1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển ngành dịch vụ - kinh nghiệm trung quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam

62 509 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển ngành dịch vụ - kinh nghiệm trung quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 244,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo Phát triển ngành dịch vụ - kinh nghiệm trung quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam

Trang 1

Lời nói đầu

1.Sự cần thiết của đề tài

Trong thế kỷ XXI, xu thế chung của mọi nền kinh tế trên thế giới là hớng tớitoàn cầu hoá và quốc tế hoá các thị trờng dịch vụ, đa tăng trởng dịch vụ lên hàng

đầu và trở thành tăng trởng của ngành “công nghiệp sạch” cho vấn đề phát triểnkinh tế và đảm bảo các vấn đề môi trờng và xã hội Sức mạnh của ngành dịch vụtrong nền kinh tế ngày càng tăng Vào năm 2001, bình quân ngành dịch vụ chiếm72% GDP của các nớc phát triển, 52% GDP của các nớc đang phát triển và 57%GDP của các nớc CEE Dịch vụ chiếm 2/3 tổng dòng FDI vào trong những năm

2001 - 2002, đạt bình quân 500 tỷ USD/năm

Nhận thức đợc những vai trò và tiềm năng phát triển kinh tế to lớn của lĩnh vựcdịch vụ đem lại, ngày 24 tháng 12 năm 2004 Thủ tớng Chính phủ ban hành chỉ thị

số 49/2004/CT-TTg về phát triển dịch vụ trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

5 năm 2006 - 2010 nhằm nâng cao vị trí và vai trò của khu vực dịch vụ Ngành dịch

vụ đợc xem là một trong những ngành mũi nhọn để phát triển kinh tế đất nớc trong

đó tập trung phát triển các lĩnh vực dịch vụ có tiềm năng nh du lịch, bảo hiểm, vậntải hàng không, vận tải biển, kho bãi, chuyển tải, tài chính, ngân hàng, kiểm toán,

bu chính viễn thông, xây dựng, xuất khẩu lao động khuyến khích phát triển dịch

vụ mới có sức cạnh tranh cao

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, em đã chọn đề tài "Phát triển

ngành dịch vụ - kinh nghiệm Trung Quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam"

2 Tình hình nghiên cứu

Có rất nhiều nghiên cứu và tài liệu từ trớc đến nay đề cập đến vai trò và sự pháttriển của ngành dịch vụ của Việt Nam và các quốc gia khác trên thế giới Nhng cáctài liệu và nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu dịch vụ dới góc độ phục vụ quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế, cũng nh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ, cócông trình nghiên cứu ngành dịch vụ trong quá trình điều chỉnh chính sách kinh tếhay điều chỉnh cơ cấu kinh tế… Vì vậy, hiện ch Vì vậy, hiện cha có công trình nào đa ra một hệthống hoàn chỉnh những lí luận và dữ liệu thống kê một cách tổng hợp và khái quát

về sự ra đời và phát triển của ngành dịch vụ trên thế giới, kinh nghiệm Trung Quốc

và thực tiễn ở Việt Nam

3.Mục đích nghiên cứu

Trang 2

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đa ra đợc vai trò và tầm quan trọng củangành dịch vụ trong phát triển kinh tế trên thế giới, phân tích đánh giá tiến trìnhphát triển ngành dịch vụ của Nhật Bản và Trung Quốc và rút ra bài học kinh nghiệmcho Việt Nam trong việc phát triển lĩnh vực dịch vụ nhằm gia nhập WTO Trên cơ

sở đó đề ra một số giải pháp góp phần mở cửa và phát triển ngành dịch vụ ở ViệtNam trong thời gian tới

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu tổng quan về ngành dịch vụ cũng nh phát triểnngành dịch vụ nhằm đáp ứng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành theo hớng tiến bộcủa Trung Quốc và Nhật Bản trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trìnhphát triển ngành dịch vụ ở Việt Nam

-Hệ thống hoá một cách toàn diện các quan điểm và các lí luận về ngành dịch

vụ và vai trò, tầm quan trọng của lĩnh vực dịch vụ

-Đa ra thực trạng ngành dịch vụ ở Trung Quốc và bài học kinh nghiệm củaTrung Quốc trong việc phát triển lĩnh vực dịch vụ

-Đa ra cách đánh giá sát thực về thời cơ và những thách thức khi phát triểnngành dịch vụ ở Việt Nam đồng thời đề xuất những kiến nghị có tính chất định hớngnhằm cải thiện môi trờng pháp lý, phát triển ngành công nghệ dịch vụ ở Việt Nam

7.Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Khoá luận tốt nghiệp có

4 chơng:

Chơng1: Tổng quan về ngành dịch vụ và sự phát triển của ngành dịch vụ

Chơng 2: Phát triển dịch vụ ở Trung Quốc – bài học kinh nghiệm đối với ViệtNam

Chơng 3: Thực trạng ngành dịch vụ ở Việt Nam

Chơng 4: Một số giải pháp phát triển ngành dịch vụ ở Việt Nam

2

Trang 3

Chơng 1 Tổng quan về ngành dịch vụ và

sự phát triển của ngành dịch vụ1.1.Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ

Theo Các Mác, dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá nên dịch

vụ với t cách là sản phẩm cũng là một loại hàng hoá và có thể hiểu dịch vụ là giá trị

và giá trị sử dụng

Vào những thập niên 1930 của thế kỷ XX, Allan Fisher và Collin Clark lànhững ngời đầu tiên đề xuất chia nền kinh tế thành 3 lĩnh vực: lĩnh vực một baogồm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, lĩnh vực hai bao gồm công nghiệp, và lĩnhvực ba là những hoạt động kinh tế đặc biệt không đợc liệt kê vào lĩnh vực một vàlĩnh vực hai Nh vậy ngay cả đến tên gọi của lĩnh vực dịch vụ cũng còn cha xuấthiện và ngời ta chỉ hiểu nó nh là một phần dôi ra của nền kinh tế khi mà lĩnh vựcsản xuất chế tạo đợc hiểu nh nền tảng của toàn bộ nền kinh tế nói chung

Năm 1977, khi vai trò của ngành dịch vụ ngày càng tăng và nhu cầu dịch vụtrở nên nhiều hơn, T.P Hill đã cố gắng đa ra định nghĩa về dịch vụ nh sau “Dịch vụ

là sự thay đổi về điều kiện hay trạng thái của ngời hay hàng hoá thuộc về sở hữucủa một chủ thể kinh tế nào đó do sự tác động của chủ thể kinh tế khác với sự đồng

ý trớc của ngời hay chủ thể kinh tế ban đầu” Song định nghĩa này còn nhiều thiếusót và cha đáp ứng đợc tính chất trừu tợng và sự vận động không ngừng của lĩnh vựcdịch vụ

Cho đến nay cha có một định nghĩa về dịch vụ đợc chấp nhận trên phạm vitoàn cầu Tính vô hình và khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp của cácloại hình dịch vụ làm cho việc định nghĩa dịch vụ trở nên khó khăn Hơn nữa, cácquốc gia khác nhau có cách hiểu về dịch vụ không giống nhau, phụ thuộc vào trình

độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

Trong việc đa ra khái niệm dịch vụ, có một số quan điểm sau:

-Theo Pocket Oxford Dictionary “công nghệ dịch vụ” đợc định nghĩa là ngànhcung cấp thứ gì đó vô hình dạng” để phân biệt “ngành công nghệ sản xuất” là

“ngành cung cấp các loại hàng hoá cụ thể sờ thấy đợc”

-Theo nghĩa rộng: dịch vụ bao gồm tất cả các hoạt động mà kết quả của nó thểhiện dới dạng vật chất Các hoạt động dịch vụ bao gồm tất cả các lĩnh vực ở mức độcao, có tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ hoặc một quốc gia

Trang 4

hoặc vùng Các hoạt động này không chỉ hạn chế trong một lĩnh vực cụ thể nh giaothông, du lịch, thơng mại, ngân hàng bu chính viễn thông, bảo hiểm mà còn baogồm cả môi trờng, văn hoá, hành chính, t vấn pháp lý và t vấn tình cảm.

-Theo nghĩa hẹp: dịch vụ bao gồm việc làm việc cho một ngời khác hoặc mộtcộng đồng nhằm làm thoả mãn một số nhu cầu của con ngòi nh đi lại, cung cấp nớc,sửa chữa và bảo dỡng máy móc, thiết bị hoặc các công trình

-GATS đa ra khái niệm Dịch vụ bằng cách liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn

và 155 phân ngành khác nhau

Nhng chúng ta có thể hiểu dịch vụ bằng cách tìm ra các đặc điểm nổi bật vàkhác biệt của dịch vụ so với hàng hoá Có bốn đặc điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, dịch vụ mang tính vô hình Tính vô hình của dịch vụ thể hiện ở chỗ

dịch vụ “là những thứ mà khi đem bán không thể rơi vào chân bạn” 1 Quá trình sảnxuất hàng hóa tạo ra những sản phẩm hữu hình có tính chất cơ, lý, hoá học, nhất

định, có tiêu chuẩn về kỹ thuật cụ thể và do đó có thể sản xuất theo tiêu chuẩn hóa.Khác với hàng hóa, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dới dạng vật chất bằng nhữngvật phẩm cụ thể, không nhìn thấy đợc và do đó không thể xác định chất lợng dịch

vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật đợc lợng hóa

Thứ hai, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra

đồng thời Trong nền kinh tế hàng hóa, sản xuất hàng hóa tách khỏi lu thông và tiêu

dùng Do đó hàng hóa có thể đợc lu kho để dự trữ, có thể vận chuyển đi nơi kháctheo nhu cầu của thị trờng Khác với hàng hóa, quá trình cung ứng dịch vụ gắn liềnvới tiêu dùng dịch vụ Thí dụ với dịch vụ t vấn đầu t, khi chuyên gia về đầu t t vấnkhách hàng cũng là lúc khách hàng tiếp nhận và tiêu dùng xong dịch vụ t vấn dongời chuyên gia này cung ứng

Thứ ba, không thể lu trữ đợc dịch vụ Sự khác biệt này là do sản xuất và tiêu

dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lu giữtrong kho sau đó mới tiêu dùng

Thứ t, dịch vụ có tính đa chủng: tính đa chủng của dịch vụ có nghĩa là mỗi sản phẩm dịch vụ đều khác với những sản phẩm dịch vụ đợc tạo ra trớc đó Điều này xảy ra khi quy trình sản xuất cho mỗi khách hàng đều khác nhau vì mỗi khách hàng phản ứng hay hoạt

động theo một cách riêng, mỗi tơng tác giữa khách hàng và ngời cung cấp dịch vụ trong một chừng mực nào đó là độc nhất Đây là kết quả của tính giao tiếp cao với khách hàng của sản phẩm dịch vụ.

1 Liberalizing international Transactions in Services, tr.1

4

Trang 5

Hộp 1 Ví dụ về sự tơng phản của ngành hoạt động dịch vụ

điều hành Các hoạt động dịch vụ

Khách hàng đến doanh nghiệp Tiền sảnh Hậu đờng Khách hàng

Dịch vụ đến khách hàng

Tiếp thị Hoạt động điều hành

Hoạt động điều hành

Vậy ta có thể đi đến kết luận về khái niệm dịch vụ nh sau:

Dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa

ợc sử dụng trong việc phân loại các dịch vụ Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc

đánh giá hiệu quả của ngành dịch vụ theo những tiêu chí cụ thể

*GATT chia dịch vụ làm 12 phân ngành lớn là: dịch vụ kinh doanh, dịch vụliên lạc, dịch vụ xây dựng và thi công, dịch vụ phân phối, dịch vụ giáo dục, dịch vụmôi trờng, dịch vụ tài chính, dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và dịch vụ xã hội, cácdịch vụ giải trí và thể thao, dịch vụ vận tải, dịch vụ khác

*Văn phòng đánh giá kỹ thuật ở Washington D.C đa ra một trong những cáchphân loại đơn giản nhất nh sau:

Hộp 2 Phân loại các dịch vụ của Văn phòng Đánh giá Kỹ thuật ở Washington

Dịch vụ cho ngời sản

xuất

Dịch vụ tài chính: Ngân hàng, bảo hiểm, cho thuê tài chính… Vì vậy, hiện ch Vận chuyển và phân phối: Biển, đờng sắt, xe tải, hàng không, buôn sỉ, kho vận, phân phối… Vì vậy, hiện ch

Công nghiệp và kỹ thuật: Hợp đồng đặc quyền và bán buôn, dịch

vụ thiết kế máy, thiết kế kiến trúc, đấu thầu xây dựng, những dịch

vụ quản lý khác, kế toán

Trang 6

Những dịch vụ trung gian khác: vi tính, xử lý dữ liệu, truyền thông, quảng cáo, địa ốc, du lịch, an ninh, bu phẩm… Vì vậy, hiện ch

Dịch vụ cho khách

hàng

Buôn lẻ Chăm sóc y tế

Du lịch, giải trí Giáo dục Những dịch vụ xã hội khác (bao gồm cả dịch vụ công) Những dịch vụ cá nhân khác (nhà hàng, tiệm giặt, … Vì vậy, hiện ch )

*Cán cân thanh toán của Việt Nam hiện có 6 loại dịch vụ là: vận tải đờng biển

và đờng hàng không, bảo hiểm, bu chính viễn thông, ngân hàng, du lịch, và dịch vụkhác

*Theo tiêu chí phân loại của Riddle ghi nhận những ngành dịch vụ với vai trò

là yếu tố đầu vào quan trọng cho xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ hớng tới mục tiêutăng trởng kinh tế nhanh thì ngành dịch vụ bao gồm:

-Những ngành dịch vụ truyền thống (dịch vụ hạ tầng cơ sở) nh giao thông vậntải, tài chính, bảo hiểm… Vì vậy, hiện ch đóng vai trò làm những nhân tố đầu vào hỗ trợ chính thứccho kinh doanh

-Những ngành dịch vụ gắn liền với công nghệ hiện đại có tác động mạnh đến sựtăng trởng kinh tế hiện nay là : dịch vụ viễn thông, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh vàdịch vụ nghề nghiệp, dịch vụ vi tính, dịch vụ giáo dục đào tạo

1.3.Tính tất yếu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng phát triển ngành dịch vụ

Các xã hội sơ khai sống nhờ canh tác sinh tồn và đổi hàng lấy hàng đều không

có nhu cầu, hoặc rất ít cho dịch vụ Trong nền kinh tế tự cung tự cấp hoạt động dịch

vụ thờng mang tính tự phát, các hoạt động dịch vụ chỉ là hoạt động tự phục vụ Dịch

vụ hỗ trợ sản xuất còn ở mức sơ khai, dịch vụ cho nhu cầu cá nhân đợc thực hiệnchủ yếu trong phạm vi gia đình Khi nền kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển mạnh,

đòi hỏi một sự lu thông trôi chảy, thông suốt liên tục để thoả mãn nhu cầu ngàycàng gia tăng của con ngời thì dịch vụ phát triển Và đặc biệt từ khi có cuộc cáchmạng công nghiệp thì nhu cầu dịch vụ phát triển và mở rộng rất nhanh Ví dụ, quátrình công nghiệp hoá và chuyên môn hoá xã hội làm nảy sinh nhu cầu cho dịch vụvận chuyển Tiếp theo đó là các nhu cầu về dịch vụ tài chính và bảo hiểm , ra đời Thông thờng các quốc gia trên thế giới trải qua các giai đoạn thăng tiến phát triểnsau:

-Giai đoạn l: Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ

-Giai đoạn 2: Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ

6

Trang 7

-Giai đoạn 3: Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp

-Giai đoạn 4: Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp

Xu thế chung của cơ cấu kinh tế của các quốc gia trên thế giới là tỷ trọng ngànhnông nghiệp không ngừng thu nhỏ lại, tỷ trọng ngành công nghiệp từ mở rộng đi đếnthu nhỏ, tỷ trọng ngành dịch vụ thì không ngừng mở rộng Nh vậy, tỷ trọng nhữngngành kinh tế sản xuất vật chất nh công nghiệp, nông nghiệp ngày càng thấp trong khi

tỷ trọng của những ngành kinh tế dịch vụ ngày càng cao Nhng xu thế đó không phải làtuyệt đối và vô hạn mà là tơng đối và có điều kiện:

-Việc giảm tỷ trọng nông nghiệp và công nghiệp phải có tiền đề là năng suất lao

động những ngành kinh tế sản xuất vật chất đợc nâng cao mạnh mẽ nhằm phục vụ xãhội công nghiệp phát triển, có thể đảm bảo những nhu cầu sống cơ bản của con ngờivới chất lợng cao

-Tỷ trọng ngành dịch vụ nâng cao phải đợc xây dựng trên cơ sở một nền kinh tếsản xuất vật chất phát triển mạnh

Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của nền kinh tế, năng lực sáng tạo cái mới củakhoa học kỹ thuật là có hạn và sự đóng góp của kỹ thuật trong quá trình sản xuất xãhội ở vào thời kỳ đó chỉ giữ vai trò thứ yếu Sự đóng góp của các yếu tố tài nguyênthiên nhiên, vốn, sức lao động, là nguồn gốc tăng trởng kinh tế Những yếu tố nàytrở thành những yếu tố đầu vào quan trọng cho ngành công nghiệp và nông nghiệp lànhững ngành lấy sản phẩm trực tiếp từ tự nhiên và chế biến sản phẩm tự nhiên Do vậy,trong những giai đoạn đầu ngành chủ đạo hay trụ cột của sự phát triển kinh tế là nôngnghiệp và công nghiệp Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, việc tăng cờng đầu tvào nghiên cứu phát triển khoa học, tổ chức quản lý, vận hành, ngày càng đợc chútrọng và nâng cao cha từng thấy trong quá trình sản xuất, công cụ lao động và đối tợnglao động đã thay đổi nội dung truyền thống của nó, hàm lợng khoa học kỹ thuật, côngnghệ và thông tin tăng lên rất nhiều, tính di chuyển của sức sản xuất mạnh Thích ứngvới xức sản xuất có hàm lợng thông tin cao và có tính di chuyển mạnh, phơng thức tổchức và cơ cấu của nền kinh tế cũng nảy sinh những thay đổi tơng ứng, đầu vào củacác yếu tố sản xuất và sự phân bổ các ngành nghề này càng nghiêng về các ngànhcông nghệ mới và ngành dịch vụ, khiến cho tỷ trọng của các ngành nghề đó trong cơcấu kinh tế tăng lên vô cùng mạnh mẽ

Nh vậy, sự mở rộng ngành dịch vụ phải đợc xây dựng trên cơ sở nâng cao năngsuất lao động của lĩnh vực sản xuất vật chất Năng suất lao động tơng đối cao của côngnghiệp và nông nghiệp, dùng một số lợng lao động hạn chế nào đó để làm ra nhiều sảnphẩm đã tạo cho sự phát triển của ngành dịch vụ có một cơ sở vững chắc, thu hút mạnh

Trang 8

mẽ sức lao động từ lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp di chuyển đến, tăng nhanhtốc độ phát triển của nó cũng nh tăng tỷ trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân Nhvậy, những biến động về cơ cấu kinh tế hình thành do các ngành trực tiếp sản xuất vậtchất giải phóng vốn và sức lao động, còn ngành dịch vụ thì không ngừng thu hút ngời

và vốn mới khiến tỷ trọng của ngành dịch vụ tăng lên Nhờ khả năng cung cấp và phục

vụ nên nó có tác động ngợc trở lại lĩnh vực sản xuất vật chất, thúc đẩy các ngành côngnghiệp và nông nghiệp phát triển cao về chất, tăng mạnh về lợng, làm cho lĩnh vực sảnxuất vật chất ngày càng hiện đại hoá

Trớc chiến tranh thế giới thứ II, các nớc phát triển trên thế giới về cơ bản đã hoànthành quá trình “phi nông nghiệp hoá” và “công nghiệp hoá” cơ cấu ngành khiến tỷtrọng của ngành nông nghiệp giảm và tỷ trọng của ngành công nghiệp tăng

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, do sự phát triển của cuộc Cách mạng Khoa học Công nghệ, cơ cấu ngành ở các nớc công nghiệp phát triển lại xuất hiện xu thế biến

-động mới Tỷ trọng lao -động trực tiếp sản xuất trong nội bộ các ngành giảm, tỷ trọnglao động trí óc, phục vụ điều tra tỷ trọng, triển khai kỹ thuật, phỏng vấn, quảng cáo, tăng khiến tỷ trọng giữa các ngành nghiêng về dịch vụ và ngành dịch vụ đợc trang bị

kỹ thuật cao và lợng thông tin lớn có vai trò ngày càng tăng trong nền kinh tế quốcdân Hiện nay, ngành dịch vụ đã trở thành lĩnh vực vô cùng quan trọng có giá trị sảnphẩm cao nhất và tạo nhiều công ăn việc làm nhất

Hoạt động của dịch vụ không chỉ đợc coi nh là “ chất kết dính và xúc tác” màcòn đợc xem nh là “đòn bẩy” tạo bớc đột phá cho nền kinh tế, đặc biệt là trong thời

đại chuyển sang nền kinh tế tri thức ở một số nớc đang phát triển, các ngành dịch

vụ hiện đại rất kém phát triển, không những thế, họ còn xem trọng sản xuất hơn dịch

vụ và có xu hớng tập trung các nguồn lực cho sản xuất, kể cả các nguồn lực bênngoài Sản xuất là quan trọng và không ai phủ nhận vai trò của nó nhng tầm quantrọng của nó không thể lấn át dịch vụ Nếu ta tập trung đầu t vào sản xuất thép, ximăng… Vì vậy, hiện ch nhng không đầu t thích đáng vào các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,

t vấn… Vì vậy, hiện ch thì sản xuất thép, xi măng sẽ rơi vào tình trạng chi phí cao, chất lợng thấp,thiếu thị trờng… Vì vậy, hiện ch Một nhà đầu t nớc ngoài khi đầu t vào sản xuất thì khi họ bí, cần tvấn không có, cần vay vốn lại khó khăn, cần bảo hiểm lại quá phức tạp, cần liên lạcviễn thông lại quá đắt… Vì vậy, hiện ch Do vậy, nhà đầu t nớc ngoài sẽ nản lòng và từ bỏ ý định đầu

t vào nớc đó Môi trờng dịch vụ hoạt động kém là một trở ngại lớn đối với nhà đầu t

từ các nớc phát triển vì họ đang quen với môi trờng đầu t có hoạt động dịch vụ rất tốt.Nhằm đáp ứng sự phát triển nhảy vọt của sức sản xuất cũng nh sức tiêu dùngcủa xã hội, hệ thống dịch vụ không còn thụ động nh trớc đây mà phát triển mộtcách chủ động và tích cực Tính linh hoạt và năng động của cơ chế thị tr ờng đã làm

8

Trang 9

thay đổi các hoạt động dịch vụ truyền thống, đồng thời làm nảy sinh nhiều loại hìnhdịch vụ mới Cơ chế thị trờng cũng đặt tất cả các hoạt động dịch vụ vào môi trờngcạnh tranh sôi động, khiến các ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh chóng cả bềrộng lẫn chiều sâu, trên cơ sở cải tiến kỹ thuật và phong cách phục vụ văn minh.Nếu nh trớc đây, sự phân biệt rạch ròi giữa ba ngành là tơng đối rõ ràng thìngày nay ranh giới giữa chúng ngày càng mờ nhạt Đó là vì nền sản xuất hiện đạivới hiệu quả kinh tế cao, đã chú ý nhiều đến việc sáng tạo ra cái mới, chất l ợng vàmạo hiểm, những hoạt động dịch vụ thích ứng với điều đó nh nghiên cứu khoa học,

đào tạo, điều tra, nghiên cứu,… Vì vậy, hiện ch tăng lên, một số hoạt động hình thành nên nhữngngành nghề mới độc lập, một số nằm trong nội bộ ngành hay xí nghiệp, nhữngmạng lới dịch vụ thông tin nhiều tầng nấc đó không đơn thuần là đối tợng dịch vụ,phơng thức và nội dung dịch vụ nữa thờng rất khó phân biệt chúng thuộc ngành nào.Lại thêm cách kinh doanh kiểu nhà máy của nông nghiệp và dịch vụ cùng phơngchâm đa dạng hoá kinh doanh của các công ty khiến ranh giới giữa các ngành ngàycàng lu mờ Ví dụ, trong phân loại tiêu chuẩn ngành nghề ở Mỹ, các ngành cấp nớc,

điện, khí đốt ban đầu thuộc công nghiệp, sau chuyển thành dịch vụ, … Vì vậy, hiện ch

Tầm quan trọng của khu vực dịch vụ tại bất cứ quốc gia nào đều một phần tuỳthuộc vào giai đoạn phát triển kinh tế đơng thời Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau,trình tự về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế không nhất thiết phải lần lợt trải quatừng giai đoạn nêu trên Thực tế cho thấy nhiều nớc đã bỏ qua hoặc đi xuyên qua mộthay hai giai đoạn và họ đã thành công Đó là các nớc Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan.Ngày nay, nhiều nớc đã đặt ngành dịch vụ vào vị trí hàng đầu, là mũi nhọn trong chiếnlợc phát triển kinh tế - xã hội của mình

1.4 Vai trò và tầm quan trọng của ngành dịch vụ trong nền kinh tế hiện đại

Phát triển và nâng cao chất lợng các ngành dịch vụ trớc hết nhằm đáp ứng nhucầu của xã hội, trực tiếp góp phần nâng cao chất lợng cuộc sống dân c Khi mức thunhập, mức sống càng cao, nhu cầu về các loại dịch vụ của dân c càng lớn Phát triểndịch vụ còn nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh

Quá trình toàn cầu hóa các thị trờng thế giới hiện nay chủ yếu xuất phát từ quátrình quốc tế hóa ngành dịch vụ Mặc dù đối với các nhà hoạch định chính sách,dịch vụ mang tính “vô hình” nhng nó lại đóng vai trò hết sức quan trọng để thúc

đẩy mọi mặt của hoạt động của nền kinh tế

-Tăng trởng của ngành dịch vụ vẫn tiếp tục dẫn đầu trong nền kinh tế

Một phần là do công nghệ thông tin và viễn thông phát triển nhanh chóng hỗtrợ cho cung ứng dịch vụ Xét từ khía cạnh môi trờng, dịch vụ đợc coi là ngành

Trang 10

công nghiệp “sạch” Nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ không cần lợng vốnban đầu quá lớn và vì vậy kể cả cá nhân với số vốn không nhiều cũng có thể thànhlập doanh nghiệp cung ứng dịch vụ Đi đôi với việc đảm bảo đáp ứng kịp nhu cầudịch vụ ngày càng lớn, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cũng góp phần chính yếutạo công ăn việc làm mới - hơn 90% việc làm mới trên toàn cầu, kể từ giữa thập kỷ

90 của thế kỷ XX là từ khu vực dịch vụ Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là cácquốc gia phát triển, tỷ trọng lao động trong các ngành dịch vụ so với toàn bộ lực l-ợng lao động chiếm khoảng 60 - 70% Chẳng hạn tính đến cuối năm 2002, ngành

du lịch tạo và việc làm cho khoảng 204 triệu lao động trên toàn thế giới, chiếm10,6% lực lợng lao động thế giới Đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các nềnkinh tế đang phát triển, các công ty dịch vụ đã tạo ra việc làm phù hợp cho nhữngsinh viên tốt nghiệp đại học (nhờ đó ngăn chặn tình trạng “chảy máu” chất xám ởnhững nớc kém phát triển) đồng thời cho cả những ngời chỉ mới tốt nghiệp phổthông vốn rất khó tìm đợc việc làm, nhất là phụ nữ

Ngay cả ở những nớc kém phát triển nhất, các ngành dịch vụ cũng đóng gópkhông dới 35% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và trung bình trên 50% ở hầu hếtcác nớc Nhiều nền kinh tế xem qua tởng là sản xuất nhng thực ra dịch vụ mới làngành chủ đạo, bởi giá trị mà nó tạo ra chiếm tới hơn một nửa GDP, nh ở các nớcphát triển bình quân ngành dịch vụ chiếm 72% GDP: Đức (72%), Hồng Kông(89%), Singapore (72%) và Mỹ (76%) Hơn nữa, kể cả trong sản xuất hàng hóa, các

đầu vào dịch vụ cũng chiếm phần lớn trong trị giá gia tăng (tới 70%)

-Tổng tỷ trọng và giá trị thơng mại dịch vụ quốc tế ngày càng tăng

Đến năm 1996, thơng mại dịch vụ thế giới đã vợt qua con số 1,3 nghìn tỷ USDvới tốc độ tăng trởng trung bình hàng năm bằng hoặc cao hơn tốc độ tăng của thơngmại hàng hóa Tổng giá trị thơng mại dịch vụ những năm đầu thế kỷ 21 đã tăng gấp

4 lần so với tổng giá trị thơng mại dịch vụ năm 1980 Giá trị thơng mại dịch vụ năm

2002 đạt 2.900 tỷ USD, chiếm 20% tổng giá trị thơng mại thế giới Tính chung cảgiai đoạn 1980 – 2002, hàng năm thơng mại dịch vụ trên thế giới tăng trung bình9%, cao hơn tốc độ 6% của thơng mại hàng hoá Về đầu t, FDI vào khu vực dịch vụchiếm khoảng 24% trong tổng FDI năm 1970, đến năm 1990 chiếm 50%, đến năm

2002 tỷ lệ này tăng lên hơn 60% giá trị đầu t trực tiếp nớc ngoài và đạt bình quân

500 tỷ USD/năm trong giai đoạn từ năm 2000 – 2004 Trong khi đó FDI toàn cầugiảm liên tục từ năm 2000 đạt 1400 tỷ, giảm 41% năm 2001, 20,5% năm 2002 và25% năm 2003 và chỉ phục hồi vào năm 2004 với mức 755 tỷ Mỹ, Liên minh Châu

Âu, Nhật Bản là những nớc có sức mạnh cạnh tranh lớn trong các lĩnh vực nh tàichính, viễn thông, vận tải… Vì vậy, hiện ch và các nớc này đang tăng cờng vị trí của mình trong th-

ơng mại dịch vụ nhiều hơn là thơng mại hàng hoá

Thị phần trong thơng mại dịch vụ thế giới của các nớc đang phát triển và đangchuyển đổi ngày càng tăng, trong đó tăng nhanh nhất là xuất khẩu “những dịch vụ

10

Trang 11

khác”, nh dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ nghề nghiệp, viễn thông, xây dựng,dịch vụ tài chính, dịch vụ văn hóa, giáo dục, y tế … Vì vậy, hiện ch

*Về những lĩnh vực dịch vụ cụ thể:

Dịch vụ cơ sở hạ tầng: Những dịch vụ hạ tầng cơ sở (nh dịch vụ công ích, xây

dựng, vận tải, viễn thông, dịch vụ tài chính, ) có tác dụng hỗ trợ cho tất cả các loạihình kinh doanh Trong tất cả các lĩnh vực dịch vụ thì dịch vụ hạ tầng là dịch vụ đầuvào quan trọng nhất cho toàn bộ lĩnh vực dịch vụ và tổng thể nền kinh tế quốc dân.Phát triển đợc các dịch vụ hạ tầng sẽ nâng cao đợc năng lực cạnh tranh cho cácngành dịch vụ khác và nền kinh tế

Dịch vụ tài chính bao gồm hệ thống ngân hàng thơng mại, hệ thống ngân

hàng đầu t, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu t, quỹ hu trí, các thị trờng chứngkhoán xuyên quốc gia, các sàn giao dịch mua bán hàng hoá và các “sản phẩm tàichính” đủ loại… Vì vậy, hiện ch

Dịch vụ tài chính là huyết mạch nuôi sống và phát triển nền kinh tế, từ sảnxuất đến phân phối và tiêu thụ Dịch vụ tài chính huy động nguồn tiền tệ nhàn rỗitrong xã hội, chuyển dòng vốn từ nơi hiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao, tạo ra

điều kiện vật chất cho mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế, giải quyết mọi nhucầu về vốn, điều tiết các hoạt động kinh tế Sự phát triển của dịch vụ tài chính thúc

đẩy nền kinh tế tăng trởng và phát triển áp suất của huyết mạch tài chính báo hiệucho “sức khoẻ" của nền kinh tế ở Mỹ và một số nớc phát triển trên thế giới, hệthống tín dụng cho các cơ quan quản lý nhà nớc (qua việc cung ứng cho quốcphòng, an ninh, t pháp, giáo dục, y tế… Vì vậy, hiện ch), các xí nghiệp (qua việc mua bán nguyênliệu sản xuất, trang thiết bị, dự trữ tồn kho) và t nhân (qua việc mua sắm hàng tiêudùng hàng ngày, xe ôtô, nhà ở, thiết bị nội thất ) đặc biệt phát triển Nhờ chính hệthống tín dụng rất tốt mà nền kinh tế Mỹ mới có thể phát triển nh hiện nay Quanhững chơng trình lợi ích công cộng nớc Mỹ đã phát triển mạnh nhờ sức “tiêu thụ”lớn của nhà nớc Và nhà nớc đã đợc cung cấp phơng tiện để “tiêu thụ” qua các hệthống tài chính phát hành trái phiếu và huy động tín dụng trong nhân dân Có thểnói là đại đa số ngời Mỹ đều vay tiền với thời hạn từ 10 năm đến 30 năm để muanhà ở Đa số ngời Mỹ mua xe ôtô, tivi, tủ lạnh, máy giặt v.v… Vì vậy, hiện ch đều vay tín dụng từ 2năm đến 5 năm Thậm chí có nhiều ngời Mỹ mua quần áo, thời trang với tiền vay từ

3 tháng đến 6 tháng Các cửa hàng còn quảng cáo rao bán hàng tiêu dùng với khẩuhiệu: “Giao hàng ngay, chỉ trả tiền sau 3 tháng”

Các thị trờng tài chính khác trên thế giới, ít nhiều đều mô phỏng theo thị ờng tài chính Mỹ Thêm vào đó thị trờng tài chính thế giới hoạt động không ngừngsuốt 24/24 giờ Theo chiều quay của mặt trời, mỗi ngày thị trờng Tokyo mở cửa

Trang 12

tr-hoạt động trớc tiên, rồi đến Sydney, Hong Kong, Seoul, Shanghai, Singapore, TháiLan, Malaysia … Vì vậy, hiện ch Bombay, Moscow, Berlin, Paris, London v… Vì vậy, hiện ch ợt qua Đại Tây D-

ơng đến Mỹ, Canada … Vì vậy, hiện ch không lúc nào ngừng hoạt động

-Dịch vụ viễn thông Đây là một dịch vụ công cộng cơ bản cho mọi nền kinh

tế, và là “xa lộ” để qua đó thực hiện phần lớn những trao đổi dịch vụ Khả năngcạnh tranh của các nền kinh tế quốc gia phụ thuộc nhiều vào khả năng có thể truynhập vào các mạng viễn thông một cách nhanh chóng, dễ dàng và không quá tốnkém Tốc độ và hiệu quả trao đổi thông tin không chỉ ảnh hởng tới tất cả những giaodịch kinh doanh, mà mạng lới viễn thông hiện đại cũng thúc đẩy cho ba nội dungchuyển dịch quan trọng trong cơ cấu ngành:

a) Những dịch vụ cơ bản nh y tế và giáo dục có thể đợc cung cấp dới hình thức

“y tế từ xa” và “giáo dục từ xa”, nhờ đó có thể cung cấp các dịch vụ chuyên môn cóchất lợng cao tới những vùng dân c xa xôi hẻo lánh nhất nhằm thu hẹp khoảng cách

về mức sống giữa các nền kinh tế phát triển với các nền kinh tế đang phát triển,

đồng thời tạo điều kiện để dân c nông thôn, vùng sâu, vùng xa cũng đợc sử dụngcác dịch vụ

b) Khả năng có những cơ cấu lao động phân tán (“làm việc từ xa”), cho phépcon ngời có thể làm việc cho những tổ chức lớn từ những cộng đồng nhỏ Xu hớngnày rất quan trọng để duy trì và bảo vệ các cộng đồng ở vùng xa (và nhờ vậy giảm

áp lực về dân số ở những vùng đô thị lớn) thông qua tăng thêm khả năng lựa chọnviệc làm

c) Sự hình thành những hoạt động “hậu văn phòng” gắn với việc làm kỹ năngcao là một giải pháp góp phần hạn chế di dân

Hiện nay, sự liên kết giữa viễn thông với dịch vụ vi tính đã cho phép các công

ty sử dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả để hợp tác với các đối tácchiến lợc của mình tại một nớc khác và cung cấp dịch vụ giữa các quốc gia mộtcách nhanh chóng Do quá trình tự do hóa thơng mại dịch vụ trong khuôn khổ Hiệp

định Chung về Thơng mại và Dịch vụ (GATS) và các hiệp định tự do thơng mại khuvực, các công ty kinh doanh dịch vụ ở tất cả các nền kinh tế đang phải đối mặt vớicạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng Để tồn tại và thành công trong một nền kinh

tế toàn cầu, nhu cầu thiết yếu của mọi cộng đồng kinh doanh nào là có thể truynhập mạng Internet với giá rẻ, tốc độ cao Lần đầu tiên Internet đã tạo ra một “sânchơi thực sự bình đẳng” cho cuộc cạnh tranh giữa các công ty cung ứng dịch vụ vừa

và nhỏ thuộc những nớc đang phát triển và các công ty cung cấp dịch vụ lớn xuyênquốc gia Ngợc lại, vì ngày càng có nhiều ngời tiêu dùng dịch vụ đến với Internethơn để tìm kiếm thông tin về những dịch vụ sẵn có trên thế giới và mua những dịch

12

Trang 13

vụ ấy cho nên những công ty không có điều kiện truy nhập hiệu quả vào mạngInternet sẽ có nguy cơ bị đào thải.

Một trong những khác biệt có tính cạnh tranh trực tiếp nhất là cớc viễn thôngquốc tế, nó rất quan trọng và thờng là đầu vào tốn kém đối với các công ty cung cấpdịch vụ Điện thoại Internet cho phép cung cấp những dịch vụ fax và điện thoạiquốc tế với cớc phí rẻ ngang bằng gọi nội hạt (do sử dụng tốt hơn độ rộng băngtần) Một khác biệt nữa là khả năng môi giới dịch vụ, với khả năng này mạngInternet đang xoá bỏ nhiều chức năng trung gian (các nhà phân phối, bán buôn, vàtrong một số trờng hợp thậm chí cả bán lẻ) và hỗ trợ khách hàng tự phục vụ trênmạng Đồng thời một loạt những hoạt động kinh doanh mới đang nổi lên (thiết kế

và trang trí trang web, cung cấp dịch vụ truy nhập Internet, thúc đẩy thơng mại điện

tử, v.v ) và đây chính là những cơ hội cạnh tranh cho các công ty của các nớc đangphát triển

Các công ty kinh doanh dịch vụ đang tích cực sử dụng Internet để có thể dễdàng trao đổi với khách hàng và các đối tác chiến lợc của mình; để tìm kiếm vàtham gia đấu thầu các hợp đồng quốc tế; để nghiên cứu những thị trờng xuất khẩumới và những thông lệ, tập quán quốc tế phù hợp nhất; và để nâng cao năng lực củamình đối với các khách hàng tiềm năng Internet còn tạo động lực làm bùng nổ th-

ơng mại điện tử trong cả các nền kinh tế phát triển cũng nh đang phát triển Nhữngnghiên cứu còn cho thấy hiện tại, giá trị trao đổi về dịch vụ qua mạng đã cao hơn 10lần giá trị mua hàng tiêu dùng Việc phát triển những dịch vụ chuyên môn hóa cao

đòi hỏi lợng khách hàng phải đủ lớn để đảm bảo cho mức độ chuyên môn đó Khảnăng tiếp cận với những khách hàng tiềm năng rộng khắp trên thế giới thông qua th-

ơng mại điện tử với sự hỗ trợ của Internet đang giúp tạo nên lợng khách hàng quantrọng đó

-Dịch vụ giáo dục và đào tạo cần phải sẵn có để đảm bảo đào tạo một lực lợng

lao động đủ chuyên môn Cạnh tranh quốc tế đã chuyển từ cạnh tranh về giá cảsang chất lợng và tính linh hoạt Điều đó có nghĩa là nhân công trình độ thấp và giá

rẻ không còn là một lợi thế cạnh tranh nữa Nhiều nền kinh tế phát triển đang bị hạnchế lớn do không có một đội ngũ lao động tay nghề cao, do hệ thống giáo dục phầnlớn chỉ cung cấp những kiến thức cũ của chơng trình đào tạo trong nớc vốn rất hạnchế Kết quả là làm giảm hiệu quả kinh doanh bởi các nhà quản lý không tìm đợcngời lao động có trình độ kỹ thuật và tay nghề đủ để đáp ứng Ví dụ nhân viên tronglĩnh vực dịch vụ không những phải có kỹ thuật (gồm cả khả năng về công nghệthông tin) mà còn phải có trình độ giao tiếp và năng lực giải quyết vấn đề Điều nàycho phép nhân viên phục vụ khách hàng một cách hiệu quả để cung cấp dịch vụ có

Trang 14

chất lợng Ngân hàng Thế giới đang thử nghiệm một cách đánh giá mới về của cảicủa một quốc gia thông qua việc đo “Vốn con ngời” Ngân hàng đã xác định ởnhững nớc thu nhập cao nh Nhật Bản, vốn con ngời chiếm hơn 80% của tổng tài sảnquốc gia

-Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chuyên môn và dịch vụ nghề nghiệp hỗ trợ cho các

hoạt động kinh doanh khác Các dịch vụ này chiếm một vị trí quan trọng trong hạtầng cơ sở dịch vụ của bất kỳ một nền kinh tế nào và là dịch vụ đầu vào cho tất cảcác ngành công nghiệp, sản xuất hàng hóa và dịch vụ Giá trị sản lợng DVHTPTKD

và dịch vụ nghề nghiệp chuyên môn ớc tính chiếm 3.000 tỷ USD trong năm 2001hay xấp xỉ 10% tổng GDP toàn cầu Xuất khẩu DVHTPTKD và dịch vụ chuyênmôn trong năm 2001 ớc đạt 733,6 tỷ USD (IMF - BOP data), chiếm 24% tổng sảnphẩm toàn thế giới Những nớc đang phát triển chiếm xấp xỉ 1/4 giá trị kim ngạchxuất khẩu DVHTPTKD và dịch vụ chuyên môn Từ năm 1990, tăng trởng trongxuất khẩu DVHTPTKD từ những nớc đang phát triển đạt tốc độ tăng nhanh hơn50% so với mức tăng của những nền kinh tế thị trờng phát triển (khoảng 10.5%trung bình 1 năm so với 6.5%/năm)

Trong các nền kinh tế đang phát triển, trung bình có ít nhất một phần ba củagiá trị đầu vào mà các doanh nghiệp mua là những dịch vụ nh hạch toán kế toán,luật pháp, bảo hiểm, nghiên cứu, thiết kế, marketing, vận tải, bu điện và điện nớc.Chất lợng và mức độ sẵn có của chúng tác động tới khả năng tăng trởng và cạnhtranh trong xuất khẩu của các ngành công nghiệp trong nớc có sử dụng đến nhữngdịch vụ này, và ảnh hởng đến khả năng thu hút đầu t vào nớc đó Dịch vụ hỗ trợkinh doanh giúp các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng tr -ởng nhờ tạo cơ hội cho họ ký hợp đồng nhận hỗ trợ chuyên môn Nếu thiếu các dịch

vụ hỗ trợ kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải tăng chi phí hành chính đểtuyển thêm nhân viên mới (mà những ngời này thờng chỉ biết chung chung chứkhông có chuyên môn) hoặc nếu không sẽ tiến hành kinh doanh và bỏ qua nhữngkhâu này

14

Trang 15

Chơng 2.

Phát triển dịch vụ ở Trung Quốc

- bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Trung Quốc mặc dù cha thực sự trở thành một nớc phát triển và còn đang tiếnhành quá trình CNH,HĐH, nhng với những tiềm năng kinh tế to lớn cùng với nhữngthành tựu kinh tế vợt trội từ sau cải cách kinh tế ở Trung Quốc thì việc học tập kinhnghiệm phát triển dịch vụ của Trung Quốc,một quốc gia láng giềng có nhiều điểmtơng đồng về kinh tế, chính trị, xã hội với Việt Nam, là điều hết sức cần thiết trongbối cảnh hiện nay

2.1.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH, HĐH - tiền đề phát triển ngành dịch vụ hiện đại ở Trung Quốc

Qua mô hình phát triển kinh tế của nhiều nớc, có một nhận định chung đợc đa

ra là : sự thay đổi cơ cấu ngành tuỳ thuộc vào diễn biến thay đổi của hai loại yếu tố

là mức thu nhập bình quân đầu ngời và cơ cấu của các yếu tố đầu vào (nh tiền vốn,lao động, tài nguyên) Thu nhập tăng làm cho cơ cấu nhu cầu thay đổi tơng đốithống nhất, điều này đa đến sự thay đổi của cung cấp dẫn đến sự thay đổi trong th-

ơng mại và kỹ thuật

Từ sau khi cải cách mở cửa, kinh tế Trung Quốc bớc vào giai đoạn CNH toàndiện, cơ cấu ngành đã có sự thay đổi rõ rệt Những thay đổi này vừa tuân theo cácquy luật chung của CNH lại vừa có những đặc điểm riêng của Trung Quốc

Trong thời kỳ 1978-1992, khu vực II (các ngành chế tạo, chế biến,… Vì vậy, hiện ch) với côngnghiệp làm chủ thể có tốc độ tăng trởng bình quân năm đạt 10,7% tăng gấp đôi sovới tốc độ tăng trởng bình quân năm của khu vực I (nông nghiệp và khai mỏ) Theogiá so sánh, tỷ lệ khu vực II trong GDP tăng từ 48,6% năm 1978 lên 60,9% năm

1992 Trong thời gian này, tỷ lệ của công nghiệp trong GDP tăng từ 44,8% lên56,2% Chính sự thay đổi này làm cho mức độ CNH đợc nâng cao rõ rệt Trong khi

tỷ trọng của khu vực II trong GDP tăng nhanh thì tỷ trọng khu vực I trong GDP lạigiảm rõ rệt, mức giảm là từ 28,4% xuống còn 17,3% trong vòng 14 năm Sự thay

đổi mạnh trong cơ cấu đợc xem là nguồn gốc chủ yếu làm cho kinh tế tăng trởngvới nhịp độ cao

Thay đổi trong phân bố lao động giữa các ngành cũng phần nào nói lên sự thay

đổi cơ cấu kinh tế Trong 14 năm (1978-1992), tỷ lệ lao động làm việc trong khu

Trang 16

vực I trong tổng lao động xã hội giảm 12% (từ 70% giảm xuống 58,5%) Trong khi

đó, mức tơng ứng ở khu vực III (các ngành dịch vụ) tăng 8% (từ 12,1% lên 19,8%).Những biến đổi cơ cấu trên đây đợc xem là những xu thế có biểu hiện thống nhấtvới quy luật chung về CNH ở nhiều nớc trên thế giới

Các lý thuyết về CNH chỉ ra vấn đề mang tính quy luật là :

-Trong quá trình CNH, sự thay đổi cơ cấu nhu cầu biểu hiện là nhu cầu tiêudùng về thực phẩm có xu hớng giảm tơng đơi, nhu cầu về hàng công nghiệp, vuichơi, giải trí,… Vì vậy, hiện ch tăng lên mở đờng cho những ngành dịch vụ hiện đại phát triển.-Thu nhập càng tăng thì mức đầu t cũng tăng

Chi phí tiêu dùng của c dân Trung Quốc từ thập kỷ 80 cho thấy, từ cuối kếhoạch 5 năm lần thứ 6 (1981-1985), đặc biệt là từ sau vụ thu hoạch kỷ lục năm

1984, đã bắt đầu xuất hiện hiện tợng tiêu dùng lơng thực giảm tơng đối trong khinhu cầu đối với hàng công nghiệp tăng lên rất nhanh Mặt khác, tỷ lệ tích luỹ và tỷ

lệ đầu t của Trung Quốc luôn cao hơn so với các nớc có cùng mức thu nhập Từ đầuthập kỷ 90, gia tăng đầu t thể hiện rõ hơn là một đặc trng nổi bật trong phát triểnkinh tế của Trung Quốc Tình trạng căng thẳng về năng lợng, nguyên vật liệu, cũng

nh về giao thông vận tải xảy ra ở Trung Quốc trong nửa cuối thập kỷ 80 (dẫn đếnlạm phát cao trong thời kỳ 1988 – 1989) và đầu thập kỷ 90 đã phản ánh rõ ràng vềtình trạng gia tăng nhu cầu hàng công nghiệp và tăng nhanh đầu t

Từ đầu thập kỷ 90, Trung Quốc một mặt chủ trơng đẩy mạnh các chơng trìnhxoá đói giảm nghèo, mặt khác khuyến khích đầu t vào các khu vực miền Trung vàmiền Tây, khuyến khích đầu t của các công ty đa quốc gia lớn, có kỹ thuật tiên tiếncủa Trung Quốc Điều này càng thúc đẩy tăng tiêu dùng hàng công nghiệp, đặc biệt

là các mặt hàng mới, có kỹ thuật cao, tiên tiến

Tất cả các nhân tố trên đều làm cho nhu cầu về sản phẩm công nghiệp tăngnhanh, do đó thúc đẩy công nghiệp phát triển mạnh, nâng cao tỷ trọng của côngnghiệp trong nền kinh tế quốc dân Đồng thời với sự phát triển các ngành côngnghiệp, quá trình đô thị hoá diễn ra đồng thời với CNH sẽ thúc đẩy các ngành dịch

vụ phát triển mạnh, do vậy tỷ trọng các khu vực II và III trong tổng sản phẩm xãhội tiếp tục tăng nhanh trong khi tỷ trọng của khu vực I tiếp tục giảm mạnh

Nếu nh ngành nông nghiệp của Trung Quốc có vai trò thay đổi nhanh qua cácgiai đoạn khác nhau Tỷ trọng của nông nghiệp giảm dần và sự phát triển của nôngnghiệp dựa nhiều vào sự phát triển của công nghiệp để nhận đợc ngành càng nhiềuhơn đầu t trung gian, đặc biệt là về kỹ thuật và vốn Công nghiệp một mặt cung cấpcác yếu tố vật chất đầu vào cho phát triển nông nghiệp, mặt khác lại trực tiếp hay

16

Trang 17

gián tiếp thu hút lao động d thừa từ nông nghiệp Những tác động từ phía côngnghiệp nh trên là con đờng tăng thu nhập cho nông dân rất có hiệu quả và cũng là

điều kiện để phát triển nông nghiệp lâu dài Công nghiệp là một ngành lớn, do vậy,vừa phải có mối quan hệ hợp lý bên trong các ngành công nghiệp Chỉ khi nào cácngành chế tạo, chế biến, xây dựng… Vì vậy, hiện ch phát triển thì các ngành dịch vụ mới tránh đợc

sự phồn vinh giả tạo Chỉ khi khu vực II cung cấp nhiều sản phẩm thì khu vực IIImới có cơ sở vật chất để mở rộng

Trong thập kỷ 80, công nghiệp nhẹ luôn phát triển nhanh hơn công nghiệpnặng Từ năm 1992, nhịp độ tăng trởng công nghiệp nặng mới bắt đầu vợt lên trêncông nghiệp nhẹ Trong thời kỳ 1995-2000, Trung Quốc bớc vào giai đoạn pháttriển công nghiệp nặng, hoá chất với trọng điểm là công nghiệp gia công chế tạo,công nghiệp lắp ráp, vật liệu xây dựng… Vì vậy, hiện ch đáp ứng các nhu cầu củng cố, phát triểnhơn nữa cơ sở hạ tầng, đặc biệt là xây dựng nhà ở bán cho dân kích cầu trong n ớc

đồng thời, các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp sản xuất nguyên vật liệucũng vẫn duy trì nhịp độ phát triển cao

Sự phát triển của các ngành dịch vụ cơ sở hạ tầng giúp hoàn thiện các hoạt

động kinh tế xã hội, điều hoà thống nhất các mặt sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêudùng Theo đà phát triển của các khu vực I và II, khu vực thứ III trở nên ngày càngquan trọng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu ngành của nền kinh tế Theo

dự kiến, khu vực dịch vụ sẽ đóng góp 50% GDP của Trung Quốc trong một vài thập

kỷ tới so với mức 33% hiện nay

Với nhịp độ phát triển công nghiệp và nông nghiệp hiện nay ở Trung Quốc,khu vực III đợc hiểu rộng hơn, không chỉ bao gồm các ngành thơng mại, dịch vụ

đang đứng trớc những thách thức bị hạn chế phát triển do các trang bị cơ cấu hạtầng còn yếu kém, các ngành tài chính tiền tệ, ngân hàng kém phát triển và tiếntrình đô thị hoá diễn ra chậm chạp

Hiện nay, Trung Quốc chủ trơng tăng đầu t ngân sách cho phát triển cơ sở hạtầng và những nỗ lực gia nhập thành công WTO giúp Trung Quốc từng bớc khắcphục những hạn chế trên, tạo điều kiện phát triển hơn nữa khu vực III

2.2.Chính sách và biện pháp phát triển ngành dịch vụ ở Trung Quốc

Ngoài những tiền đề cần thiết tạo điều kiện cho việc hiện đại hoá và phát triểnlĩnh vực dịch vụ nh đã nêu ở mục 2.1, Trung Quốc còn phải thực thi nhiều nhữngbiện pháp và những chính sách trong nội bộ lĩnh vực dịch vụ nhằm từng bớc đangành dịch vụ lên vị thế mới nhằm tạo ra những chuyển biến cơ bản thúc đẩy tăngtrởng kinh tế

Trang 18

2.2.1.Những chính sách phát triển lĩnh vực dịch vụ.

Năm 1995 tỷ trọng của khu vực I, II, III trong tổng giá trị sản phẩm trong nớctơng ứng là 20,6%, 48,4% và 37,1% So với năm 1980, tỷ trọng của khu vực I trongtổng giá trị sản phẩm trong nớc đã giảm 9,5% Đến năm 2000, ngành dịch vụ vẫnchỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn là 33,2% trong tổng GDP, không những thấp hơnnhiều so với các nớc phát triển phơng Tây mà còn thấp hơn so với một số nớc đangphát triển Về cơ cấu việc làm, tỷ trọng của khu vực I (so với năm 1980) giảm15,8%, chiếm 52,9%, khu vực II chiếm 23%, tăng 5,3%, khu vực III chiếm 24,1%,tăng 11,1 % Nếu so với các nớc phát triển, tỷ trọng khu vực I của Trung Quốc làquá cao, tỷ trọng của khu vực III của Trung Quốc là quá thấp; còn so với các nớc

đang phát triển, tỷ trọng khu vực II của Trung Quốc là tơng đối cao, tỷ trọng củakhu vực III là quá thấp Nh vậy những thách thức trong quá trình phát triển kinh tế ởTrung Quốc chủ yếu là ở lĩnh vực dịch vụ do khoảng cách giữa Trung Quốc và cácnớc phơng Tây trong lĩnh vực này còn quá lớn

Chính vì vậy, từ những năm 1990, Trung Quốc đã đa ra một số chính sách điềuchỉnh cơ cấu ngành dịch vụ nhằm phát triển ngành này phát triển hiệu quả cao:

Thứ nhất, chính sách thúc đẩy cải cách và mở cửa ngành dịch vụ:

Do chính sách mở cửa đối với ngành dịch vụ chậm chạp nên từ đầu những năm

1990 đến nay, một số ngành dịch vụ nh tiền tệ, bảo hiểm, giao thông vận tải, đờngsắt, và hàng không, thông tin, giáo dục y tế… Vì vậy, hiện ch vẫn bị Trung Quốc hạn chế hay cấmkhông cho thành phần phi quốc hữu tham gia ở một số ngành, kinh tế quốc hữu cònnắm giữ vị trí độc quyền hoặc trực tiếp lũng đoạn kinh doanh Trong các ngành liênquan đến quốc kế dân sinh, kinh tế quốc hữu đều chiếm u thế tuyệt đối: Ngànhnăng lợng, bu điện, hầu nh kinh tế quốc hữu nắm 100% Trong lĩnh vực tài chính,nhà nớc vẫn khống chế trên 90% tiền gửi, trên 90% nghiệp vụ bảo hiểm, công tychứng khoán quốc hữu vẫn là chủ thể của ngành chứng khoán Các ngành vận tải đ-ờng sắt, viễn dơng về cơ bản đều do kinh tế quốc hữu quản, nó thực hiện trên 97%lợng chu chuyển hàng hoá của ngành giao thông vận tải, trong các nghiệp vụ thôngtin, thành phần kinh tế phi quốc hữu cũng có một tỷ trọng nhất định, nhng nhữngnghiệp vụ thông tin cơ bản đều do kinh tế quốc hữu làm chủ Điều này khiến ngànhdịch vụ thiếu sức cạnh tranh, cơ chế thị trờng không thể phát huy đợc vai trò điềutiết có hiệu quả Để đẩy mạnh phát triển của ngành này, Trung Quốc đã tăng cờngchính sách mở cửa, tích cực cải cách doanh nghiệp dịch vụ quốc hữu, thông quaviệc điều chỉnh chính sách ngành nghề, cho phép và khuyến khích các thành phầnkinh tế phi quốc hữu tham gia vào các ngành nghề này

Thứ hai, chính sách đẩy mạnh tiến trình thị trờng hoá và đô thị hoá

18

Trang 19

Trong quá trình chuyển đổi thể chế, kinh tế thị trờng cha phát triển một cách

đầy đủ, đặc biệt là mức độ thị trờng hoá đối với ngành dịch vụ còn thấp làm nảysinh những trở ngại cho việc phát triển ngành dịch vụ, Trung Quốc chủ trơng thôngqua thúc đẩy cải cách thể chế để đẩy nhanh tiến trình thị trờng hoá kinh tế, từ đóthúc đẩy việc phát triển cơ cấu ngành dịch vụ

Ngoài ra, để phát triển hiệu quả ngành dịch vụ, Trung Quốc còn dựa vào việcthúc đẩy quá trình đô thị hoá Bởi mức độ phát triển ngành dịch vụ thống nhất vớimức độ đô thị hoá Việc đô thị hoá ở Trung Quốc muộn mằn chính là nguyên nhânquan trọng ảnh hởng đến sự phát triển và chuyển đổi cho cấu chậm của ngành dịch

vụ Trớc tình hình này, để thúc đẩy mở rộng nhiều ngành dịch vụ mới và phát triểnnhiều tầng bậc ngành dịch vụ, Trung Quốc đã ra sức thúc đẩy tiến trình thành thịhoá trên cơ sở đẩy nhanh cải cách thể chế thành thị và nông thôn, tăng c ờng vai tròcủa chính sách vĩ mô đối với thành thị hoá Hiện nay, tốc độ đô thị hoá diễn ranhanh mỗi năm có thêm khoảng 15 triệu ngời Trung Quốc nhập hộ khẩu ở thànhphố

Thứ ba, chính sách thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài vào ngành dịch vụ.

Từ khi cải cách mở cửa đến nay, đầu t trực tiếp của nớc ngoài ở Trung Quốcnghiêng về ngành công nghiệp, tỉ lệ đầu t vào ngành dịch vụ tơng đối thấp, chủ yếutập trung ở số ít ngành truyền thống Do vậy, để thúc đẩy ngành này tăng trởng,Trung Quốc khuyến khích các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào phát triển ngành dịch

vụ

Những ngành mới cho phép thơng gia nớc ngoài đến đầu t bao gồm: bảo hiểm,bán lẻ thơng mại, hớng dẫn du lịch, vận tải hàng không, đại lý vận chuyển hàng hoáquốc tế, vận tải đờng thuỷ, vận tải đờng bộ, thuyền bè, bảo hiểm y tế, kế toán, t vấnthông tin,… Vì vậy, hiện ch Tuy nhiên cũng có một số lĩnh vực, Trung Quốc vẫn phải có điều kiệnvới các thơng gia nớc ngoài đến đầu t, ví dụ nh một số ngành mở cửa mang tínhchất thí điểm, một số dự án đầu t của thơng gia nớc ngoài bị hạn chế ở một số khuvực, thơng gia nớc ngoài không đợc nắm 100% cổ phần… Vì vậy, hiện ch

2.2.2.Biện pháp phát triển dịch vụ ở Trung Quốc

Do ngành dịch vụ Trung Quốc do phát triển sau nên vẫn còn khá mới mẻ, yếu

ớt, cộng thêm sự “nuông chiều” của nhà nớc qua chính sách u đãi và cho hởng sự

độc quyền trong nhiều lĩnh vực khiến cho nó tơng đối kém sức đề kháng trớc những

đòi hỏi của thị trờng thế giới thông qua các định chế của WTO Nhằm thực hiện cácchính sách phát triển dịch vụ trên, Trung Quốc đã thực hiện những biện pháp sauchủ yếu sau:

Trang 20

-Thanh lý và chỉnh đốn những lĩnh vực mở cửa hiện có Tiến hành điều tranhững ngành đã mở cửa và số lợng mở cửa, xử phạt nghiêm khắc đối với những tr-ờng hợp tự động mở cửa đối ngoại, vi phạm chính sách hiện hành của nhà nớc.-Quy hoạch mục tiêu phát triển ngành dịch vụ trong thời gian ngắn hạn, trunghạn, và dài hạn, kiên trì chủ động mở cửa thị trờng Theo “Hiệp định chung về mậudịch dịch vụ” của WTO quy định từng bớc thực hiện tự do hoá, cho phép các quốcgia đang phát triển mở cửa thị trờng trên phạm vi tơng đối hẹp và hạn chế các nhà

đầu t nớc ngoài tham gia vào thị trờng của các quốc gia đang phát triển Vì vậy,việc mở cửa thị trờng dịch vụ của Trung Quốc phải phù hợp nhu cầu quốc tế và sứcchịu đựng ở trong nớc, những lĩnh vực mở cửa phải có tính ổn định tơng ứng

-Phân loại mở cửa thị trờng, mở cửa phải phù hợp với phát triển Trọng điểmphát triển là ngành giao thông vận tải, thông tin bu điện, ngành dịch vụ thơng mại,

du lịch, t vấn thông tin, bảo hiểm tiền tệ

Đối với những ngành dịch vụ đe doạ đến an ninh quốc gia và sự ổn định xã hội

nh dịch vụ xây dựng cơ bản, nghe nhìn cũng nh những ngành dịch vụ gây tổn hại

đến sức khoẻ của ngời dân mà nhà nớc cấm kinh doanh thì không đợc mở cửa

Đối với những ngành dịch vụ nh vận tải, thơng mại và du lịch quốc tế có sứccạnh tranh tơng đối mạnh thì từng bớc mở rộng cửa, đối với những lĩnh vực cần đầu

t xây dựng lớn mà Trung Quốc không có vốn thì nới lỏng mức hạn chế một cáchthích hợp đối với các thơng gia nớc ngoài, cho phép các thơng gia nớc ngoài dùnghình thức BOT tham gia vào thị trờng ngành dịch vụ Trung Quốc

Những ngành nh tiền tệ, thông tin, t vấn thông tin và bảo hiểm là những ngànhcần thiết trong phát triển kinh tế quốc dân, mức độ dịch vụ thơng mại hoá trong nớcthấp, năng lực tự cấp trong nớc không đủ… Vì vậy, hiện ch Tuy nhiên việc mở cửa đối với nhữngngành này, ở mức độ nhất định sẽ xung đột với sự phát triển của các doanh nghiệpdịch vụ trong nớc, thậm chí còn ảnh hởng đến sự ổn định của hệ thống tiền tệ nhà n-

ớc, vì vậy Trung Quốc chủ trơng hạn chế mức độ và những bớc mở cửa

Đối với một số ngành không liên quan nhiều đến phát triển kinh tế quốc dân

đặc biệt những ngành lầy khoa học kỹ thuật cao làm hạt nhân, Trung Quốc lại chủtrong khuyến khích mở cửa, cho phép các nhân viên kỹ thuật chuyên nghiệp nớcngoài vào để thu hút kỹ thuật tiên tiến, thu hút vốn, thúc đẩy phát triển ngành này

2.3.Những thành tựu và những tồn tại trong phát triển lĩnh vực dịch vụ ở Trung Quốc

20

Trang 21

Từ khi cải cách, mở cửa đến nay, Trung Quốc liên tục duy trì tốc độ tăng

tr-ởng kinh tế cao, thời kỳ 1981 - 1990 GDP bình quân hàng năm đạt 9,3% ; thời kỳ

kế hoạch 5 năm lần thứ tám đạt 12%, năm 2004 đạt tăng trởng 9,25% dẫn đầu thếgiới về tốc độ tăng trởng Tính ổn định trong tăng trởng kinh tế của Trung Quốctừng bớc đợc tăng cờng

Sau nhiều năm cải cách mở cửa, thực lực kinh tế Trung Quốc đợc tăng cờng rõrệt, sức mạnh tổng thế của nền kinh tế Trung Quốc trên trờng quốc tế đợc nâng lênnhanh chóng, quy mô kinh tế Trung Quốc đã vợt lên dẫn đầu các nớc đang pháttriển, khoảng cách với các nớc phát triển chủ yếu cũng thu hẹp dần dần Nhng vìdân số Trung Quốc khá đông, cho nên tính bình quân theo đầu ngời, Trung Quốcvẫn thuộc loại nớc có thu nhập thấp

Trong lĩnh vực dịch vụ, với những phát triển vợt trội trong lĩnh vực công nghệthông tin- ngành trụ cột của nền kinh tế, thì quan điểm về nền kinh tế Trung Quốc

đang dần thay đổi Trớc kia Trung Quốc thờng đợc xem nh một nhà cung cấp nhữngdịch vụ chất lợng kém, giá rẻ thì này Trung Quốc dần đợc các nền kinh tế Châu Âucông nhận đang có một bớc nhảy vọt về thị phần dịch vụ công nghệ cao và có sứccạnh tranh lớn với họ.Với những cố gắng của mình, Trung Quốc đã đạt đợc một sốthành tựu to lớn nh:

Thứ nhất, dịch vụ tài chính - ngân hàng

Sự phát triển không ngừng của dịch vụ tài chính ngân hàng ở Trung Quốc làmột kênh quan trọng thu hút đầu t nớc ngoài, huy động một cơ số lớn tiền vốn dthừa của dân chúng, cung cấp vốn cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp

- bộ phận sử dụng nhiều vốn nhất và cũng đóng góp cho tăng trởng kinh tế nhiềunhất… Vì vậy, hiện ch

Tính đến cuối tháng 11/2000, tiền gửi ngân hàng của c dân trong cả nớc đạt

7230 tỷ NDT tăng 801,9 tỷ so với đầu năm Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã lêntới 212 tỷ USD (đứng thứ hai trên thế giới chỉ sau Nhật Bản)

Hiện nay, tất cả các tổ chức tài chính Trung Quốc đang nâng cấp dịch vụ, việcquản lí nội bộ và cơ sở hạ tầng của mình Hệ thống quản lí hoạt động đang đợc thay

đổi nhiều hơn theo mô hình thơng mại và khả năng thu lợi nhuận cũng đang tăngdần đạt đến tiêu chuẩn quốc tế Đến cuối năm 1999, số d nợ cho vay của các ngânhàng có vốn đầu t nớc ngoài tại Trung Quốc là 21,8 tỷ USD, trong đó 87% là vốnvay trong nớc, 70% số tiền cho vay này đợc cung cấp từ nguồn vốn của ngân hàng

mẹ ở nớc ngoài Nh vậy, ngân hàng có vốn đầu t nớc ngoài đã trở thành một kênhthu hút đầu t nớc ngoài quan trọng giúp Trung Quốc tăng trởng và phát triển kinh

Trang 22

tế Đến cuối năm 1999, các tổ chức ngân hàng Trung Quốc đã đặt 472 chi nhánhkinh doanh tại nớc ngoài, tài sản của các chi nhánh này là 144,3 tỷ USD Khi gianhập WTO, quan hệ kinh tế đối ngoại của Trung Quốc sẽ tiếp tục đợc mở rộng tăngcờng tiến trình quốc tế hoá dịch vụ tài chính của Trung Quốc và sự phát triển lớnmạnh của ngành này trên thế giới.

Nhằm hiện đại hoá việc thanh toán trong ngành tài chính Trung Quốc đangtừng bớc nâng cao hơn hệ thống mạng thanh toán điện tử, nh mạng liên lạc điện tử

đợc truyền qua vệ tinh ở các thành phố với một khối lợng lớn các giao dịch nhằmcung cấp dịch vụ thuận tiện nhất cho ngành tài chính, vợt qua những vấn đề khókhăn trong thanh toán

Kì phiếu, hối phiếu, séc, trái phiếu thơng mại và thẻ ngân hàng đợc sử dụngrộng rãi ở Trung Quốc Hệ thống thanh toán việc chuyển nhợng vốn và trái phiếuthơng mại sẽ đợc cải thiện hơn Tên thực phải đợc sử dụng cho các tài sản tài chínhcá nhân và séc cá nhân sẽ đa vào sử dụng thí điểm Hệ thống chính sách nắm chứngkhoán sẽ đợc thành lập và việc thanh toán sẽ đợc thống nhất thông qua việc thúc

đẩy quá trình làm thủ tục và nâng cao thêm dịch vụ thanh toán nhằm thanh toán cácgiao dịch chứng khoán

Thứ hai, dịch vụ thông tin liên lạc

Trong số các thị trờng thông tin liên lạc dẫn đầu ở khu vực châu á – TháiBình Dơng, Trung Quốc là một trong các thị trờng có triển vọng nhất Theo thống

kê, Trung Quốc có 295,488 triệu thuê bao điện thoại cố định và 305,283 triệu thuêbao điện thoại di động năm 2004 Số ngời sử dụng Internet đã xấp xỉ 70 triệu ngời

Sở dĩ có sự phát triển nhanh chóng này là do đặc điểm thị trờng dịch vụ thông tin di

động của Trung Quốc phát triển đặc biệt nhanh: cứ mỗi tháng có thêm 2 triệu ng ời

sử dụng điện thoại di động trong năm 1999 - 2000 Thậm chí theo dự báo triển vọngphát triển ngành dịch vụ thông tin di động, Trung Quốc có thể chuyển từ vị trí thứhai lên thứ nhất (hiện Mỹ đứng vị trí thứ nhất) về số thuê bao điện thoại di động Vàcông ty China Mobile của Trung Quốc sẽ vợt Vodafone (hiện dẫn đầu thế giới tronglĩnh vực dịch vụ liên lạc di động) về doanh thu Về tổng số vốn thị trờng, ChinaMobile hiện là công ty lớn nhất khu vực châu á - Thái Bình Dơng Các hãng sảnxuất thiết bị liên lạc hàng đầu thế giới hiện đang nắm giữ những vị trí trọng yếu tạithị trờng thiết bị viễn thông Trung Quốc, đặc biệt là điện thoại di động Trong khicác nhà sản xuất thiết bị viễn thông hàng đầu thế giới nắm giữ vị trí vững chắc trênthị trờng thiết bị thông tin Trung Quốc, các nhà cung cấp dịch vụ thông tin nớcngoài có ít khả năng hoạt động ở nớc này hơn Tỉ trọng của các hãng nớc ngoài

22

Trang 23

trong vốn cổ phần tại các liên doanh trên thị trờng Trung Quốc hiện không vợt quá49%.

Thứ ba, thơng mại quốc tế

Trung Quốc đang phát triển mạnh mẽ với tốc độ hết sức mạnh mẽ trong lĩnhvực này Tổng kim ngạch buôn bán của Trung Quốc năm 2004 đạt 1100 tỷ USD

Nh vậy, sau 55 năm kể từ ngày nớc CHND Trung Hoa ra đời, kim ngạch xuất khẩucủa Trung Quốc đã tăng gấp 750 lần Với những nỗ lực của chính phủ Trung Quốctiến hành kiểm soát kinh tế vĩ mô nhằm giải quyết những mâu thuẫn trong quá trìnhxây dựng kinh tế là yếu tố quan trọng hàng đầu làm cho ngoại thơng Trung Quốctăng trởng vững chắc Bên cạnh đó là chính sách mở cửa nền kinh tế khiến cho tỷtrọng xuất nhập khẩu tăng nhanh và dần trở thành một nền kinh tế hớng theo xuấtkhẩu Tính riêng về hàng hoá xuất nhập khẩu, Trung Quốc là quốc gia đứng thứ 6trong số 30 quốc gia trao đổi buôn bán hàng đầu thế giới

Theo các chuyên gia kinh tế tính toán, với tốc độ phát triển nh hiện nay, TrungQuốc sẽ trở thành quốc gia thơng mại đứng thứ hai trên thế giới chiếm 10% tỷ phầnxuất khẩu của thế giới, chỉ sau Mỹ (12%), vợt xa Nhật Bản (5%) Trung Quốcchiếm 40% mức tăng nhập khẩu dự kiến của các nớc đang phát triển… Vì vậy, hiện ch Trung Quốctrở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào năm 2020, chiếm 8% sản lợng toàn thếgiới, chỉ đứng sau Mỹ, chiếm 19% nền kinh tế toàn cầu

Thứ t, khoa học kỹ thuật, văn hoá giáo dục

Khoa học kỹ thuật là sức sản xuất thứ nhất, hiện nay, đóng góp của nó vàotăng trởng kinh tế ở các nớc phát triển là trên 60%, còn ở Trung Quốc chỉ vàokhoảng 30% Tuy nhiên, qua cố gắng nhiều năm cải cách, Trung Quốc đã có 11%thành quả kỹ thuật cao đạt hoặc giữ đợc trình độ đi đầu thế giới nh những thànhcông trong kỹ thuật then chốt máy tính với kỹ năng cao, kỹ thuật mạng viễn thông,

kỹ thuật tổng đài điện tử số,… Vì vậy, hiện ch Trong vòng hơn 10 năm qua, giá trị sản lợng ngành

kỹ thuật cao của Trung Quốc tăng bình quân mỗi năm trên 20% tỷ lệ trong tổng cơcấu kinh tế quốc dân tăng từ 1% lên 15% Năm 2001, kim ngạch xuất nhập khẩucác loại sản phẩm kỹ thuật cao đạt 46,5 tỷ USD, chiếm 17,5% tổng kim ngạch xuấtkhẩu cả nớc Trong 10 năm qua, tại một số thành phố lớn và vừa, Trung Quốc đãxây dựng đợc 53 khu phát triển kỹ thuật cao Với những thành công vợt bậc củangành hàng không vũ trụ Trung Quốc, Trung Quốc phóng tàu “Thần Châu 5”, lần

đầu tiên Trung Quốc đa ngời vào vũ trụ, mở ra khả năng cho Trung Quốc chiếmlĩnh một phần thị trờng dịch vụ phóng tàu vũ trụ của thế giới và đem lại cho TrungQuốc nhiều lợi ích về kinh tế, quân sự, chính trị, làm cho các cờng quốc quân sựkhác phải kiêng nể

Trang 24

Giáo dục là nền tảng khoa học kỹ thuật, sự cao thấp về trình độ phát triển giáodục sẽ ảnh hởng đến tố chất con ngời, đặc biệt là nhân tố chủ yếu để nâng cao năngsuất, do đó sẽ tác động đến sự phát triển của sức sản xuất Năm 1992, tỷ lệ ngời biếtchữ ở Trung Quốc đạt 73%, cao hơn mức bình quân của thế giới Trình độ phát triểngiáo dục bậc trung học và tiểu học ở Trung Quốc tơng đối cáo, bậc đại học vẫn cònlạc hậu, điều này về cơ bản phù hợp với yêu cầu của trình độ phát triển sức sản xuấtgiai đoạn hiện nay Nhng để đáp ứng đợc yêu cầu nâng cao chất lợng tăng trởngkinh tế, phát triển theo chiều sâu thì nhiệm vụ phát triển giáo dục bậc đại học vẫncòn rất nặng nề Hiện nay, tại các thành phố của Trung Quốc, hơn 80% số ngời tìm

đợc đợc việc làm đã tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên hoặc đã qua đào tạo dạynghề, 45 triệu ngời đợc cấp giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn nghề nghiệp Mục tiêucủa Trung Quốc trong 3 năm tới đào tạo đợc 500.000 kỹ s và kỹ s cao cấp trong cácngành chế tạo, dịch vụ và các ngành có hàm lợng kỹ năng nghiệp vụ cao… Vì vậy, hiện ch

*Mặc dù đạt đợc rất nhiều thành tựu trong phát triển lĩnh vực dịch vụ nhngTrung Quốc vẫn còn không ít những tồn tại đối với các ngành nghề dịch vụ:

-Những thách thức về thể chế quản lý và cơ chế kinh doanh

Ngành dịch vụ của Trung Quốc, chủ yếu là tài chính, bảo hiểm, viễn thông,ngoại thơng, văn hoá, giáo dục và y tế trong một thời gian dài trớc đây do chính phủ

độc quyền cung cấp, không có cơ chế và thể chế thị trờng Hơn 20 năm thực hiệncải cách, cho đến nay, cải cách trong những ngành này diễn ra chậm chạm, gặpnhiều khó khăn, hiệu quả hạn chế Vì vậy, hiện nay vẫn không có thể chế và cơ chếthị trờng theo đúng nghĩa Trong khi đó, WTO lại yêu cầu thể chế thị trờng và cơchế thị trờng, các nớc phát triển phơng Tây đều có cơ chế và thể chế thị trờng hoànthiện Tình hình này tạo nên sự chênh lệch lớn đối với hiện thực Trung Quốc

-Những thách thức đối với hệ thống và năng lực giám sát quản lý vĩ mô củanhà nớc Trật tự thị trờng hiện nay tơng đối hỗn loạn, còn nhiều hàng nhái, hàngkém chất lợng trên thị trờng, trật tự tài chính cũng có vô vàn vấn đề, tỷ lệ tài sảnxấu tơng đối cao, độ tin cậy giảm, con số thua lỗ và tỷ lệ thua lỗ của các doanhnghiệp quốc doanh đã một thời gian giảm xuống, nhng gần đây lại tăng lên; nhữngvấn đề nh sản xuất, xây dựng chồng chéo mặc dù đã giải quyết nhiều lần nhng vẫn

đang phát triển và lan tràn Điều này làm tăng những khó khăn cho Trung Quốctrong điều tiết vĩ mô, cũng là thách thức mới đối với năng lực điều tiết vĩ mô

-Thách thức trong việc giành lấy nhân tài quản lý cao cấp Cạnh tranh con ngời

là cạnh tranh cơ bản nhất trong các cuộc cạnh tranh Trung Quốc vốn thiếu nhữngchuyên gia tổng hợp cao nhất, nhất là những chuyên gia tài năng trong lĩnh vực tàichính, bảo hiểm, viễn thông Sau khi gia nhập WTO, hầu hết các doanh nghiệp nớc

24

Trang 25

ngoài tại Trung Quốc đều thực hiện chiến lợc nhân tài tại chỗ, tuyển dụng nhữngchuyên gia cao cấp của nớc tiếp nhận đầu t với đãi ngộ cao Nh vậy, chắc chắn sẽ

nổ ra cuộc tranh giành chuyên gia tài năng Hiện nay, các doanh nghiệp TrungQuốc khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp nớc ngoài về mức đãi ngộ, chắcchắn sẽ bị mất đi một số nhân tài u tú

-Thách thức trong việc tranh giành thị trờng và tranh giành khách hàng có tiềmnăng Hiện nay, ngành ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm của Trung Quốc hầu hết

đều thực hiện kinh doanh phân ngành, quản lý phân ngành, chủng loại nghiệp vụ

đơn điệu, năng lực cung cấp dịch vụ tổng hợp cho xã hội và khách hàng kém Còntrên thế giới hầu hết đều thực hiện kinh doanh liên ngành, ngân hàng đã tham giavào bảo hiểm, chứng khoán, thậm chí cả những ngành phi tài chính, trở thành “siêuthị tài chính”, có chức năng dịch vụ và chức năng sáng tạo mạnh mẽ Nh vậy, saukhi Trung Quốc gia nhập WTO, nghiệp vụ kinh doanh đồng Nhân dân tệ đợc mởrộng, rất có thể một bộ phận khách hàng có tiềm năng sẽ chuyển sang ngân hàng,bảo hiểm và các ngành có vốn đầu t nớc ngoài khác Khách hàng có tiềm năng vàchuyên gia cao cấp thờng có mối liên hệ về mặt kinh doanh Chuyên gia cao cấpchạy sang các công ty nớc ngoài cũng có thể kéo theo một bộ phận khách hàng Vìvậy, cuộc đấu tranh giành giật thị trờng sẽ tơng đối phức tạp

Nhằm khắc phục những khó khăn, đơng đầu với những thách thức mới trongphát triển lĩnh vực dịch vụ, Trung Quốc đang thực hiện một số điều chỉnh trong thờigian tới

-Mở cửa hơn nữa ngành dịch vụ cho phép thơng gia nớc ngoài đầu t vào cácdịch vụ nh thông tin, tiền tệ, bảo hiểm, thơng mại, du lịch, văn hoá Từ khi TrungQuốc mở cửa lĩnh vực này, những ngành độc quyền từng bớc mở cửa cho nớc ngoài,xuất hiện một loạt các doanh nghiệp liên doanh, thậm chí doanh nghiệp 100% vốnnớc ngoài Nhng việc xoá bỏ độc quyền, mở cửa trong nớc vẫn còn diễn ra chậmchạp, thậm chí còn quá ít, không tạo đợc môi trờng cạnh tranh Việc mở cửa thôngthoáng và sâu rộng khắc phục sự lạc hậu của mở cửa trong nớc, xoá bỏ dần độcquyền sẽ làm cho ngành dịch vụ của Trung Quốc phát triển nhanh chóng

-Sắp xếp lại nguồn tài nguyên, nâng cao hiệu quả kinh tế và tỉ lệ ngành dịch vụchiếm trong GDP Theo ớc tính của tổ chuyên đề Trung tâm nghiên cứu phát triểnQuốc vụ viện, việc gia nhập WTO khiến cho tỷ lệ tăng trởng bình quân từ năm 1998

đến năm 2010 tăng lên khoảng 1%, tỷ lệ thu lợi nhuận do tự do hoá mậu dịch nôngnghiệp đem lại ớc tính chiếm 2/3 tổng mức lợi nhuận, do vậy mức độ phát triểnngành dịch vụ cũng tăng lên tơng ứng trong GDP

Trang 26

-Điều chỉnh cơ cấu ngành nghề trong nớc, mở rộng không gian cho ngành dịch

vụ phát triển Theo thống kê, từ năm 1998 đến năm 2010 có khoảng 9,6 triệu sứclao động nông nghiệp chuyển sang ngành công nghiệp và dịch vụ, ngành dệt vàmay mặc có thể tăng thêm 5,4 triệu cơ hội việc làm Điều này làm cho sức lao độngcủa Trung Quốc chuyển dịch từ ngành nông nghiệp chuyển sang ngành công nghiệp

và dịch vụ, tạo điều kiện cho ngành dịch vụ phát triển

-Đi sâu cải cách thể chế, nhanh chóng hình thành thể chế thị trờng và cơ chếthị trờng, tăng cờng khả năng cạnh tranh bằng chế độ

-Chế định và sửa đổi pháp luật, pháp quy và chính sách của ngành dịch vụ vàkinh doanh dịch vụ quốc tế Do các ngành dịch vụ Trung Quốc còn lạc hậu so vớicác nớc phát triển, các bộ ngành, các doanh nghiệp cần đợc bảo hộ thích đáng chủyếu bằng pháp luật, pháp quy và chính sách của nhà nớc Để đáp ứng đợc yêu cầu

mở rộng độ mở cửa của ngành dịch vụ và kinh doanh dịch vụ quốc tế, đòi hỏi TrungQuốc phải nhanh chóng sửa đổi những pháp luật pháp quy đã lỗi thời và chế địnhlại những pháp luật pháp quy mới, đa sự vận hành của ngành dịch vụ đi vào quỹ đạocủa đất nớc theo pháp luật Pháp quy của ngành dịch vụ và kinh doanh dịch vụTrung Quốc vừa phải phù hợp với quy tắc của WTO, vừa phải bảo hộ đúng nhữngngành nghề non trẻ của đất nớc

2.4.Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển dịch vụ ở Trung Quốc

Từ những phân tích trên về quá trình phát triển ngành dịch vụ ở Trung Quốc, ta

có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau;

-Phát triển dịch vụ phải dựa trên nền tảng phát triển hợp lý của các ngành côngnghiệp và nông nghiệp Quá trình phát triển dịch vụ có mối quan hệ chặt chẽ vớiquá trình CNH, HĐH Chính quan hệ chặt chẽ giữa các ngành đã tạo nên nền tảngcho mối liên hệ tăng trởng kinh tế nhanh và vững chắc với phát triển dịch vụ chất l-ợng cao ở Trung Quốc Sự phát triển mang tính giai đoạn của cơ cấu kinh tế là quyluật khách quan mà đợc áp dụng một cách chặt chẽ ở Trung Quốc ở thập kỷ 80,công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng phát triển trớc Sau đó là sự phát triển củacác ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu, gia công lắp ráp đợc đẩy mạnh (từnăm 1985) và phát triển công nghiệp nặng thời kỳ 1995-2000, và kế đến là cácngành dịch vụ cơ sở hạ tầng nh ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, bu chính viễnthông,… Vì vậy, hiện ch

Hiện nay, cơ cấu ngành của Trung Quốc đang ở vào giai đoạn tiếp tục đẩymạnh CNH Trong thời gian từ kế hoạch 5 năm lần thứ 9 đến năm 2010, nhu cầucủa xã hội đối với những sản phẩm vật chất doanh nghiệp có xu thế tăng lên, ngành

26

Trang 27

công nghiệp và ngành xây dựng sẽ là động lực chủ yếu trong sự tăng trởng của nềnkinh tế Trung Quốc Dới sự tác động của Cách mạng khoa học công nghệ mới trênphạm vi toàn cầu, việc hiện đại hoá ngành công nghiệp của Trung Quốc sẽ đợc thúc

đẩy cùng với ngành nghề hoá nông nghiệp và xã hội hoá dịch vụ và thông tin hoánền kinh tế quốc dân, đặt cơ sở kỹ thuật và kinh tế ngành vững chắc cho sự nghiệpxây dựng HĐH XHCN mang đặc sắc Trung Quốc

-áp dụng các mức độ mở cửa khác nhau với các loại hình dịch vụ khác nhau

Mở cửa, cải cách kinh tế, thu hút đầu t nớc ngoài khiến ngành dịch vụ củaTrung Quốc trở thành ngành phát triển với tốc độ nhanh nhất, có sức sống nhấttrong những năm đầu thế kỷ 21 Trong đó ngành du lịch, ngành thông tin bu điện,giao thông vận tải, bảo hiểm tiền tệ, văn hoá nghệ thuật, dịch vụ phục vụ đời sốngnhân dân, ngành dịch vụ kỹ thuật tổng hợp,… Vì vậy, hiện ch phát triển một cách mạnh mẽ Việc

mở cửa lĩnh vực dịch vụ là cần thiết tuy nhiên cần có những chính sách khác nhautrong các loại hình khác nhau trong ngành dịch vụ cũng nh xây dựng lộ trình mởcửa là việc làm vô cùng quan trọng Theo thống kê của WTO, dịch vụ quốc tế baogồm hơn 155 phân ngành nhỏ với 12 phân ngành lớn Những lĩnh vực này có vai trò

và địa vị khác nhau trong đó có một số lĩnh vực nh tài chính và viễn thông liên quan

đến an ninh kinh tế và an ninh thông tin của nhà nớc, có những lĩnh vực nh phápluật liên quan đến chủ quyền quốc gia, và một số lĩnh vực dịch vụ tầm quan trọngthấp hơn Vì vậy, mức độ mở cửa trong các lĩnh vực này không giống nhau Ngay ở

Mỹ đợc coi là nớc phát triển tự do nhất, mở cửa nhất, cũng có một số lĩnh vựckhông mở cửa, hoặc đặt ra rất nhiều hạn chế đối với việc mở cửa Để thích ứng vớimôi trờng quốc tế, xét về mức độ mở cửa, Trung Quốc chia các lĩnh vực trongngành dịch vụ ra thành ba loại lớn là mở cửa hoàn toàn, không mở cửa và mở cửamột nửa Lĩnh vực mở cửa hoàn toàn hoặc tự do ở đây là những ngành không đ a ranhững hạn chế đặc biệt trong điều kiện tuân thủ theo pháp luật và chính sách củaTrung Quốc và nộp thuế theo quy định của pháp luật, nh : sửa chữa ô tô, chụp ảnhsinh hoạt, thẩm mỹ viện… Vì vậy, hiện ch Lĩnh vực không mở cửa hay không tự do có nghĩa là từchối mở cửa trong mọi điều kiện, nh: pháp luật cơ cở, báo chí,… Vì vậy, hiện ch Lĩnh vực mở cửamột nửa hay nửa tự do là chỉ sự mở cửa nhng có những hạn chế có tính chất đặcbiệt Hạn chế ở phơng diện này bao gồm: hạ chế về khu vực, về khách hàng, về thờigian, về hình thức doanh nghiệp và về tỷ lệ cổ phần Việc phân chia nh trên và ápdụng những biện pháp khác nhau đối với các lĩnh vực trong ngành dịch vụ là nhằm

đảm bảo tiến trình mở cửa có trật tự

-Phát triển dịch vụ phải dựa trên nội lực kinh tế trong nớc vững mạnh kết hợpvới thu hút nguồn nhân lực công nghệ cao

Trang 28

Là một nớc lớn, có tài nguyên thiên nhiên phong phú, đông dân nhất thế giớihơn 1,2 tỷ ngời cùng 60 triệu ngoài Hoa và Hoa kiều sống ở nhiều nơi trên thế giới

là nguồn nội lực vững chắc để phát triển các ngành dịch vụ thâm dụng trí thức.Ngoài ra, cho đến đầu thập kỷ 80, trớc khi bắt đầu công cuộc cải cách, Trung Quốc

đã có 30 năm thực hiện mô hình CNH theo mô hình kinh tế kế hoạch tập trung vàtính cho đến hiện tại có hơn 25 phát triển kinh tế theo hớng CNH, HĐH cơ cấu kinh

tế theo hớng phát triển “chuyển thành nớc CNH có tỷ lệ dân phi nông nghiệp, cónền công nghiệp hiện đại và ngành dịch vụ hiện đại”

Đặc biệt, trong quá trình mở cửa, ngời Hoa và Hoa Kiều đã có những đóng góp

to lớn trong việc đa vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý vào Trung Quốc NgờiHoa Kiều trên thế giới đang trải qua một thời gian dài cần cù lao động, từ chỗ chủyếu là làm lao động và thơng nghiệp, dần chuyển sang doanh nghiệp hoá, đanguyên hoá và quốc tế hoá, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau hình thành một mạnglới gọi là “kinh doanh mạng” Đa số ngời Hoa và Hoa kiều có lòng yêu nớc, có mốiquan hệ chặt chẽ với quê hơng Vì vậy khi chính phủ Trung Quốc kêu gọi Hoa kiều

đóng góp công sức xây dựng, phát triển đất nớc, họ hởng ứng nhiệt tình Đây lànhân tố quan trọng trong quá trình thực hiện CNH đất nớc, tăng trởng kinh tế theohớng hiện đại hoá lĩnh vực dịch vụ

-Ngành dịch vụ hiện đại phải đợc thực hiện trên nền tảng cơ chế thị trờng và

bộ máy hành chính hoạt động hiệu quả Trong những năm qua, với những nỗ lựckhông ngừng, Trung Quốc luôn cố gắng đi sâu vào cải cách thể chế, tạo lập thể chếthị trờng và cơ chế thị trờng, tăng cờng khả năng cạnh tranh bằng chế độ Cải cáchchế độ quyền sở hữu trong lĩnh vực dịch vụ đợc chú ý Thực hiện rộng rãi chế độ cổphần và chế độ công ty hiện đại, đa nguyên hoá chủ thể và chế độ công ry hiện đại,

đa nguyên hoá chủ thể quyền sở hữu, thu hút vốn nớc ngoài tham gia vào liêndoanh, coi trọng việc thu hút vốn từ Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao, vốn của t nhânvào những ngành này, khuyến khích các doanh nghiệp lớn trong ngành sản xuấtnông nghiệp và công nghiệp trong nớc sở hữu cổ phần trong lĩnh vực thuộc ngànhdịch vụ nh ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, ngoại thơng, tạo ra cục diện mới lànắm giữ chéo cổ phiếu, thâm nhập vào nhau, ràng buộc lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau,phá vỡ hoàn toàn sự độc quyền của nhà nớc trong những ngành này

Phát triển ngành dịch vụ hiện đại phải luôn luôn gắn với thị trờng hiện đại bởi

sự ra đời của ngành dịch vụ hiện đại xuất phát từ yêu cầu của thị trờng và nhờ có sựsôi động của những ngành dịch vụ mà kinh tế thị trờng mới hoạt động hiệu quả.-Phát triển dịch vụ trong bối cảnh mới phải linh hoạt và phù hợp với bối cảnhquốc tế Việc phát triển và hiện đại hoá ngành dịch vụ phải chú ý đến vấn đề lợi thế

28

Trang 29

so sánh và tiềm năng kinh tế Trong thời gian đầu, Trung Quốc tận dụng lợi thế sosánh tĩnh nh tài nguyên lao động nhằm đầu t phát triển cơ sở hạ tầng cho các ngànhdịch vụ Sau đó, với những chính sách thích hợp nhằm phát triển những ngành dịch

vụ khoa học công nghệ kỹ thuật cao, đi từ thử nghiệm và nhập khẩu công nghệ tiến

đến hớng về xuất khẩu phát triển công nghệ cao, tận dụng nguồn đầu t nớc ngoàiphát triển các ngành công nghiệp, cùng với sự kiểm soát chặt chẽ để vừa tăng nănglực sản xuất của các ngành công nghiệp mà không bị phụ thuộc nhiều vào nớcngoài

Trang 30

chơng 3 thực trạng ngành dịch vụ ở Việt Nam

3.1.Những yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ ở Việt Nam

3.1.1.Tốc độ tự do hoá và mở cửa của nền kinh tế

Đây là động lực quan trọng thúc đẩy CDCCKT ngành dịch vụ vì những lí dosau:

Thứ nhất, quá trình tự do hoá và mở cửa của nền kinh tế tạo nên nhiều loại vàngành nghề dịch vụ mới, phong phú đa dạng và phù hợp với cơ chế thị trờng vàtrình độ phát triển cao hơn nh các dịch vụ Tài chính, Bảo hiểm, cho thuê Tài chính,cầm cố thế chấp, trả góp, các loại hình viễn thông mới nh điện thoại di động,Internet, truyền hình vệ tinh, truyền hình kỹ thuật số, dịch vụ t vấn đầu t, pháp lý,kiểm toán, môi giới nhà đất,… Vì vậy, hiện chTrong số những dịch vụ này, có những loại dịch vụvốn rất hạn chế trớc đây thì phát triển với tốc độ chóng mặt kể từ thập niên 1990

nh viễn thông, Internet, môi giới, kinh doanh tài sản, kiểm toán, dịch vụ hỗ trợ kinhdoanh Có dịch vụ chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trờng nh bảo hiểm, cho thuêtài chính, t vấn đầu t, kiểm toán dịch vụ xuất hiện trong nền kinh tế đã phát triển ởtrình độ cao hơn và đời sống nhân dân đợc cải thiện nh hệ thống truyền hình quốc tế

và dịch vụ điện thoại di động

Thứ hai, quá trình tự do hoá và mở cửa nền kinh tế nâng cao hiệu quả, chất l ợng và sức cạnh tranh của ngành dịch vụ Việc xóa bỏ độc quyền nhà nớc tạo điềukiện cho phát triển và nâng cao chất lợng, hiệu quả trong nhiều lĩnh vực dịch vụ, tạo

-sự tham gia đông đảo của nhiều nhà cung cấp dịch vụ thuộc nhiều thành phần kinh

tế khác nhau trong những lĩnh vực đợc tự do hoá, giúp những lĩnh vực đó phát triển

Điều này cũng có nghĩa là gia tăng cạnh tranh trên thị trờng cung cấp làm giảm giáthành, nâng cao chất lợng và hiệu quả của các lĩnh vực dịch vụ Ví dụ nh việc xoá

độc quyền nhà nớc trong lĩnh vực thơng mại khiến lĩnh vực này phát triển nhanhgiúp cho việc phân phối hàng hoá đến tay ngời tiêu dùng một cách nhanh chóng vàthuận lợi, tốt hơn, nhiều hơn, đa dạng hơn, đặc biệt tại các khu vực nông thôn hoặcnhững vùng xa xôi hẻo lánh

Quá trình tự do hoá và mở cửa nền kinh tế giúp những lĩnh vực dịch vụ mớixuất hiện góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế dịch vụ theo hớng hiện đại nhằm đápứng yêu cầu mới của nền kinh tế thị trờng Có đợc vậy vì nó giải phóng sức sản xuấtcủa ngành dịch vụ qua 2 kênh chính là:

30

Trang 31

-Tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát huy sức sáng tạo để tạo ranhiều lĩnh vực dịch vụ mới:

+Việc du nhập các loại hình dịch vụ mới từ bên ngoài qua làn sóng FDI khi

mở cửa lĩnh vực dịch vụ nh kiểm toán, t vấn, cho thuê tài chính… Vì vậy, hiện ch

+Sáng tạo ra các loại hình dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu thị trờng Đặc biệtxoá bỏ kiểm soát của nhà nớc đối với lĩnh vực dịch vụ đã giải phóng sức sáng tạocho nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt khu vực kinh tế t nhân và kinh tế cá thể Nhờvậy, nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời nh môi giới nhà đất trong những năm quakhi ngời dân có nhu cầu mua bán nhà ở phát triển mạnh hay nghề viết ý tởng quảngcáo khi các doanh nghiệp có nhu cầu quảng bá thơng hiệu của mình

-Tạo điều kiện phát huy giải phóng các nguồn lực để tăng cờng đầu t và hiện

đại hoá lĩnh vực dịch vụ Điển hình nhờ quan hệ hợp tác liên doanh - đầu t với cáccông ty nớc ngoài, ngành viễn thông trong thời gian qua đã phát triển mạnh mẽ, sửdụng công nghệ hiện đại và ngang tầm thế giới Trong lĩnh vực này, nớc ta chuyển

từ chỗ đa vào sử dụng mạng nhắn tin đầu thập kỷ 1990 đã chuyển sang mạng điệnthoại di động, từ chỗ sử dụng công nghệ kỹ thuật đồng bộ cổ điển đã chuyển sang

sử dụng công nghệ kỹ thuật số

Tuy nhiên cho đến nay, khu vực dịch vụ ở Việt Nam vẫn là nơi đợc bảo hộ và

đóng cửa nhiều nhất chủ yếu là các dịch vụ cơ sở hạ tầng nh: điện nớc, hàng không,

điện thoại,… Vì vậy, hiện ch

có thu nhập tháp khoảng 1000 USD/ năm (1,2 triệu tháng) thì khó có thể đi chơi xa

Trình độ phát triển của nền kinh tế thị trờng ảnh hởng lớn tới lĩnh vực dịch

vụ Cơ chế thị trờng càng phát triển thì chủng loại thị trờng càng phong phú càngtạo điều kiện cho các loại hình dịch vụ mới ra đời và lớn mạnh Tuy vậy, nền kinh

tế thị trờng mới hình thành ở Việt Nam cha phải là môi trờng tốt thúc đẩy lĩnh vựcdịch vụ phát triển Ví dụ nh t vấn đầu t chứng khoán gắn với thị trờng chứng khoánphát triển ở trình độ cao và có nhiều ngời đầu t Mức độ và hình thức hoạt động củathị trờng chứng khoán hiện nay cha đạt đợc điều này

Ngày đăng: 24/04/2013, 21:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Kim ngạch xuất nhập khẩu dịch vụ qua các năm ở Việt Nam - Phát triển ngành dịch vụ - kinh nghiệm trung quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam
Hình 1. Kim ngạch xuất nhập khẩu dịch vụ qua các năm ở Việt Nam (Trang 42)
Bảng 1. Xuất khẩu dịch vụ ở Việt Nam năm 2004 - Phát triển ngành dịch vụ - kinh nghiệm trung quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam
Bảng 1. Xuất khẩu dịch vụ ở Việt Nam năm 2004 (Trang 42)
Hình 2. Cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP do khu vực dịch vụ tạo ra - Phát triển ngành dịch vụ - kinh nghiệm trung quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam
Hình 2. Cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP do khu vực dịch vụ tạo ra (Trang 47)
Bảng 2. So sánh chi phí đầu t ở các nớc trong khu vực - Phát triển ngành dịch vụ - kinh nghiệm trung quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam
Bảng 2. So sánh chi phí đầu t ở các nớc trong khu vực (Trang 48)
Bảng 4. Cơ cấu kinh tế Việt Nam theo ngành giai đoạn 1956 – 2004 - Phát triển ngành dịch vụ - kinh nghiệm trung quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam
Bảng 4. Cơ cấu kinh tế Việt Nam theo ngành giai đoạn 1956 – 2004 (Trang 51)
Bảng 5. Đóng góp của khu vực doanh nghiệp dịch vụ vào GDP năm 2002 - Phát triển ngành dịch vụ - kinh nghiệm trung quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam
Bảng 5. Đóng góp của khu vực doanh nghiệp dịch vụ vào GDP năm 2002 (Trang 54)
Bảng 7.So sánh tốc độ tăng của dịch vụ so với tốc độ tăng chung qua các n¨m - Phát triển ngành dịch vụ - kinh nghiệm trung quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam
Bảng 7. So sánh tốc độ tăng của dịch vụ so với tốc độ tăng chung qua các n¨m (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w