1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công ty xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Hà nội

73 451 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công ty xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Hà nội
Người hướng dẫn TS. Trần Đăng Khâm
Trường học Công ty xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Hà Nội
Thể loại Chuyên đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 438,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế thị trường, để có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của khách hàng, các công ty luôn phải chú trọng tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phù hợp.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, để có thể đứng vững trên thị trườngcạnh tranh ngày càng gay gắt, đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của kháchhàng, các công ty luôn phải chú trọng tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm,giá cả phù hợp Quá trình đổi mới cơ chế quản lý của các doanh nghiệp ViệtNam cũng cho thấy, doanh nghiệp nào xây dựng và thực thi tốt chính sáchquản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi nhuận cao,sản phẩm mới có tính cạnh tranh Do vậy việc sử dụng tài sản ngắn hạn mộtcách hiệu quả luôn là vấn đề đặt ra mà các nhà quản lý phải quan tâm

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp làm

ăn phát đạt còn không ít những doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, phásản Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu

tố chứ không phải chỉ do quản trị vốn lưu động tồi Nhưng thực tế thì sự bấtlực của một số công ty trong việc hoạch định và kiểm soát chặt chẽ các loạitài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là nguyên nhân dẫn đếnthất bại cuối cùng của họ

Tài sản ngắn hạn giữ một vai trò hết sức quan trọng, dù cho đó là doanhnghiệp kinh doanh hay công ích, doanh nghiệp thương mại hay sản xuất, doanhnghiệp thua lỗ hay đang hưng thịnh muốn tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệpluôn phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của mình

Trong thời gian qua, mặc dù công ty cổ phần tập đoàn HiPT đã cónhiều cố gắng trong việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệuquả hơn, công ty có lợi nhuận tăng Nhưng kết quả cho thấy việc sử dụng tàisản ngắn hạn còn có nhiều điểm chưa hợp lý dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sảnngắn hạn còn chưa cao Mặc dù mục tiêu hiệu quả đạt được của các doanhnghiệp là khác nhau nhưng tất cả đều hướng tới đạt được lợi nhuận cao nhất,đứng trước tình hình như hiện nay công ty phải tìm cách để khắc phục tình

Trang 2

trạng đó, đẩy nhanh công tác hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tàisản ngắn hạn của công ty mình trong thời gian tới.

Do tầm quan trọng của vấn đề và quá trình tìm hiểu tình hình thực tếtại công ty cổ phần tập đoàn HiPT, được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáohướng dẫn cùng các cán bộ công nhân viên trong công ty, đặc biệt là các cán

bộ ban tài chính em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng

tài sản lưu động tại công ty xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Hà nội”

cho chuyên đề của mình

Do điều kiện về trình độ và thời gian có hạn nên trong bài viết khôngtránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong sự chỉ bảo của thầy giáo TS

Trần Đăng Khâm, người đã hướng dẫn em trong thời gian qua Em xin chân

thành cảm ơn

Trang 3

CHƯƠNG 1: HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP.

1.1 Khái quát về doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm

Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu

Doanh nghiệp là một cách tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân

Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải cá nhân

Ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế

có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

1.1.2 Phân loại

Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, công

ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh sau đây:

Trang 4

- Không phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp, tất cả lợi nhuận bị tính thuế thu nhập cá nhân

- Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ và các khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của doanh nghiệp

- Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào tuổi thọ của người chủ

- Khả năng thu hốt vốn bị hạn chế bởi khả năng của người chủ

Kinh doanh góp vốn

- Việc thành lập doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí thành lập thấp Đốivới các hợp đồng phức tạp cần phải được viết tay Một số trường hợp cần có giấy phép kinh doanh

- Các thành viên chính thức có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ Mỗithành viên có trách nhiệm đối với phần tương ứng với phần vốn góp Nếu nhưmột thành viên không hoàn thành trách nhiệm trả nợ của mình, phần còn lại

Trang 5

cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý mang lại cho công ty các ưu thế so với kinh doanh cá thể

và góp vốn:

- Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới

- Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi sổ lượng cổ đông

- Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vàocông ty (trách nhiệm hữu hạn)

Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợpvới quy mô và trình độ phát triển nhất định Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với tư cách là các công ty Đây là loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp

1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

1.2.1 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.

1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm tài sản ngắn hạn.

Để đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải có tư liệusản xuất mà nó bao gồm hai bộ phận là tư liệu lao động và đối tượng laođộng

Nếu như tư liệu lao động tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hìnhthái vật chất không thay đổi từ chu kỳ đầu tiên cho tới khi bị sa thải khỏi quátrình sản xuất thì đối tượng lao động lại khác, nó chỉ tham gia vào một chu kỳsản xuất đến chu kỳ sản xuất sau lại phải sử dụng các đối tượng lao độngkhác

Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợpthành thực thể của sản phẩm như bông thành sợi, cát thành thuỷ tinh, một sốkhác bị mất đi như các loại nhiên liệu Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 6

nào cũng cần phải có các đối tượng lao động Lượng tiền ứng trước để thoảmãn nhu cầu về các đối tượng lao động gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trongquá trình kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sảnngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoảncao, phải thu và dự trữ tồn kho

Đối với doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại tài sảnngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn, thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tàisản của chúng

Việc quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản ngắn hạn có ảnhhưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành các nhiệm vụ chung của doanhnghiệp

Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải biết rõ số lượng, giá trịmỗi loại tài sản ngắn hạn là bao nhiêu cho hợp lý và đạt hiệu quả sử dụng cao

Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các côngđoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục,

ổn định tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnhhưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản Do

đó, tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có các đặc điểm sau:

- Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng khả năngthanh toán của doanh nghiệp

- Tài sản ngắn hạn là một bộ phận của vốn sản xuất nên nó vận động

và luân chuyển không ngừng trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất kinhdoanh

- Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sangtiền tệ nên cũng vận động rất phức tạp và khó quản lý

Trang 7

1.2.1.2 Phân loại tài sản ngắn hạn.

Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn là chỉ tham gia vào một chu kỳ sảnxuất kinh doanh và thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất, vì vậyviệc chuẩn bị các loại tài sản ngắn hạn là rất quan trọng Tuỳ thuộc vào mỗichu kỳ sản xuất mà giá trị các loại tài sản ngắn hạn lại thay đổi cho phù hợp

Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp nói chung và quản lý tài chính nói riêng, tuỳ theo yêu cầu quản lý vàdựa trên tính chất vận động của tài sản ngắn hạn, người ta có thể phân loại tàisản ngắn hạn như sau:

1.2.1.2.1 Phân loại theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn

Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, tài sản ngắn hạnđược chia thành:

- Tài sản ngắn hạn dự trữ : là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong

khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện củachúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàngmua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trongkho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán

- Tài sản ngắn hạn sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong

khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phísản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, cáckhoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…

- Tài sản ngắn hạn lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong

khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửibán, các khoản nợ phải thu của khách hàng

Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác địnhđược các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn

Trang 8

để đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúngmột cách cao nhất.

1.2.1.2.2 Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán

Căn cứ vào các khoản mục trong bảng cân đối kế toán tài sản ngắn hạn baogồm: tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tàisản ngắn hạn khác

Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản

lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quantrọng nhất Sở dĩ việc giữ tiền mặt trong kinh doanh là vấn đề cần thiết xuấtphát từ những lý do sau:

+ Đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng ngày Những khoản giao dịchnày thường là thanh toán cho khách hàng và thu tiền từ khách hàng, từ đó tạonên số dư giao dịch

+ Bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ chodoanh nghiệp Số dư tiền mặt loại này gọi là số dư bù đắp

+ Đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động khônglường trước được của các luồng tiền vào và ra Loại tiền này tạo nên số dư dựphòng

+ Hưởng lợi thế trong thương lượng mua hàng Loại tiền này tạo nên

số dư đầu cơ

Trang 9

Trong hoạt động kinh doanh, việc giữ tiền mặt là cần thiết nhưng việcgiữ đủ tiền mặt phục vụ cho kinh doanh đem lại nhiều lợi thế cho doanhnghiệp:

+ Khi mua các hàng hoá dịch vụ nếu có đủ tiền mặt, công ty có thểđược hưởng lợi thế chiết khấu

+ Giữ đủ tiền mặt, duy trì tốt các chỉ số thanh toán ngắn hạn giúpdoanh nghiệp có thể mua hàng với những điều kiện thuận lợi và được hưởngmức tín dụng rộng rãi Việc thanh toán đầy đủ, chính xác, kịp thời sẽ tạo niềmtin cho các đơn vị tài trợ

+ Giữ đủ tiền mặt giúp cho doanh nghiệp tận dụng được những cơ hộithuận lợi trong kinh doanh do chủ động trong các hoạt động thanh toán chitrả

+ Khi có đủ tiền mặt giúp doanh nghiệp đáp được nhu cầu trongtrường hợp khẩn cấp như đình công, hoả hoạn, chiến dịch Marketing của đốithủ cạnh tranh, vượt qua khó khăn do yếu tố thời vụ và chu kỳ kinh doanh.Đây là điều quan trọng bởi nó có thể cứu nguy cho doanh nghiệp trong việccạnh tranh với các doanh nghiệp khác

Các khoản đầu tư ngắn hạn

Mục tiêu của các doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản saocho hiệu quả nhất Ở trên ta thấy được các lợi thế của việc giữ tiền mặt song

đó sẽ là hiệu quả nếu giữ đủ một lượng tiền mặt, tuy nhiên nếu giữ quá nhiều

sẽ không đem lại cho doanh nghiệp một khoản tiền bởi các nhà quản lý luôntính đến giá trị thời gian của tiền Vì vậy việc đầu tư chứng khoán luôn là sựquan tâm của các nhà quản lý

Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bướcđệm” cho tiền mặt vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vàochứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể

Trang 10

chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí Do

đó trong quản trị tài chính người ta sử dụng chứng khoán có khả năng thanhkhoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn Ta có thể thấy điều nàyqua sơ đồ luân chuyển sau:

Ta thấy tiền mặt là một hàng hoá nhưng đây là hàng hoá đặc biệt-mộttài sản có tính lỏng nhất Trong kinh doanh, doanh nghiệp cần một lượng tiềnmặt và phải dùng nó để trả cho các hoá đơn một cách đều đặn Khi lượng tiềnmặt này hết, doanh nghiệp phải bán các chứng khoán có khả năng thanhkhoản cao để có lượng tiền như ban đầu

Các khoản phải thu

Để thắng lợi trong cạnh tranh trên thị trường các doanh nghiệp có thể

sử dụng chiến lược sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả, về dịch vụ giao hàng

và các dịch vụ sau khi mua bán như vận chuyển, lắp đặt Tuy nhiên trongnền kinh tế thị trường việc mua bán chịu là một việc không thể thiếu Cácdoanh nghiệp bán hàng song có thể không nhận được ngay tiền hàng lúc bán

Dòng thu tiền

mặt

mặt

Trang 11

mà nhận sau một thời gian xác định mà hai bên thoả thuận hình thành nên cáckhoản phải thu của doanh nghiệp.

Việc cho các doanh nghiệp khác nợ như vậy chính là hình thức tín dụngthương mại Với hình thức này có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trênthị trường và trở nên giàu có nhưng cũng không tránh khỏi những rủi ro tronghoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Điều đó thể hiện trên những nét cơbản sau:

+ Tín dụng thương mại tác động đến doanh thu bán hàng Do được trảtiền chậm nên sẽ có nhiều người mua hàng hoá của doanh nghiệp hơn, từ đólàm cho doanh thu tăng

+ Tín dụng thương mại làm giảm chi phí tồn kho của hàng hoá

+ Tín dụng thương mại làm cho tài sản cố định được sử dụng có hiệuquả hơn và hạn chế phần nào về hao mòn vô hình

+ Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng chi phítrong hoạt động của doanh nghiệp

+ Tín dụng thương mại làm tăng chi phí đòi nợ, chi phí phải trả chonguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ Thời hạn cấp tín dụng càng dàithì chi phí ròng càng lớn

Xác suất không trả tiền của người mua làm cho lợi nhuận bị giảm, nếuthời hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng lớn

Trên đây là những tác động của tín dụng thương mại mà các nhà quản

lý phải so sánh giữa thu nhập với chi phí tăng thêm để ra quyết định có nêncấp tín dụng hay không

Trong nền kinh tế thị trường hầu hết các doanh nghiệp đều được cấp vàcấp tín dụng thương mại, trên thực tế khi các tiêu chuẩn tín dụng được nớilỏng thì doanh thu có xu hướng tăng lên Tuy nhiên bên cạnh những lợi thế

Trang 12

đạt được thì nhiều doanh nghiệp cũng không tránh khỏi những rủi ro mà tíndụng đem lại.

Nhiều doanh nghiệp có doanh thu tăng, lợi nhuận tăng và cao song khảnăng chi trả lại thấp cũng bởi khoản phải thu của các doanh nghiệp này quálớn mà không thu hồi lại được Hơn nữa không ít khách hàng lợi dụng vào tíndụng để vay mà không trả, do đó trước khi cấp tín dụng thương mại chokhách hàng thì vấn đề quan trọng đặt ra cho các nhà quản lý là phải phân tíchkhả năng tín dụng của khách hàng

Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lýkhông cân đối giữa các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải nhữngkhó khăn thâm chí dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán

Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất,kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệmcần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp

Hàng hoá tồn kho có ba loại: nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trìnhsản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm Các doanh nghiệpkhông thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải cónguyên vật liệu dự trữ

Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vaitrò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường.Tuy nhiên các doanh nghiệp đều phải tính đến việc dự trữ một cách hợp lý bởinếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn thậm chínếu sản phẩm khó bảo quản có thể bị hư hỏng, ngược lại nếu dự trữ quá ít sẽlàm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, các khâu tiếp theo sẽkhông thể tiếp tục được nữa đồng thời với việc không hoàn thành được kếhoạch sản xuất

Trang 13

Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từngcông đoạn của dây truyền sản xuất Thông thường quá trình sản xuất của cácdoanh nghiệp được chia thành nhiều công đoạn, giữa những công đoạn nàybao giờ cũng tồn tại những bán thành phẩm.

Đây là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục Nếudây truyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn thì tồn kho trongquá trình sản xuất sẽ càng lớn

Khi tiến hành sản xuất xong hầu hết các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụhết sản phẩm Phần thì do có “độ trễ” nhất định giữa các sản xuất và tiêudùng, phần phải có đủ lô hàng mới xuất được Những doanh nghiệp mà sảnxuất mang tính thời vụ và có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì dự trữ,tồn kho sản phẩm sẽ lớn

Như vậy hàng hoá dự trữ đối với các doanh nghiệp gồm ba bộ phậnnhư trên, song thông thường trong quản lý vấn đề chủ yếu được đề cập đến là

bộ phận thứ nhất, các doanh nghiệp luôn phải chú trọng tới việc dự trữnguyên vật liệu cho sản xuất sao cho hợp lý và an toàn Tuy nhiên, cần lưu ýrằng, đối với các doanh nghiệp thương nghiệp thì dự trữ nguyên vật liệu cũng

có nghĩa là dự trữ hàng hoá để bán

Nguyên vật liệu sử dụng mỗi ngày không phải là số cố định mà luôn có

sự thay đổi, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp sản xuất mang tính thời

vụ hoặc sản xuất những hàng hoá nhạy cảm với thị trường Do đó để đảm bảocho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì một lượng hàng tồn kho

dự trữ an toàn và tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà mức dự trữ an toànkhác nhau

Trang 14

1.2.1.3.Tầm quan trọng của tài sản ngắn hạn.

Phần trước chúng ta đã tìm hiểu các loại tài sản ngắn hạn và thấy đượcrằng chúng không thể thiếu trong tất cả các doanh nghiệp kinh doanh, sảnxuất

Tài sản ngắn hạn chiếm một tỷ lệ lớn hay nhỏ trong mỗi công ty là khácnhau tuy nhiên nó đóng một vai trò rất quan trọng và không thể thiếu đượctrong tất cả các doanh nghiệp, và đặc biệt là các doanh nghiệp chuyên về lĩnhvực thương mại, tài sản lưu động luôn chiếm một tỷ trọng lớn Vấn đề mà cácnhà kinh tế đều phải quan tâm đó là quản lý tài sản ngắn hạn của doanhnghiệp Một số vấn đề về quản lý tài sản ngắn hạn như: Doanh nghiệp nênnắm giữ bao nhiêu tiền và dự trữ? Doanh nghiệp có nên bán chịu không? Nếubán chịu thì nên bán với thời hạn nào, doanh nghiệp sẽ tài trợ ngắn hạn bằngcách nào?

Như ta đã biết tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt của doanh nghiệp, nóđược sử dụng để mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trảnợ… như vậy bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải nắm giữ một lượng tiền mặtnhất định Nó không chỉ đảm bảo cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp

mà còn đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển lâu dài

Để đi vào sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có nguyên vậtliệu, tuy nhiên để hoạt động có thể diễn ra liên tục không bị tắc nghẽn thì dựtrữ nguyên vật liệu nhất thiết phải có, một nhà quản lý giỏi phải biết cách tínhtoán đề có lượng dự trữ phù hợp

Việc giữ nhiều tiền cũng đem lại một số bất lợi cho doanh nghiệp, hơnnữa các doanh nghiệp luôn luôn tìm cách để có được lợi nhuận cao nhất Do

đó các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để sử dụng tiền một cách hiệu quả.Chẳng hạn với lượng tiền có trong tay doanh nghiệp có thể gửi ngân hàng đểtiện cho thanh toán hơn nữa còn nhận được một khoản tiền từ lãi suất Ngoài

Trang 15

ra công ty có thể đầu tư ngắn hạn, đầu tư vào chứng khoán Các chứng khoán

có tính lỏng cao giữ vai trò quan trọng bởi nó có thể chuyển đổi thành tiềnmột cách dễ dàng ít tốn kém

Đầu tư chứng khoán có vai trò quan trọng đối với hoạt động của doanhnghiệp Thứ nhất, danh mục đầu tư này làm tăng và góp phần ổn định thunhập của doanh nghiệp Thứ hai, tạo ra sự đa dạng trong hoạt động đầu tư,bao gồm đa dạng hóa về lĩnh vực kinh doanh, đa dạng hóa về phương diện địa

lý Chính sự đa dạng hóa này tạo cơ sở cân bằng về rủi ro trong danh mục tàisản của doanh nghiệp và tăng tính thanh khoản cho các tài sản, trên cơ sở đótạo nên sự mềm dẻo trong việc quản lý tài sản của doanh nghiệp Thứ ba, cácchứng khoán có thể được sử dụng như là các tài sản thế chấp cho các khoảnvay ngân hàng Thứ tư, kinh doanh chứng khoán giúp các doanh nghiệp cóthể tận dụng được lợi thế từ chính sách thuế Thứ năm, các chứng khoán cóthể được mua và bán nhanh chóng, do đó có thể là nguồn dự trữ thứ cấp chokhả năng thanh toán của doanh nghiệp và giúp cho doanh nghiệp có thể dễdàng tái cấu trúc lại tài sản

Việc cấp tín dụng của các doanh nghiệp quyết định nhiều đến sự thànhbại của doanh nghiệp Sở dĩ như vậy vì doanh nghiệp có thể mở rộng thịtrường, hơn nữa hầu hết các công ty đều muốn chiếm dụng vốn trong mộtkhoảng thời gian nhất định

Các khoản phải thu tăng thì làm cho doanh thu của doanh nghiệp tănglên như vậy nếu chi phí không đổi sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệptăng lên

Như vậy tài sản ngắn hạn có vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp,

do vậy vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý là luôn tìm cách nâng cao hiệu quả

sử dung những tài sản này

Trang 16

1.2.2 Hiệu quả sử dụng TSNH trong doanh nghiệp

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Thực tiễn nhiều năm trở lại đây cho thấy tài sản ngắn hạn ở một số doanh nghiệp được sử dụng còn tùy tiện, kém hiệu quả đặc biệt là ở các doanh nghiệp nhà nước Do đó, việc sử dụng hiệu quả tàisản ngắn hạn hiện nay luôn là yêu cầu mang tính cấp thiết đối với sự tồn tại

và phát triển của doanh nghiệp

1.2.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh nghiệp quantâm, quản trị kinh doanh sản xuất có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thểtồn tại trên thị trường Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải cónhiều cố gắng và có những chiến lược sách lược hợp lý từ khâu sản xuất chođến khi sản phẩm được đến tay người tiêu dùng

Mục đích cuối cùng của họ bao giờ cũng là đạt được những mục tiêu

mà họ đề ra Chính vì vậy quan niệm hiệu quả của mỗi doanh nghiệp là khácnhau Tuy nhiên để đi đến mục đích cuối cùng thì vấn đề chung mà các doanhnghiệp đều phải quan tâm chú trọng đến đó chính là hiệu quả sử dụng vốn vàtài sản trong doanh nghiệp

Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tếphản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vàohoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểuhoá chi phí

Với mỗi doanh nghiệp có một sự cân đối về tài sản riêng mỗi loại tàisản cũng phải khác nhau, nếu như các doanh nghiệp về lĩnh vực chế biến haycông nghiệp nặng thì (tỷ lệ) TSCĐ chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng giá trị

Trang 17

tài sản, ngược lại với các doanh nghiệp lĩnh vực thương mại thì TSNH lạichiếm đa số.

Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì TSNH đóng một vai tròhết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm sao sử dụng cácloại TSLĐ một cách hiệu quả

Hiệu quả sử dụng TSNH là kết quả đạt được cao nhất với mục tiêu màdoanh nghiệp đã đặt ra Nghĩa là phải làm sao có được nhiều lợi nhuận từ việckhai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động sảnxuất kinh doanh nhằm tối đa hoa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí

Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu dướiđây:

1.2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH:

Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều mặt tác động khác nhau Vì vậy, khi phân tích cá chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta cần xem xét trên nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau

Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, cho nên việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:

+ Hệ số thanh toán hiện hành

Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, được sử dụng rộng rãi nhất là hệ số thanh toán hiện hành

Trang 18

Tài sản ngắn hạn

Hệ số thanh toán hiện hành =

Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thểchuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Hệ

số này đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp Nếu hệ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm, đó là dấu hiệu báo trước

những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra Nếu hệ số này cao, điều đó có nghĩa làdoanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vàotài sản ngắn hạn

+ Hệ số thanh toán nhanh

Tiền

Hệ số thanh toán tức thời =

Nợ đến hạn trả

Trang 19

Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán tức thời đối với các khoản nợ đếnhạn trả của doanh nghiệp Hệ số này được sử dụng để đánh giá hiệu quả quản

lý tiền mặt cũng như công tác quản lý các khoản nợ đến hạn trả của doanhnghiệp

Nhóm các chỉ tiêu hoạt động

Là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp Để nângcao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sửdụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp Vì thếdoanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả hoặc loại

bỏ chúng đi Hệ số hoạt động đôi khi còn gọi là hệ số hiệu quả hoặc hệ sốluân chuyển Do đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì người ta thường

sử dụng các chỉ tiêu sau đây:

+ Vòng quay các khoản phải thu

Các khoản phải thu là các khoản bán chịu mà doanh nghiệpchưa thu tiền do thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưathanh toán các khoản trả trước cho người bán…

Doanh thu thuần Vòng quay các khoản phải thu =

Các khoản phải thu bình quân

Vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việckhách hàng thanh toán các khoản nợ cho doanh nghiệp Khi khách hàng thanhtoán các khoản nợ đã đến hạn thì lúc đó các khoản phải thu đã quay được mộtvòng

+ Kì thu tiền bình quân

Kì thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịucủa doanh nghiệp Nếu vòng quay các khoản phải thu cao quá thì sẽ làm giảmsức cạnh tranh, làm giảm doanh thu

Trang 20

Các khoản phải thu

Kỳ thu tiền bình quân =

Doanh thu bình quân 1 ngày

Khi phân tích hệ số này, ngoài việc so sánh các năm, so sánh với cácdoanh nghiệp cùng ngành, doanh nghiệp cần xem xét kỹ lưỡng tong khoảnphải thu để phát hiện những khoản nợ đã quá hạn để có biện pháp xử lý kịpthời

+ Chu kỳ thu tiền

360

Chu kỳ thu tiền =

Vòng quay các khoản phải thu

Chỉ tiêu này cho ta biết tốc độ chuyển đổi nợ phải thu từ khách hàngthành tiền trong quỹ của doanh nghiệp là bao lâu Chỉ tiêu này càng nho thìtình hình kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại

+ Vòng quay hàng tồn kho

Vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn để đánh giá doanhnghiệp sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào

Doanh thu thuần

Vòng quay của hàng tồn kho =

Hàng tồn kho bình quân

Hàng tồn kho bình quân là bình quân số học của vật tư hàng hoá dự trữđầu và cuối kỳ

Trang 21

Các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất luôn phải tính đến mức dự trữbởi doanh nghiệp không thể nào đến lúc sản xuất mới mua nguyên vật liệu.

Để tránh trường hợp bị ứ đọng thì doanh nghiệp phải có trước mộtlượng vật tư hàng hoá vừa phải bởi nếu quá nhiều doanh nghiệp sẽ mất khoảnchi phí để bảo quản vật liệu Nếu lượng vật tư quá ít không đủ cho sản xuất sẽdẫn đến tình trạng tắc nghẽn ở các khâu tiếp theo

Như vậy chỉ tiêu này rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó quyếtđịnh thời điểm đặt hàng cũng như mức dự trữ an toàn cho doanh nghiệp.Vòng quay càng cao thể hiện khả năng sử dụng tài sản lưu động cao

Vòng quay dự trữ, tồn kho cao thể hiện được khả năng sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp tốt, có như vậy mới đạt được mục tiêu mà doanhnghiệp đặt ra Chỉ tiêu này cao phản ánh được lượng vật tư, hàng hóa đượcđưa vào sử dụng cũng như được bán ra nhiều, như vậy là doanh thu sẽ tăng vàđồng thời lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được cũng tăng lên.Vòng quay hàngtồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm của tong ngành nghề kinhdoanh, phụ thuộc vào mặt hàng kinh doanh

+ Chu kỳ lưu kho

Trang 22

+ Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn trong kỳ đem lại baonhiêu đơn vị doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sửdụng tài sản ngắn hạn càng cao

Doanh thu thuần

Lợi nhuận trước thuế + lãi vay

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =

Lãi vay

Hệ số nay cho biết lợi nhuận trước thuế bao gồm lãi vay của doanhnghiệp có đảm bảo khả năng thanh toán lãi vay hay không

Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời.

+ Hệ số sinh lời của tài sản lưu động

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản lưu động Nó cho biết mỗiđơn vị tài sản lưu động có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sauthuế

Trang 23

Lợi nhuận sau thuế

Hệ số sinh lời của TSNH =

TSNH bình quân trong kỳ

Tài sản lưu động bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sảnngắn hạn có ở đầu và cuối kỳ Chỉ tiêu này cao phản ánh lợi nhuận sau thuếcủa doanh nghiệp cao, các doanh nghiệp đều mong muốn chỉ số này càng caocàng tốt vì như vậy đã sử dụng được hết giá trị của tài sản ngắn hạn Hiệu quảcủa việc sử dụng tài sản ngắn hạn thể hiện ở lợi nhuận của doanh nghiệp, đâychính là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được Kết quả này phản ánhhiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng tài sảnngắn hạn nói riêng Với công thưc trên ta thấy, nếu tài sản ngắn hạn sử dụngbình quân trong kỳ thấp mà lợi nhuận sau thuế cao thì hiệu quả sử dụng tàisản ngắn hạn cao

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.

Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, ngoàiphân tích các chỉ tiêu nói trên, chúng ta cũng cần nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng chúng Nếu kết hợp được như vậy sẽ giúp cho cácnhà quản trị doanh nghiệp đưa ra chính sách quản lý và sử dụng tài sản lưu thông một cách hiệu quả nhất

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhưng về cơ bản có 2 nhóm nhân tố chính là các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan

1.3.1 Nhân tố chủ quan

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn chịu sự tác động củanhiều nhân tố Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh

Trang 24

nghiệp, ngoài việc sử dụng những chỉ tiêu trên đây ta phải nghiên cứu nhữngnhân tố tác động từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế những tác động khôngtốt và phát huy thêm những tác động tích cực.

Các nhân tố chủ quan là những nhân tố xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp

1.3.1.1 Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Với mục đích sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp sẽ quyếtđịnh trong việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh Sảnphẩm của mỗi doanh nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệpchu kỳ sản xuất dài nhưng doanh nghiệp khác chu kỳ sản xuất lại ngắn, điều

đó có ảnh hưởng đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụngtài sản ngắn hạn Để đi vào sản xuất thì lượng tài sản ngắn hạn cần đưa vào làbao nhiêu, mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo như thế nào, lượng tiềnmặt doanh nghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn tuỳ thuộc vàotừng doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dàithì thời gian thu hồi vốn càng lâu, nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làmcho chu kỳ kinh doanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản ngắn hạn nhanhhơn Vòng quay tài sản ngắn hạn tăng tức là việc tiêu thụ hàng hóa cũng tănglên và như vậy doanh thu tăng lên, làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp cũngtăng Điều đó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tăng

1.3.1.2 Cơ sở vật chất của doanh nghiệp

Đây là nhân tố hết sức quan trọng, bởi ngoài việc nguyên vật liệu tốt thì

để có được những sản phẩm tốt thì điều quan trọng là doanh nghiệp phải cónhững thiết bị máy móc tốt Một doanh nghiệp có được những trang thiết bị tốt

sẽ làm cho các khâu sản xuất trở nên dễ dàng hơn Cùng chất lượng nguyên vậtliệu nhưng nếu doanh nghiệp nào trang bị tốt, máy móc đưa vào dây truyền sảnxuất những thiết bị công nghệ cao sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng,đồng thời làm cho các công đoạn của quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng

Trang 25

hơn, ngược lại với máy móc không tốt sẽ không tận dụng được hết giá trị củanguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng, nhưvậy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn không cao.

Với những sản phẩm tốt thoả mãn được thị hiếu người tiêu dùng sẽ làmcho giá trị của hàng hoá tăng lên, sản phẩm sẽ được tiêu thụ nhanh chóng, doanhthu của doanh nghiệp tăng lên thúc đẩy quá trình sản xuất và như vậy vòng quaycác khoản phải thu, vòng quay tài sản ngắn hạn cũng tăng lên

Với mục tiêu của các doanh nghiệp là đáp ứng tốt cầu người tiêu dùngthì việc ra quyết định đổi mới trang thiết bị máy móc đưa công nghệ hiện đại

là việc làm hết sức cần thiết, nó không những làm tăng hiệu quả sử dụng tàisản ngắn hạn mà còn tạo thêm đà phát triển cho doanh nghiệp trong tương lai

Ta thấy rằng, nếu cơ sở vật chất doanh nghiệp được trang bị tốt nhưvậy sẽ làm cho chi phí tăng lên do đó lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được sẽgiảm đi, khi đó hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn giảm Nhưng đó không phải

là kết quả cuối cùng mà nó đem lại, bởi thông thường mỗi một doanh nghiệpđều trải qua các giai đoạn nhất định, ban đầu có thể doanh nghiệp đầu tưnhiều song nó luôn hướng tới một mục tiêu trong tương lai, giai đoạn đầu cóthể thua lỗ song giai đoạn tiếp theo doanh nghiệp sẽ thu hồi lại vốn và lợinhuận đạt được tăng cao

1.3.1.3 Trình độ cán bộ công nhân viên

Để việc sử dụng tài sản ngắn hạn đạt hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệpphải có những cán bộ quản lý giỏi, công nhân viên có trình độ tay nghề cao.Người quản lý phải nắm bắt rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp, sau mỗichu kỳ hoạt động phải phân tích để đánh giá xem hiệu quả sử dụng tài sảnngắn hạn ra sao, từ đó đưa ra các kế hoạch trong những chu kỳ tiếp theo.Trong quá trình sản xuất để tận dụng hết nguyên vật liệu thì người công nhânphải có chuyên môn giỏi, đặc biệt việc sử dụng máy móc thiết bị hết sức quan

Trang 26

trọng, máy móc thiết bị ngày càng hiện đại đòi hỏi đội ngũ sử dụng nhữngloại máy móc thiết bị đó cũng phải được đào tạo có chuyên môn, có kỹ thuật.

Các nhà quản lý phải hiểu biết ý nghĩa, vai trò của từng loại tài sảnngắn hạn, đối với nguyên vật liệu sản xuất thì phải biết điểm đặt hàng khi nàocũng như mức dự trữ an toàn của doanh nghiệp là bao nhiêu

Nhận thức về việc cấp tín dụng thương mại cho các doanh nghiệp rõ hơn, nếucác doanh nghiệp coi việc cấp tín dụng thương mại cho khách hàng như làmột hình thức chiếm dụng vốn và thắt chặt việc cấp tín dụng thương mại thì

có thể sẽ gây nên ảnh hưởng xấu cho doanh nghiệp, trước hết đó là việc tiêuthụ hàng hoá giảm làm cho doanh thu của doanh nghiệp thấp, sau đó là doanhnghiệp sẽ không mở rộng được đối tượng khách hàng của mình Nếu khôngbiết tận dụng những lợi thế của tín dụng thương mại có thể doanh nghiệp sẽmất đi nhiều cơ hội của mình đặc biệt trong canh tranh, các doanh nghiệp cầnphải biết dựa vào các doanh nghiệp khác, có sự hỗ trợ lẫn nhau để có thể đứngvững trên thị trường

Các nhà quản lý luôn luôn coi trọng tín dụng thương mại, mở rộng mốiquan hệ với khách hàng tạo dựng niềm tin cho họ Các nhà quản lý cũng phảiluôn quan tâm tới việc giữ tiền mặt hay đầu tư Như phần trước ta thấy việcnắm giữ tiền mặt là cần thiết, nhưng nhà quản lý phải phân tích được nhữngdiễn biến trong doanh nghiệp cũng như môi trường bên ngoài từ đó ra quyếtđịnh nên giữ một lượng tiền mặt là bao nhiêu, có nên đầu tư vào chứng khoánthanh khoản cao hay không, số lượng như thế nào.Phải luôn đánh giá đượcdiễn biến của thị trường nhận biết được các nhân tố tác động như lãi suất, tỷgiá, lạm phát, chỉ số chứng khoán đưa ra các phương án một cách hiệu quả

Như vậy nhân tố con người có tác động rất lớn tới hiệu quả sử dụng tàisản ngắn hạn do đó các doanh nghiệp phải biết đào tạo bồi dưỡng các cán bộgiỏi

Trang 27

Để có được tài sản lưu động thì các doanh nghiệp có thể sử dụng vốnchủ sở hữu hoặc vay nợ Việc sử dụng nguồn nào có lợi hơn đòi hỏi có sựphân tích kỹ lưỡng của các nhà quản lý.

Tất nhiên việc sử dụng vốn chủ sở hữu thì an toàn cho doanh nghiệpnhưng doanh nghiêp có thể mất đi chi phí cơ hội nếu đem đầu tư vào một dự ánkhác, việc sử dụng nợ cũng không tránh khỏi những chi phí đó là lãi vay cũngnhư các rủi ro mà doanh nghiệp phải chịu nếu mất khả năng chi trả

Vậy khi nào doanh nghiệp nên sử dụng vốn chủ sơ hữu và khi nào nên

sử dụng nợ vay cũng như sự cân đối giữa hai nguồn này trong mỗi giai đoạnphát triển của doanh nghiệp là câu hỏi luôn được đặt ra cho các nhà quản trịtài chính

Trên đây là các nhân tố chủ quan hay các nhân tố bên trong doanhnghiệp, các doanh nghiệp cần phải biết những mặt tích cực và hạn chế của cácnhân tố đó để đưa ra các phương án chính sách hợp lý cho việc sử dụng tàisản ngắn hạn hiệu quả hơn

Như vậy mỗi nhân tố đều có tác động hai mặt tới hiệu quả sử dụng tàisản ngắn hạn của doanh nghiệp, do đó các nhà quản lý phải biết cách để làmsao nâng cao được những mặt tích cực và hạn chế được những mặt hạn chế

mà các nhân tố đem lại

Trang 28

nghiệp cố gắng điều chỉnh sao cho sự tác động đó ít gây ảnh hưởng xấu chodoanh nghiệp.

1.3.2.1 Sự quản lý của Nhà nước

Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗiloại hình doanh nghiệp mang một đặc thù riêng nó, Nhà nước có trách nhiệmquản lý các doanh nghiệp đó để nó đi vào hoạt động theo một khuôn khổ màNhà nước quy định

Nếu trước đây nền kinh tế nước ta là nền kinh tế tự cung tự cấp, chậmphát triển và rất lạc hậu, nhưng từ khi đổi mới dưới sự quản lý của Đảng vàNhà nước nền kinh tế nước ta đã và đang trên đà phát triển Nhà nước quản lýcác doanh nghiệp dưới các hình thức như văn bản pháp luật, cơ chế quản lýtài chính Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đềuphải tuân theo pháp luật mà Nhà nước đưa ra, từ khi bắt đầu thành lập đến khihoạt động và ngay cả giải thể hay phá sản doanh nghiệp đều phải tuân theochế độ hiện hành

Đảng và Nhà nước ban hành các luật lệ, chính sách nhằm mục đíchtránh sự gian lận, đảm bảo sự công bằng và an toàn trong xã hội

Khi Nhà nước quy định việc dán tem cho sản phẩm là để bảo vệ ngườitiêu dùng, hơn nữa tạo uy tín cho doanh nghiệp trong việc cung cấp sản phẩm,tránh hiện tượng hàng giả

Nhà nước ban hành thuế giá trị gia tăng để thay thế cho thuế doanh thu,thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho thuế lợi tức tác động rất lớn tới các hoạtđộng của doanh nghiệp Việc thay thế này nhằm khắc phục nhược điểm củaloại thuế cũ, mở rộng diện ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tạo điều kiện chodoanh nghiệp trong việc hạ giá bán, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp cả ở thị trường trong nước và nước ngoài, thúc đẩy việc mua bán cóhoá đơn chứng từ làm cho việc quản lý tài sản ngắn hạn trở nên hiệu quả hơn

Trang 29

Việc Nhà nước tăng thuế thu nhập doanh nghiệp gây ảnh hưởng trựctiếp đến doanh thu của doanh nghiệp, làm giảm lợi nhuận sau thuế của doanhnghiệp Đối với doanh nghiệp việc Nhà nước cắt giảm thuế xuất nhập khẩucũng đem lại nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Cơ hội là sảnphẩm của doanh nghiệp có thể thâm nhập vào thị trường nước ngoài màkhông hạn chế, cạnh tranh với sản phẩm các nước khác Nhưng một vấn đềđặt ra là liệu sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp có đủ chất lượng để có thểcạnh tranh với các nước khác Khi cắt giảm thuế rất dễ xảy ra hiện tượng nhậpsiêu lúc đó hàng hoá nước ngoài sẽ tràn ngập trong nước, lúc này sản phẩmcủa các doanh nghiệp sẽ được tiêu thụ ở đâu Các nhà hoạch định chính sáchphải tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển đặc biệt là chiếmlĩnh được thị trường trong và ngoài nước, chẳng hạn như Nhà nước có thể hỗtrợ vốn cho các doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp nâng cấp cơ sơ vật chất

kỹ thuật, đồng thời nâng cao chât lượng sản phẩm

1.3.2.2 Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

Để tồn tại được thì các doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh lẫn nhau.Cùng là các doanh nghiệp sản xuất ra một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệpnào có sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp thì sẽ thu hút được nhiều ngườimua Như vậy vấn đề của các doanh nghiệp là thu hút được khách hàng và tấtnhiên phần thắng sẽ thuộc về kẻ mạnh Hiện nay các doanh nghiệp luônhướng tới việc trọng cầu, việc đưa ra các phương thức về giá cả, mẫu mã, chấtlượng đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng luôn là vấn đề mà mọi doanh nghiệpphải quan tâm

Khi mà khoa học điện tử, công nghệ phát triển nhanh thì các sản phẩmtrước đây sẽ trở nên lạc hậu, thay vào đó là các sản phẩm có chất lượng cao.Chu kỳ sản xuất của các doanh nghiệp cũng tăng nhanh, sản phẩm sẽ thu hút

Trang 30

được đông đảo khách hàng, số lượng bán tăng, như vậy doanh nghiệp cũngphải thường xuyên thay đổi lượng tài sản ngắn hạn của mình sao cho hợp lý.

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ragay gắt nếu doanh nghiệp nào không biết cách đối phó dễ bị các doanh nghiệpkhác đánh bật ra khỏi thị trường

1.3.2.3 Nhu cầu của khách hàng

Nhu cầu khách hàng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết địnhcủa doanh nghiệp trong việc sản xuất ra loại sản phẩm gì, chất lượng ra sao,mẫu mã như thế nào

Nhu cầu của con người ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu đó thìdoanh nghiệp luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm Nếu nhưtrước đây cung có khi không đáp ứng đủ cầu nhưng hiện nay thì ngược lại,nhu cầu khách hàng ngày càng tăng nên doanh nghiệp cần có những biệnpháp để cung cấp thêm lượng sản phẩm, do đó mà lượng vật tư dự trữ đầu vàocũng tăng thêm, đồng thời việc cấp tín dụng thương mại cho khách hàng cũngcần được nới lỏng và điều đặc biệt là việc cung cấp sản phẩm tới tay kháchhàng Những doanh nghiệp mà đội ngũ nhân viên khéo léo, tận tình cộng vớicông tác xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm của mình để thâm nhập vàothị trường mới sẽ giúp doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm làm doanh thucủa doanh nghiệp tăng nhanh

Khách hàng luôn thích sự đổi mới do đó các nhà quản lý phải nắm bắtđược nhu cầu đó để mua sắm các nguyên vật liệu thích hợp, có thể dùng hẳnmột loại nguyên vật liệu mới song cũng có thể pha trộn giữa các nguyên vậtliệu tạo nên sự phong phú đa dạng về mặt hàng

Tóm lại nhu cầu khách hàng có tác động lớn tới việc ra quyết định sử dụngtài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, đồng thời cũng thúc đẩy các nhà quản lý đưa ramột phương thức để sử dụng tài sản ngắn hạn một các hiệu quả hơn

Trang 31

Trên đây là các nhân tố chính tác động tới hiệu quả sử dụng tài sảnngắn hạn nhưng bên cạnh đó doanh nghiệp cần quan tâm tới các nhân tố khácnhư thiên tai, dịch bệnh

Chẳng hạn thiên tai xảy ra, với các doanh nghiệp sản xuất thì nhữngnguyên vật liệu khó bảo quản sẽ bị hư hỏng, doanh nghiệp sẽ phải ngừng sảnxuất nếu không không cung cấp kịp thời đủ nguyên vật liệu Hay dịch bệnh xảy

ra, nếu như trước đó lượng hàng dự trữ là khá lớn, sản phẩm tiêu thụ nhanh thìđến nay nhu cầu về loại hàng hoá đó sẽ không như trước, vì vậy doanh nghiệp

sẽ phải hạn chế lượng dự trữ, đồng thời sản xuất ra các mặt hàng khác thay thếđáp ứng nhu cầu thị trường Cần phải có sự linh hoạt trong việc giải quyết cácvấn đề, mặc dù những yếu tố tác động đó ngoài tầm kiểm soát, không lườngtrước và ngăn chặn được nhưng các doanh nghiệp phải biết cách điều chỉnhnhững khó khăn do các nhân tố đem lại

Vấn đề lạm phát, các doanh nghiệp cấp tín dụng thương mại phải luônlưu ý, nếu lạm phát xảy ra, khoản phải thu của doanh nghiệp hiện tại sẽ khôngcòn giá trị so với khoản phải thu trước thời kỳ lạm phát Do đó sẽ không cólợi cho doanh nghiệp, doanh nghiệp cần đưa ra thời hạn thu hồi để tránh sựtổn thất do không thu hồi lại được những khoản phải thu

Vấn đề tỷ giá, đối với các doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là cácdoanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng tỷ giá thay đổi cũng làm thay đổilượng hàng hoá sản xuất, xuất nhập khẩu, nếu tỷ giá tăng thì sẽ thúc đẩy xuấtkhẩu và ngược lại Như vậy việc tăng hay giảm tỷ giá sẽ ảnh hưởng lớn tớiviệc ra quyết định sản xuất nhiều hay ít của các doanh nghiệp

Vấn đề tỷ giá liên quan đến hiện tượng Dumping mà như ta đã biết, nóđem lại những thuận lợi song gây ra nhiều khó khăn mà ta không lường trướcđược

Trang 32

Việc phân tích những nhân tố tác động này sẽ giúp các nhà quản lý cóđược những phương hướng, sách lược để sử dụng tài sản ngắn hạn một cáchhiệu quả.

Trang 33

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA

CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN HIPT 2.1 Khái quát về công ty cổ phần tập đoàn HiPT

2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển

Công ty cổ phần tập đoàn HiPT là một trong những tập đoàn tin học hàng đầu tại Việt Nam, chuyên cung cấp các sản phẩm và giải pháp công nghệ thông tin tiên tiến và phù hợp nhằm phát huy tối đa hiệu quả công việc của khách hàng, mang lại giá trị to lớn cho khách hàng và cho HiPT Group, cũng như cho các thành viên của HiPT Group

Được thành lập vào năm 1994 với tên gọi công ty TNHH Hỗ trợ và phát triển tin học (HiPT) theo:

Nhân dân Thành phố Hà Nội cấp

 Giấy đăng kí kinh doanh số 044123 ngày 18/6/1994 do trọng tài kinh tế

500000000 đồng lên 5120000000 đồng Năm 2003 công ty rời trụ sở chính vềtòa nhà HANEC tại: 152 Thụy Khuê – Tây Hồ – Hà Nội Không ngừng mở rộng quy mô, gia tăng về vốn và lĩnh vực kinh doanh, đến tháng 6 năm 2006 công ty đổi tên thành công ty cổ phần tập đoàn HiPT ( HiPT Group )

Trang 34

2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh

Chuyên cung cấp các sản phẩm và giải pháp công nghệ thông tin tiên tiến, được thiết kế riêng cho từng khách hàng theo tiêu chuẩn hàng đầu thế giới nhằm phát huy tối đa hiệu quả công việc và thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu:

 Cung cấp các giải pháp công nghệ thông tin

Là nhà cung cấp các thiết bị và giải pháp được ủy quyền của các hãng công nghệ thông tin hàng đầu thế giới như: HP, Oracle, Exact

software, CISCO, Stratus Technologies, Microsoft…, HiPT là một trong số các nhà cung cấp các sản phẩm cũng như giải pháp công nghệthông tin và truyền thông chất lượng, uy tín hàng đầu tại Việt Nam

 Cung cấp các thiết bị tin học

Là nhà cung cấp các thiết bị tin học như: máy chủ, máy trạm, máy xách tay, máy in, scanner…, cho đối tượng khách hàng là các cơ quan nhà nước, các công ty lớn, vừa và nhỏ cũng như cho các cá nhân có nhu cầu

Phương châm hoạt động của HiPT là: công nghệ tiên tiến, giải pháp phù hợp HiPT đã kết hợp công nghệ và giải pháp hàng đầu thế giới vào thị trường Việt Nam cùng với đội ngũ kỹ thuật tay nghề cao, thường xuyên được đào tạo, cập nhật kiến thức, HiPT đã đang thực hiện các giải pháp và dịch vụ tich hợp hệ thống đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng trên toàn lãnh thổ Việt Nam

Nâng cao hệ thống quản lý tài liệu và quản lý quy trình công việc, nâng cao năng lực hoạt động cho các thư viện Việt Nam, Ngân hàng Việt Nam…

Trang 35

 Cung cấp dịch vụ tin học – viễn thông

HiPT cung cấp đầy đủ các dịch vụ tin học, viễn thông chất lượng cao, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của khách hàng Dịch vụ bao gồm: hoạch định, thiết kế, triển khai, đánh giá, quản trị cho hạ tầng mạng

LAN/Wan/Wirelees, các hệ thống máy trạm, thiết bị ngoại vi, an toàn

dữ liệu…

HiPT cung cấp một hệ thống các chương trình đào tạo về thiết

bị ,mạng,quản trị hệ thống…Cho khách hàng để giúp họ có thể tự vận hành máy móc, quản trị mạng và thay đổi hệ thống, các chương trình đào tạo có thể được tổ chức tại chỗ hoặc tập trung theo lớp

Hoạt động trong lĩnh vực tin học, công ty HiPT nhận thức rất rõ rằng công tác bảo hành tốt cụ thể là khắc phục nhanh chóng các sự cố xảy

ra đảm bảo cho các thiết bị tin học của khách hàng luôn ở trong tình trạng hoạt động tốt là phương châm hoạt động của HiPT

Các kỹ thuật viên của công ty thường xuyên được đào tạo, cập nhật kiến thức tại các khóa học trong và ngoài nước do hãng Hewlett-

Packard (HP) và các hãng sản xuất thiết bị có liên quan tổ chức Nhiều nhân viên của HiPT đã được hãng cấp chứng chỉ quốc tế về bảo hành các sản phẩm

Trang 36

Nhiệm vụ

Là đơn vị chuyên cung cấp các mặt hàng và các dịch vụ về công nghệ tin học công ty có mục tiêu là phát triển mạng lưới cung cấp sản phẩm rộng khắp cả nước để phục vụ tối đa nhu cầu của khách hàng trên thị trường hiện tại cũng như tiềm năng Vì vậy, công ty thực hiện các nhiệm vụ chung của công ty:

 Mua bán các mặt hàng về tin học

 Quản lý tốt chi phí để góp phần bảo toàn vốn và phát triển doanh

nghiệp

 Thực hiện phân phối theo vốn góp cổ phần, chăm lo đời sống vật chất

và tinh thần của công nhân viên chức, bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, chuyên môn cho cá nhân công nhân viên

 Bảo vệ công ty, giữ gìn an ninh trật tự an toàn công ty

 Đẩy mạnh áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nângcao hiệu quả trong các hoạt động kinh doanh

 Chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc, chế độ quản lý của nhà nước

và các cơ quan quản lý cấp trên

2.1.3 Sơ đồ bộ máy tổ chức

Bộ máy quản lý của công ty cổ phần tập đoàn HiPT được xây dựng trên cơ sở mô hình trực tuyến chức năng Đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật của công ty có 300 người, trong đó bao gồm: Hội đồng quản trị, tổng giám đốc, các giám đốc, khối phòng ban chức năng, các phong ban, cửa hàng bán lẻ

Tổ chức bộ máy của công ty bao gồm các bộ phận kinh doanh

và bộ phận chức năng

Trong đó:

 Đội ngũ nhân viên phần cứng làm nhiệm vụ triển khai và bảo hành

Ngày đăng: 24/04/2013, 21:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.5:   Cơ cấu các khoản phải thu - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công ty xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Hà nội
Bảng 2.5 Cơ cấu các khoản phải thu (Trang 45)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w