Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Trang 1“Theo quan điểm cá nhân bạn trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 Việt Nam nên thu hút nguồn vốn FDI nhiều hơn hay ODA nhiều hơn.”
Bài làm:
I THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN FDI VÀ ODA TẠI VIỆT NAM
Tình hình thu hút và sử dụng vốn FDI tại Việt Nam
Khái niệm FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thứcđầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập
cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản
lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư vớinhững quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp)thu hút được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác Mụcđích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanhnghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”
Theo Luật Đầu tư 2005 đã định nghĩa: “FDI là việc nhà đầu tư nước ngoàiđưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu
tư theo quy định của Luật này”, trong đó nhà đầu tư nuo71c ngoài được hiểu là tổchức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI tại Việt Nam
Quy mô FDI tại Việt Nam
Ngày 29 tháng 12 năm 1987, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoàitại Việt Nam Hơn 20 năm qua (1988 – 2007) là một khoảng thời gian đủ dài đểđánh giá một cách khách quan, có căn cứ thực tế hoạt động FDI ở Việt Nam Từnăm 1988 –2007, hoạt động FDI trải qua các trạng thái khác nhau:
Từ năm 1988 đến 1990: là 3 năm đầu triển khai Luật, được coi là một thời kỳthử nghiệm, mò mẫm nên kết quả đạt được không nhiều, FDI chưa có tác dụng rõrệt đến tình hình kinh tế – xã hội ở Việt Nam Vào lúc này, ngoài việc có được Luậtđầu tư nước ngoài khá hấp dẫn và môi trường khá tự do trong đầu tư và kinh doanh,thì các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương chưa có được kinh nghiệmcần thiết đối với hoạt động FDI Các nhà đầu tư nước ngoài coi Việt Nam như “mộtvùng đất mới” cần phải thận trọng trong hoạt động đầu tư
Trang 2Cả ba năm cộng lại, cả nước thu hút được 211 dự án với số vốn đăng ký là1602.2 triệu USD và vốn pháp định 1279.7 triệu USD, còn vốn thực hiện thì khôngđáng kể, bởi vì các doanh nghiệp FDI sau khi được cấp giấy phép phải làm nhiềuthủ tục cần thiết mới đưa được vốn vào Việt Nam Bình quân 1 dự án có 7,4 triệuUSD vốn đăng ký và 4,7 triệu USD vốn pháp định Các lĩnh vực thu hút đầu tư chủyếu là khách sạn, du lịch, khai thác thăm dò dầu khí, công nghiệp chế biến nông lâmthuỷ sản, xây dựng (xem bảng 2.2).
BẢNG 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép từ năm 1988 đến năm 2007
Số dựán
Vốn đăng ký (triệu USD) Tổng số
vốnthựchiện(triệuUSD)Tổng số
Trong đó: Vốn pháp địnhTổng số
Chia raNước
ngoài góp
Việt Namgóp
Trang 3Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và đầu tư
Từ năm 1991 đến 1996 là thời kỳ FDI tăng trưởng nhanh, đạt kết quả caonhất trong năm 20 năm và góp phần ngày càng quan trọng vào việc thực hiện kinh
tế – xã hội Trong kế hoạch 5 năm 1991- 1995 thu hút được 17663 triệu USD vốnFDI đăng ký, tốc độ tăng trưởng hàng năm rất cao; Vốn đăng ký năm 1991 là1291.5 triệu USD thì vốn đăng ký năm 1995 là 6937.2 triệu USD gấp 5,4 lần Vốn
thực hiện trong cả 5 năm (1991 – 1995) là 17663 triệu USD, chiếm khoảng 32%
tổng đầu tư toàn xã hội Đã có khoảng 20 vạn người làm việc trong các doanhnghiệp FDI Đây là thời kỳ hoạt động FDI rất sôi động, hàng nghìn đoàn kháchquốc tế đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư, hàng trăm dự án mới chờ thẩm định,hàng chục nhà máy được khởi công cùng một lúc, bản đồ FDI thay đổi từng ngày ởViệt Nam
Giai đoạn 1997 – 2000 là thời kỳ suy thoái của dòng vốn FDI vào Việt Nam.Vốn đăng ký bắt đầu giảm từ năm 1997 và giảm mạnh trong 2 năm tiếp theo Nếunhư các doanh nghiệp FDI đã tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 20 vạn người trong
5 năm 1991 – 1995, thì trong 5 năm 1996 – 2000 chỉ có thêm 149 nghìn người có việc làmtrong khu vực FDI
Tình hình giảm sút FDI vào Việt Nam từ sau 1997 có nguyên nhân kháchquan gắn với cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực và tiếp đó là sự suy giảm kinh
tế của thế giới, nhất là của Mỹ, EU và Nhật Bản đã tác động tiêu cực đến nền kinh
tế Việt Nam, trước hết là xuất nhập khẩu, làm giảm rõ rệt lợi thế so sánh của Việt Namtrong đầu tư và thương mại quốc tế
Tuy vậy, cũng không thể phủ nhận một hiện thực “đáng buồn” đối với ViệtNam Đó là khi cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực xảy ra, mặc dù nằm ngoài
“tâm bão” nhưng Việt Nam lại là một trong những nước có FDI giảm sút mạnhnhất Trong 5 nước trực tiếp xảy ra khủng hoảng kinh tế, chỉ có Indonesia, nước có
cả bất ổn về chính trị là có tỷ lệ giảm FDI nhiều hơn Việt Nam Còn Thái Lan,Philippin và Hàn Quốc sau khủng hoảng, FDI đều tăng hơn trước Do vậy, tình hìnhgiảm sút FDI trong những năm gần đây ở Việt Nam chủ yếu là do nguyên nhân chủ
Trang 4quan từ hệ thống pháp luật thiếu minh bạch, nhất quán, cho đến việc thực thi phápluật không nghiêm minh, thủ tục hành chính phiền hà, chi phí đầu tư và kinh doanhtương đối cao, đã làm cho môi trường đầu tư ở Việt Nam kém hấp dẫn hơn trước.
Từ năm 2001 đến 2004 là thời kỳ hồi phục chậm của hoạt động FDI Tínhđến cuối năm 2004, tổng vốn đăng ký FDI ở Việt Nam là 4547.6 triệu USD và vốnthực hiện 2852.5 triệu USD Con số này cho thấy, sau nhiều năm luồng vốn FDIvào Việt Nam bị chững lại, năm 2004 đã có dấu hiệu hồi phục rõ rệt Những dấuhiệu lạc quan có thể minh chứng cho xu hướng phục hồi dòng vốn FDI vào ViệtNam, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á
Từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài đến hết năm 2005, đã có 7279 dự ánFDI được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 66,3 tỷ USD Hết năm 2005còn 6030 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký hơn 65 tỷ USD (kể cả tăngvốn) Tính riêng năm 2006, số dự án cấp mới là 833 dự án , chỉ bằng 86,1% so vớinăm 2005, với số lượng vốn đăng ký cấp mới là 7839 triệu USD bằng 166.6% sovới năm 2005 Số lượt dự án tăng vốn năm 2006 là 486 dự án với số vốn tăng thêm
là 2362.3 triệu USD Như vậy, so với năm 2005, số dự án cấp mới tuy có giảm đinhưng số lượng vốn đăng ký cấp mới lại tăng lên, chứng tỏ xu hướng dòng vốn FDIvào nước ta tiếp tục phục hồi và tăng trưởng, đạt mức kỷ lục kể từ sau khủng hoảngtài chính khu vực năm 1997
Kế hoạch năm 2007 đặt ra là thu hút hơn 12 tỷ USD Tuy nhiên, theo báo cáomới nhất của Bộ Kế hoạch và đầu tư tính đến thời điểm tháng 4/2007 đã có 40 dự
án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn lên đến 35 tỷ USD đang chuẩn bị vào ViệtNam Điều đáng nói là những dự án đầu tư nước ngoài này đều có số vốn khổng lồ
từ 1 tỷ USD trở lên, điều mà Việt Nam chưa bao giờ có kể từ khi thu hút đượcnhững dự án FDI đầu tiên năm 1987 Đứng thứ nhất trong bảng xếp hạng vẫn là dự
án xây dựng khu công nghệ kỹ thuật cao của Tập đoàn Foxconn (Hon Hai) ĐàiLoan, với số vốn lên đến 5 tỷ USD ở Bắc Ninh và Bắc Giang Dự án thép với tổngmức đầu tư dự kiến khoảng 3,75 tỷ USD tại Hà Tĩnh đang được nhà đầu tư nhưPosco - Hàn Quốc, Sunsteel - Đài Loan, Tata Steel và Essar (Ấn Độ), Bao Steel vàWuhan (Trung Quốc) quan tâm Có thể nói, nếu như Việt Nam thu hút được mộtphần các dự án này thì đã hoàn thành mục tiêu thu hút hơn 12 tỷ năm nay
Trang 51.1.2.2 Cơ cấu FDI theo lãnh thổ tại Việt Nam
Trên địa phương, đến nay có 65 tỉnh thành trong cả nước đã có dự án FDItriển khai thực hiện Cùng giống như tình hình thu hút FDI, vốn thực hiện chủ yếuđược phân bổ tại các tỉnh, thành phố có điều kiện kinh tế – xã hội thuận lợi Tronggiai đoạn 1988-2005, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có tổng vốn thực hiện cao nhấtvới 2057 dự án đầu tư chiếm 30.19% số dự án đầu tư trong cả nước, với tổng vốnđầu tư hơn 14 tỷ USD chiếm 23,40% ; vốn đầu tư thực hiện 6,37 tỷ USD chiếm22,13% Tiếp đến là Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu
Trong giai đoạn đầu tiên thu hút FDI (1988 – 1990), FDI thực hiện chủ yếutập trung ở các tỉnh, thành phố thuộc Nam Trung Bộ để thăm dò, khai thác dầu khí
và ở Đồng bằng sông Hồng Giai đoạn 1991 – 1999, FDI thực hiện phân bố khôngđồng đều giữa các địa phương Trong đó các tỉnh, thành phố có FDI thực hiện nhiềunhất là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và HảiPhòng, chiếm 68% tổng vốn FDI thực hiện cả nước Giai đoạn tiếp theo (2000 –2005), vốn FDI thực hiện chủ yếu tập trung vào các địa phương có điều kiện kinh tếthuận lợi, cơ sở hạ tầng phát triển Tính đến hết năm 2005, vùng kinh tế trọng điểmphía Nam chiếm khoảng 50% tổng vốn thực hiện cả nước, vùng kinh tế trọng điểmphía Bắc chiếm 28,7% tổng vốn thực hiện
Về tình hình các dự án giải thể trước thời hạn, tính đến hết năm 2005, địaphương có số dự án buộc phải giải thể trước thời hạn lớn nhất là thành phố Hồ ChíMinh với 330 dự án và 3,23 triệu USD vốn đăng ký Thứ hai là Bà Rịa – Vũng Tàuvới 55 dự án và vốn đăng ký là 1,42 triệu USD Rõ ràng nơi tập trung nhiều dự ánnhất cũng là nơi có nhiều dự án giải thể trước thời hạn nhất Về các dự án buộc phảichuyển đổi hình thức đầu tư, số dự án chuyển đổi hình thức đầu tư những năm quatập trung chủ yếu vào thành phố Hồ Chí Minh chiếm 36% trong tổng số dự án bịgiải thể, tiếp theo là Hà Nội với 11% tổng số dự án bị giải thể
Năm 2007, trong các địa phương thu hút được nhiều vốn FDI, Bà Rịa VũngTàu vươn lên vị trí thứ nhất, tiếp theo là Huế, Quảng Ngãi và Bình Dương Điềunày cho thấy 2 đầu tàu kinh tế Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bị các tỉnh miềntrung lấn lướt trong cuộc đua thu hút FDI năm nay
Trang 61.1.2.3 FDI phân theo ngành tại Việt Nam
BẢNG 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988-2006
(tính tới ngày 18/12/2006 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
STT Chuyên ngành
Số dự án Tổng vốn đầu tư Đầu tư thực hiện
Sốlượng
Tỷtrọng(%)
Số vốn(tỷUSD)
Tỷtrọng(%)
Số vốn(tỷUSD)
Tỷtrọng(%)
Nông, lâm nghiệp 831 12.20 3.884 6.42 1.915 6.65
Nông – lâm nghiệp 718 10.54 3.558 5.88 1.749 6.08
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và đầu tư
Trong giai đoạn đầu thu hút FDI (1988-1990), vốn FDI thực hiện rất nhỏ, hầunhư không đáng kể Đến giai đoạn 1991- 1996, cùng với việc tăng vốn đầu tư thuhút vào Việt Nam tăng thì vốn FDI thực hiện cũng tăng theo, trong giai đoạn nàyFDI thực hiện đã có mặt ở hầu hết các ngành kinh tế nhưng chủ yếu vẫn tập trung
Trang 7vào ngành công nghiệp Giai đoạn tiếp theo (1997-1999), vốn thực hiện tập trungvào ngành công nghiệp, đặc biệt là khai thác dầu thô, sản xuất lắp ráp ô tô, thiết bịvăn phòng, hàng điện tử Các doanh nghiệp FDI chiếm tới 35% giá trị sản xuất toànngành công nghiệp Cơ cấu vốn FDI thực hiện trong giai đoạn 2000 – 2005 chuyểnbiến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng cả ngành công nghiệp và dịch vụ Trong đócông nghiệp và xây dựng chiếm 69% tổng vốn thực hiện, dịch vụ chiếm 24,7% và nông –lâm – ngư nghiệp chiếm 6,3% tổng vốn thực hiện cả nước.
Về tình hình các dự án giải thể trước thời hạn xét theo ngành kinh tế, tính đếnhết năm 2005, ngành công nghiệp và xây dựng có nhiều dự án bị giải thể nhất và tỷ
lệ vốn đầu tư bị giải thể cũng cao nhất, chiếm tới 43% Trong đó, ngành côngnghiệp là 570 dự án (chiếm 53% tổng số dự án cấp phép) với tổng số vốn đầu tư 5,4
tỷ USD (chiếm 43% tổng vốn đăng ký) Lĩnh vực dịch vụ có 54 dự án (chiếm tỷ lệ5% tổng số dự án cấp giấy phép) với 10% tổng số vốn bị giải thể
Còn về tình hình các dự án buộc phải chuyển đổi hình thức đầu tư phân theongành kinh tế, trong các dự án chuyển đổi hình thức đầu tư thì ngành công nghiệp
có nhiều dự án nhất với 102 dự án (chiếm 62% tổng số dự án chuyển đổi) và 68%tổng vốn đăng ký Đứng sau công nghiệp là dịch vụ với 39 dự án chuyển đổi hìnhthức đầu tư, chiếm 24% số dự án và 24% trong tổng số vốn đầu tư chuyển đổi.Tính đến tháng 4 năm 2007, vốn FDI đạt 2,86 tỷ USD, vượt cùng kỳ năm ngoáigần 1 tỷ USD Trong số này, có tới 146 dự án công nghiệp với giá trị hơn 1,6 tỷUSD, tiếp theo là lĩnh vực khách sạn, du lịch với số vốn gần 390 triệu USD đổ vào
8 dự án và thứ ba là dịch vụ, với 99 dự án trị giá 318 triệu USD
1.1.2.4 Cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư
Trong giai đoạn đầu thu hút FDI vào Việt Nam (1988 – 1990), liên doanh vẫn
là hình thức đầu tư nước ngoài chủ yếu vào Việt Nam, tiếp đến là hình thức hợp táckinh doanh Một trong những nguyên nhân là do trong thời kỳ đầu thu hút FDI, cácnhà đầu tư nước ngoài còn chưa am hiểu về môi trường đầu tư của Việt Nam, vềnhững thủ tục pháp lý cần thiết… vì thế họ lựa chọn hình thức liên doanh để tìmhiểu thêm về môi trường đầu tư của Việt Nam thông qua các đối tác liên doanh củamình
Tính tới tháng 12 năm 2006, hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm đến76,18% số dự án; 40,13% tổng vốn đầu tư thực hiện Tiếp theo là hình thức liêndoanh; các hình thức đầu tư khác đã xuất hiện như hình thức liên doanh kiểu công
ty mẹ – con nhưng chiếm tỷ trọng rất nhỏ (xem bảng 2.4)
BẢNG 3 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo HTĐT 1988 – 2006
Trang 8(tính tới ngày 18/12/2006 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
STT Hình thức đầu tư Số dự án Tổng vốn đầu
tư
Đầu tư thực hiện
Sốlượng
Tỷtrọng(%)
Số vốn(TỷUSD)
Tỷtrọng(%)
Số vốn(tỷUSD)
Tỷtrọng(%)
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và đầu tư
Sở dĩ mà doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài chiếm tỷ trọng cao như vậy
là do nhà đầu tư đã hiểu thêm về chính sách, luật pháp và phong tục tập quán, cáchthức hoạt động kinh doanh ở Việt Nam, hơn nữa, thực tế khả năng của các bên đốitác Việt Nam trong liên doanh thường yếu cả về vốn lẫn trình độ quản lý, dẫn đếnhoạt động kinh doanh kém hiệu quả Từ đó các đối tác nước ngoài có xu hướng rútdần ra khỏi liên doanh, thành lập các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, đứng lênlàm chủ toàn bộ doanh nghiệp mình bỏ vốn đầu tư
Thực trạng tình hình thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam
Khái niệm ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ OfficialDevelopment Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vìcác khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấpvới thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danhnghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nướcđược đầu tư Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay
Trang 9Thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam
Để sử dụng nguồn vốn ODA đã cam kết, trong năm 2007 Chính phủ Việt Nam
đã hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ trong quá trình chuẩn bị các văn kiện củachương trình, dự án ODA dẫn đến kết quả ký kết được các điều ước quốc tế cụ thể
về ODA với tổng giá trị ước đạt 3,6 tỷ USD, trong đó vốn vay 3,3 tỷ USD, viện trợkhông hoàn lại 29,78 triệu USD, tăng khoảng 12% so với năm 2006.Tổng vốn ODA
ký kết trong năm 2006-2007 đạt 6,53 tỷ USD tương đương 40% ODA dự kiến kýkết trong giai đoạn năm 2006-2010 Như vậy việc thực hiện hóa các cam kết thànhcác điều ước cụ thể về ODA đã đạt được tiến độ đề ra
Bảng 4: Tinh hình ODA cam kết và thực hiện ĐVT: Tỷ USD
Năm Cam kết ODA (Triệu USD) Thực hiện ODA
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Ðầu tư
Năm 2007 là năm thứ 3 liên tục tiến độ giải ngân đều đạt và vượt mức kế hoạch
đề ra Tổng vốn ODA giải ngân trong năm 2007 đạt 2 tỷ USD, vượt 5% kế hoạch đề
ra và tăng 10% so với năm 2006 Nếu so với tốc độ giải ngân ì ạch của nguồn vốntrái phiếu chính phủ và vốn tín dụng đầu tư của nhà nước , thì giải ngân ODA đánggọi là điểm sáng trong năm vừa qua Tuy nhiên so với yêu cầu và nhiệm vụ giảingân ODA thì trong 2 năm 2006-2007 mới giải ngân được 3,9 tỷ USD tương đươngvới 32% tổng vốn ODA dự kiên giải ngân trong thời kỳ 2006-2010 Thực tế này đặt
ra nhiệm vụ 3 năm còn lại cần có biện pháp đẩy nhanh tốc độ giải ngân để đảm bảonhiệm vụ giải ngân 11,9 tỷ USD vốn ODA đã đề ra
Trang 10Tính đến năm 2007, cộng đồng tài trợ quốc tế đã cam kết dành cho Việt Namnguồn vốn ODA khá lớn với tổng giá trị 36,97 tỷ USD, đã cam kết 26,2 tỷ USD và
đã giải ngân 17,9 tỷ USD
Trên thực tế việc thu hút và sử dụng ODA thời gian qua vẫn chưa được nhưmong muốn, có nơi có lúc chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn Nhiều nơi coi ODA
là nguồn vốn nước ngoài cho không, nếu là vốn vay thì Chính phủ có trách nhiệmtrả nợ Nhận thức sai lệch như vậy dẫn đến tình trạng một số chương trình, dự ánkém hiệu quả
* Cơ cấu ODA theo lĩnh vực
Bảng 5: Cơ cấu ODA theo lĩnh vực
Tổng ODA kí kết (tỷ USD)
Nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, thủy
Giao thông, bưu chính viễn thông, cấp
Y tế, giáo dục và đào tạo, môi trường,
Các quy trình thủ tục quản lý ODA của Việt Nam và nhà tài trợ chưa hài hòa,nhất là các lĩnh vực di dân và giải phóng mặt bằng và đấu thầu.Chỉ tính rie61nng
WB và ADB – 2 nhà tài trợ chia sẻ nhiều quan điểm chung với Việt Nam còn giữ
10 quan điểm khác nhau trong đấu thầu.Thực tế đó gây chậm trễ trong quá trìnhthực hiện các chương trình , dự án , hiệu quả đầu tư và tăng chi phí giao dịch Bên
Trang 11cạnh đó tổ chức quản lý ODA, năng lực đội ngũ còn nhiều yếu kém, nhất là ở cấpđịa phương Những yếu kém này hiện là thách thức không nhỏ đối với các cơ quanchủ quản trong bối cảnh phân cấp mạnh công tác thẩm định và phê duyệt dự án chocấp Bộ và UBND cấp tỉnh.
Thực tế đã cho thấy hài hòa thủ tục giữa Chính phủ và nhà tài trợ là một trongnhững cách tiếp cận đúng đắn để đảm bảo chất lượng và tiến độ thực hiện Trướctình hình đó, giữa năm 2007, nhóm 5 ngân hàng phát triển (ADB, AFD,JBIC, KFW,
và WB) chiếm hơn 80 % nguồn vốn ODA tài trợ cho Việt Nam đã cùng ký tên vàobản kiến nghị gửi cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng Bản kiến nghị chung này đềcập đến 12 giải pháp nóng và 3 nhóm vấn đề(bao gồm triển khai nghị định 131 vềquản lý ODA , hợp lý hóa về thủ tục và luật đấu thầu) mà Việt Nam cần thực hiệnngay nhằm cải thiện tình hình thực hiện và đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốnODA Chưa đầy 1 tháng sau thủ tướng đã có thư phúc đáp Theo đó một số giảipháp nóng đã được thủ tướng chấp thuận và cho phép áp dụng đối với chươngtrình,dự án ODA với mục tiêu tạo bước đột phá trong quá trình thực hiện dự ánODA Cần nhấn mạnh rằng đây là lần đầu tiên có sự trao đổi giữa nhà tài trợ vàngười đứng đầu Chính phủ Việt Nam
Trong bối cảnh hiện nay, khi nguồn ODA có khả năng gia tăng trong khi nhucầu phát triển đòi hỏi nguồn lực này rất lớn, Chính phủ Việt Nam cam kết hợp tácchặt chẽ với các nhà tài trợ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ODA Những yếu kémtrên đang được khắc phục và tập trung giải quyết dứt điểm trong năm 2008 để tạobước đột phá trong công tác thực dự án thúc đẩy giải ngân vốn ODA
II TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NGUỒN VỐN FDI VÀ ODA ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Tác động của các nguồn vốn FDI đến phát triển kinh tế Việt Nam trong thời gian qua
Tác động tích cực
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định vai trò quantrọng trong nền kinh tế Việt Nam Trước hết, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọngvào tổng đầu tư xã hội và góp phần cải thiện cán cân thanh toán trong giai đoạn vừaqua Các nghiên cứu gần đây của Bộ Kế hoạch và đầu tư rút ra nhận định chungrằng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp quan trọng vào GDP với tỷtrọng ngày càng tăng Khu vực này góp phần tăng cường năng lực sản xuất và đổimới công nghệ của nhiều ngành kinh tế, khai thông thị trường sản phẩm (đặc biệt làtrong gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá), đóng góp cho ngân sách Nhà nước
và tạo việc làm cho một bộ phận lao động Bên cạnh đó, FDI có vai trò trong
Trang 12chuyển giao công nghệ và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo sức épbuộc các doanh nghiệp trong nước phải tự đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quảsản xuất Các dự án FDI cũng có tác động tích cực tới việc nâng cao năng lực quản
lý và trình độ của người lao động làm việc trong các dự án FDI
- FDI đối với vốn đầu tư xã hội và tăng trưởng kinh tế
Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới với xuất phát điểm rất thấp Do vậy,xét về nhu cầu vốn, FDI được coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu
tư trong nước, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư cho phát triển Đóng góp của FDItrong đầu tư xã hội biến động lớn, một phần phản ánh diễn biến thất thường củanguồn vốn này, một phần thể hiện những thay đổi về đầu tư của các thành phầnkinh tế trong nước Giai đoạn 1994 –1995, tỷ trọng của FDI trong đầu tư xã hội lêntới 30 – 31%, là mức cao nhất cho đến nay Tỷ lệ này đã giảm dần và năm 2005, FDIthực hiện ước chiếm 16,3% trong tổng đầu tư xã hội
Trong suốt một thập kỷ qua, khu vực có vốn FDI chiếm tỷ trọng ngày càng tăngtrong GDP Năm 2005, khu vực FDI đóng góp 15,9% vào GDP so với tỷ lệ đónggóp 6,4% của khu vực này năm 1994 Bên cạnh đó, khu vực có vốn FDI luôn dẫnđầu về tốc độ tăng giá trị gia tăng so với các khu vực kinh tế khác và là khu vựcphát triển năng động nhất, tốc độ tăng giá trị gia tăng của khu vực này luôn cao hơn mứctrung bình của cả nước
- FDI với việc nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu
FDI vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, nhờ đó, tronghơn một thập kỷ qua Việt Nam đã cải thiện được nhiều ngành kinh tế quan trọngnhư thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông, điện tử, xây dựng hạ tầng Năm 2004, khu vực có vốn FDI đóng góp tới 35,68% tổng giá trị sản xuất côngnghiệp cả nước, trong khi tỷ lệ này chỉ là 25,1% năm 1995 Đến nay, khu vực cóvốn FDI đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công nghiệp như dầu khí,
ô tô, máy giặt, điều hoà, tủ lạnh, thiết bị máy tính; 60% cán thép; 28% xi măng;33% máy móc thiết bị điện, điện tử; 76% dụng cụ y tế chính xác; 55% sản lượngsợi; 49% sản lượng da giày Nhìn chung, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệpcủa khu vực có vốn FDI luôn duy trì ở mức cao, cao hơn tốc độ tăng trưởng chungtoàn ngành trong suốt giai đoạn 1995 – 2003, trừ năm 2001 Năm 2004, giá trị sảnxuất công nghiệp của khu vực này tuy cao, đạt 15,7% nhưng thấp hơn mức chungtoàn ngành, chủ yếu do tốc độ tăng rất cao của khu vực kinh tế ngoài quốc doanhtrong nước (22,8%)
Trang 13Trong một thập kỷ trở lại đây, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vựcFDI luôn cao hơn so với tốc độ tăng trung bình của cả nước Năm 1991, kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam đạt 2 tỷ USD, trong khi đó năm 2004 con số này đã là 26,5
tỷ đô la, tăng gấp 13,5 lần so với năm 1991 Khu vực FDI chiếm tỷ trọng ngày càngtăng trong tổng giá trị xuất khẩu, từ 4% năm 1991 lên 54,6% năm 2004 Mặc dùFDI có tỷ trọng xuất khẩu cao song giá trị xuất khẩu ròng của khu vực có vốn FDIkhông cao Sở dĩ như vậy vì các dự án FDI trong công nghiệp vẫn chủ yếu sử dụngcác dây chuyền lắp ráp có quy mô nhỏ và sử dụng nguồn đầu vào từ nhập khẩu làchính
- FDI đối với việc làm và cải thiện nguồn nhân lực
Hiện tại, các dự án có vốn FDI tại Việt Nam đang sử dụng khoảng 730 ngànlao động, chỉ chiếm 1,5% tổng lao động có việc làm tại Việt Nam, so với tỷ trọngnày năm 1996 là 0,7% Điều đó cho thấy FDI vẫn xuất hiện chủ yếu trong cácngành tập trung vốn và sử dụng lao động có trình độ kỹ năng cao Đó cũng là mộtcách lý giải cho mức thu nhập trung bình của lao động trong khu vực này cao gấp 2lần so với các doanh nghiệp khác cùng ngành Hơn nữa, số lao động này được tiếpcận với công nghệ hiện đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thứclao động tiên tiến Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanhnghiệp FDI đã có thể thay thế dẫn các chuyên gia nước ngoài trong việc đảm nhiệmnhững chức vụ quản lý doanh nghiệp và điều khiển các quy trình công nghệ hiệnđại
Bên cạnh số việc làm trực tiếp do FDI tạo ra nói trên, khu vực FDI còn giántiếp tạo thêm việc làm trong lĩnh vực dịch vụ và có thể tạo thêm lao động trong cácngành công nghiệp phụ trợ trong nước với điều kiện tồn tại mối quan hệ mua bánnguyên vật liệu hoặc hàng hoá trung gian giữa các doanh nghiệp này Tuy nhiên,cho đến nay chưa có số liệu thống kê chính thức về số lao động gián tiếp được tạo
ra bởi khu vực FDI tại Việt Nam
- FDI với nguồn thu ngân sách Nhà nước và các cân đối vĩ mô
Cùng với sự phát triển, khu vực có vốn FDI đóng góp ngày càng tăng vàonguồn thu ngân sách của Nhà nước Theo tính toán của Tổng cục thuế, năm 2002,khu vực FDI đóng góp khoảng 480 triệu USD vào ngân sách Nhà nước, tăng 4,2 lần
so với năm 1994 Tính riêng giai đoạn 1996-2002, khu vực này đóng góp vào ngânsách trung bình ở mức khoảng 6% Tỷ trọng đóng góp nhỏ là do các doanh nghiệpFDI được hưởng chính sách khuyến khích của Chính phủ thông qua giảm thuế thu
Trang 14nhập trong những năm đầu hoạt động Tuy nhiên, nếu tính cả thu từ dầu thô thì tỷtrọng này ước khoảng 20%.
Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng vào việc tăng thặng dư của tài khoảnvốn, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung Động thái của cán cân vốntrong thời kỳ 1994-2002 cho thấy có mối quan hệ khá rõ giữa số dư tài khoản vốn
và dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam hàng năm
Tác động tiêu cực
Tuy đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhưng về FDI cũng còn nhiều hạn chế,bất cập Tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký còn thấp, tính chung mới đạtkhoảng một nửa Trong tổng lượng vốn, có một nửa số vốn là vào các ngành khaithác tài nguyên, tận dụng bảo hộ, công nghiệp gây ô nhiễm và bất động sản Đây là
cơ cấu không mong đợi, bởi vì vốn đầu tư vào khai thác tài nguyên, thì không có tácdụng lan tỏa; vốn đầu tư vào các ngành bảo hộ không có sức cạnh tranh, thì chỉ làmcho chi phí của nền kinh tế gia tăng, kéo lùi khả năng cạnh tranh; vốn đầu tư vàocác ngành công nghiệp gây ô nhiễm thì lợi nhuận họ hưởng, còn hậu quả và chi phíkhắc phục thì ta chịu; vốn đầu tư vào bất động sản thì có thể làm căng thêm "bongbóng", dễ gây ra bất ổn
Trong khi đó, đầu tư vào kết cấu hạ tầng, công nghiệp phụ trợ còn ít Côngnghệ được sử dụng thường cao hơn mặt bằng công nghệ cùng ngành và cùng loạisản phẩm của khu vực kinh tế trong nước, nhưng do phần lớn là từ các nước châu Á(69%, riêng Đông Nam Á chiếm 19%), các nước châu Âu mới chiếm 24% (trong đóEuro 10%), châu Mỹ mới chiếm 5% (riêng Mỹ 3,6%), các nước G8 mới chiếm23,7%, nên chưa thu hút được nhiều đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển,công nghệ nguồn Có một số trường hợp, nhà đầu tư nước ngoài đã lợi dụng sơ hởcủa pháp luật Việt Nam, cũng như sự yếu kém trong việc kiểm tra, giám sát tại cáccửa khẩu, nên đã nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu,thậm chí là những phế thải của các nước khác Cơ cấu đầu tư theo địa bàn cũng tậptrung vào các tỉnh, thành phố có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi, trong khi
đó các vùng cần được đẩy nhanh tốc độ phát triển như miền núi, vùng sâu, vùngxa còn ít
Trang 15Có một số người đã có sự nhầm lẫn giữa vốn đăng ký với vốn thực hiện Vốnđăng ký mới là số vốn của các dự án mới được cấp giấy phép hoặc giấy chứng nhậnđầu tư, mới chỉ là khả năng chưa phải là số vốn thực hiện, tức là chưa biến thànhhiện thực Số vốn FDI không hoàn toàn là vốn đầu tư của nước ngoài, bởi có một tỷ
lệ (khoảng 30%) là sự góp vốn của các nhà đầu tư trong nước (chủ yếu bằng quyền
sử dụng đất) Khi lũy kế số vốn đăng ký qua các năm, cần phải loại trừ số vốn củacác dự án bị rút giấy phép và bị giải thể trước thời hạn (chẳng hạn, năm 2005, sốvốn của các dự án bị rút giấy phép là 1,27 tỉ USD, chiếm gần 18,6% tổng vốn đăng
ký trong năm đó; tính từ năm 1988 đến hết năm 2007, tổng số dự án là hơn 9.500,với số vốn đăng ký lên đến xấp xỉ 100 tỉ USD - kể cả vốn tăng thêm - nhưng nếu trừnhững dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, thì chỉ còn 8.599
dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký 83,1 tỉ USD)
Nói như thế nhưng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng có những mặt trái Cáctập đoàn nước ngoài tràn vào thường đè bẹp các đối thủ cạnh tranh trong nước, bópchết tham vọng của những doanh nhân nhỏ hy vọng phát triển nền công nghiệp bảnđịa
Có vô số thí dụ về chuyện này Các nhà sản xuất đồ uống nhẹ khắp thế giới đã
bị sự xâm nhập của Coca-Cola và Pepsi chèn ép trên chính quê hương họ Các nhàsản xuất kem địa phương cũng thấy rằng họ không thể cạnh tranh nổi với các sảnphẩm kem của Unilever
Một cách để nghĩ về vấn đề này là hồi tưởng lại những tranh cãi ở nước Mỹ vềcác hệ thống chuỗi cửa hàng thuốc và cửa hàng 24giờ Khi Wal Mart xâm nhập mộtcộng đồng dân cư, các doanh nghiệp địa phương luôn phản đối mãnh liệt, lo ngại(một cách có lý) rằng họ sẽ bị loại khỏi cuộc chơi
Những cửa hàng địa phương sợ họ không đủ khả năng cạnh tranh với WalMart bởi sức mua khổng lồ của nó Những người dân sống trong thành phố nhỏ thì
lo ngại điều gì sẽ xảy ra với bản sắc của cộng đồng nếu tất cả các cửa hàng địaphương phải đóng cửa
Những lo lắng tương tự ở những nước đang phát triển còn mạnh hơn gấp nghìnlần Mặc dù những lo ngại này là chính đáng, người ta cần phải hiểu là: lý do để
Trang 16Wal Mart thành công chính là ở chỗ nó cung cấp hàng hóa cho người tiêu dùng vớigiá cả thấp hơn Việc cung cấp hiệu quả hàng hóa và dịch vụ đến cho dân nghèo ởnhững nước đang phát triển có ý nghĩa quan trọng nếu biết rằng nhiều người trong
số họ sống ở ngưỡng nghèo khổ
Nhưng những nhà phê bình cũng đưa ra vô số lập luận Nếu chưa có luật cạnhtranh hoặc có nhưng không được thực thi hiệu quả thì sau khi các hãng nước ngoàiđánh bật sự cạnh tranh của các doanh nghiệp sở tại, chúng sẽ sử dụng sức mạnh độcquyền để tăng giá Những lợi ích của giá hàng hóa rẻ sẽ chỉ tồn tại trong thời gianngắn
Tác động của các nguồn vốn ODA đến phát triển kinh tế Việt Nam trong thời gian qua
Tác động tích cực
Tình hình thực hiện ODA đã có bước tiến triển khá, năm sau cao hơn nămtrước và thực hiện tốt kế hoạch giải ngân hằng năm Từ năm 1993 tới hết năm 2001vốn ODA giải ngân khoảng 9,5 tỉ USD, tương đương với khoảng 54% tổng nguồnvốn ODA đã cam kết
Nguồn vốn ODA đã được tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực phát triển kinh tế,
xã hội ưu tiên của Chính phủ, đó là: năng lượng điện (24%); ngành giao thông(27,5%); phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả thuỷ sản, lâm nghiệp, thuỷlợi (12,74 %); ngành cấp thoát nước (7,8%); các ngành y tế - xã hội, giáo dục vàđào tạo, khoa học - công nghệ - môi trường (11,87%)
Ngoài ra, nguồn ODA cũng hỗ trợ đáng kể cho ngân sách của Chính phủ đểthực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế và thực hiện chính sách cải cách kinh tế (cáckhoản tín dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế mở rộng, QuỹMiyazawa, PRGF và PRSC)
Trong những năm qua, nhiều dự án đầu tư bằng vốn ODA đã hoàn thành vàđược đưa vào sử dụng, góp phần tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo như Nhàmáy Nhiệt điện Phú Mỹ 2 -1; nhà máy thủy điện sông Hinh; một số dự án giaothông quan trọng như Quốc lộ 5, Quốc lộ 1A (đoạn Hà Nội - Vinh, đoạn thành phố
Hồ Chí Minh- Cần Thơ, đoạn thành phố Hồ Chí Minh- Nha Trang), cầu MỹThuận ; nhiều trường tiểu học đã được xây mới, cải tạo tại hầu hết các tỉnh; một sốbệnh viện ở các thành phố, thị xã như bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), bệnh viện ChợRẫy (thành phố Hồ Chí Minh); nhiều trạm y tế xã đã được cải tạo hoặc xây mới; các hệ thống cấp nước sinh hoạt ở nhiều tỉnh thành phố cũng như ở nông thôn, vùngnúi Các chương trình dân số và phát triển, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em,
Trang 17tiêm chủng mở rộng được thực hiện một cách có hiệu quả Ngoài ra, còn hàng loạtcác công trình mới đầu tư bằng nguồn vốn ODA sẽ được đưa vào hoạt động trongthời gian tới
Nhìn chung, việc sử dụng ODA trong thời gian qua là có hiệu quả, hỗ trợ tích
cực cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam
Nguồn vốn ODA đã được tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực phát triển kinh tế , xãhội ưu tiên của Chính phủ, đó là phát triển nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, thủysản(21%); phát triển hệ thống lưới điện và các trạm phân phối (15%); phát triểngiao thông bưu chính viễn thông, cấp thoát nước và cơ sở hạ tầng đô thị (33%); cáclĩnh vực y tế giáo dục và đào tạo, môi trường khoa học và công nghệ và các ngànhkhác (31%)
Hơn nữa nguồn ODA đã góp phần đáng kể phát triển kinh tế , xã hội và xóa đóigiảm nghèo của nhiều địa phương, bao gồm phát triển cơ sở hạ tầng quy mônhỏ( cấp nước, đường giao thông, trường học, trạm y tế, lưới điện phân phối, điệnthoại nông thôn,…) và phát triển nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản của nhiều địaphương, nhất là các tỉnh nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Giá trịODA bình quân dầu người vùng trung du và miền núi Bắc bộ đạt 33,98 USD, vùngđồng bằng Sông Hồng đạt 18,42 USD, vúng Bắc trung bộ và duyên hải miền trungđạt 52,48USD, vúng Tây nguyên đạt 21,86USD, vùng đồng bằng Song Cửu Longđạt 11,19USD
Nhiều dự án đầu tư bằng vốn ODA đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phầntăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo Bên cạnh đó còn hàng loạt các công trìnhmới đầu tư bằng nguồn vốn ODA đang và sẽ được đưa vào hoạt động trong thờigian tới như phát triển hệ thống đường cao tốc Bắc Nam, các đường trục chính củacác vùng kinh tế, phát triển các tuyến đường ở miền núi phía bắc, Tây Nguyên,ĐBSCL,…xây dựng một số cầu đường bộ lớn ở cả 3 miền, nâng cấp xây dựng một
số tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội – Hồ Chí Minh, xây dựng mới một sân bay quốc
tế hiện đại tại thủ đô Hà Nội (cảng hàng không quốc tế T2), sân bay Long Thành Biên Hòa, Đà Nẵng, Cam Ranh - Khánh Hòa và Phú Quốc – Kiên giang cũng sẽđược ưu tiên sử dụng nguồn vốn này
-Tác động tiêu cực
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như
mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính sách riênghướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu
Trang 18-tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước,khu vực và trên thế giới).
Ví dụ:
Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quanbảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá củanước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trườngbảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưuđãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào nhữnglĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao
Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thườnggắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậmchí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnhvực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoàithường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương chocác chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyêngia như vậy trên thị trường lao động thế giới)
Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệtnhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếpnhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thôngthường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nướcviện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếpdưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia
Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lạităng lên
Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thuhút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếukinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án,… khiếncho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp, cóthể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần
Trang 19Những đóng góp của ODA cho phát triển kinh tế xã hội thời gian qua là rất đángkhích lệ, tuy nhiên việc thực hiện các chương trình dự án ODA còn chậm giải ngânvốn chưa đáp ứng yêu cầu đề ra đã làm lu mờ đi một phần những nỗ lực trên đây.
III NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN 2010
Nhu cầu vốn để tạo ra của cải cho xã hội
Vốn đầu tư là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tăng trưởng kinh tế, phát triển
xã hội Bên cạnh nguồn vốn đầu tư trong nước là đầu tư nước ngoài, trong đó cónguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI), chúng ta nhận thấy vai trò cơ bản của FDI
Tác động trực tiếp
- Bæ sung vèn cho ®Çu t ph¸t triÓn Bổ sung vốn cho đầu tư phát triển
- Thúc đẩy tang trưởng kinh tế
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu,…
Tác động gián tiếp
- Tạo kênh cạnh tranh
- Tạo kênh phổ biến và chuyển giao công nghệ
- Kênh di chuyển lao động
- Kênh liên kết sản xuất,…
Từ 2006 đến năm 2010, Việt Nam có những mục tiêu chiến lược:
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2006-2010: GDP tăng gấp 2,1 lần so với năm 2000
GDP bình quân đầu người: 1050-1100 USD
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 7,5-8%
à FDI cần huy động là trên 30 tỷ USD chiếm 60% nguồn vốn huy động từ nước ngoài, trên 20% tổng số vốn huy động
Như vậy vấn đề thu hút FDI là cần thiết đối với Việt Nam trong giai đoạn từnay đến 2010 Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO, cho nên Việt Nam có nhiềuthuận lợi Điều dễ nhìn thấy nhất là lượng vốn đầu tư đăng ký và thực hiện đạt mứckhá qua các thời kỳ và gần đây tăng nhanh Tính đến nay đã có hơn 100 tỉ USDđăng ký và trên 45 tỉ USD vốn thực hiện; nếu tính theo đầu người thì Việt Namđứng hàng đầu trong các nước hiện nay Năm 2006 có 12 tỉ USD đăng ký và gần 4
tỉ USD thực hiện; năm 2007 tương ứng đạt 21,3 tỉ USD đăng ký và khoảng 8 tỉUSD thực hiện
Trong 83 nước và vùng lãnh thổ đầu tư, có 18 nước và vùng lãnh thổ đạt trên 1 tỉUSD Tất cả 64 tỉnh, thành phố có vốn ĐTNN, trong đó có 15 địa bàn đạt trên 1 tỉUSD Cơ cấu vốn đã chuyển dịch theo hướng tích cực cả theo nhóm ngành kinh tế,theo địa bàn, theo nhóm nước và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư Khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tếViệt Nam, từ việc bổ sung vốn đầu tư, cải thiện cán cân thanh toán, tăng cường
Trang 20năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, đóng góp ngânsách, đến việc tạo việc làm cho người lao động,
Nhu cầu vốn để phát triển cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng ở Việt Nam hiện nay rất yếu và thiếu, trong khi nhu cầu về cơ sở
hạ tầng cho phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam là rất lớn Lĩnh vực về cơ sở hạtầng ở Việt nam hiện nay là lĩnh vực tư nhân không muốn đầu tư và cũng chẳng đủnăng lực đầu tư Chính vì thế cần đến vai trò của nhà nước Ngân sách nhà nướcViệt Nam hiện nay không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng và các lĩnhvực mà lợi ích mang tính xã hội chính vì thế Việt Nam cần phải tranh thủ nguồnviện trợ, nguồn vốn vay lãi suất thấp ODA để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế.Vai trò của ODA trong giai đoạn 2006-2010
• Bổ sung vốn cho phát triển kinh tế xã hội
• Tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, tăng cường năng lực R&D và phát triển nguồn nhân lực
• Xây dựng chiến lược, hoàn thiện hệ thống pháp lí theo tiêu chuẩn quốc tế, cảicách hành chính và tăng cường năng lực thể chế
• Tăng khả năng thu hút vốn FDI vào Việt Nam và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển
Cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đang ở trong tình trạng quá tải, chưa đáp ứng nhucầu phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới, vì thếChính phủ Việt Nam đã có chủ trương như sau:
Giai đoạn 2006-2010, Chính phủ sẽ dành 33% trong số 23,75 tỷ USD vốn ODA đểphát triển giao thông, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước và đô thị
Đầu tư trọng điểm vào phát triển cơ sở hạ tầng, là một trong những nội dungquan trọng nhất trong bản đề án "Định hướng thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ pháttriển chính thức (ODA) thời kỳ 2006 - 2010" vừa được Thủ tướng Chính phủ kýQuyết định phê duyệt số 290/2006/QĐ - TTg ngày 29/12/2006
Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng thế giới (World Bank) nhan đề “ViệtNam: Những thách thức đối với cơ sở hạ tầng” vừa được công bố ngày 15/5/2006tại Hà Nội thì hơn 20 năm qua, Việt Nam đã thành công lớn trong đảm bảo lợi ích
từ các đầu tư vào cơ sở hạ tầng được chia sẻ trên khắp đất nước Và các đầu tư này
đã hỗ trợ cho phát triển nhanh chóng, tăng tiếp cận đến các dịch vụ cơ bản và giảmnghèo
Số liệu từ báo cáo này cũng cho thấy, những thực tế đáng khen ngợi trongchiến lược cơ sở hạ tầng hiện tại của Việt Nam, trong đó, tổng đầu tư cho cơ sở hạtầng của Việt Nam những năm gần đây đã đạt mức 10% GDP (tỷ trọng này là rất
Trang 21cao so với tiêu chuẩn quốc tế) Mạng lưới đường bộ Việt Nam đã tăng hơn gấp đôichiều dài (so năm 1990) với chất lượng đường được cải thiện rõ rệt Bên cạnh đó,tất cả các khu vực đô thị và 88% các hộ gia đình nông thôn đã có điện Số ngườiđược dùng nước sạch tăng từ 26% dân số năm 1993 lên đến 49% dân số năm 2002.
Tỷ lệ số người có hố xí vệ sinh tăng từ 10% lên 25% dân số
Tuy nhiên, báo cáo này cũng lưu ý những thách thức mới Việt Nam cần quantâm là, sự cần thiết phải huy động nguồn vốn mới bởi hiện nay, nguồn tài chínhquốc tế tài trợ chiếm gần 40% đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, đến khi giàumạnh, hỗ trợ từ nguồn này sẽ chỉ còn được là vai trò thứ yếu Do đó, việc nhanhchóng tìm kiếm nguồn tài chính thay thế là rất cần thiết Bên cạnh đó là thách thức
từ đô thị hóa tăng nhanh Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng một triệu người từvùng nông thôn chuyển đến các thành phố lớn, đòi hỏi Việt Nam phải nâng caonăng lực quản lý và lập kế hoạch đô thị Đặc biệt, phải kiểm soát có hiệu quảnhững nhu cầu xây dựng nhà ở không theo quy hoạch và cơ sở hạ tầng cơ bản trướckhi tiến hành xây dựng Nên trao thêm trách nhiệm cho chính quyền địa phương vàthông qua phương pháp lập kế hoạch linh động để đạt được yêu cầu
Ngoài ra việc cung cấp cơ sở hạ tầng nhìn chung đem lại những lợi ích xã hộicao, nhưng khi càng nhiều người được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản thì lại càngkhó tìm ra hình thức đầu tư có lợi nhuận cao Do đó, cần cải thiện các quy trình lập
kế hoạch để xác định các cơ hội đầu tư mang lại lợi ích lớn cho xã hội, để tối đa hóalợi nhận cho những đầu tư đã lựa chọn, cũng như cần phải cải cách điều hành, giảiquyết các vấn đề, đặc biệt là vấn đề tham nhũng
Mặt khác, do Việt Nam đã giảm nghèo, sự khác biệt giữa tỷ lệ nghèo thànhthị và nông thôn đang thu nhỏ lại Nhưng đây cũng là lúc khoảng cách giữa nhữngngười có thu nhập cao nhất và thu nhập thấp nhất lại tăng lên, nên vấn đề quantrọng là làm thế nào để tập trung nguồn hỗ trợ tài chính của Chính phủ cho cơ sở hạtầng để mang lại lợi ích cho những người nghèo nhất
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, để thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ chủyếu được xây dựng trên cơ sở đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững trong kếhoạch 5 năm 2006 – 2010 thì nhu cầu đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng là rất lớn.Trước mắt, Việt Nam cần tập trung nhiều hơn cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
và xóa đói giảm nghèo; tiếp tục ưu tiên cho vùng còn khó khăn, các tỉnh thường bịthiên tai bão lũ; Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh
tế, xã hội nhằm tạo bước chuyển biến mạnh về xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo tiền đềcho phát triển đất nước
3.2.1 Ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông
Trang 22Theo bản đề án, lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông tiếp tục là mối quantâm hàng đầu của Chính phủ
Đặc biệt, đây cũng là lĩnh vực mà các nhà tài trợ vốn ODA như ADB, JBIC,WB rất quan tâm từ trước tới nay cũng như trong nhiều năm tới
Cụ thể, nguồn vốn ODA cho lĩnh vực này trong 5 năm tới sẽ tiếp tục tăngmạnh để đầu tư cho các lĩnh vực phát triển hệ thống đường cao tốc Bắc - Nam, cácđường trục chính của các vùng kinh tế; ưu tiên phát triển các tuyến đường ở miềnnúi phía Bắc, Tây Nguyên, ĐBCSL; phát triển mạnh hệ thống đường cao tốc, nhất
là tại các vùng kinh tế trọng điểm
Ngoài ra, nguồn vốn này sẽ phát triển các tuyến hành lang giao thông trongkhuôn khổ hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng
Trong đó gồm có tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia và haihành lang và một vành đai kinh tế Việt - Trung, xây dựng một số cầu đường bộ lớn
ở cả 3 miền, trong đó có các cầu Cao Lãnh, Vàm Cống thuộc Dự án đường Hồ ChíMinh (giai đoạn II)
Đồng thời, giao thông nông thôn cũng nằm trong phạm vi của nguồn vốn,gồm nâng cấp các tuyến đường huyện, bảo đảm đường thông suốt cả năm từ thônbản đến trung tâm xã, đầu tư hỗ trợ bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộcũng như công tác duy tu bảo dưỡng đường bộ
Bên cạnh việc định hướng đầu tư cho các dự án giao thông cầu đường bộ, đốivới lĩnh vực đường sắt, Chính phủ sẽ thu hút vốn ODA xây dựng một số tuyếnđường sắt, kể cả tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - Tp Hồ Chí Minh; tăng cườngnăng lực quản lý và điều hành ngành đường sắt
Lĩnh vực hàng không, các sân bay quốc tế sẽ được xây dựng ở một số tỉnh,thành phố phù hợp với quy hoạch phát triển hệ thống các sân bay của cả nước, trướcmắt xây dựng mới một sân bay quốc tế hiện đại cho Thủ đô Hà Nội (Cảng Hàngkhông Quốc tế 2), Long Thành - Biên Hoà, Đà Nẵng (nhà ga), Cam Ranh - KhánhHoà (nhà ga) và Phú Quốc - Kiên Giang
Trong giai đoạn này, Chính phủ cũng sẽ tập trung vốn ODA để xây dựng một
số cảng nước sâu, trong đó có các cảng Vân Phong - Khánh Hoà, cảng Lạch Huyện
- Hải Phòng, và các cảng trung chuyển Ngoài ra sẽ hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thốngcác tuyến đường thuỷ nội địa quan trọng ở Đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL Thể chế, tăng cường năng lực con người trong lĩnh vực giao thông, nhất là an toàngiao thông, cũng sẽ là một hướng đầu tư
Chính phủ cũng định hướng cụ thể trong việc sử dụng nguồn vốn ODA Đốivới nguồn vốn ODA hoàn lại, đặc biệt là các khoản vay có ưu đãi cao (lãi suất thấp,