 8http://svnckh.com.vn viii
Trong giai đoạn 10 năm 2000 - 2009, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khen ngợi, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hiện đại Tuy nhiên, trước bối cảnh thế giới đầy biến động với những hậu quả mà cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới để lại, xu hướng lưu chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế đã cho thấy những thay đổi nhất đinh Đây là những thách thức, nhưng cũng chính là cơ hội cho hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn tới Bên cạnh đó, trong mỗi quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế trong nước, vai trò của FDI cũng đã có những thay đổi nội tại và giai đoạn này cũng không phải ngoại lệ
Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu để tài “Định hướng chiến lược cho thu
hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời kỳ sau khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới 2008-2009” Đề tài gồm 3 chương với các nội dung tương ứng:
Chương I: Phân tích tổng quan về những tác động của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu; cùng với chính sách đối phó của các quốc gia trên thế giới
Chương II: Nghiên cứu bản chất của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, trên cơ
sở đó nhận định xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu và Việt Nam giai đoạn sau khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới
Chương III: Đề ra định hướng và kiến nghị các giải pháp chiến lược cho hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam giai đoạn sau khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới
Qua đề tài, chúng tôi muốn đưa ra những đánh giá về tình hình thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, từ đó xây dựng được bước đi cần thiết cho hoạt động thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài, đảm bảo phù hợp với xu hướng quốc tế và tình hình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo
Trang 9http://svnckh.com.vn ix
CHƯƠNG I:
TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG VÀ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI 2007-2009 ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TRÊN TOÀN CẦU
1 Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới trong giai đoạn 2007-2009
Nền kinh tế thế giới vừa trải qua giai đoạn tồi tệ nhất trong gần một thập kỷ trở lại đây dưới tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Xuất phát từ những bất ổn trên thị trường cho vay tín dụng, thị trường tài chính Hoa Kỳ cho thấy những dấu hiệu khủng hoảng từ cuối năm 2007 Ảnh hưởng của nó nhanh chóng lan rộng sang các quốc gia phát triển trên thế giới, những nền kinh tế có sự liên kết chặt chẽ với thị trường tài chính tại Hoa Kỳ như Nhật Bản, Liên minh châu Âu, Tác động của cuộc khủng hoảng ngày trở nên nghiêm trọng khi sự yếu kém trong hoạt động tài chính đã kéo theo sự gián đoạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động thương mại quốc tế cũng như đầu tư quốc tế suy giảm nghiêm trọng Nền kinh tế thế giới không tránh khỏi cuộc suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ sau cuộc đại suy thoái đầu những năm 1930 Vào thời điểm hiện tại, tuy nền kinh tế thế giới đang cho thấy những dấu hiệu phục hồi hơn dự kiến, nhưng những ảnh hưởng sâu sắc mà cuộc khủng hoảng gây ra trong ngắn hạn vẫn chưa đảm bảo cho một quá trình tăng trưởng
ổn định ngay trở lại
a, Nền kinh tế thế giới giai đoạn trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng:
Cho đến trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tại Hoa Kỳ vào cuối năm 2007, nền kinh tế thế giới đã chứng kiến một giai đoạn phát triển ngoạn mục Với vai trò nổi lên ngày càng mạnh từ các nền kinh tế đang phát triển cùng tốc độ tăng trưởng ổn định tại các nền kinh tế phát triển, kinh tế thế giới đã có những bước tăng trưởng bùng nổ
kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á 1997 Tính chất của một nền kinh tế toàn cầu hóa cũng là điểm sáng và là một trong những cú hích quan trọng cho sự phát triển giai đoạn này Trong giai đoạn từ 2003 đến 2007, tốc độ tăng trưởng trong sản lượng thực tế toàn cầu luôn duy trì ở mức cao trong nhiều năm liên tiếp và đạt mức
Trang 10http://svnckh.com.vn x
tăng trưởng trung bình 5% qua mỗi năm 1 Các nền kinh tế mới nổi tại châu Âu cùng
các các nền kinh tế đang phát triển tại châu Á để lại dấu ấn mạnh mẽ khi luôn dẫn đầu
về tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu, và ngày càng thu hẹp dần khoảng cách với các
nền kinh tế phát triển Tại châu Á, Trung Quốc và Ấn Độ phát huy triệt để sức mạnh
nội tại cùng những chính sách phát triển đúng đắn đã cho thấy những những bước tiến
vượt trội trong cả khu vực và trên thế giới Hoạt động thương mại và đầu tư trên thế
giới cũng đạt tốc độ tăng trưởng cao Trong giai đoạn này, động lực phát triển trên hầu
khắp các nền kinh tế trên thế giới đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển đã kéo theo
sự tăng tốc nhanh chóng trong thương mại toàn cầu Những số liệu về tăng trưởng về
hoạt động xuất nhập khẩu trên thế giới phản ánh rõ nét xu hướng thương mại trong
giai đoạn này
Hình 1.1:
Tăng trưởng thương mại thế giới về trao đổi hàng hóa và dịch vụ (%), 2000-2007
(Tăng trưởng dựa trên giá trị xuất nhập khẩu)
Thương mại hàng hóa Thương mại dịch vụ
* Nguồn: Tổ chức Thương mại thế giới WTO
Cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng thương mại quốc tế vẫn ghi nhận vị
trí dẫn đầu của các nền kinh tế đang phát triển của châu Á, đặc biệt là Ấn Độ và Trung
Quốc, hai nền kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại toàn cầu đồng thời cũng có
tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế vượt trội Hoạt động đầu tư quốc tế cũng có
diễn biến tương tự khi không ngừng tăng trưởng Xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế
1 Theo số liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF
Trang 11http://svnckh.com.vn xi
thế giới đã kéo theo hàng loạt những chiến lược mở rộng thị trường sản xuất cũng như tiêu thụ của các công ty, tập đoàn lớn trên thế giới Sức hấp dẫn ngày càng lớn từ các nền kinh tế đang phát triển cùng những chính sách nới lỏng tiền tệ tại các thị trường tài chính lớn trên thế giới cũng đã tác động mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động đầu tư toàn cầu Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng ấn tượng này đã dần có dấu hiệu chững lại khi nền kinh tế thế giới bắt đầu chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tại Hoa Kỳ
b, Những diễn biến xấu từ cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ:
Trong khi các quốc gia khác thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng các khuyến khích đầu
tư và đẩy mạnh xuất khẩu, Hoa kỳ chọn cho mình con đường tăng trưởng kinh tế bằng cách kích thích tiêu dùng nội địa Trong vòng 3 năm từ 2001 đến 2003, nhằm đối phó với hậu quả của vụ khủng bố 11/9/2001, chính phủ Mĩ đã liên tục hạ lãi suất cho vay
và tỉ lệ dự trữ bắt buộc từ 6.5% xuống còn 1.0% Thêm vào đó, trong thời gian này, thâm hụt cán cân thanh toán của Hoa Kỳ tăng thêm 650 tỉ đô la, tăng từ 1.5% lên đến 5.8% GDP Để tài trợ cho sự thâm hụt này, Hoa Kỳ đã vay một số lớn tiền từ nước ngoài mà chủ yếu là từ những nền kinh tế mới nổi ở châu Á và các nước xuất khẩu dầu mỏ bằng cách phát hành các trái phiếu chính phủ Vì vậy, một lượng tiền lớn từ nước ngoài đã đổ vào thị trường tài chính Hoa Kỳ Với việc lãi suất cho vay hạ thấp, chi phí của việc đi vay giảm đi càng mở rộng tăng trưởng tín dụng Người dân sử dụng những khoản tiền vay từ nước ngoài này để tài trợ cho tiêu dùng của mình còn các tổ chức tài chính dùng những khoản tiền này để đầu tư vào các chứng khoán thế chấp
Hoạt động cho vay dưới chuẩn, cho những đối tượng có khả năng trả nợ thấp, kèm theo mức độ rủi ro cao, cũng phát triển nhanh trong thời gian này Cùng với sự thông thoáng trong hoạt động tín dụng, trong những năm trước cuộc khủng hoảng, chính phủ Hoa Kỳ và các tổ chức tài chính, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư và các tổ chức được tài trợ bởi chính phủ như Fannie Mae và Freddie Mac đã gia tăng lượng cho vay dưới chuẩn đầy rủi ro này Trong giai đoạn từ 2005 đến 2006, cho vay thế chấp dưới chuẩn chiếm gần 20% các khoản vay thế chấp Phần lớn người dân Hoa Kỳ mua nhà bằng cách vay tiền ngân hàng với hợp đồng thời hạn từ 10 đến 30 năm Khi thị trường nhà
Trang 12http://svnckh.com.vn xii
đất phát triển, các ngân hàng và tổ chức tung ra các chương trình cho vay dưới chuẩn, khuyến khích cả những đối tượng không đủ khả năng tài chính vay Sau đó, các tổ chức tài chính của phố Wall lại tập hợp những hợp đồng cho vay bất động sản này làm tài sản đảm bảo cho việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế Những trái phiếu này được gọi là Mortgage Backed Securities - MBS là một công cụ tài chính phái sinh được đảm bảo bởi các hợp đồng cho vay bất động sản có thế chấp Những trái phiếu này được các công ty tín nhiệm đánh giá cao Do đó nó được các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư trên toàn thế giới mua vào mà không hề biết tài sản đảm bảo cho nó là những hợp đồng cho vay thế chấp dưới chuẩn, đầy rủi ro Ngoài ra, các tổ chức tài chính và các công ty bảo hiểm quốc tế còn bán ra các hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi Credit Default Swap - CDS trong đó bên bán CDS cam kết thanh toán cho bên mua trong trường hợp người đi vay không thanh toán
Với lượng tiền lớn rót vào thị trường tài chính, giá cả nhà đất và các tài sản tài chính tăng lên nhanh chóng Từ năm 1997 đến 2006, giá nhà trung bình tại Hoa Kỳ tăng khoảng 124% Đến năm 2006, giá một ngôi nhà trung bình ở Hoa Kỳ gấp 4.6 lần thu nhập trung bình của người dân Thị trường bất động sản bị đánh giá cao hơn giá trị thực của nó Và khi bong bóng bất động sản bị phá vỡ đã kéo theo một loạt sự đổ vỡ của các tổ chức tài chính khác Với các hợp đồng ARM, hết thời gian trả lãi suất cố định, người đi vay phải trả mức lãi suất thả nổi Điều này khiến cho mức lãi phải trả tăng cao và người đi vay khó trả nợ hơn Thị trường bất động sản hạ nhiệt làm cho việc bán nhà đất trở nên khó khăn và nếu có bán được thì giá trị bất động sản cũng xuống thấp tới mức không đủ thu hồi vốn để trả các khoản vay nợ Kết quả là những hợp đồng cho vay bất động sản có thế chấp trở thành những hợp động nợ khó đòi Những trái phiếu được đảm bảo bởi những hợp động này mất giá trên thị trường thứ cấp hoặc không thể bán được Những ngân hàng, các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu này bị lỗ trầm trọng và không có khả năng thanh toán Đến lượt các công ty bảo hiểm nắm giữ các hợp đồng CDS chịu tác động khi những người đi vay không có khả năng trả nợ Nguyên nhân khiến cho cuộc khủng hoảng tài chính không chỉ bó hẹp trong phạm vi nước Hoa Kỳ mà còn lan ra toàn thế giới là do rất nhiều ngân hàng lớn trên thế giới đã đầu tư vào trái phiếu MBS Đến tháng 9 năm 2008, nền kinh tế thế giới
Trang 13về một sự suy giảm tăng trưởng của nền kinh tế, với mức tăng trưởng trung bình cho nhóm này chỉ khoảng 1% trong năm 2008, trong khi đó tỷ lệ này trong năm 2007 là 2,5% Nền kinh tế châu Á cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP thấp ở mức 2% so với 4,9% năm 2007 Tuy nhiên lại xuất hiện khoảng cách rất lớn về tốc độ tăng trưởng giữa các nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Úc, Niu di lân với các nền kinh tế đang phát triển trong khu vực châu Á Tại châu Phi, tốc độ tăng trưởng cũng có dấu hiệu chững lại với 5% năm 2008, giảm 0,7% so năm trước Các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ vẫn giữ được bước tăng trưởng ổn định do giá dầu cùng khí đốt có những diễn biến tăng kéo dài từ đầu năm 2007 cho đến quý 2 năm 2008 Tác động từ thị trường tài chính, giá cả ngành hàng năng lượng đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt đã chịu những biến động bất thường Giai đoạn giữa năm 2008 chứng kiến giá dầu leo thang lên mức trên
140 USD/thùng, nhưng sau đó lại tụt mạnh về mốc hơn 50 USD/thùng trong vòng gần nửa năm sau Những biến động này gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh trên toàn cầu, đặc biệt cũng gây ra sự bất ổn định về giá cả hàng hóa tại nhiều nền kinh tế trên thế giới Hoạt động thương mại quốc tế chịu tác động của cuộc khủng hoảng và gián đoạn ngay từ giai đoạn cuối năm 2008 Tăng trưởng thực tế khu vực thương mại hàng hóa giảm còn 2% từ 6% năm 2007, và thay đổi 15% tính theo giá trị danh nghĩa Khu vực thương mại dịch vụ cũng chỉ tăng trưởng ở mức khiêm tốn Đầu tư nước ngoài cũng cho thấy tình trạng thoái lui tại nhiều khu vực trên
Trang 14http://svnckh.com.vn xiv
thế giới Dòng vốn FDI toàn cầu kết thúc một thời kỳ dài tăng trưởng dương liên tục với mức suy giảm 14% trong năm 2008 Có thể nói, những ảnh hưởng thực sự từ cuộc khủng hoảng tài chính đã tác động một cách toàn diện đến nền kinh tế toàn cầu Nền kinh tế thế giới cho đến đầu năm 2009 vẫn tiếp tục diễn biến xấu, kèm theo những dự báo không sáng sủa về tương lai kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, đến cuối năm 2009 đầu năm 2010, kinh tế thế giới đã đón nhận những tín hiệu tốt ngoài dự kiến, cho thấy khả năng sớm vượt qua khủng hoảng và suy thoái Trải qua giai đoạn khó khăn đầu năm
2009, nền kinh tế toàn cầu đã tăng trưởng trở lại tại mức 3,25%vào quý thứ hai và 4,5% trong nửa cuối năm 2009 2 Tại các nền kinh tế phát triển, những gói cứu trợ cùng những cải cách nhằm tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm đồng thời làm giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp đã có những tác dụng bước đầu Thị trường trái phiếu hồi phục cũng thúc đẩy quá trình sản xuất và kinh doanh hoạt động tích cực trở lại Trong khi
đó, các nền kinh tế nhờ vào lực cầu mạnh từ ngay thị trường nội địa đã có cơ sở để tạo
đà hồi phục Tuy nhiên, ở một số nền kinh tế như khu vực cộng đồng các quốc gia độc lập CIS hay tại nhiều bang của Hoa Kỳ, diễn biến suy thoái vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại
d, Kinh tế thế giới giai đoạn hiện nay, sau gần 2 năm đối đầu với khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu:
Mặc dù đã có những dấu hiệu cho thấy đà suy thoái kinh tế trên đã phần nào được ngăn chặn, nhưng các quốc gia vẫn tỏ ra thận trọng trong việc hoạch định chiến lược phát triển giai đoạn sắp tới Sự thận trọng đó là có cơ sở do nền kinh tế thế giới chưa thực sự ổn định sau những những tác động sâu sắc mà cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế để lại Kinh tế thế giới năm 2009 chứng kiến tăng trưởng âm ở mức -1,3%, thương mại quốc tế cũng suy giảm tới 10% Tình trạng thâm hụt ngân sách nhiều quốc ngày càng ở mức độ nghiêm trọng do chi phí khổng lồ để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng Hệ thống tài chính thế giới vẫn còn nhiều bất ổn, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, thêm những vấn đề về an sinh xã hội, khủng hoảng niềm tin sẽ là những thách thức lớn cho kinh tế thế giới nếu muốn vượt qua giai đoạn khủng hoảng và phục hồi trở lại
2 Quỹ tiền tệ quốc tế IMF - WORLD ECONOMIC OUTLOOK, April 2010
Trang 15http://svnckh.com.vn xv
2 Tác động của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới giai đoạn
2007-2009 đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã có tác động mạnh mẽ đến dòng vốn FDI toàn cầu trong hai năm 2008 và 2009 Giai đoạn này đánh dấu kết thúc một chu kỳ tăng trưởng của hoạt đầu đầu tư trực tiếp nước ngoài, bắt đầu từ năm 2003
và kết thúc vào năm 2007 Dòng vốn FDI đạt đỉnh điểm vào năm 2007 với trên 1,9 nghìn tỷ USD Tuy nhiên, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, dòng vốn FDI toàn cầu đã sụt giảm 14% trong năm 2008, xuống còn gần 1,7 nghìn tỷ USD Bước sang năm 2009, khi mà nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng suy thoái trầm trọng, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã chứng kiến sự sụy giảm mạnh nhất trong hơn một thập kỷ trở lại đây, ở mức âm 39%
Nhóm các nền kinh tế phát triển vẫn dẫn đầu về khối lượng FDI toàn cầu nhưng phải chịu những ảnh hưởng tiêu cực nhất từ cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế Tốc độ suy giảm dòng vốn FDI khu vực nhóm các nước phát triển trong hai năm liên tiếp
2008, 2009 lần lượt ở mức 25,3% và 41% Tốc độ thoái lui đầu tư mạnh đã kéo thụt lùi dòng vồn FDI vào các quốc gia phát triển, đồng thời cũng dần thu hẹp lại khoảng cách với nhóm đi sau, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển Tuy nhiên, do những tác động ngày càng lan rộng của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh
tế, trong năm 2009, dòng vốn FDI vào nhóm các nền kinh tế đang phát triển giảm 35%, mức sụt giảm mạnh nhất, kết thúc 6 năm có tăng trưởng dương liên tục
Hình 1.2: Khối lượng FDI nhập trên thế giới và các khu vực
(đơn vị: tỷ USD)
Trang 16http://svnckh.com.vn xvi
* Nguồn: World Investment Report 2009
Đối mặt với cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới, điều kiện tín dụng bị thắt chặt, suy giảm lợi nhuận sản xuất kinh doanh, triển vọng ảm đạm và không chắc chắn cho sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu, nhiều công ty đã phải cắt giảm sản xuất, sa thải công nhân và cắt giảm chi phí vốn, tất cả đều có xu hướng làm giảm hoạt động FDI Tác động của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế trên thế giới rất khác nhau tùy theo từng khu vực và từng quốc gia Vì thế, mức độ tác động và ảnh hưởng của cuộc khủng
Trang 172.1 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 82.000 công ty, tập đoàn xuyên quốc gia - TNCs, cùng với nó là trên 810.000 các chi nhánh đang hoạt động tại nước ngoài Những công
ty này giữ một vị trí quan trọng, góp phần vào quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới Vai trò của các TNCs được thể hiện thông qua hoạt động thương mại quốc tế, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ và đặc biệt quan trọng là vai trò nổi bật trong hoạt động thúc đẩy đầu tư quốc tế Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiên thông qua các TNCs, với tỷ lệ chiếm tới trên 90% tổng FDI toàn thế giới 3 Với tư cách là chủ thể quan trọng của hoạt động đầu tư trên thế giới, TNCs là nhân tố đặc biệt quan trọng có vai trò mang tính quyết định tới quá trình lưu chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế Do vậy, những ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế đến hoạt động của các TNCs
có tác động đương nhiên đến khối lượng cũng như cơ cấu dòng vốn FDI toàn cầu
2.1.1 Tác động làm thiếu hụt nguồn lực tài chính của các công ty, tập đoàn đa quốc gia:
Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới đã trực tiếp ảnh hưởng đến nguồn lực tài chính của các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia Những tác động của nó đến từ cả yếu
tố tài chính nội tại cũng như các yếu tố nguồn lực tài chính từ bên ngoài doanh nghiệp Một mặt, diễn biến trên thị trường tài chính thế giới cho thấy mức độ ngày một phức tạp Hàng loạt sự sụp đổ của các định chế tài chính lớn đã kéo theo khuynh hướng sụt giảm mạnh trên các thị trường chứng khoán thế giới Việc nhiều định chế tài chính giữ
3 World Investment Report 2009 - United Nations Conference on Trade and Development
Trang 18http://svnckh.com.vn xviii
vai trò trung gian quan trọng cung cấp nguồn tín dụng cho hoạt động đầu tư nước ngoài bị thua lỗ hay phá sản đã ảnh hưởng lớn đến nguồn cung tài chính cho các TNCs Trong khi đó, thị trường chứng khoán thế giới đi xuống mạnh với việc mất điểm của các chỉ số quan trọng tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu và châu Á Tại Hoa
Kỳ, các chỉ số chứng khoán Dow Jones, Standard & Poor’s 500 và chỉ số tổng hợp Nasdaq mất điểm khoảng 40% trong năm 2008 và nửa đầu năm 2009 Các chỉ số như Nikkei của Nhật Bản, FTSE 100 của Anh, CAC của Pháp hay DAX của Đức cũng có diến biến tương tự Mất đi khoảng 50% giá trị trên thị trường chứng khoán toàn cầu 4
đã làm yếu đi rất nhiều khả năng tài chính của các TNCs do tác động làm giảm nguồn vốn huy động được thông qua cổ phiếu và trái phiếu, đồng thời hoạt động mua bán sáp nhập sử dụng cổ phần vì thế cũng bị hạn chế Trong năm 2008, giá cổ phiếu trên hầu khắp các thị trường chứng khoán sụt giảm tương đương với sự giảm giá 81 tỉ đô la về giá trị các thương vụ M&A, đóng góp 18% trong sự sụt giảm chung của FDI toàn cầu Cũng trong năm 2008, số lượng các siêu thương vụ M&A (thương vụ có giá trị trên 1
tỉ đô la) cũng giảm 21% Ở các nước phát triển thì con số này là 26% Tại những nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển tiếp thì số lượng siêu thương vụ tăng mạnh trong năm 2008 nhưng bắt đầu giảm từ quý 1 năm 2009 Bên cạnh những tác động từ thị trường chứng khoán, việc thắt chặt điều kiện tín dụng làm chi phí kinh tế tăng cao cũng khiến cho các công ty khó có khả năng tiếp cận nguồn tài chính bên ngoài để đầu
tư cho các dự án mới Mặt khác, lợi nhuận suy giảm do lực cầu yếu từ thị trường tiêu thu thế giới cũng ảnh hưởng đến xu hướng mở rộng đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư đối phó với tình hình chung bằng những biện pháp như đẩy mạnh chuyển lợi nhuận về nước, giảm vốn tài trợ cho các công ty con ở nước ngoài quay hướng về trong nước Chiến lược phát triển thận trọng của hầu hết các TNCs đã buộc dòng vốn FDI sụt giảm trong hai năm 2008, 2009
2.1.2 Tác động do tâm lý e ngại về tình hình kinh tế ảm đạm đến hoạt động đầu tư nước ngoài của các TNCs:
4 World Investment Report 2009 – United Nations Conference on Trade and Development
Trang 19tế toàn cầu, sự bất ổn định trên thị trường tài chính, và những thay đổi chính sách tạo bất lợi cho nhà đầu tư khi các quốc gia gia tăng các biện pháp bảo hộ trong nước là các mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng, tác động lớn đến hoạt động đầu tư nước ngoài của các TNCs Bên cạnh đó, những biến động giá bất thường của dầu mỏ, nguyên vật liệu và sự không ổn định về tỷ giá cũng được coi là những mối đe dọa lớn tác động đến dòng chảy FDI trong hai năm 2008 và 2009 Tâm lý e ngại do mức độ rủi ro kinh doanh cao khi đưa ra quyết định đầu tư đã khiến dòng vốn FDI bị hạn chế về cả số lượng cũng như quy mô, đồng thời phạm vi đầu tư cũng bị thu hẹp hơn
Theo điều tra của UNCTAD về triển vọng đầu tư trong năm 2008, những tín hiệu thận trọng trong đầu tư đã xuất hiện Có 61% trong các công ty được điều tra vẫn gia tăng các kế hoạch đầu tư vào năm 2008 so với năm 2007 Tuy nhiên, phần lớn trong đó chỉ
dự định tăng quy mô trên mức độ vừa phải Những điều tra về triển vọng đầu tư trong năm 2009 lại cho thấy dấu hiệu nghiêm trọng hơn khi mà tỷ lệ các công ty dự định tăng vốn FDI chỉ là 22%, tụt quá xa so với tỷ lệ 61% có được trong năm 2008 Đa số các công ty đều cho thấy những kế hoạch cắt giảm kế hoạch đầu tư, nhất là những kế hoạch đầu tư ở nước ngoài Những số liệu cũng cho thấy lo ngại của các TNCs về ảnh hưởng tiêu cực từ sự suy giảm kinh tế và khủng hoảng tài chính ngày một gia tăng, cũng tác động mạnh làm suy giảm dòng vốn FDI trong thời kỳ khủng hoảng
Mức độ rủi ro tăng cao, đặc biệt là từ những biến động về tỷ giá và những thay đổi trong chính sách đối với nhà đầu tư nước ngoài của các quốc gia, đã khiến các TNCs
có định hướng thu hẹp phạm vi đầu tư ra nước ngoài Hoạt động tìm kiếm và nghiên cứu thị trường được tăng cường nhằm giúp các công ty có thể phân loại nhằm tập trung vào những thị trường ít rủi ro hơn Phần lớn các TNCs đều có chiến lược thu hẹp hoạt động đầu tư trong thời kỳ khủng hoảng về thị trường trong nước, nhằm tạo những
Trang 20http://svnckh.com.vn xx
cú hích vực lại nền kinh tế đồng thời cũng tận dụng được những ưu đãi về chính sách nội địa Những tác động sâu sắc này cũng đã tạo ra xu hướng thoái lui lớn trong dòng vốn FDI trên thế giới, tuy nhiên ở các mức độ khác nhau tùy theo từng khu vực địa lý
và nền kinh tế
Tuy nhiên cuộc khủng hoảng không hoàn toàn ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động đầu
tư của các công ty đa quốc gia Trong giai đoạn khủng hoảng, giá trị tài sản của công
ty, tập đoàn kinh tế có xu hướng giảm mạnh Đây là điều kiện thuận lợi để các tập đoàn có nguồn tài chính dồi dào thực hiện các thương vụ mua bán sáp nhập (M&A) nhằm củng cố sự hiện diện của mình ở thị trường nước ngoài và đầu tư cải tiến kĩ thuật Trong năm 2008, nhóm 100 TNCs lớn nhất thế giới đã tiến hành 21 vụ mua bán sáp nhập với tổng giá trị 3 tỉ đô la Có thể kể đến những thương vụ của Bank of America mua lại Merrill Lynch, Santander thâm nhập vào thị trường Mĩ bằng cách mua lại cổ phần của Sovereign Bancorp, Numura (Nhật Bản) và Barclays (Anh) mua lại tài sản của Lehman Brothers nhằm mở rộng hoạt động của mình Đầu năm 2009, Royal Bank of Scotland (Anh) đã bán toàn bộ cổ phần của mình ở Bank of China với giá 2.3 tỉ đô la, Bank of America giảm cố phần của mình ở China Construction Bank bằng cách bán 7.3 tỉ đô la cổ phần Những công ty đã có tình hình tài chính đáng lo ngại từ trước khủng hoảng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc bị mua lại với giá
rẻ Chryler, Endesa, Volvo đều đã bị mua lại Ngược lại, những công ty chịu ảnh hưởng ít hơn, có nguồn tài chính dồi dào như Suez, Fiat, Roche tận dụng cơ hội để mua lại các công ty khác và tăng lợi thế cạnh tranh
2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế đến dòng vốn FDI theo từng khu vực trên thế giới:
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế có tác động sâu sắc đến môi trường đầu tư và kinh doanh trên toàn thế giới, tuy nhiên với các mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng khu vực kinh tế cũng như từng quốc gia cụ thể Chính những khác biệt này cũng tác động đến chiều hướng dòng chảy FDI trong giai đoạn 2008 và 2009 Khác với cuộc khủng hoảng Đông Á 1997, khi khu vực các nước đang phát triển chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, làm mất dần sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, thì cuộc khủng
Trang 21http://svnckh.com.vn xxi
hoảng năm 2008 lại đánh dấu chiều hướng hoàn toàn trái ngược Cuộc khủng hoảng vừa qua xuất phát và ảnh hưởng trực tiếp đến một hệ thống các quốc gia phát triển, tác động mạnh mẽ làm suy giảm sức thu hút của môi trường đầu tư tại các quốc gia này Thực tế cũng cho thấy dòng vốn FDI chảy vào khu vực các nền kinh tế phát triển dẫn đầu xu hướng suy giảm trên toàn cầu Trong khi đó, với những tác động gián tiếp và ít nghiêm trọng hơn từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới, các nền kinh tế đang phát triển và các nền kinh tế chuyển tiếp tỏ ra hấp dẫn tương đối về môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.2.1 Khu vực các nền kinh tế phát triển: Bắc Mỹ, khu vực EU, các quốc gia phát triển tại châu Á, khu vực Cộng đồng các quốc gia độc lập châu Âu CIS, các quốc gia phát triển khác:
Các nền kinh tế phát triển bắt đầu chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính tại Hoa Kỳ từ đầu năm 2008 Sau sự sụp đổ của Lehman Brothers, một trong những ngân hàng đầu tư lớn tại Hoa Kỳ, cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng sang châu Âu và các nền kinh tế phát triển tại châu Á như Nhật Bản, Úc, Niu Di Lân Các nền kinh tế này nhanh chóng đón nhận những tác động nghiêm trọng đến dòng vốn FDI ngay trong năm 2008 với mức sụt giảm 29% so với năm 2007, xuống còn 962 tỷ USD Tình hình trong năm 2009 càng trở nên trầm trọng khi dòng vốn FDI khu vực này nhận được chỉ khoảng 566 tỷ USD, giảm 41,2% 5
Mặc dù chịu những tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng khiến suy giảm sức thu hút đầu tư, nhưng các nền kinh tế phát triển vẫn là khu vực chính tiếp nhận phần lớn dòng vốn FDI toàn cầu Tuy không có lợi thế về chi phí lao động hay tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn duy trì âm, nhưng bù lại khu vực các quốc gia phát triển lại có được quy
mô thị trường rộng lớn cùng môi trường kinh doanh chất lượng Dù vậy, những lợi thế
có được vẫn không đảm bảo cho một tốc độ tăng trưởng dương của dòng vốn FDI trong giai đoạn này
5 UNCTAD
Trang 22lệ nợ trên vốn nằm trong mức an toàn Tận dụng cơ hội giá trị các công ty suy giảm, các doanh nghiệp Nhật Bản tăng cường các thương vụ mua bán và sáp nhập Vì vậy là FDI đầu tư ra nước ngoài của Nhật tăng mạnh, trong đó giá trị các vụ M&A đạt 54 tỉ
đô la năm 2008 Nhật Bản trở thành một nước đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ FDI xuất của thế giới
2.2.2 Khu vực các nền kinh tế đang phát triển Đông, Nam và Đông Nam Á, Tây Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh:
Trong năm 2008, các nước đang phát triển chưa chịu tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng kinh tế bởi hệ thống tài chính ở các quốc gia này có sự liên kết chưa chặt chẽ với hệ thống tài chính của Hoa Kỳ và châu Âu, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn giữ
ở mức cao Do vậy, dòng vốn FDI nhập vào các nước đang phát triển vẫn chưa chịu ảnh hưởng lớn như ở các nước phát triển Lượng vốn FDI vào các nước này trong năm
2008 vẫn tăng ở mức 17%, không bằng mức tăng trưởng trong năm 2007, nhưng lại tốt hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng âm tại các quốc gia phát triển Bước sang năm 2009, nền kinh tế thế giới lâm vào suy thoái, nó nhanh chóng tác động mạnh đến dòng vốn FDI vào các quốc gia đang phát triển Gánh chịu mức sụt giảm mạnh 35% trong năm 2009, khu vực các nền kinh tế đang phát triển đã chấm dứt 6 năm đạt tốc độ tăng trưởng dương về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dòng FDI xuất của các nước đang phát triển tăng 3% trong năm 2008 và bắt đầu giảm
từ quý I năm 2009 Các nước đang phát triển ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong luồng FDI xuất của thế giới, tăng từ 13% năm 2007 lên 16% năm 2008; trong đó nổi lên như Trung Quốc, Ấn Độ,…
Trang 23http://svnckh.com.vn xxiii
2.2.3 Các nền kinh tế chuyển tiếp:
FDI nhập ở các nền kinh tế chuyển tiếp ở Đông Nam Âu hay khối CIS (Khối độc lập chung gồm 12 nước là thành viên Liên bang Xô Viết cũ) tăng lên mức cao nhất trong năm 2008 Mặc dù bị quản lý chặt chẽ, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phần các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Liên bang Nga vẫn tăng lên Tuy nhiên đến năm
2009, do ảnh hưởng lan tỏa của khủng hoảng kinh tế thế giới, FDI vào các nền kinh tế chuyển tiếp cũng bắt đầu giảm
FDI xuất của khu vực chuyển tiếp tăng mạnh trong năm 2008, chiếm 3% toàn thế giới
và vẫn duy trì ổn định trong năm 2009
3 Chính sách đối phó của các quốc gia trên thế giới trước cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế và tác động đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Trước những ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới, việc đề ra những chính sách hiệu quả ở cả cấp độ quốc tế tế cũng như quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy dòng vốn FDI vượt qua thời kỳ suy giảm và đạt tăng trưởng trở lại Những chính sách khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế cũng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hoạt động đầu tư nước ngoài toàn cầu, và theo chiều hướng tiêu cực hay tích cực
Với khu vực các quốc gia phát triển, nhiều chính phủ đã thực hiện kế hoạch giải cứu cho các ngành tài chính Những biện pháp hỗ trợ cũng như bảo đảm của nhà nước tạo tâm lý an toàn hơn, thúc đẩy hoạt động đầu tư Hơn nữa, nhiều chính phủ cũng tìm kiếm sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài cho những gói cứu trợ trong từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể Bên cạnh chính sách giải cứu cho ngành tài chính, chính phủ cũng thực hiện những chương trình đầu tư công cộng lớn, chủ yếu là xây dựng cơ
sở hạ tầng, không chỉ xây dựng niềm tin cho nền kinh tế mà còn mở ra cơ hội đầu tư của các nhà đầu tư, đặc biệt là các TNCs Một số quốc gia, chủ yếu là các nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ hay các quốc gia châu Âu, thực hiện các chính sách tài chính,
Trang 24http://svnckh.com.vn xxiv
tiền tệ nới lỏng nhằm thúc đẩy sự lưu thông dòng vốn, tác động không nhỏ đến dòng chảy của FDI Những biện pháp nhằm tạo điều kiện tín dụng trở nên dễ dàng hơn có thể kích hoạt động đầu tư trở lại
Tại khu vực các nền kinh tế đang phát triển, những gói kích cầu đầu tư cũng như tiêu dùng công cộng đã được tung ra nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Hoạt động đầu tư công cũng được đẩy mạnh nhằm nâng cao triển vọng của nền kinh tế cũng như niềm tin của các nhà đầu tư tạo ra những lợi thế thu hút dòng vốn FDI Những chính sách
ưu đãi về thuế cũng như những điều kiện đảm bảo của chính phủ nhiều quốc gia cũng tạo ra tâm lý an toàn hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài, thúc đẩy hoạt động đầu tư
Trên phạm vi toàn cầu, những hiệp định thương mại được ký kết nhằm rỡ bỏ những rào cản trong hoạt động buôn bán hàng hóa, dịch vị quốc tế Nhiều sáng kiến chung về cung cấp bảo hiểm cho hoạt động đầu tư cũng như xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp nước ngoài cũng góp phần cải thiện dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nhiều khu vực
Tuy vậy, nhiều biện pháp nhằm giải cứu nền kinh tế trong nước cũng tác động tiêu cựu đến hoạt động đầu tư nước ngoài Việc nhiều quốc gia phải quốc hữu hóa các doanh nghiệp tư nhân, mua lại cổ phần của các công ty tài chính, bảo hiểm và ngân hàng cũng hạn chế hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân, trong đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài Bên cạnh đó, nhiều nền kinh tế cũng thực hiện chính sách bảo hộ cho các ngành công nghiệp quan trọng trong nước tạo ra tâm lý e ngại đối với các nhà đầu tư nước ngoài, gây hạn chế về cả số lượng cũng như quy mô của các dự án đầu tư
3.1 Những xu hướng chính về chính sách thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới
3.1.1 Chính sách trên cấp độ quốc tế:
Rất nhiều quốc gia đã thực hiện kế hoạch mua lại, đưa ra những gói trợ giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty thuộc lĩnh vực tài chính Nhiều nước phát triển cũng như đang phát triển đã thực hiện những gói kích thích kinh tế bao gồm những
Trang 25kí kết hiệp định với Nhật Bản trong việc hợp tác đầu tư; Hội đồng hợp tác vùng vịnh (GCC) lần đầu tiên kí kết hiệp định với Singapore và giữa các nước thành viên với nhau; Hoa Kì kí kết Hiệp định khung thương mại và đầu tư với Cộng đồng các quốc gia Đông Phi và Hiệp định hợp tác thương mại và đầu tư với Cộng đồng các quốc gia Nam Phi Những hiệp định này thiết lập khung cơ sở cho việc quản lý thương mại và quan hệ đầu tư giữa các bên tham gia và được cho là biện pháp để xúc tiến đầu tư Tại hội nghị thượng đỉnh G20 ở Washington D.C vào ngày 14 tháng 11 năm 2008, các nhà lãnh đạo của các nước này đã tuyên bố trong vòng 12 tháng, các nước này sẽ hạn chế việc đưa ra các rào cản đầu tư, thương mại Tuyên bố này còn được tái khẳng định tại hội nghị thượng đỉnh G20 2 tháng 4 năm 2009 với lời cam kết không sử dụng các biện pháp bảo hộ tài chính đặc biệt là các điều luật nhằm hạn chế dòng lưu chuyển vốn trên thế giới
3.1.2 Chính sách trên cấp độ quốc gia:
Trang 26http://svnckh.com.vn xxvi
Theo điều tra năm 2008 của UNCTAD về những thay đổi về pháp luật liên quan đến FDI cho thấy 110 điều luật mới đã được ban hành ở 55 quốc gia Trong số đó có 85 điều luật có tác động tích cực đối với FDI Trên cấp độ khu vực, Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á và châu Đại dương có mức độ cải cách luật pháp nhiều nhất Ở tất cả các khu vực, những điều luật có lợi đối với FDI đều chiếm tỉ lệ cao hơn những điều luật bất lợi
Với các nước phát triển và các nền kinh tế chuyển tiếp, xu hướng chung là thay đổi các chính sách và pháp lý của quốc gia theo hướng mở cửa thị trường và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài tiến hành các hoạt động kinh doanh Những sự thay đổi bao gồm việc cho phép mở rộng đầu tư vào các ngành trước đây bị hạn chế, giảm bớt các điều kiện, tăng cường các chương trình hỗ trợ và bảo vệ các nhà đầu tư Thêm vào đó, các chính phủ thực hiện mới hoặc kéo dài các gói hỗ trợ
và kích thích kinh tế nhằm đối phó với khủng hoảng Ví dụ cho sự thay đổi trong pháp
lý theo hướng có lợi cho FDI là việc Ấn Độ xóa bỏ hoặc tăng mức trần FDI trong các ngành công nghiệp cuối năm 2008 đầu 2009 Hàn Quốc cũng thực hiện chính sách thông thoáng hơn trong lĩnh vực R&D với việc cho phép các tổ chức nước ngoài được chịu trách nhiệm chính trong các dự án hợp tác nghiên cứu Ở Tây Á, nhiều quốc gia
đã cho phép cổ phần hóa các tập đoàn của nhà nước trong các lĩnh vực như năng lượng, hàng không Liên bang Nga đã cho phép tư nhân hóa trong sản xuất điện tạo điều kiện cho rất nhiều công ty nước ngoài tham gia kinh doanh trong lĩnh vực này Năm 2008 chính phủ Kuwait đã thông qua đạo luật cắt giảm thuế cho các doanh nghiệp nước ngoài từ 55% xuống còn 15%, cho phép cổ phần hóa Hãng hàng không quốc gia Ở Mexico, sau nhiều năm tranh cãi về việc mở cửa ngành khai thác dầu thì đến nay chính phủ nước này đã cho phép PEMEX (Tập đoàn dầu khí quốc gia Mexico) được hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài trong việc cung cấp một số dịch vụ Ở cấp độ khu vực, các nước ASEAN cam kết sẽ thực hiện tự do hóa đầu tư, tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp trong khối và với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Diễn đàn APEC thống nhất cắt giảm các trở ngại đối với các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, một số quốc gia lại thắt chặt chính sách đầu tư nước ngoài thông qua việc quốc hữu hóa một vài ngành công nghiệp: Venezuela thực
Trang 273.2 Chính sách đối phó cụ thể của một số nền kinh tế trong khu vực:
3.2.1 Trung Quốc
a, Tình hình:
FDI vào Trung Quốc bắt đầu giảm vào 3 tháng cuối năm 2008 sau một thời gian dài tăng liên tục Chi phí sản xuất liên tục tăng trong những năm trước đó cộng thêm với lực cầu giảm ở các nước phát triển tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ Sự sụt giảm này còn tiếp tục trong năm 2009
b, Chính sách:
Năm 2009, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra 5 chính sách nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế
Trang 28http://svnckh.com.vn xxviii
Chính sách thứ nhất nhằm tối đa hóa lợi ích sử dụng vốn đầu tư nước ngoài Chính phủ Trung Quốc mở rộng danh mục các lĩnh vực được đầu tư Các nhà đầu tư được khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, năng lượng mới, bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng Chính sách này thể hiện việc tái cấu trúc các ngành công nghiệp chính
Chính sách thứ hai nhằm khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư nhiều hơn nữa vào khu vực miền Trung và Tây của Trung Quốc Đây là khu vực có kinh tế và cơ sở hạ tầng chưa phát triển Việc xây dựng các nhà máy tuyển dụng nhiều lao động, thân thiện với môi trường được chính phủ hỗ trợ về công nghệ và vốn Ví dụ, các doanh nghiệp FDI tại miền Trung và Tây Trung Quốc chỉ phải nộp 15% thuế thu nhập doanh nghiệp so với con số 25% khi đầu tư vào những khu vực khác
Chính sách thứ ba hướng tới việc đa dạng hóa việc sử dụng nguồn vốn đầu tư Các nhà đầu tư nước ngoài được khuyến khích tham gia tái cấu trúc và tái xây dựng các doanh nghiệp của nhà nước thông qua mua bán sáp nhập hoặc tham gia với tư cách nhà đầu tư chiến lược Việc thành lập các công ty bảo lãnh cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ có nguồn vốn nước ngoài được hưởng nhiều ưu đãi nhằm gia tăng các nguồn tài chính cho các nhà đầu tư Đặc biệt, các công ty nước ngoài đã được phép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Thượng Hải
Chính sách thứ tư cải thiện việc quản lý đầu tư nước ngoài: tăng cường sự minh bạch trong việc chấp nhận dự án đầu tư, giảm thiểu việc kiểm định các dự án, phân cấp thẩm quyền quyết định chấp thuận dự án
Chính sách thứ năm tập trung vào việc tạo một môi trường đầu tư thân thiện: các chính sách về ưu đãi thuế, đơn giản hóa thủ tục đầu tư
c, Kết quả:
Trang 29Tình hình khủng hoảng tài chính thế giới có tác động lớn với dòng vốn FDI vào Ấn
Độ Lượng FDI đã giảm mạnh trong tháng 2/2009 tới 73%, chỉ còn 1,49 tỷ USD so với 5,67 tỷ USD cùng kỳ năm trước Tổng FDI tài khoá 2008-2009 chỉ đạt 25,38 tỷ USD Mặc dù FDI đã tăng mạnh trong nửa đầu tài khoá 2008-2009 nhưng khi khủng hoảng tài chính thế giới bắt đầu lan rộng, FDI vào Ấn Độ đã giảm Sau khi duy trì liên tục mức nhận FDI bình quân hàng tháng là 2,8 tỷ USD cho đến tháng 9/2008, FDI vào
Ấn Độ đã giảm tới 26% vào tháng 10/2008, chỉ đạt 1,49 tỷ
và vận hành các vệ tinh nhân tạo, các nguyên liệu nguyên tử, khai thác than, ngân hàng và một số lĩnh vực trong ngành công nghiệp viễn thông, Sở hữu 100%: Ngành hàng không, lọc dầu, hoá dầu, năng lượng phi hạt nhân, đường sá, đường cao tốc, du lịch, quỹ đầu tư mạo hiểm, công nghiệp quảng cáo, sản xuất phần mềm ti vi, một số lĩnh vực trong ngành công nghiệp viễn thông
Chính phủ Ấn độ xem xét lại chính sách Đầu tư nước ngoài thường xuyên Mỗi năm, chính sách đầu tư nước ngoài theo ngành sẽ được xem xét thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Năm 2008, Chính phủ đã phê chuẩn một số thay đổi liên quan
6 : Số liệu công bố trên của Bộ Thương mại Trung Quốc
Trang 30Chính phủ Ấn Độ cũng tăng cường cải thiện môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài Cho đến nay, Ấn Độ là nước duy nhất tiến hành các thủ tục phê chuẩn vốn đầu tư tự động không thông qua giấy phép do Chính phủ trực tiếp phê chuẩn, ngoại trừ một số dự án đặc biệt Đơn xin đầu tư được gửi lên Ban thư ký hỗ trợ Công nghiệp (SIA) hoặc thông qua các cơ sở ngoại giáo Ấn Độ Chính phủ Ấn Độ cũng đạt hộp thư để tiếp nhận đơn xin đầu tư thông qua mạng Internet, đồng thời qua mạng Internet cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài những hiểu biết về chính sách
và thủ tục đầu tư tại Ấn Độ Ban thư ký Hỗ trợ công nghiệp(FIPB) sẽ chịu trách nhiệm giải quyết Hình thức phê chuẩn tự động này được đánh giá là mang tính chất tự do nhất trên thế giới
c, Kết quả:
FDI trong năm tài khóa 2009 của Ấn Độ giảm còn 25,89 tỷ đô la so với con số 27,3 tỷ
đô la năm 2008 Trong tháng 3 năm 2010, FDI của Ấn Độ giảm 38% so với cùng kỳ năm 2009, còn 1,21 tỷ đô la Tuy nhiên con số 25,89 tỷ đô la của năm 2009 là một con
số tương đối cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay Và trong tháng 5 năm
2010, lượng FDI vào Ấn Độ đạt 2,21 tỷ đô la, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2009
Trang 31b, Chính sách:
- Singapore:
Chính phủ thực hiện sách cân đối ngoại tệ, quản lý ngoại hối trong đó không có sự quản lý về ngoại hối mà để để thị trường này hoạt động tự do theo quy luật thị trường Chính phủ cũng cho phép các nhà đầu từ có thể huy động vốn qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay từ các tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài Thực hiện cơ chế thủ tục đầu tư một cửa, đảm bảo giải quyết nhanh gọn các thủ tục cho các nhà đầu tư Các nhà đầu tư được phép đầu từ vào hầu hết các lĩnh vực kinh tế trừ lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc phòng và an toàn xã hội Thực thi chính sách thu hút nhân tài nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động, cho phép người nước ngoài tham gia vào
bộ máy nhà nước, nhập cư dễ dàng, đãi ngộ xứng đáng theo trình độ
- Thái Lan:
Chính sách giảm thuế nhập khẩu đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp Ở Thái Lan, các dự án FDI trong nông nghiệp được miễn giảm đến 50% thuế nhập khẩu đối với các loại máy móc, thiết bị được cơ quan quản lý đầu
tư công nhận là thuộc loại thiết bị được khuyến khích đầu tư Riêng đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt khó khăn và có sản phẩm xuất khẩu, được miến hoàn toàn thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòng 5 năm
Chính sách phát triển công nghiệp nhằm thu hút FDI: Xu thế FDI dần chuyển sang các ngành công nghệ cao hiện nay cho thấy nếu không phát triển công nghiệp, các nền kinh tế khó có thể thu hút FDI trong dài hạn Chính vì vậy, chính sách phát triển công
Trang 32http://svnckh.com.vn xxxii
nghiệp vừa là mục tiêu, vừa là công cụ thu hút FDI của các nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển Đặc biệt chính phủ Thái Lan rất chú trọng phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ Hiện Thái Lan có tới 19 ngành công nghiệp phụ trợ ở ba cấp: Lắp ráp, cung cấp thiết bị - phụ tùng - linh kiện và dịch vụ Khi năng lực của ngành công nghiệp phụ trợ đã phát triển đáp ứng yêu cầu, Thái Lan có chính sách buộc các nhà đầu tư nước ngoài đã ổn định trong sản xuất, kinh doanh phải thay đổi chiến lược, để tuân thủ tỷ lệ nội địa hóa nói trên Điều này đã kéo theo những dự án đầu tư mở rộng nhà xưởng sản xuất ngay tại chỗ, mà còn kéo theo các công ty, tập đoàn lớn từ chính các nước đầu tư sang mở thêm các cơ sở công nghiệp phụ trợ tại Thái Lan
Công khai các kế hoạch phát triển kinh tế: Thái Lan thực hiện tốt công tác quy hoạch
và công khai các kế hoạch phát triển đất nước từng giai đoạn, ngắn và trung hạn
c, Hiệu quả:
Tuy bị sụt giảm mạnh do tác động của cuộc khủng khoảng tài chính, Singapore và Thái Lan vẫn là 2 nước đứng đầu trong khu vực ASEAN về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo báo cáo của Ủy ban đầu tư Thái Lan (BOI), trong 4 tháng đầu năm
2010, số dự án đăng ký tăng lên 53,5% lên 413 dự án Lượng FDI vào Thái Lan trong
4 tháng đầu năm cũng tăng 40% so với cùng kỳ năm 2009
Trang 33http://svnckh.com.vn xxxiii
CHƯƠNG II:
BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ XU HƯỚNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN TOÀN CẦU GIAI
ĐOẠN SAU KHỦNG HOẢNG VÀ SUY THOÁI KINH TẾ
Không còn nghi ngờ những tác động mang tính sâu sắc của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn vừa qua Tăng trưởng kinh tế thế giới sụt giảm, hoạt động sản xuất kinh doanh sa sút đòi hỏi những sự thay đổi chiến lược trong đầu tư của các công ty và tập đoàn xuyên quốc gia Biện pháp thu hẹp hoạt động đầu tư quốc tế là xu hướng chủ yếu trong khủng hoảng mà biểu hiện rõ nhất của nó là sự sụt giảm dòng vốn FDI trong hai năm 2008
và 2009 Tuy nhiên, sự thu hẹp này là có chọn lọc, chính yếu tố đó đã làm nổi bật xu hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư quốc tế trong suốt thập kỷ vừa qua Sau khủng hoảng, chúng ta thấy rõ hơn vai trò kinh tế ngày càng lớn mạnh của các quốc gia châu
Á, đặc biệt là khu vực Đông Á hay các quốc gia mới nổi khu vực châu Mỹ La tinh Dù vậy, quá trình chuyền dịch cơ cấu đầu tư quốc tế không chỉ là sự dần thu hẹp khoảng cách giữa các nền kinh tế phát triển và đang phát triển, mà nó còn xảy ra tại ngay trong từng khu vực Nếu như trước đây, cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á đã đánh dấu sự chuyển dịch đáng kinh ngạc về tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và đặc biệt trong đầu tư trực tiếp nước ngoài từ khu vực ASEAN sang Trung Quốc và Ấn Độ, thì hiện tại, các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn để tao ra sự bứt phá, đưa nền kinh tế vượt lên giai đoạn sau khủng hoảng Để có thế làm được điều này, ngoài những nỗ lực từ chính nội tại bên trong mỗi quốc gia không thể không cần đến những nguồn lực quốc tế - những nguồn lực về tài chính, công nghệ nhưng cái đích thực sự phải là nguồn lực về tri thức Vì vậy, thu hút đầu tư quốc tế luôn là chính sách ưu tiên hàng đầu của hầu hết các quốc gia trong giai đoạn khó khăn này
Có thể nhận thấy trong bối cảnh vừa qua của cuộc khủng hoảng, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có những biến động khó nhận biết Tuy nhiên, có thể nhận thấy sự tập trung vào những khu vực nhất định trong chiến lược của các nhà đầu tư Điều này
Trang 34http://svnckh.com.vn xxxiv
là cơ hội để có thể nhận diện rõ ràng hơn bản chất của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nó có thể là yếu tố cốt lõi cho một chiến lược thu hút nguồn vốn FDI hiệu quả
1 Nghiên cứu về bản chất của Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1 Cơ sở cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài về thực chất là một hình thức di chuyển vốn quốc tế, trong đó, người sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn tại nước nhận đầu tư Vì vậy, cơ sở cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài cốt lõi nằm trên lợi ích của cả bên đầu tư cũng như nhận đầu tư
1.1.1 Lợi ích của nhà đầu tư
- Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Xét từ lợi ích của nhà đầu tư, vì bản chất của hoạt động đầu tư nước ngoài cũng chính
là một cách thức sử dụng nguồn vốn do đó tính hiệu quả và kinh tế luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu Một nhà đầu tư, khi ra quyết định sử dụng nguồn vốn, dù theo bất kỳ cách thức nào, sẽ cần cân nhắc đến những lợi ích mà họ có được nhằm đạt được tính hiệu quả đó Trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng vậy, dự án chỉ được thực hiện khi nó đạt được mức hiệu quả sử dụng vốn cần có cho nhà đầu tư
Yếu tố quan trọng nhất tạo nên tính hiệu quả kinh tế là năng suất cận biên của nguồn vốn Sự chiếm ưu thế về năng suất biên tại một số quốc gia trong từng ngành nghề cụ thể đã tạo ra cơ hội đầu tư cho các doanh nghiệp nước ngoài với mục đích khai thác lợi thế này Năng suất cận biên của nguồn vốn hay nói cách khác là hiệu suất sinh lời trên vốn là cơ sở để nhà đầu tư có thể đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận tại nước ngoài, nơi mà họ có được sự kết hợp tối ưu hơn của nguồn vốn với các nguồn lực khác Chẳng hạn, việc tiếp cận với nguồn lao động dồi dào giá rẻ làm giảm bớt chi phí sản xuất, cho năng suất biên của nguồn vốn tăng theo, cũng đồng nghĩa là sự gia tăng lợi nhuận
Biểu hiện thứ hai tạo nên tính hiệu quả sử dụng nguồn vốn nằm ở ưu thế đi trước trong công nghệ sản xuất kết hợp tính chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm Với thị
Trang 35http://svnckh.com.vn xxxv
trường trong nước, khi nhu cầu về sản phẩm đã thay đổi, đòi hỏi các doanh nghiệp cần thay thế công nghệ sản xuất phù hợp Trong khi đó, với ưu thế là sản phẩm mới trên nhiều thị trường quốc tế, nhu cầu có thể tăng lên tại các quốc gia khác kéo theo xu hướng tự sản xuất nhằm hạn chế nhập khẩu Xu hướng này tạo ra nhu cầu chuyển giao công nghệ và là cơ hội để các doanh nghiệp nước ngoài có thể nắm bắt nhằm giảm thiểu chi phí thay đổi công nghệ tại nước mình Bên cạnh đó,việc chuyển sản phẩm đã không còn được ưa chuộng tại thị trường nội địa sang các thị trường mới với nhu cầu cũng như giá cả cao hơn cho phép chi phí sản xuất thấp hơn, hiệu quả sử dụng vốn tối
ưu hơn Những điều đó tạo cơ sở hình thành hoạt động đầu tư quốc tế, đặc biệt là đầu
tư trực tiếp nước ngoài
- Thứ hai, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp hạn chế xung đột thương mại khi tiếp cận thị trường tiêu thụ quốc tế Đây là một lợi điểm mà các doanh nghiệp nước ngoài đặc biệt chú trọng Trong một thị trường thương mại quốc tế luôn gia tăng những tranh chấp về lợi ích, các quốc gia đều có xu hướng hạn chế nhập khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Các doanh nghiệp xuất khẩu luôn phải đương đầu với những chính sách bảo hộ nền sản xuất trong nước bằng những rào cản về thương mại Vì vậy, đầu
tư trực tiếp nước ngoài là cách mà doanh nghiệp ở các nước xuất khẩu lựa chọn nhằm hạn chế những khó khăn trong thương mại, đồng thời cũng tiếp cận sát hơn với thị trường các nước nhập khẩu Hơn nữa, đầu tư trực tiếp nước ngoài sang các quốc gia nằm trong các khu vực liên kết kinh tế cũng tạo nên những thuận lợi không hề nhỏ cho các doanh nghiệp khi tiếp cận thị trường thứ ba Ví dụ, trong những năm 1970, Volkswagen đã xây dựng nhà máy sản xuất tại Brazil, tuyển những nhân công địa phương để lắp ráp sản phẩm của mình thành những chiếc ô tô hoàn thiện sau đó bán lại những chiếc ô tô không phải chịu thuế này tại thị trường Brazil
- Thứ ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp nâng cao sức cạnh tranh toàn cầu của các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty tập đoàn xuyên quốc gia Các doanh nghiệp đầu
tư ra nước ngoài, ngoài mục đích tìm kiếm lợi nhuận còn hướng tới chiến lược phát triển toàn cầu, xây dựng thương hiệu và nâng cao sức mạnh cạnh tranh Đầu tư ra thị trường nước ngoài tạo cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ cũng như tăng cường mạng lưới sản xuất hàng hóa, dịch vụ Đối với nhiều dự án đầu tư, đó còn là chiến lược xây
Trang 361.1.2 Lợi ích của quốc gia nhận đầu tư
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đang ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình, mang lại những lợi ích chiến lược đối với mỗi quốc gia nhận đầu tư Đối với mỗi khu vực hay mỗi nền kinh tế, lợi ích lại thể hiện ở những mặt cụ thể với mức độ khác nhau tùy thuộc vào tính chất của khu vực hay nền kinh tế đó Phần dưới đây sẽ khái quát một cách chung nhất những lợi ích mà FDI mang lại cho nền kinh tế các nước nhận đầu tư
- Tăng cường nguồn vốn đầu tư phát triển trong nước: FDI là một trong những nguồn
đầu tư quốc tế quan trọng giúp tăng cường nguồn vốn cũng như nguồn cung ngoại tệ cho các quốc gia tiếp nhận, đặc biệt tại các nước đang phát triển và kém phát triển Ở các quốc gia phát triển, FDI là nguồn bổ sung quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu
tư cho phát triển, chú trọng những ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp khai thác chế biến và dịch vụ tài chính ngân hàng, vận tải, hàng không… Trong khi
đó, FDI đối với các quốc gia đang phát triển và kém phát triển là nguồn nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt vốn mà không phải gánh chịu những gói nợ nước ngoài Bên cạnh đó, nguồn vốn FDI cũng mang lại những ưu điểm vượt trội so với các nguồn khác trong dòng vốn quốc tế như FII, ODA,… cho các quốc gia đang phát triển và kém phát triển FDI thường đi kèm theo sự chuyển giao về mặt công nghệ, kỹ thuật cũng như kỹ năng quản lý hiện đại, do đó có tính hiệu quả cao hơn nguồn vốn đầu tư trong nước Mặt khác, so với các nguồn vốn quốc tế khác như ODA hay FII, FDI có tính ổn định hơn, và có thể huy động khối lượng lớn hơn
- Nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, dịch vụ trong nước và thương mại quốc tế:
Đối với nhiều quốc gia, nhất là khu vực các quốc gia đang phát triển và kém phát
Trang 37http://svnckh.com.vn xxxvi
i
triển, việc có thể tự xây dựng và tích lũy công nghệ cũng như năng lực sản xuất đòi hỏi một quá trình dài và nhiều tốn kém Thậm chí, có thể tụt hậu xa so với các nước vốn đã có lợi thế cả về mặt tiềm lực tài chính cũng như khoa học kỹ thuật Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là con đường nhanh và ít tốn kém cho phép các quốc gia này có thể tiếp cận trực tiếp với trình độ công nghệ kỹ thuật hiện đại cũng như học hỏi được cách thức và bí quyết quản lý chuyên nghiệp, hiệu quả Có thể nói, chuyển giao công nghệ qua các kênh dự án FDI là cách thức chủ yếu, có tính đột phá trong việc tiếp thu công nghệ của các quốc gia hiện nay Hoạt động chuyển giao công nghệ thông qua FDI được thể hiện dưới 4 hình thức: Chuyển giao dọc giữa các công ty nước ngoài đối với các nhà cung cấp, chuyển giao ngang đối với các doanh nghiệp cùng cạnh tranh, sự luân chuyển của các lao động có trình độ, hoạt động nghiên cứu
và phát triển (R&D) Quá trình tiếp thu công nghệ sản xuất tiên tiến hiện đại và kỹ năng làm việc quản lý hiệu quả giúp nâng cao được năng lực sản xuất công nghiệp cũng như dịch vụ của các quốc gia tiếp nhận FDI Ngoài ra, FDI và hoạt động của các công ty đa quốc gia tạo ra sức ép cạnh tranh lớn tại thị trường quốc gia nhận đầu tư
Sự hiện diện của các công ty nước ngoài sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng sự cạnh tranh trên thị trường Điều này khiến cho các doanh nghiệp trong nước phải tăng cường cải tiến, nâng cao hiệu suất, giảm chi phí và phân
bổ nguồn lực hiệu quả hơn
Thực tế đã cho thấy, đa phần các quốc gia tiếp nhận nguồn vốn FDI đã cải thiện được đáng kể trình độ kỹ thuật và công nghệ của mình Có thể nói đến Hàn Quốc, đầu những năm 1960, quốc gia Đông Á này chưa thực sự có những hãng sản xuất, thậm chí lắp ráp ô tô tên tuổi nào Tuy nhiên, nhờ nhận được sự chuyển giao công nghệ từ những quốc gia sản xuất hàng đầu lúc đó như Hoa Kỳ và Nhật Bản, hiện tại, Hàn Quốc đã vươn lên nhóm đầu các nước sản xuất ô tô lớn nhất thế giới Cũng giống như Hàn Quốc, nhưng Trung Quốc có bước chậm hơn trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên họ đã phát huy tối đa và tận dụng tốt nguồn lực này để phát triển kinh
tế Nếu như trước những năm 80, Trung Quốc vẫn còn được biết đến như một quốc gia chậm phát triển thì giờ đây, quốc gia này đã chiếm lĩnh vị trí nền kinh tế lớn thứ 3
Trang 38Bên cạnh việc nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, dịch vụ, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn là nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động thương mai quốc tế Sự hiện diện của các công ty nước ngoài có một ảnh hưởng sâu sắc đến cán cân thương mại của nước chủ nhà, bởi nó liên quan mật thiết với sự gia tăng trong cả kim ngạch xuất khẩu
và nhập khẩu Hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt là xuất khẩu là yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả khai thác những lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư Đối với các nước đang phát triển và kém phát triển, tuy có được những lợi thế nhất định về sản xuất như chi phí cạnh tranh hay tài nguyên nhưng lại rất khó tiếp cận thị trường quốc tế Vì vậy, thông qua các TNCs chính là cách tốt nhất cho nước chủ nhà thực hiện được điều này
Có thể nhận thấy rõ nhận định trên qua sự đóng góp quan trọng của khu vực có yếu tố đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tăng trưởng của thương mại thế giới trong những năm vừa qua Tính cho đến năm 2007, đã có trên 79.000 TNCs với 790.000 chi nhánh tại nước ngoài, chiếm khoảng 2/3 thương mại trên thế giới7 Khối lượng xuất khẩu được thực hiện bởi các chi nhánh nước ngoài của các TNCs năm 2007 ước tính đạt 5,7 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 34% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ toàn cầu8
- Khai thác tốt tiềm năng lao động, gia tăng số lượng việc làm và cải thiện chất lượng
nguồn nhân lực: Một trong những yếu tố quan trọng mà các nhà đầu tư nước ngoài
chú ý đến khi đầu tư tại một quốc gia, đó chính là nguồn lao động bao gồm nguồn
7
Theo “UNCTAD Training Manual on Statistics for FDI and the Operations of TNCs – 2009”
8 Tính toán theo số liệu nguồn “International trade statistics 2008” – WTO
Trang 39http://svnckh.com.vn xxxix
cung, chất lượng và chi phí lao động Tuy nhiên, chiều hướng khai thác lao động lại
có xu hướng khác biệt giữa khu vực tùy thuộc vào trình độ sản xuất của quốc gia nhận đầu tư
Đối với nhiều quốc gia, các dự án FDI là một lựa chọn thích hợp nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt việc làm cũng như cải thiện chất lượng lao động, nhất là tại các quốc gia đang đông dân đang phát triển Đầu tư vào những quốc gia này thường mang tính chất khai thác nguồn lao động giá rẻ nhằm gia tăng mạng lưới sản xuất quốc tế, do đó
có thể cải thiện đáng kể số lượng việc làm Bên cạnh đó, do tính chất kỹ thuật của hoạt động sản xuất, chất lượng nguồn lao động cũng sẽ được nâng cao Đáng chú ý, hoạt động đào tạo nguồn nhân lực của khu vực FDI được cho là lợi ích then chốt giúp bứt phá trình độ lao động trong nước, được chính phủ các nước đặc biệt quan tâm, nhằm
có thể chủ động trong vận hành và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng gián tiếp tạo thêm việc làm trong những lĩnh vực dịch vụ và ngành công nghiệp phụ trợ trong nước, những khu vực đối tác hay trung gian nhằm hỗ trợ hoạt động cho các doanh nghiệp FDI
Tại các quốc gia phát triển, hoạt động đầu tư nước ngoài thường hướng đến việc khai thác đội ngũ chuyên gia chất lượng cao Do vậy, bên cạnh tạo thêm những việc làm mới, khu vực FDI còn tạo tính cạnh tranh cao trên thị trường lao động, đồng thời thúc đẩy xu hướng gia tăng thu nhập và cả chất lượng của nguồn nhân lực Ngoài ra, đầu tư nước ngoài cũng kèm theo trao đổi học tập những kỹ năng trong sản xuất, quản lý giúp phát huy tối đa năng lực của lực lượng sản xuất Trên thực tế, nhiều quốc gia đã tận dụng và khai thác tốt lợi thế này với việc khuyến khích tăng cường hợp tác giữa các tập đoàn trong nước với đối tác mạnh trên thế giới Bằng cách đó, kỹ năng cũng như trình độ nguồn nhân lực trong nước sẽ được nâng cao nhanh chóng, ít tốn kém và hiệu quả
- Bổ sung nguồn thu ngân sách Nhà nước: Ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang
phát triển, thuế từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một nguồn thu quan
Trang 40http://svnckh.com.vn xl
trọng của ngân sách quốc gia Ví dụ, đóng góp của FDI cho ngân sách nhà nước của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2005 là khoảng 3,67 tỷ đô la Mỹ.9
1.2 Phân loại Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Lý thuyết về đầu tư quốc tế thường phân chia đầu tư trực tiếp nước ngoài dựa theo ba nhóm động cơ chính bao gồm: Đầu tư tìm kiếm thị trường, đầu tư tìm kiếm hiệu quả
và đầu tư tìm kiếm tài nguyên
- Đầu tư tìm kiếm thị trường:
Hoạt động đầu tư này với mục đích nhằm thâm nhập thị trường tiêu thụ mới hoặc duy trì thị trường vốn có Đầu tư xây dựng chi nhánh ở thị trường mới sẽ tiết kiệm được chi phí sản xuất cũng như phân phối Sản phẩm có chi phí vận chuyển cao, sản xuất với số lượng ít nên được sản xuất tại những nơi nằm gần trung tâm tiêu thụ chính Các nước có khoảng cách địa lý càng xa những thị trường quan trọng thường xuyên đầu tư
vì mục đích này Không chỉ tiếp cận thị trường nước nhận đầu tư, loại hình này còn nhằm tận dụng các hiệp định kinh tế giữa các nước với những khu vực khác, lấy nước tiếp cận làm bàn đạp để thâm nhập vào thị trường thứ ba Ví dụ, tập đoàn Northern Telecom của Canada chuyển rất nhiều cơ sở sản xuất sang Mỹ vào cuối những năm 80 nhằm kí kết các hợp động với Nhật Bản bởi vì thời kì này dưới tác động của hiệp định thương mại Mỹ-Nhật các công ty của Nhật ưa thích mua các trang thiết bị viễn thông của Mỹ
Việc đầu tư tìm kiếm thị trường đang ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược sản xuất và marketing toàn cầu của công ty nhằm đánh dấu sự hiện diện ở những thị trường chính của đối thủ Hình thức đầu tư này thường mang lý do tự vệ hay trả đũa đối thủ cạnh tranh Nguồn vốn FDI cho tìm kiếm thị trường thường nằm trong chiến lược cạnh tranh quốc tế của nhiều công ty và tập đoàn xuyên quốc gia Hình thức đầu
tư tìm kiếm thị trường cũng có thể nhận thấy rõ nhất qua hoạt động mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ như: tài chính ngân hàng -
9 : Theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài