Có thể coi vốn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp và doanh nghiệp phải làm sao đảm bảo hiệu quả trong huy động vốn, hiệu quả trong sử dụng vốn.
Trang 1MỞ ĐẦU
Có thể coi vốn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp và doanh nghiệp phảilàm sao đảm bảo hiệu quả trong huy động vốn, hiệu quả trong sử dụng vốn Mộtthực trạng đang được đặt ra đối với chúng ta là hầu hết các doanh nghiệp tưnhân đều đang ở tình trạng thiếu vốn, đặc biệt với các doanh nghiệp cổ phần hoánhư hiện nay.Ngoài phần vốn cá nhân , thì các doanh nghiệp phải luôn tìm cáchhuy động các nguồn vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD)của mình Nhưng huy động vốn không có nghĩa là tìm mọi cách để có vốn màkhông tính đến hiệu quả của nó Mặt khác, việc huy động vốn từ các nguồn cũngkhông phải là đơn giản mà ngược lại, còn có rất nhiều khó khăn vướng mắc.Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần thang máy và xây dựng tàinguyên em nhận thấy doanh nghiệp hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn vềvấn đề huy động vốn Trước tình hình đó, bằng những kiến thức đã được học tậptại nhà trường và thực trạng tại doanh nghiệp em đã lựa chọn đề tài:
"Giải pháp mở rộng huy động vốn tại Công ty cổ phần thang máy và xây dụng tài nguyên" cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Nội dung khoáluận gồm 3 chương:
Chưong 1: Lý luận chung về vốn trong hoạt động của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Công ty cổ phần thang máy vàxây dựng tài nguyên
Chương 3: Giải pháp mở rộng huy động vốn tại Công ty cổ phần thangmáy và xây dựng tài nguyên
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 Khái niệm và phân loại vốn 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Phân loại 4
1.2 Sự cần thiết phải huy động vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp .6
1.2.1 Đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp 7
1.2.2 Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 9
1.2.3 Đối với việc tăng tài sản của doanh nghiệp 11
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp 12
1.3.1 Quy mô của doanh nghiệp 12
1.3.2 Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp 14
1.3.3 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 15
1.3.4 Uy tín của doanh nghiệp 15
1.3.5 Tình hình thị trường 16
1.3.6 Cơ chế chính sách của nhà nước 16
1.4 Các tiêu chí đo lường độ an toàn vốn của doanh nghiệp 17
1.5 Các kênh huy động vốn mà doanh nghiệp có thể tiếp cận 19
1.5.1 Kênh huy động vốn từ nội bộ doanh nghiệp 19
1.5.2 Kênh huy động vốn từ bên ngoài 24
1.6 Yêu cầu với việc huy động vốn 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THANG MÁY VÀ XÂY DỰNG TÀI NGUYÊN 37
2.1 Khái quát về Công ty cổ phần thang máy và xây dựng tài nguyên 37
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty cổ phần thang máy và xây dựng tài nguyên 37
Trang 32.1.2 Chức năng và nhiệm vụ 38
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ các phòng ban của Công ty cổ phần thang máy và xây dựng tài nguyên 40
2.1.4 Tình hình kinh doanh của công ty những năm gần đây 43
2.2 Tình hình huy động vốn của Công ty cổ phần thang máy và xây dựng tài nguyên 45
a Nguồn vốn chủ sở hữu 46
2.3 Đánh giá thực trạng huy động vốn tại công ty 49
2.3.1 Thành tựu dạt dược và nguyên nhân 49
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 50
CHƯƠNG 3 :GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THANG MÁY VÀ XÂY DỰNG TÀI NGUYÊN 52
3.1 Định hướng kinh doanh của công ty trong thời gian tới 52
3.2 Giải pháp mở rộng huy động vốn tại công ty 54
3.2.1 Mở rộng hình thức tăng cường huy động vốn 54
3.2.2 Bổ sung vốn lưu động 55
3.2.3 Sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có và tiết kiệm chi phí 55
3.2.4 Sắp xếp lại công ty nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trên thị trường 55
3.2.5 Trẻ hoá đội ngũ cán bộ công nhân viên,nâng cao tay nghề chuyên môn 56
3.2.6 Giải quyết các vướng mắc trong thế chấp cầm cố, bảo lãnh vốn vay ngân hàng 56
3.2.7 Tăng cường quản lý tài chính 57
3.2.8 Phát triển và hoàn thiện các tổ chức ngân hàng 57
3.3 Một số kiến nghị với Nhà nước 59
3.3.1 Cần nhanh chóng xây dựng một thị trường tài chính hoàn chỉnh 59
3.2.2 Ban hành các quy định pháp luật về cơ chế tín dụng thương mại 59
3.2.3 Ban hành các chính sách bảo hộ hàng hoá trong nước 60
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 4CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN TRONG HOẠT
ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP.
1.1 Khái niệm và phân loại vốn.
1.1.1 Khái niệm.
Vốn trong hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiệnnay không chỉ bao gồm giá trị của tiền nói chung mà vốn ở đây còn bao gồm cảvật chất như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu… Nếu hiểutheo nghĩa rộng hơn thì vốn ở đây còn có thể bao gồm cả vốn con người theo đóthì vai trò của con người ngày càng trở lên quan trọng đặc biệt là khi chúng tasắp bước vào nền kinh tế tri thức một nền kinh tế phát triển thì theo đó chất xámcon người là một nguồn vốn vô cùng quan trọng và quý giá nhiều khi vốn bằngtiền tệ cũng chưa sánh được so với nguồn vốn con người, vốn tri thức
Nhưng trong đề tài này thì chỉ đi vào tìm hiểu phân tích về vồn theo nghĩahẹp là vốn tiền tệ và vật chất Vì vậy hiểu theo nghĩa hẹp một cách đơn giản nhấtthì vốn là toàn bộ giá trị của tiền và vật chất được ứng ra ban đầu và quá trìnhtiếp theo để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Phân loại.
Nhưng như trên đã nói thì ở đây vốn cũng có rất nhiều loại bao gồm vốnvật chất và vốn tri thức Hay như bên trong doanh nghiệp thì vốn cũng có baogồm hai loại vốn chính là vốn chủ sở hữu và vốn đi vay Hoặc cũng có thể phânthành vốn cố định và vốn lưu động
Theo cách phân loại về nguồn hình thành thì bao gồm:
- Vốn chủ sở hữu là lượng vốn mà chủ doanh nghiệp bỏ ra trong quá trìnhhình thành doanh nghiệp và được tích luỹ dần trong quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh mà thuộc quyền sở hữu và sử dụng của doanh nghiệp Vốn chủ sởhữu này được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
Trang 5nghiệp Bản thân bên trong vốn chủ sở hữu cũng bao gồm nhiều loại như khấuhao, lợi nhuận để lại, quỹ dự phòng…
Theo đó thì lợi nhuận để lại là phần còn lại của kết quả quá trình hoạt độngsản xuất kinh doanh sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí
và các khoản khác như phần nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hay là phần lợinhuận dùng để chia cổ tức cho các cổ đông Phần lợi nhuận để lại này đượcdoanh nghiệp giữ lại dùng để tiếp tục đầu tư vào quá trính sản xuất kinh doanhtrong chu kỳ tiếp theo của quá trình sản xuất, nhằm làm tăng lượng vốn chủ sởhữu của doanh nghiệp Đây cũng là một phần vốn rất quan trọng của doanhnghiệp
Khấu hao là phần giá trị của tài sản cố định mà doanh nghiệp đã đầu tưtrong quá trình sản xuất nó là nhà xưởng máy móc, thiết bị, công cụ dụng cụ…phần khấu hao này chính là lượng vốn mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trìnhsản xuất
Còn quỹ dự phòng đây cũng chính là một phần của khoản lợi nhuận để lạicủa doanh nghiệp nhưng phần vốn này không được dùng để đầu tư trực tiếp vàoquá trình sản xuất mà thay vào đó nó được dùng trong những trường hợp đặcbiệt như khi có sự sụt giá hay việc kinh doanh bị thua lỗ thì phần quỹ dự phòngnày được dùng để bù đắp những thiệt hại do thua lỗ hay do trượt giá gây ra
- Vốn đi vay là lượng vốn mà doanh nghiệp đi vay từ bên ngoài để phục vụcho quá trình sản xuất kinh doanh Vì không một doanh nghiệp nào có thể hoạtđộng với 100% lượng vốn tự có của mình được mà bao giờ họ cũng có nhữngkhoản vốn đi vay để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh Vốn đi vay này baogồm rất nhiều nguồn khác nhau như vốn vay tín dụng ngân hàng là lượng vốn
mà doanh nghiệp đi vay từ các tổ chức tài chính tín dụng trong và ngoài nước vàphải chịu lãi suất đi vay Hay vốn vay tín dụng thương mại là lượng vốn màdoanh nghiệp vay của các đối tác kinh doanh như là mua nguyên vật liệu chịu
mà chưa thanh toán ngay cho bên đối tác mà hẹn thanh toán sau có thể là sau
Trang 6mỗi chu kỳ kinh doanh hay sau khi bán được hàng… Hay là vốn vay từ pháthành cổ phiếu đây cũng là một hình thức đi vay khác của doanh nghiệp nhưngđây là vay một cách gián tiếp bằng cách phát hành cổ phiếu vì vậy ở đây doanhnghiệp không chỉ vay của các tổ chức tín dụng tài chính mà còn vay của các đốitác, quần chúng nhân dân các nhà đầu tư chứng khoán Vì khi phát hành cổphiếu ra thị trường chứng khoán thì cổ phiếu đó sẽ không chỉ được nhân dânmua, những nhà đầu tư chứng khoán mua mà nó còn có thể được các tổ chức tàichính hay là các đối tác mua Vốn có được từ việc phát hành trái phiếu theo đóthì lượng vốn mà doanh nghiệp có được là thông qua việc phát hành trái phiếuvay nợ ra thị trường vốn để thu hút vốn từ các tầng lớp dân cư Hay là vốn cóđược từ liên doanh, liên kết theo đó thì doanh nghiệp sẽ có vốn khi tiến hànhliên doanh liên kết với bên ngoài Với hình thức liên doanh liên kết này thì vừa
có vốn để hoạt động lại vừa có thể tham gia được vào thị trường mới hay làgiảm thiểu rủi ro của doanh nghiệp khi thất bại sẽ không phải chịu tất cả thua lỗ
mà có doanh nghiệp khác cùng chia sẻ
Phân loại theo tính chất hoạt động thì có vốn cố định và vốn lưu động:
- Vốn cố định là lượng vốn ứng ra ban đầu để đầu tư vào tài sản cố địnhnhư nhà xưởng, máy móc… nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Vốn cố định có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sảnxuất, được khấu hao vào từng sản phẩm trong quá trình sản xuất
- Vốn lưu động là số tiền ứng trước để đầu tư vào tài sản lưu động, tài sảnlưu thông nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp diễn ra bìnhthường
1.2 Sự cần thiết phải huy động vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Có thể nói vốn đối với từng doanh nghiệp là rất quan trọng nó quyết địnhđến sự hoạt động suôn sẻ của doanh nghiệp.Mặc dù để có thể để doanh nghiệphoạt động một cách suôn sẻ thì cần phải có nhiều yếu tố cùng tham gia vào trong
Trang 7đó vốn là quan trọng, nó được coi như là máu đối với mỗi doanh nghiệp, vì chỉkhi có vốn doanh nghiệp mới có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanhđược Có vốn doanh nghiệp mới có thể thực hiện các hợp đồng, ký kết các hợpđồng kinh doanh liên kết, có vốn thì doanh nghiệp mới có thể mua sắm trangthiết bị, thay thế các trang thiết bị cũ, đổi mới công nghệ sản xuất, trả lương chocông nhân… Theo đó thì vốn có vai trò quan trọng đối với các hoạt động sau.
1.2.1 Đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Hoạt động đầu tư là hoạt động rất quan trọng thông qua hoạt động đầu tư
mà doanh nghiệp có thể tăng trưởng và phát triển Đầu tư ở đây có thể là đầu tưvào một dự án kinh doanh mới hay là đầu tư vào mua sắm trang thiết bị mới, xâydựng nhà xưởng… Nhưng để có thể tiến hành hoạt động đầu tư thì doanh nghiệpcần phải có vốn Vốn như là dòng máu mang dinh dưỡng đến nuôi cơ thể vậy.Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp như là hoạt động nhằm làm tăng tiềm lựccho doanh nghiệp, làm tăng quy mô của doanh nghiệp nhờ có hoạt động đầu tư
mà doanh nghiệp có thể lớn mạnh, có thể tham gia được vào nhiều các lĩnh vựckinh doanh khác nhau… Nhưng quyết định đầu tư còn phụ thuộc vào vốn màdoanh nghiệp có Theo đó thì vốn có những vai trò sau:
Quy mô của vốn mà doanh nghiệp có và có thể huy động sẽ quyết định đếnkhả năng đầu tư vào dự án kinh doanh của công ty, quyết định đến quy mô của
dự án kinh doanh hay phạm vi của dự án Vì khi công ty muốn quyết định đầu tưvào một hoạt động mới hay một dự án kinh doanh mới thì yêu cầu đầu tiên màdoanh nghiệp cần cân nhắc là lượng vốn cần phải có để đầu tư vào dự án, quy
mô của vốn sẽ quyết định đến quy mô của dự án vì ta không thể đầu tư vào một
dự án lớn khi mà ta không có đủ vốn cần thiết, nếu như ta cố tình đầu tư thìtrong quá trình hoạt động sẽ liên tục xảy ra tình trạng thiếu vốn từ đó sẽ dẫn đếntình trạng dự án sẽ không thể hoạt động suôn sẻ, ảnh hưởng đến tính khả thi của
dự án thậm chí nó còn gây thiệt hại tới doanh nghiệp Vì vậy khi quyết định đầu
tư thì công ty bao giờ cũng cân nhắc tới yếu tố vốn
Trang 8Thêm vào đó quy mô vốn cũng ảnh hưởng tới phạm vi của dự án Vốn cànglớn thì dự án đầu tư sẽ có phạm vi càng rộng và ngược lại nếu mà quy mô vốnnhỏ thì phạm vi hoạt động của dự án sẽ thu hẹp từ đó mà ảnh hưởng tới sự thànhcông của dự án đầu tư Vì khi mà dự án có quy mô lớn nó sẽ đem đến nhiều cơhội cho doanh nghiệp có thể thu được doanh thu và lợi nhuận lớn từ đó sẽ làmcho doanh nghiệp tăng trưởng nhanh hơn, tiềm lực của doanh nghiệp cũng cóthể được tăng lên nhưng ngược lại khi quy mô vốn nhỏ dẫn đến quy mô dự ánnhỏ không đủ bao phủ thị trường nó sẽ hạn chế khả năng của doanh nghiệp, tạo
cơ hội cho các doanh nghiệp khác tham gia vào thị trường từ đó sẽ có sự cạnhtranh lớn đối với doanh nghiệp Quy mô vốn cũng sẽ quyết định đến độ dài của
dự án đầu tư Vì có nhiều dự án đầu tư không thể chỉ có đầu tư trong một kỳ sảnxuất mà nó còn có thể được đầu tư qua nhiều kỳ kinh doanh Vì vậy cần phải cólượng vốn lớn, dự án càng lâu thì lượng vốn yêu cầu cần có để đầu tư càng lớn.Nói tóm lại thì quy mô của vốn mà doanh nghiệp có và có thể huy động cóvai trò quyết định đến các dự án đầu tư Doanh nghiệp nào có quy mô vốn cànglớn thì dự án đầu tư càng có quy mô phạm vi lớn và ngược lại
Tiềm lực vốn mà doanh nghiệp có sẽ quyết định đến khả năng đầu tư củadoanh nghiệp như để có thể tham gia vào một lĩnh vực kinh doanh mới hay là
mở rộng thị trường hoạt động hiện có thì cần có vốn để có thể tiến hành các hoạtđộng xúc tiến thị trường Để có thể tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mới thìdoanh nghiệp cần phải tiến hành nhiều công việc như là mua sắm trang thiết bị,tuyển dụng nhân công hay là tiến hành khảo sát thị trường nhưng để có thể làmđược những việc đó thì doanh nghiệp cần có vốn để mua sắm máy móc thiết bịhay thuê nhân công… Đấy là trường hợp doanh nghiệp muốn tự mình tham giathị trường mới Hoặc doanh nghiệp có thể tiến hành liên doanh liên kết với cácdoanh nghiệp khác để cùng tham gia vào thị trường mới, nhưng cho dù là doanhnghiệp liên doanh này hiện đang hoạt động ở thị trường mà doanh nghiệp muốnxâm nhập hay là doanh nghiệp ở thị trường khác thì khi tiến hành liên doanh liên
Trang 9kết thì doanh nghiệp cũng cần phải có vốn đối ứng để tham gia vào liên doanh,
vì nếu không có vốn đối ứng chúng ta sẽ không thể tiến hành liên doanh được,quy mô vốn góp của mỗi bên sẽ quyết định đến vai trò của doanh nghiệp trongliên doanh này, doanh nghiệp có quy mô vốn càng lớn thì càng có vai trò quyếtđịnh, vai trò lớn Vì vậy mà tiềm lực vốn của doanh nghiệp sẽ quyết định đếnkhả năng tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mới của doanh nghiệp
Thêm vào đó thì khi doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào thìluôn muốn mở rộng thị trường hoạt động của mình vì khi thị trường càng được
mở rộng thì quy mô của doanh nghiệp càng lớn lên, sức mạnh của doanh nghiệpcàng được củng cố… nhưng để có thể mở rộng thị trường, tăng doanh thu và lợinhuận thì doanh nghiệp cần phải có đầu tư vào hoạt động xúc tiến thị trường,đầu tư trang thiết bị máy móc, nghiên cứu để có thể nâng cao chất lượng sảnphẩm, giảm giá thành và chi phí sản xuất để có thể cạnh tranh Vì vậy nếu cótiềm lực vốn lớn doanh nghiệp sẽ có thể có ưu thế trong cạnh tranh trên thịtrường nhờ có vốn mà doanh nghiệp có thể đi trước đầu tư vào công nghệ mới
để chiếm lĩnh thị trường, mở rộng thị trường
Nói chung thì với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp cho dù đó là đầu tưvào dự án kinh doanh hay là đầu tư để tham gia lĩnh vực kinh doanh mới, hoặc
mở rộng thị trường thì yếu tố vốn là rất quan trọng nó quyết định đến sự thànhbại của hoạt động đầu tư
1.2.2 Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì vốn cũng cóvai trò quyết định đến, vì hoạt động sản xuất kinh doanh muốn được diễn ra thìcần phải có máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, công nhân… Vì vậy cần có vốn
để đầu tư vào những nhân tố sản xuất đó Đồng thời vốn cũng có vai trò quyếtđịnh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Vòng quay của vốn sẽ quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh củacông ty Nếu vòng chu chuyển vốn càng ngắn thì điều đó chứng tỏ hoạt động
Trang 10sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả Vì vòng quay của vốn ở đây chính
là nói lên vòng quay của sản phẩm, khi mà vốn được thu hồi càng nhanh chứng
tỏ rằng sản phẩm được sản xuất ra không bị tồn kho mà được tiêu thụ trên thịtrường nhờ đó mà vốn không bị ứ đọng mà luôn được luân chuyển nhờ đó sẽ tạo
ra được nhiều doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng ngược lại khi mà vòng quaycủa vốn chậm thì nó sẽ phần nào nói lên thực trạng hoạt động của doanh nghiệp,
nó sẽ nói lên những khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp khi mà sản phẩm sản xuất ra bị tồn kho không tiêu thụ được Nhưngvòng quay của vốn dài hay ngắn cũng tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như lĩnh vựcsản xuất kinh doanh và đặc tính của sản phẩm Vì có nhiều lĩnh vực hoạt động
mà cần có đầu tư lớn mà vốn thu hồi có thể kéo dài qua nhiều chu kỳ kinh doanhnhư ngành xây dựng… thì cần phải đầu tư nhiều mà quá trình xây dựng lại diễn
ra dài ngày lên vòng quay vốn của ngành sẽ dài hơn nhưng cũng có nhữngngành mà trong một chu kỳ sản xuất thì vốn được chu chuyển nhiều lần đặc biệttrong những ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm nên trong nhữngngành này vốn có vòng quay càng ngắn thì hiệu quả sản xuất kinh doanh củacông ty càng cao Nhưng nói chung dù trong ngành nào thì nếu có vòng chuchuyển vốn càng ngắn thì càng có hiệu quả
Quy mô của vốn cũng sẽ quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Vìnếu có quy mô vốn lớn, tiềm lực vốn mạnh thì doanh nghiệp càng có nhiều điềukiện để trang bị máy móc thiết bị hiện đại vào sản xuất nhờ đó mà có thể nângcao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm nhờ đó sẽtạo được ưu thế cạnh tranh trên thị trường cho doanh nghiệp trước các doanhnghiệp khác Nhờ có vốn mà doanh nghiệp cũng có thể tiến hành các hoạt độngxúc tiến thị trường, quảng bá sản phẩm rộng rãi hơn trên thị trường… Vì khi mà
có sản phẩm chất lượng tốt và giá cả hấp dẫn rồi thì vẫn chưa đủ mà thêm vào
đó thì khâu xúc tiến thị trường là rất quan trọng nó quyết định đến sự thành côngcủa sản phẩm nó sẽ góp phần làm cho mọi người biết về sản phẩm để có thể
Trang 11mua sản phẩm Nhưng để làm được những việc như tăng chất lượng sản phẩm,giảm giá thành, xúc tiến thị trường thì cần phải có vốn.
Nhìn chung thì vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh là rấtquan trọng ngoài yếu tố con người ra thì vốn là rất quan trọng nó quyết định đếnhiệu quả hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh, nói lên sự hiệu quả tronghoạt động của doanh nghiệp
1.2.3 Đối với việc tăng tài sản của doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp cũng chính là lượng vốn mà doanh nghiệp có, ởđây tài sản chính là biểu hiện về mặt vật chất của vốn Số lượng tài sản màdoanh nghiệp có cũng nói lên được tiềm lực của doanh nghiệp, nói lên quy môcủa doanh nghiệp và trình độ năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vì vậy mà việc tăng tài sản của doanh nghiệp luôn được doanh nghiệp tiến hànhqua các kỳ sản xuất kinh doanh, nó được tiến hành thường xuyên liên tục trongmỗi doanh nghiệp Nhưng việc tăng tài sản của mỗi doanh nghiệp cũng cần phải
có vốn vì tài sản ở đây là trang thiết bị máy móc nhà xưởng… đều cần có vốn.Nguồn vốn sẽ quyết định đến khả năng mua sắm tài sản mới của công ty.Việc mua sắm tài sản mới sẽ góp phần làm tăng tài sản của công ty nhưng để cóthể mua được tài sản mới thì công ty cần có được một lượng vốn nhất định.Doanh nghiệp một khi muốn mua sắm thêm tài sản mới để nâng cao năng lựcsản xuất kinh doanh của công ty, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thìđiều đầu tiên là phải cân nhắc tới số lượng vốn mà doanh nghiệp hiện có và cóthể huy động để mua sắm, việc mua sắm tài sản mới này cũng như là một dự ánđầu tư vậy do vậy mà yếu tố vốn có vai trò quyết định đến việc đầu tư mua sắmtài sản mới
Việc mua sắm tài sản để thay thế các tài sản cũ hỏng không thể dùng đượcnữa cũng thường được diễn ra trong mỗi doanh nghiệp điều này cũng làm ảnhhưởng tới nguồn vốn của doanh nghiệp vì việc mua sắm tài sản để thay thế nàycũng cần có vốn để tiến hành
Trang 12Nói tóm lại dù hoạt động nào trong doanh nghiệp thì cũng cần có vốn đểhoạt động, vốn như là dòng máu trong cơ thể để cho công ty có thể hoạt độngđược suôn sẻ Vốn có vai trò quan trọng quyết định đến mọi hoạt động trongdoanh nghiệp từ hoạt động đầu tư mua sắm tài sản mới hay là đầu tư vào mộtlĩnh vực kinh doanh mới cũng như các hoạt động thường xuyên là hoạt động sảnxuất kinh doanh
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp.
Việc huy động vốn trong doanh nghiệp cũng có những khó khăn, thuận lợinhất định Tuỳ thuộc vào từng thời điểm mà việc huy động vốn trong doanhnghiệp có thể được tiến hành thuận lợi hay không Có rất nhiều nguyên nhân ảnhhưởng tới khả năng huy động vốn cho doanh nghiệp Đó là những nhân tố sau
1.3.1 Quy mô của doanh nghiệp.
Quy mô của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng huy động vốncủa doanh nghiệp Thứ nhất nếu quy mô của doanh nghiệp lớn thì khả năng huyđộng vốn của doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn so với doanh nghiệp có quy mô nhỏ.Khi doanh nghiệp có quy mô lớn điều đo đồng nghĩa với việc doanh nghiệp làm
ăn với quy mô lớn doanh thu hàng năm sẽ lớn từ đó dẫn đến việc lợi nhuận đểlại sẽ lớn làm cho lượng vốn tích luỹ qua các năm sẽ lớn Trái lại khi mà quy môdoanh nghiệp nhỏ thì ta không thể mong chờ có được một mức doanh thu và lợinhuận cao để có được tích luỹ vốn lớn đưa vào đầu tư được Từ đó mà khả nănghuy động vốn từ nguồn lợi nhuận để lại của những doanh nghiệp lớn luôn có ưuthế so với các doanh nghiệp nhỏ khác
Mặt khác là doanh nghiệp có quy mô lớn điều đó cũng đồng nghĩa với việcgiá trị tài sản mà doanh nghiệp có sẽ lớn hơn so với các công ty vừa và nhỏ Đây
là một thuận lợi lớn cho các công ty lớn khi đi vay tín dụng ngân hàng vì khi đivay tín dụng ngân hàng thì bao giờ ngân hàng cũng căn cứ vào giá trị tài sản mà
Trang 13công ty có để cho vay vốn, ta không thể vay vốn với số lượng lớn khi mà phầngiá trị tài sản của công ty nhỏ bé Vì vậy mỗi khi đi vay tín dụng ngân hàng cáccông ty lớn với giá trị tài sản lớn của mình có thể đem ra thế chấp để vay được
số lượng vốn lớn cần thiết để cung cấp vốn cho những hoạt động đầu tư củamình nhưng trái lại với các công ty vừa và nhỏ thì việc vay tín dụng ngân hàngmột khối lượng vốn lớn là không dễ dàng khi mà giá trị tài sản mà công ty cóchưa nhiều nên chưa thể tạo được lòng tin đối với ngân hàng để cho vay
Một điểm mạnh nữa của những doanh nghiệp có quy mô lớn là doanhnghiệp có quy mô vốn lớn thì thường hoạt động trong nhiều lĩnh vực, hoạt độnglâu trên thị trường nên có được lòng tin của khách hàng và các đối tác nên họ cóthể tiến hành vay tín dụng thương mại từ các đối tác cũng trở lên dễ dàng Họ cóthể thoả thuận với bên đối tác kể cả bên cung cấp và bên phân phối cho vaynhững khoản vay tín dụng thương mại một cách dễ dàng hơn điều đó sẽ tạo lợithế cho họ trong việc huy động vốn
Một doanh nghiệp có quy mô vốn lớn cũng có thuận lợi hơn các công tyvừa và nhỏ khác trong việc vay vốn từ kênh huy động vốn phát hành cổ phiếuhay trái phiếu Vì muốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ra thị trường thì điềuđầu tiên cần phải đáp ứng được là quy mô vốn của doanh nghiệp phải đủ lớn để
có thể phát hành trái phiếu nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp.Khi mà doanh nghiệp có quy mô lớn thì cũng đảm bảo lòng tin đối với nhữngnhà đầu tư khi mà các công ty lớn định phát hành trái phiếu, rõ ràng khi phải lựachọn giữa hai loại trái phiếu thứ nhất là của một công ty vừa và nhỏ và một bên
là của một công ty lớn thì chúng ta thường có xu hướng chọn trái phiếu củadoanh nghiệp có quy mô lớn tất nhiên sự lựa chọn này còn phụ thuộc vào cácyếu tố khác như là uy tín của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp… Với doanh nghiệp có quy môvốn lớn thì nguồn quỹ dự phòng mà công ty có chắc chắn cũng sẽ lớn điều đóthuận lợi cho doanh nghiệp khi muốn huy động vốn từ nguồn này khi mà doanh
Trang 14nghiệp thiếu vốn họ có thể tạm thời dùng nguồn vốn của quỹ dự phòng này để
bù đắp vào chỗ thiếu và đến cuối kỳ sẽ hoàn trả vào
1.3.2 Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực mà có tỷ suất lợi nhuận cao, thịtrường lớn và ổn định thì khả năng huy động vốn cũng sẽ cao hơn Rõ ràng khi
mà hai doanh nghiệp có cùng quy mô thì yếu tố lĩnh vực hoạt động sẽ quyếtđịnh đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Công ty nào đang hoạt độngtrong những ngành mà có lợi nhuận cao, những ngành hấp dẫn thì sẽ thu hútđược rất nhiều nhà đầu tư quan tâm từ đó mà dẫn đến khả năng huy động vốncũng sẽ cao hơn còn trái lại doanh nghiệp doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnhvực mà lợi nhuận thấp, chi phí cao thì việc thu hút vốn, thu hút các nhà đầu tưthường là khó khăn hơn
Thêm vào đó thì việc hoạt động trong những lĩnh vực kinh doanh mới làmột ưu thế lớn cho các doanh nghiệp khi thu hút đầu tư Khi một ngành mớixuất hiện chưa có nhiều nhà đầu tư tham gia vào nên thị trường còn rất lớn dovậy mà doanh nghiệp sẽ dễ dàng chiếm lĩnh thị trường từ đó mà có được doanhthu và lợi nhuận lớn, dễ dàng huy động vốn từ nội bộ Đến khi các công ty khácbắt đầu quan tâm vào lĩnh vực mới này thì doanh nghiệp đã nắm chắc được thịtrường từ đó tạo được ưu thế trước các doanh nghiệp khác trong cạnh tranh, dễdàng thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào doanh nghiệp hay tiến hành liên doanhgóp vốn với doanh nghiệp… lĩnh vực hoạt động ở đây cũng liên quan đến thịtrường hoạt động và những nhà cung ứng đối tác cho doanh nghiệp
Với một lĩnh vực hoạt động có thị trường rộng lớn, tiềm năng thì khả năngthu hút vốn đầu tư vào đó là cao hơn rất nhiều khi mà ta hoạt động trong mộtngành mà thị trường nhỏ hẹp không thu hút được sự quan tâm của những nhàđầu tư nên khả năng thu hút vốn đầu tư rất hạn chế Còn việc các nhà cung ứngđối tác cũng quan trọng vì nó quyết định đến các khoản vay tín dụng thương mạicủa doanh nghiệp
Trang 151.3.3 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Khi mà doanh nghiệp đang hoạt động tốt, hiệu quả sản xuất kinh doanh caothì khả năng huy động vốn của doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn rất nhiều đối vớinhững doanh nghiệp làm ăn đình đốn Khi mà doanh nghiệp hoạt động sản xuấtkinh doanh đạt hiệu quả điều đó đồng nghĩa với việc vòng quay của vốn đượcrút ngắn, vốn không bị ứ đọng làm cho vốn liên tục được đầu tư tiếp tục làmtăng giá trị đồng vốn Hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng đồng nghĩa với việcdoanh thu và lợi nhuân của công ty sẽ lớn làm cho phần lợi nhuận để lại củacông ty lớn thì sẽ tạo được nhiều tích luỹ hơn cho doanh nghiệp, tạo lên sốlượng vốn chủ sở hữu được gia tăng
Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao thì uy tín của doanh nghiệp cànglớn càng thu hút được nhiều nhà đầu tư quan tâm, chú ý Từ đó công ty sẽ dễdàng hơn khi mà kêu gọi các nhà đầu tư vào doanh nghiệp Khi hiệu quả sảnxuất kinh doanh cao thì việc đi vay tín dụng ngân hàng và vay tín dụng thươngmại cũng trở lên dễ dàng hơn vì khi sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao tạođược lòng tin đối với những nhà cho vay từ đó mà dễ dàng huy động vốn vào đểđầu tư vào những dự án kinh doanh của mình Còn trái lại khi mà sản xuất kinhdoanh không đạt hiệu quả, vốn bị ứ đọng không lưu thông được thì doanhnghiệp khó có khả năng huy động vốn lớn vì không thu hút được sự quan tâmcủa những nhà đầu tư, không tạo được niềm tin về khả năng thanh toán tớinhững nhà cho vay do vậy mà khó khăn hơn khi đi vay
1.3.4 Uy tín của doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khảnăng huy động vốn của doanh nghiệp Rõ ràng khi mà doanh nghiệp có được uytín trên thị trường tạo được niềm tin đối với khách hàng và đối tác, các nhà đầu
tư thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn khi thu hút đầu tư thu hút vốn Uy tín củadoanh nghiệp nhiều khi còn quan trọng hơn cả hiệu quả sản xuất kinh doanh hayquy mô của doanh nghiệp trong việc thu hút vốn đầu tư Vì hiệu quả hoạt động
Trang 16sản xuất kinh doanh là sự biểu hiện tại những thời điểm nhất định, không doanhnghiệp nào là có thể hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao trong suốtthời gian dài Nhưng uy tín của doanh nghiệp thì khác nó được xây dựng quanhiều giai đoạn, phải được tạo dựng rất lâu vì vậy mà uy tín của doanh nghiệp sẽgóp phần quan trọng giúp doanh nghiệp huy động vốn.
Khi mà doanh nghiệp có uy tín lớn thì việc phát hành trái phiếu hay cổphiếu ra thị trường tài chính thì sẽ được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà đầu
tư trước những doanh nghiệp khác chưa có uy tín, hay uy tín còn chưa nhiều Uytín của doanh nghiệp như là một tài sản vô hình, nó được xây dựng qua thờigian, qua quá trình hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường, nó như làthương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường
1.3.5 Tình hình thị trường.
Với thị trường ổn định không có biến động, khủng hoảng thì khả năng huyđộng vốn của doanh nghiệp sẽ tốt hơn nhiều khi mà tình hình thị trường biếnđộng hay trở lên xấu đi Khi mà tình hình thị trường phát triển ổn định thì cácnhà đầu tư sẽ mở rộng đầu tư quan tâm nhiều đến lĩnh vực kinh doanh củadoanh nghiệp cũng như bản thân doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp sẽ dễ dànghuy động vốn từ các nhà đầu tư, kêu gọi vốn từ thị trường, vay vốn của các đốitác Nhưng mà khi thị trường diễn biến xấu đi, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp từ
đó các nhà đầu tư sẽ thu hẹp đầu tư dẫn đến việc huy động vốn của doanhnghiệp sẽ không thể được diễn ra một cách dễ dàng khi mà doanh nghiệp cũng
sẽ phải thu hẹp hoạt động, doanh thu và lợi nhuận giảm xuống là cho nguồn vốnnội bộ cũng sẽ giảm theo khiến cho khả năng huy động vốn bị ảnh hưởng
1.3.6 Cơ chế chính sách của nhà nước.
Khi mà nhà nước có chính sách thông thoáng, khuyến khích các doanhnghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thịtrường vốn Vì rõ ràng dù doanh nghiệp có quy mô vốn lớn hay nhỏ, hoạt độngtrong lĩnh vực kinh doanh nào… thì đều hoạt động trong khuôn khổ cơ chế
Trang 17chính sách của nhà nước vì vậy mà cơ chế chính sách của nhà nước là yếu tố rấtquan trọng giúp cho doanh nghiệp có thể phát triển được hay không Mỗi một cơchế chính sách mà nhà nước đưa ra đều có ảnh hưởng nhất định tới doanhnghiệp.
Khi mà chính sách đó đưa ra hợp lý, phù hợp với thị trường, phù hợp vớitiến trình phát triển thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, khuyếnkhích được các doanh nghiệp phát triển Đặc biệt là những chính sách về thịtrường tài chính và tiền tệ, chính sách về thuế thu nhập doanh nghiệp… nó sẽảnh hưởng rất nhiều tới doanh nghiệp, khi mà chính sách này phù hợp nó sẽkhuyến khích được doanh nghiệp phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho doanhnghiệp có thể huy động vốn để đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.Nhưng khi mà những chính sách này đưa ra không phù hợp, hạn chế thịtrường, hạn chế khả năng phát triển của doanh nghiệp thì nó sẽ làm cho doanhnghiệp không thể phát triển được khiến cho khả năng huy động vốn của doanhnghiệp bị hạn chế, doanh nghiệp không thể phát triển được
Nói tóm lại có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn củadoanh nghiệp Nó có thể là nhân tố khách quan hay chủ quan nhưng cho dù nó là
từ phía nào thì tuỳ vào từng điều kiện cụ thể mà có tác động khác nhau tới khảnăng huy động vốn của doanh nghiệp, có thể nó tạo thuận lợi trong lúc nàynhưng lại gây khó khăn trong lúc khác vấn đề là doanh nghiệp phải tìm cáchthích nghi với từng điều kiện nhất định, tận dụng những thuận lợi mà các nhân
tố này mang lại vào doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào điều kiện của doanh nghiệp mà
có giải pháp huy động vốn cho hiệu quả
1.4 Các tiêu chí đo lường độ an toàn vốn của doanh nghiệp.
Có rất nhiều tiêu chí đo lường độ an toàn vốn của doanh nghiệp nhưngtrong đề tài này xin nêu ra hai tiêu chí để đo lường độ an toàn vốn của doanhnghiệp
Trang 18Khả năng thanh toán hiện hành là mối quan hệ giữa tài sản lưu động doanhnghiệp đối với nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này nhằm đo lường khả năng đảm bảothanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động của công ty Nhữngbiện pháp cơ bản nhằm cải thiện chỉ tiêu này phải nhằm vào việc gia tăng nguồnvốn ổn định (vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn) thay cho các khoản nợ ngắn hạn.Tuy nhiên, đây chỉ là chỉ tiêu phản ánh một cách khái quát khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn và mang tính chất hình thức Bởi vì, một khi tài sản của công ty lớnhơn nợ ngắn hạn cũng chưa chắc tài sản lưu động của công ty đủ đảm bảo thanhtoán cho các khoản nợ ngăn hạn nếu như tài sản này luân chuyển chậm, chẳnghạn như tồn kho ứ đọng không tiêu thụ được, các khoản phải thu ứ đọng khôngthu tiền được Vì vậy khi phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn trên cơ sở đảmbảo của tài sản lưu động ta cần phân tích chất lượng của các yếu tố tài sản lưuđộng của công ty qua các chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân, vòng quay hàng tồnkho
Khả năng thanh toán hiện hành/ Nợ ngắn hạn = TSLĐ
Giá trị khả năng thanh toán hiện hành phải ≥ 1, nếu không thì doanh nghiệpkhông có khả năng thanh toán vì khi chỉ số này nhỏ hơn 1 có nghĩa là số tài sảnlưu động mà doanh nghiệp có hiện tại nhỏ hơn số nợ ngắn hạn của doanh nghiệpkhiến cho khả năng thanh toán của công ty bị hạn chế Hệ số này phụ thuộcvào đặc tính của mỗi ngành Giá trị tối ưu của tỷ số khả năng thanh toán hiệnhành theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế là từ 2 – 2,5
Khả năng thanh toán nhanh là tỷ lệ được tính bằng cách chia các tài sảnquay vòng nhanh cho tổng nợ ngắn hạn Nó cho biết khả năng hoàn trả cáckhoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tồn kho)
Khả năng thanh toán nhanh/ Nợ ngắn hạn = TSLĐ - Tồn kho
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng doanh nghiệp có thể thanh toán ngay cáckhoản nợ ngắn hạn, căn cứ vào những tài sản lưu động có khả năng chuyểnthành tiền một cách nhanh chóng Không có cơ sở để yêu cầu chỉ tiêu này phải
Trang 19lớn hơn 1 vì trong các khoản nợ ngắn hạn, có những khoản đã và sẽ đến hạnngay thì mới có nhu cầu thanh toán nhanh, những khoản chưa đến hạn chưa cónhu cầu thanh toán ngay.
Chỉ tiêu nợ ngắn hạn trên tổng nợ/ Tổng nợ = Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này nói lên số nợ ngắn hạn mà công ty hiện có chiếm bao nhiêuphần trăm trong tổng số nợ của công ty Từ đó mà công ty có chính sách điềuchỉnh những khoản vay ngắn hạn cho hợp lý cũng như là việc tiến hành vaythêm các khoản vay ngắn hạn Số nợ ngắn hạn không nên vượt quá 40% tổng nợnếu không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ cũng như hiệu quả sử dụngvốn của công ty
1.5 Các kênh huy động vốn mà doanh nghiệp có thể tiếp cận.
1.5.1 Kênh huy động vốn từ nội bộ doanh nghiệp.
Có rất nhiều kênh huy động vốn cho doanh nghiệp nó có thể là từ nội bộdoanh nghiệp hay là đi vay bên ngoài nhưng cho dù nó có nguồn gốc ở đâu thìdoanh nghiệp đều phải có những giải pháp để huy động sao cho hiệu quả Trong
đó kênh huy động vốn từ nội bộ doanh nghiệp là một kênh huy động vốn màđược các doanh nghiệp thường xuyên áp dụng Trong kênh huy động vốn này nóbao gồm các nguồn sau đây
1.5.1.1 Lợi nhuận để lại của công ty.
Lợi nhuận để lại chính là phần còn lại của kết quả quá trình hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi kỳ sản xuất, sau khi đã trừ đi phầnchi phí sản xuất, thuế thu nhập doanh nghiệp, phần chia cổ tức… Đây là mộttrong các nguồn vốn nội bộ quan trọng nhất Lợi nhuận để lại dùng để tái đầu tưvào việc thay thế và đầu tư mới vào máy móc thiết bị, mở rộng hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sáchtái đầu tư từ lợi nhuận để lại, tuy nhiên để có nguồn vốn này các doanh nghiệpphải kinh doanh có lãi Lợi nhuận để lại của doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả
Trang 20hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận để lại của doanh nghiệp có thể là lợinhuận gộp, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế và lợi nhuận để lại.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận để lại là phương thức tạo nguồn tài chính quantrọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp vì doanh nghiệp giảm được chi phí,giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài Tuy nhiên đối với các công ty cổ phần thìlợi nhuận để lại sẽ làm giảm bớt tiền lãi cổ phần (cổ tức) của các cổ đông nhưng
bù lại họ có quyền sở hữu cổ phần tăng lên của công ty
Kênh huy động vốn từ nguồn lợi nhuận để lại có thể phù hợp với tất cả cácdoanh nghiệp Vì không một công ty nào hoạt động trên thị trường mà không cónhững hoạt động tích luỹ vốn để nâng cao năng lực sản xuất cũng như là mởrộng quy mô của doanh nghiệp Thêm vào đó nó phù hợp với mọi công ty là vìphần lợi nhuận để lại này thuộc quyền sử dụng và sở hữu của công ty nên công
ty có thể dễ dàng sử dụng và tiếp cận, công ty có quyền quyết định sử dụng nónhư thể nào cho phù hợp với điều kiện của công ty cũng như là mục đích củacông ty
1.5.1.2 Vốn dự phòng.
Đây là phần vốn chủ sở hữu được tích luỹ từ lợi nhuận để chi trả các khoảnthua lỗ có thể của doanh nghiệp hoặc dự phòng giảm giá tồn kho, dự phòng nợphải thu khó đòi…
Việc huy động vốn từ nguồn quỹ dự phòng này có những ưu điểm sau
Ưu điểm thứ nhất của nguồn vốn từ quỹ dự phòng của công ty là việc huyđộng vốn từ phần quỹ dự phòng của công ty sẽ làm giảm chi phí cho công ty khibớt được chi phí trả lãi khi phải đi vay bên ngoài Nhờ có phần vốn từ nguồnquỹ dự phòng này mà công ty không phải đi vay phần vốn tương ứng từ cácnguồn khác nhờ đó sẽ làm giảm được các khoản nợ mà công ty phải chịu khiphải đi vay, và nhờ đó sẽ không phải chịu chi phí đi vay là trả lãi và còn các chi
Trang 21phí khác như là chi phí cho việc phát hành trái phiếu khi muốn vay vốn từ pháthành trái phiếu hay là chi phí cho phát hành cổ phiếu…
Ưu điểm thứ hai của nó là sẽ làm giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài vì khi
mà có phần vốn từ nguồn quỹ dự phòng này sẽ làm giảm tương ứng phần vốnphải đi vay từ bên ngoài từ đó làm giảm sự phụ thuộc Vì khi đi vay từ bên ngoài
dù nó là nguồn nào như vay tín dụng ngân hàng ta phải chịu những điều kiệnrằng buộc về thế chấp, những rằng buộc về lãi suất, thời gian trả lãi, thời hạn trảnợ… nó là một sự rằng buộc đối với doanh nghiệp, hay là đi vay tín dụngthương mại thì ta cũng phải chịu những điều kiện rằng buộc như thời hạn trảnợ…
Tuy nhiên nó cũng có những nhược điểm như là khối lượng huy động được
từ nguồn này phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp vì doanh nghiệp có quy
mô càng lớn thì quỹ dự phòng sẽ nhiều trong khi với những doanh nghiệp nhỏthì nguồn vốn này có thể không nhiều
Một nhược điểm nữa là khi dùng quỹ dự phòng vào làm vốn kinh doanhkhi xảy ra giảm giá hoặc kinh doanh thua lỗ ta sẽ không có nguồn để bù đắp.Việc sử dụng nguồn vốn dự phòng vào việc đầu tư cho các hoạt động củacông ty thường không được các công ty sử dụng thường xuyên vì nguồn vốn nàyđược sử dụng vào mục đích để bù đắp những khoản thua lỗ do kinh doanh thấtbại hay là thị trường biến động do vậy mà công ty không thể tiến hành huy độngnguồn vốn này ra sử dụng một cách tuỳ tiện được Thêm vào đó là đối với cáccông ty vừa và nhỏ thì nguồn vốn này thường không nhiều do vậy mà để huyđộng vào đầu tư cũng không thể thoả mãn được nhu cầu sử dụng vốn Và nguồnnày chỉ huy động khi mà công ty đang cần vốn và không thể huy động được từnguồn khác Do vậy mà với công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại kỹ thuậtđiện Hà Nội thì kênh huy động vốn này không được phù hợp
Trang 221.5.1.3 Khấu hao.
Khấu hao là việc sử dụng tài sản cố định vào quá trình sản xuất, việc tínhkhấu hao tuỳ thuộc vào từng công ty Trong đó có nhiều cách tính khấu hao như.Khấu hao đều là hình thức khấu hao bằng cách phân bổ chi phí mua sắmtheo thời gian sử dụng tài sản cố định Chi phí khấu hao được xác định bằngcách chia giá trị sổ sách của tài sản cho thời gian sử dụng tài sản cố định Cáchkhấu hao này tạo ra chi phí khấu hao cố định và bình quân theo thời gian
Khấu hao nhanh có thể giúp cho doanh nghiệp sớm khôi phục tài sản cốđịnh Theo phương pháp này, doanh nghiệp sẽ trích khấu hao nhiều vào các nămđầu sử dụng tài sản, sau đó chi phí khấu hao giảm dần cho những năm kế tiếp.Khấu hao cũng là một cách huy động vốn mà các công ty hay sử dụng.Nhưng việc khấu hao nhanh hay chậm thì tuỳ thuộc vào từng công ty cũng như
là lĩnh vực mà công ty hoạt động Khấu hao nhanh có thể giúp cho công ty sớmthu hồi vốn nhưng nó sẽ làm tăng giá thành sản phẩm giảm sự cạnh tranh củasản phẩm trên thị trường Còn khấu hao đều có thể làm cho giá thành sản phẩmkhông bị tăng lên cao nhưng nó sẽ làm gia tăng các hao mòn hữu hình và vôhình tới tài sản Cho nên việc chọn cách thức khấu hao nào phụ thuộc vào mụctiêu của công ty cũng như là lĩnh vực hoạt động Với công ty trách nhiệm hữuhạn thương mại kỹ thuật điện Hà Nội thì áp dụng hình thức khấu hao đều
1.5.1.4 Tăng vốn.
Tăng vốn là việc tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bằng cách huyđộng vốn từ các cổ đông cũ và mới Việc tăng vốn này của doanh nghiệp khôngthể diễn ra thường xuyên được vì ta không thể lúc nào cũng kêu gọi các cổ đôngđóng góp thêm vốn như vậy sẽ làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các cổ đôngtrong công ty Mặt khác khi huy động thêm vốn mới từ các cổ đông mới cũng sẽgặp phải khó khăn khi mà thêm cổ đông điều đó đồng nghĩa với việc làm giảm
cổ tức của các cổ đông cũ
Trang 23Tuy nhiên việc huy động vốn từ việc huy đông vốn góp của các cổ đông cónhững ưu điểm sau.
Ưu điểm thứ nhất của nguồn vốn từ việc huy động vốn của các cổ đông cũ
và mới của công ty là việc huy động vốn từ nguồn này của công ty sẽ làm giảmchi phí cho công ty khi bớt được chi phí trả lãi khi phải đi vay bên ngoài Nhờ
có phần vốn từ nguồn huy động thêm này mà công ty không phải đi vay phầnvốn tương ứng từ các nguồn khác nhờ đó sẽ làm giảm được các khoản nợ màcông ty phải chịu khi phải đi vay, và nhờ đó sẽ không phải chịu chi phí đi vay làtrả lãi và còn các chi phí khác như là chi phí cho việc phát hành trái phiếu khimuốn vay vốn từ phát hành trái phiếu hay là chi phí cho phát hành cổ phiếu…
Ưu điểm thứ hai của nó là sẽ làm giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài vì khi
mà có phần vốn từ nguồn huy động sự góp vốn của các cổ đông này sẽ làmgiảm tương ứng phần vốn phải đi vay từ bên ngoài từ đó làm giảm sự phụ thuộc
Vì khi đi vay từ bên ngoài dù nó là nguồn nào như vay tín dụng ngân hàng taphải chịu những điều kiện rằng buộc về thế chấp, những rằng buộc về lãi suất,thời gian trả lãi, thời hạn trả nợ… nó là một sự rằng buộc đối với doanh nghiệp,hay là đi vay tín dụng thương mại thì ta cũng phải chịu những điều kiện rằngbuộc như thời hạn trả nợ…
Ưu điểm thứ ba của nguồn vốn này là nó làm tăng vốn chủ sở của doanhnghiệp vì phần vốn từ tăng vốn này là vốn của doanh nghiệp do vậy mà nó làmtăng vốn chủ sở hữu
Không phải lúc nào cũng có thể huy động được vì việc huy động vốn từ các
cổ đông mới không phải là dễ dàng nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố thứ nhất
là cần phải có sự đồng ý của các cổ đông hiên thời của công ty Rõ ràng khi màkêu gọi thêm cổ đông mới gia nhập vào công ty thì sẽ có sự tranh chấp về quyềnlợi giữa các cổ đông cũ và mới khi mà phải xác định phương thức chia cổ tứccho các cổ đông cũ và mới sao cho hợp lý, bên cạnh đó còn có sự xung đột vềquyền lãnh đạo trong công ty giữa các cổ đông vì vậy mà việc kêu gọi thêm các
Trang 24cổ đông mới vào công ty cần có sự nhất trí của các cổ đông cũ Thêm vào đó làviệc muốn kêu gọi cổ đông mới gia nhập vào công ty thì ngoài sự đồng ý củahội đồng cổ đông ra còn có điều kiện nữa là kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty phải tốt Khi mà công ty có kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh tốt thì mới có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, họ mới có thể tham giavào công ty Ngược lại khi mà công ty hoạt động không tốt thì không dễ để kêugọi đầu tư.
Một nhược điểm khác của phương thức này là việc tăng vốn bằng việc kêugọi cổ đông mới vào sẽ làm giảm lãi cổ tức chia cho các cổ đông Thêm vào đó
là việc kêu gọi các cổ đông cũ đóng góp thêm vốn không phải lúc nào cũng làmđược ngay cả khi công ty đang hoạt đông tốt và có nhu cầu mở rộng
Việc tăng vốn hoạt động của công ty nhờ việc kêu gọi các cổ đông đónggóp thêm vốn vào công ty thường không thể tiến hành thường xuyên được vì nóvấp phải sự phản đối của các cổ đông Vì nó sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của họ Đốivới công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại kỹ thuật điện Hà Nội thì kênh huyđộng vốn này hiện nay chưa phù hợp vì công ty mới đi vào hoạt động chưa lâu
do vậy mà sẽ rất khó cho việc kêu gọi các cổ đông đóng góp thêm vốn Thêmvào đó thì quy mô của công ty còn nhỏ và số lượng cổ đông cũng không nhiều
do vậy mà nếu có kêu gọi đóng góp thêm vốn thì cũng không thể huy động đượcnhiều
1.5.2 Kênh huy động vốn từ bên ngoài.
Ngoài kênh huy động vốn từ nội bộ doanh nghiệp thì kênh huy động vốn từbên ngoài doanh nghiệp là rất quan trọng vì khi mà nguồn vốn từ nội bộ đã bịhạn chế, bó hẹp không thể phát triển thêm được nữa thì kênh huy động vốn từbên ngoài này là lối thoát tốt cho mỗi doanh nghiệp khi mà muốn huy động thêmvốn đầu tư vào các dự án đầu tư của mình theo đó thì kênh huy động vốn bênngoài này bao gồm các kênh chủ yếu sau đây
Trang 251.5.2.1 Phát hành cổ phiếu.
Là việc doanh nghiệp tiến hành phát hành cổ phiếu trên thị trường chứngkhoán để huy động vốn từ thị trường tài chính Việc phát hành cổ phiếu này cóthể là doanh nghiệp mới phát hành lần đầu lên thị trường chứng khoán hoặc làphát hành thêm cổ phiếu
Khi mà nhu cầu vốn của doanh nghiệp không được đáp ứng bởi nguồn vốnnội bộ, doanh nghiệp có thể thu hút nguồn vốn bằng cách phát hành cổ phiếu.Điều này sẽ làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Có ba loại cổ phiếu: cổ phiếu có tên, cổ phiếu ưu tiên và cổ phiếu phổthông Phát hành cổ phiếu sẽ làm giảm sở hữu của các cổ đông hiện tại của công
ty cổ phần, do vậy việc phát hành cổ phiếu phải được sự đồng ý của các cổđông
Việc phát hành cổ phiếu ra thị trường chứng khoán sẽ huy động được lượngvốn lớn Vì khi mà doanh nghiệp tiến hành phát hành cổ phiếu ra thị trườngchứng khoán sẽ thu hút được các nhà đầu tư quan tâm mua cổ phiếu của công ty
do vậy mà lượng vốn thu được từ việc phát hành cổ phiếu là tương đối lớn.Một ưu điểm nữa của việc phát hành cổ phiếu lá nó sẽ làm tăng vốn chủ sởhữu cho doanh nghiệp Vì khi mà doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ra bên ngoàicũng gần như việc doanh nghiệp kêu gọi thêm các cổ đông mới góp vốn vàocông ty chỉ có điều khác là những người nắm giữ cổ phiếu này không nằm trongban lãnh đạo công ty Nhờ có lượng vốn lớn này mà doanh nghiệp sở hữu thêmđược một lượng vốn lớn do vậy mà vốn chủ sở hữu của công ty được tăng lên.Việc phát hành cổ phiếu này vừa làm tăng vốn chủ sở hữu của công ty vừa giúpcho doanh nghiệp có được vốn để đầu tư vào các dự án kinh doanh hay mua sắmtài sản cố định mới… Vừa làm giảm tranh chấp về quyền lãnh đạo khi mà nhữngnhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu này không nằm trong ban lãnh đạo công ty
Trang 26Việc phát hành cổ phiếu ra thị trường chứng khoán dù là phát hành mới hay
là phát hành thêm thì nó đều gây tốn kém và mất thời gian Vì khi muốn pháthành cổ phiếu thì công ty phải tiến hành những khâu chuẩn bị nhất định, tiếnhành xin giấy phép với nhà chức trách và cũng phải tiến hành khảo sát thịtrường, xem phản ứng của các nhà đầu tư với cổ phiếu của công ty Do vậy mà
nó sẽ gây tốn kém cho công ty Thêm vào đó nó cũng phải tiến hành lâu dài vì takhông thể tiến hành nhanh chóng được
Một nhược điểm nữa là nó sẽ làm giảm giá trị thị trường của cổ phiếu củacông ty với những công ty đã tham gia thị trường chứng khoán thì khi mà pháthành thêm cổ phiếu cũng có nghĩa là làm tăng lượng cung cổ phiếu của công ty
nó sẽ rất dễ dẫn đến làm cho các cổ phiếu cũ và những cổ phiếu mới lên sàn bịgiảm giá từ đó mà dẫn đến làm cho uy tín của doanh nghiệp bị suy giảm nếu nhưtình trạng đó kéo dài
Việc phát hành cổ phiếu dù là mới hay là phát hành thêm cũng làm giảm sởhữu của các cổ đông cũ của công ty Vì khi phát hành cổ phiếu ở đây cũng chính
là phần sở hữu của các cổ đông trong công ty giảm xuống và nhường quyền sởhữu đó cho các cổ đông khác
Việc phát hành cổ phiếu thì thường có quy định về mặt pháp lý Vì nhànước cần có những chế tài quản lý để tránh những tình trạng các công ty pháthành quá nhiều cổ phiếu trong khi lượng vốn chủ sở hữu không đủ nó sẽ làmcho các nhà đầu tư gặp phải rủi ro khi đầu tư Vì vậy việc phát hành cổ phiếunày không phải lúc nào công ty cũng có thể tiến hành được
Việc phát hành cổ phiếu ra thị trường chứng khoán để huy động vốn đốivới công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại kỹ thuật điện Hà Nội hiện nay làkhông phù hợp vì:
Thứ nhất về mặt pháp lý thì chỉ có những công ty cổ phần mới có thể tiếnhành phát hành cổ phiếu để huy động vốn Nhưng hiện nay công ty lại là công tytrách nhiệm hữu hạn do vậy mà không phù hợp với việc phát hành cổ phiếu
Trang 27Thứ hai là nếu công ty muốn phát hành cổ phiếu thì trước tiên phải đáp ứnghai điều kiện là công ty phải tiến hành chuyển đổi thành công ty cổ phần và phải
có quy mô đủ lớn để có thể phát hành cổ phiếu Nhưng để đáp ứng điều kiện nàythì công ty gặp nhiều khó khăn do vậy mà nó không phù hợp với công ty
Vì vậy mà ít nhất trong thời gian hiện nay và trước mắt thì công ty khôngthể tiến hành huy động vốn từ nguồn này được
1.5.2.2 Góp vốn hiện vật.
Là việc tăng vốn cho doanh nghiệp bằng việc tăng lượng vốn bằng hiện vậtnhờ sự đóng góp của các cổ đông hoặc đối tác Đó là việc góp vốn bằng hiện vậtnhư là nhà xưởng, máy móc thiết bị… Nó cho phép doanh nghiệp thoả mãn nhucầu sử dụng vốn tức là làm tăng tài sản cố định của doanh nghiệp nhưng nókhông mang lại phương tiện tiền tệ cho doanh nghiệp
Việc góp vốn hiện vật này có ưu điểm là làm tăng tài sản cố định của doanhnghiệp mà doanh nghiệp không phải bỏ vốn ra mua Vì khi mà việc góp vốnbằng hiện vật này là nhà góp vốn đem những tài sản của mình góp vào công ty,
và công ty sẽ đánh giá xem phần tài sản đó đáng giá bao nhiêu để từ đó ghi nhậncho người góp vốn Việc góp vốn bằng hiện vật không những làm tăng tài sản cốđịnh của doanh nghiệp mà nó còn làm tăng tiềm lực cho doanh nghiệp
Tuy nhiên cũng có nhược điểm là việc góp vốn bằng hiện vật này khônglàm tăng được vốn lưu động cho doanh nghiệp
Việc huy động vốn từ nguồn này đối với công ty là chưa phù hợp vì công
ty hoạt động trong lĩnh vực xây lắp do vậy mà máy móc thiết bị là tài sản chủyếu Do vậy mà không có nhiều các cổ đông có thể có được các máy móc xâylắp để đóng góp vào cho công ty nên nhìn chung kênh huy động vốn này đốivới công ty thì việc sử dụng là rất hạn chế
Trang 281.5.2.3 Vay tín dụng ngân hàng.
Vay tín dụng ngân hàng chính là việc doanh nghiệp tiến hành đi vay vốncủa các tổ chức tài chính tín dụng, mà lượng vốn vay chủ yếu ở đây là vốn lưuđộng dưới dạng tiền tệ
Vay ngân hàng chính là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất,không chỉ đối với sự phát triển của bản thân doanh nghiệp mà còn đối với toàn
bộ nền kinh tế Vốn vay ngân hàng có thể là vay ngắn hạn dưới một năm thôngqua thị trường tiền tệ và vay dài hạn trên một năm thông qua thị trường vốn Việc sử dụng vốn vay ngân hàng có nhiều ưu điểm
Do các tổ chức tín dụng ngân hàng tài chính là những tổ chức chuyên chovay tiền tệ nên họ luôn có sẵn những lượng vốn lớn trong công ty do vậy mà họ
có thể sẵn sàng cho vay những khoản tiền lớn khi mà doanh nghiệp có nhu cầuchỉ cần doanh nghiệp đáp ứng được với những điều kiện mà các ngân hàng đưa
ra Do vậy đây là ưu điểm lớn nhất của hình thức này
Ưu điểm thứ hai là dễ dàng tiếp cận vì hiện nay hệ thống tài chính tín dụngkhá là phát triển khi mà có rất nhiều các ngân hàng cổ phần hoạt động trên thịtrường thêm vào đó là cơ chế chính sách khá là thông thoáng do vậy mà tạo điềukiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận kênh huy động vốn này.Với việc thủ tục vay vốn ngân hàng hiện nay đã dễ dàng hơn trước và việc thếchấp cũng dễ dàng hơn
Một ưu điểm nữa là việc vay tín dụng ngân hàng được coi như là một đònbẩy tài chính
Việc vay tín dụng ngân hàng thì doanh nghiệp phải chịu trả lãi ngân hàng
Vì các tổ chức tài chính tín dụng ngân hàng cũng là những công ty kinh doanhnhưng có điều khác là họ không phải kinh doanh hàng hoá dịch vụ đơn thuần mà
là họ kinh doanh tiền tệ do vậy mà lãi suất cho vay chính là giá của sản phẩm
mà họ cung cấp Từ việc phải trả lãi ngân hàng này mà sẽ làm tăng chi phí hoạt
Trang 29động của doanh nghiệp lên từ đó sẽ làm cho giá thành sản phẩm mà doanhnghiệp cung cấp cũng sẽ tăng lên Vì vậy doanh nghiệp càng đi vay nhiều từ các
tổ chức tín dụng ngân hàng thì sẽ không những làm tăng các khoản nợ của mình
mà còn sẽ chịu thêm phần chi phí trả lãi ngân hàng từ đó làm giảm lợi nhuận củacông ty
Một nhược điểm nữa là việc vay tín dụng ngân hàng này cũng phải chịunhững rằng buộc nhất định của các điều kiện cho vay Vì dù hiên nay cơ chếchính sách cho vay của các ngân hàng đã thông thoáng hơn nhưng các ngânhàng vẫn cần phải có sự đảm bảo do vậy mà khi cho vay các ngân hàng cũngphải đưa ra những điều kiện nhất định trong các khoản vay như là công ty phảitrả lãi như thế nào, cơ cấu lại công ty…
Một nhược điểm nữa của hình thức này là công ty khi đi vay cũng sẽ phảichịu sự kiểm soát của ngân hàng Vì ngân hàng cần có sự bảo đảm cho khoảnvốn vay của mình có thể được thanh toán do vậy mà ngân hàng phải kiểm soátlượng vốn cho vay của mình đảm bảo cho số vốn được dùng hiệu quả
Vay tín dụng ngân hàng là một trong những kênh huy động vốn được rấtnhiều các công ty áp dụng vì nó thường dễ tiếp cận và có thể vay được với sốlượng vốn tương đối nhiều Thêm vào đó thì kỳ hạn vay và phưong thức vaycũng tương đối phong phú do vậy mà có thể đáp ứng được nhu cầu của các công
ty Hiện nay thì công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại kỹ thuật điện Hà Nộicũng sử dụng hình thức huy động vốn từ nguồn này như là một trong nhữngkênh huy động vốn chủ yếu của công ty
1.5.2.4 Vay tín dụng thương mại.
Tín dụng thương mại hay tín dụng nhà cung cấp Nguồn vốn này hìnhthành một cách tự nhiên thông qua việc mua bán máy móc, trang thiết bị vànguyên nhiên vật liệu Đây cũng là một nguồn vốn quan trọng đối với các doanhnghiệp
Trang 30Tác động tích cực của nguồn vốn này là.
Nó sẽ thúc đẩy tiêu dùng hàng hóa Vì hình thức vay tín dụng thương mại
là vay của các đối tác, các nhà cung cấp hay là những nhà phân phối do vậy màlượng vốn vay này chủ yếu là vay vốn lưu đông như là nguyên nhiên vật liệuhay hàng hoá… Ở đây có thể là mua nguyên vật liệu của nhà cung ứng nhưngchưa thanh toán ngay mà hẹn thanh toán sau đây là việc mượn vốn để kinhdoanh do vậy mà nó sẽ thúc đẩy tiêu dùng hàng hóa vì như vậy hàng hoá sẽkhông bị tồn kho mà thay vào đó thì hàng hóa luôn được tiêu thụ Vì vậy nó kíchthích tiêu dùng hàng hoá không chỉ của doanh nghiệp mà còn của cả các nhàcung ứng
Bên cạnh đó nó còn đẩy nhanh quá trình tái sản xuất và lưu thông Chính làxuất phát từ ưu điểm ở trên mà nó kéo theo ưu điểm này vì khi mà việc tiêu thụhàng hóa được đẩy nhanh tức là quá trình tái sản xuất sẽ được diễn ra nhanhhơn, rõ ràng khi mà hàng hoá không tiêu thụ được bị tồn kho quá nhiều (loại trừyếu tố dự trữ) thì quá trình tái sản xuất sẽ không thể được diễn ra nhanh được vìvốn bị ứ đọng do vậy mà quá trình lưu thông vốn cũng được đẩy nhanh khi màquá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục
Một ưu điểm nữa là nó làm gia tăng vòng chu chuyển vốn Rõ ràng khi màhàng hoá được tiêu thụ một cách nhanh chóng, tiêu thụ hàng hóa được thúc đẩythì quá trình tái sản xuất được diễn ra nhanh hơn do vậy mà việc thu hồi vốncũng diễn ra nhanh hơn, khi mà quá trình tái sản xuất được rút ngắn đồng nghĩavới việc vòng chu chuyển vốn cũng được rút ngắn do vậy mà sẽ nâng cao đượchiệu quả đồng vốn
Thêm một ưu điểm nữa là nó sẽ nâng cao được hiệu quả đồng vốn Vì khi
mà hàng hóa được thúc đẩy tiêu thụ làm cho quá trình tái sản xuất được rútngắn, vốn được lưu thông liên tục vòng chu chuyển vốn được rút ngắn, mà mộttiêu chí để nói lên tính hiệu quả của đồng vốn chính là vòng chu chuyển vốn.Vòng chu chuyển vốn càng ngắn thì hiệu quả đồng vốn càng cao và ngược lại