Nhìn lại hơn 20 năm đổi mới cũng là đánh giá một quá trình, một giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Sự hội nhập đó là một bộ phận cấu thành, một trong những điều kiện và nhân tố cho sự thành công của sự nghiệp đổi mới.
Trang 1Mở đầu
Nhìn lại hơn 20 năm đổi mới cũng là đánh giá một quá trình, một giaiđoạn hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Sự hội nhập đó là một bộ phận cấuthành, một trong những điều kiện và nhân tố cho sự thành công của sự nghiệpđổi mới Chúng ta hiểu hội nhập kinh tế quốc tế như thế nào? Thiết nghĩ đótrước hết là nhận thức rằng nền kinh tế thế giới và các nền kinh tế quốc gia làmột thể thống nhất, trong đó sự tương tác giữa các nền kinh tế quốc gia, cũngnhư với từng nền kinh tế quốc gia với tổng thể quy luật, cơ chế , tập quán vậnhành của kinh tế toàn cầu sẽ quy định một cách cơ bản sự phát triển và hưngthịnh của mỗi nền kinh tế quốc gia và của cả kinh tế thế giới Nói cách khác,trong thời đại quốc tế hóa, không một nền kinh tế nào có thể phát triển trong
sự khép kín độc lập Thực ra dân tộc Việt Nam trong lịch sử của mình đặcbiệt từ khi có đảng lãnh đạo đã khẳng định giá trị của hội nhập khi kết hợpcộng hưởng tài tình nội lực với ngoại lực trong sự nghiệp giải phóng dân tộc,thống nhất nước nhà và lập lại hòa bình Đương nhiên phương thức, quá trìnhhiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia sẽ tạo nên mức độ pháttriển khác nhau của từng nền kinh tế quốc gia Điều này càng đúng khi thếgiới đi vào toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa đặt mỗi nước xã hội trước những thực tế và những bài toánhết sức phức tạp, đòi hỏi vừa có tầm nhìn tổng thể, biện chứng vừa có hiểubiết rất cụ thể, vừa có thể thích nghi nhanh chóng và linh hoạt Để có thể làmđược điều đó, chúng ta Việt Nam nói chung và từng chủ thể kinh tế Việt Namnói riêng cần nghiên cứu suy ngẫm và tự xác định chúng ta đứng ở vị thế nàotrong “ thế giới phẳng”, trong “dây chuyền cung toàn cầu” Thiếu điều đókhông thể hội nhập kinh tế quốc tế thành công, không thể phát huy đầy đủ lợithế so sánh và tối ưu hoá các điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam.Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan dang lôi kéo tất cả các quốc gia
Trang 2vào vòng vận động của nó Tuy nhiên sân chơi quốc tế là một sự đọ sứckhông cân bằng và việc hội nhập mang lại cả những thời cơ vận hội và nhữngthách thức to lớn mà những quốc gia nghèo và hội nhập phải vượt qua ViệtNam là một nước đang phát triển và hội nhập muộn, quy mô và năng lực cạnhtranh còn hết sức nhỏ bé Việt Nam ra nhập và trở thành thành viên của các tổchức kinh tế và các tổ chức tài chính thế giới đã cho thấy sự hội nhập củachúng ta không chỉ còn dừng lại ở những phần chính sách hoặc trong một sốkhuôn khổ riêng biệt nào nữa Đó là sự hội nhập mang tính chủ động và cótầm nhìn dài hạn và đang được thực hiện theo đúng lộ trình của chúng ta, nhưchúng ta mong muốn Thông qua việc hội nhập này Việt Nam từng bướckhẳng định vị thế, vai trò đang càng ngày nổi lên như một thành viên rất tíchcực và có trách nhiệm trong cộng đồng kinh tế quốc tế Rõ ràng đường lối chủđộng hội nhập kinh tế thế giới của chúng ta mang lại những đóng góp tích cựccho nền kinh tế đất nước trong quá trình phát triển Chủ động hội nhập kinh tế
và khu vực là một chính sách lớn của Đảng cộng sản Việt Nam và nhà nướcViệt Nam Và trong quá trình hội nhập ấy nhà nước đóng vai trò rất quantrọng Sau đây là một số lĩnh vực quan trọng mà thể hiện được rõ nét nhấtnhững vai trò của nhà nước trong hội nhập kinh tế quốc tế
1) Vai trò của nhà nước đối với thương mại quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một phạm trù rộng bao quát nhiều lĩnh vực,nội dung trong đó ta phai kể đến đầu tiên và có lẽ là quan trọng nhất là thươngmại quốc tế Đặc biệt là trước những biến động phức tạp trong quan hệthương mại quốc tế, trước sự bảo hộ và tự vệ của các nước phát triển đối vớicác sản phẩm sản xuất trong nước vẫn được coi là các sản phẩm có lợi thế thìvai trò của nhà nước càng trở nên quan trọng
Vai trò của nhà nước trong thương mại quốc tế thể hiện trước hết ở việctạo lập môi trường pháp lý, chính sách kích thích sản xuất, nâng cao sức cạnh
Trang 3tranh của hàng hoá trên thị trường quốc tế theo hướng vừa phù hợp với điềukiện thực tế của đất nước, vừa phù hợp với luật chơi quốc tế, với các hiệpước, định chế quốc tế Một môi trường pháp lý và chính sách thuận lợi sẽ tạođiều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoàinhằm tăng qui mô xuất khẩu và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới,đồng thời bảo hộ hợp lý thị trường trong nước trước sự xâm nhập ngày càngmạnh mẽ của hàng hoá và dịch vụ nước ngoài Một chính sách kích thích sảnxuất tốt không chỉ đóng vai trò thúc đẩy năng lực sản xuất, bảo đảm đầu vào,đầu ra cho quá trình sản xuất mở rộng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng vềhàng hoá của xã hội mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác tiềmnăng, thế mạnh và lợi thế so sánh của đất nước, dẫn dắt sản xuất đi theo tínhiệu của thị trường để từ đó phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả,thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước
Hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam trong những năm qua đạtđược rất nhiều thành tựu do sự nỗ lực của các chủ thể trong nền kinh tế, đặcbiệt không thể không kể đến vai trò của nhà nước trong việc tạo lập môitrường, xây dựng được chính sách phù hợp có tác dụng hỗ trợ thực sự cácdoanh nghiệp đẩy mạnh xuất nhập khẩu, thông qua đó tác động đến phát triểnkinh tế Tuy nhiên, những thách thức to lớn nhất cũng đang đặt ra đòi hỏi nhànước phải vượt qua Sau đây là ba mảng nội dung quan trọng nhất thể hiện cụthể vai trò của nhà nước Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
Vai trò của nhà nước trong xây dựng thể chế thương mại và chính sách tự do hoá thương mại theo các cam kết quốc tế
Trong việc tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi cho doanh nghiệp vàhàng hoá Việt Nam, nhà nước đã và đang tiếp tục đẩy nhanh việc đàm phán,
ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương để tận dụng đượclợi thế của tự do hoá thương mại, hạn chế các rào cản thuế quan và phi thuế
Trang 4quan đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu vào các thị trường, Trong điều kiệnquốc tế hiện nay, khi các rào cản thương mại về hình thức đang được cởi bỏtheo khuyến cáo của WTO và các tổ chức quốc tế khác, nhưng về thực chấtdường như chúng lại được dựng lên ngày càng nhiều, dưới nhiều hình thứcphi thuế quan mà phổ biến là các rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn xã hội nhân vănthì việc đàm phán ký kết các hiệp định thương mại theo hướng phá bỏ các ràocản đối với thương mại và tăng khả năng tiếp cận thị trường giữa các quốcgia là vô cùng quan trọng ở đây nhà nước ta lại gặp một thách thức to lớn –thách thức của một chủ thể còn bỡ ngỡ, chưa quen với môi trường kinh doanh
và luật pháp quốc tế trong khi phải làm ăn, phải cạnh tranh với các đối tác đãgià dặn kinh nghiệm trong cả năng lực sản xuất, buôn bán và biết bảo vệquyền lợi của họ Hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách trong nước phảiđược hoàn thiện theo hướng minh bạch, rõ ràng và mang tính có thể dự báođược Nhà nước cần tiếp tục xây dựng, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thốngpháp luật kinh tế- thương mại trong nước cho sát hợp với các định chế của tổchức thương mại thế giới, các cam kết quốc tế và bắt kịp với xu hướng vậnđộng của thương mại quốc tế Yêu cầu này xem qua có vẻ dễ dàng nhưng khiđộng đến những điều khoản luật pháp cụ thể (mà số lượng các văn bản phápqui phải sửa đổi quả là không nhỏ – khoảng trên dưới 200 ), vấn đề không hề
dễ dàng đi đến thống nhất và giải quyết
Tự do hoá thương mại là xu thế chung của thương mại quốc tế Tuynhiên, tuỳ theo mức độ phát triển kinh tế cũng như sức cạnh tranh của hànghoá và dịch vụ trên thị trường quốc tế mà các nước đề ra lộ trình hội nhậpcũng như mức độ tự do hoá khác nhau Để tiến tới tự do hoá thương mại, ViệtNam một mặt cần phải cụ thể hoá hơn nữa các nguyên tắc tối huệ quốc, đối
xử quốc gia, xây dựng các trình tự, điều kiện, thủ tục áp dụng các chế độ nàytrong quan hệ thương mại; mặt khác có chiến lược và sách lược bảo hộ bộphận trong thời kỳ hội nhập để dành lợi thế cạnh tranh khi không còn điềukiện bảo hộ sau này Đối với hội nhập AFTA, bên cạnh việc từng bước thực
Trang 5hiện tự do hoá thương mại theo các cam kết trong CEPT/ AFTA, Việt Namcần tiếp tục điều chỉnh chính sách bảo hộ Nhà nước cần tích cực chuẩn bị đểsẵn sàng sử dụng các biện pháp tự vệ như thuế chống bán phá giá, thuế đốikháng, thuế tuyệt đối, thuế thời vụ để ổn định chính sách bảo hộ, đồng thờităng cường công tác chống buôn lậu có hiệu quả trên các tuyến biên giới,vùng biển và thị trường nội địa.
Vai trò của nhà nước trong hoạch định Chính sách xuất nhập khẩu
Nhà nước cần chỉ đạo các cơ quan nhà nước có liên quan điều tra, phânloại, đánh giá khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm, từng ngành hàng, từngloại dịch vụ, từng doanh nghiệp, từng địa phương để xây dựng kế hoạch, biệnpháp thiết thực nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp
và cho hàng hoá, dịch vụ Việt Nam Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho côngtác nghiên cứu, phân tích, đánh giá và khai thác lợi thế so sánh của Việt Nam
để tạo cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, chính sách và ra các quyết địnhthích hợp trong tiến trình hội nhập Từ việc xác định ưu thế cạnh tranh và lợithế so sánh của các mặt hàng để xây dựng phương án đầu tư, đổi mới côngnghệ vào từng mặt hàng theo thứ tự ưu tiên, kết hợp đa dạng hoá các nguồnhàng và thị trường xuất khẩu để giảm thiểu thiệt hại khi thị trường thế giớibiến động Lợi thế so sánh không phải là yếu tố “nhất thành, bất biến” cũngkhông phải chỉ là các yếu tố nội sinh mà luôn luôn thay đổi và do nhiều yếu tốtác động như: cách ứng xử của các chủ thể trong thương mại quốc tế, sự pháttriển của khoa học công nghệ, sự thay đổi chu kỳ sống của sản phẩm và sựthay đổi của các chính sách và các cam kết quốc tế Do đó việc nghiên cứu đểnhận dạng lợi thế so sánh của Việt Nam nhất là lợi thế so sánh động có vai tròquyết định đến sự thành bại khi tham gia thương mại quốc tế
Cần chuyển đổi cơ cấu hàng xuất khẩu, tăng cường tỷ trọng hàng chếbiến sâu, có giá trị gia tăng, hàm lượng kỹ thuật cao, đầu tư để tạo ra một sốmặt hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch lớn Ngoài ra nhà nước cần loại bỏ
Trang 6cơ chế xin- cho trong việc cấp hạn ngạch, chuyển sang đấu thầu hạn ngạch, sửdụng hạn ngạch thuế quan Chính sách nhập khẩu phải phù hợp, vừa bảo hộhợp lý sản xuất trong nước, vừa phục vụ yêu cầu phát triển sản xuất và tiêudùng thiết yếu trong nước.
Để đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, các cơ quan ngoại giao vàthương vụ Việt Nam ở nước ngoài cần đóng vai trò tích cực hơn nữa trongviệc cung cấp thông tin về pháp luật, thị trường, thị hiếu, yêu cầu về chấtlượng sản phẩm, các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm nhập khẩucủa các nước để giúp các doanh nghiệp trong nước thu thập được đầy đủthông tin, từ đó xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường Các cơ quan đạidiện của Việt Nam ở nước ngoài cần đẩy mạnh hoạt động phối hợp với cácdoanh nghiệp, tổ chức các chiến dịch quảng cáo, triển lãm hàng Việt Nam ởnước ngoài Nhà nước cần hỗ trợ mạnh hơn nữa để nâng cao năng lực củamạng lưới xúc tiến thương mại, đặc biệt là năng lực cung cấp thông tin,marketing thông qua việc hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật nghiệp vụ, chuyên mônmiễn phí, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực và các hỗ trợ cần thiết khác Nhànước nên tăng thêm biên chế thương vụ, tăng kinh phí cho họ, thiết lập thêmđại diện thương vụ tại các nước và khu vực có đặt tổng lãnh sự quán nhằmtăng cường năng lực cho các tổ chức xúc tiến thương mại trong hoạt độngphát triển thị trường Nhà nước cần có chính sách khuyến khích và tạo điềukiện thuận lợi cho việc thành lập và phát triển các tổ chức xúc tiến thươngmại phi chính phủ và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh.Nhà nước cũng cần hỗ trợ tăng cường năng lực cho các tổ chức đóng góp, tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế như các thể chế tàichính, ngân hàng, bảo hiểm, giao nhận, vận tải, hải quan, cảng vụ Đặc biệt,cần cải cách các thủ tục thẩm định tín dụng, các dịch vụ của các ngân hàngthương mại để tạo điều kiện thuận lợi cho thanh toán quốc tế Nhà nước cũngcần hỗ trợ các doanh nghiệp thành lập các hiệp hội ngành hàng xuất khẩu để
hỗ trợ lẫn nhau trong xuất khẩu và tăng sức cạnh tranh Nhà nước nên xem
Trang 7xét qui định khống chế tỷ lệ chi phí cho hoạt động quảng cáo của các doanhnghiệp vì với tỷ lệ chi phí dành cho quảng cáo thấp như hiện nay (5%), hoạtđộng xúc tiến thương mại quốc tế của các doanh nghiệp bị hạn chế rất nhiều.Ngoài ra, nhà nước cần tiếp tục và bổ sung thêm các chính sách hỗ trợcác doanh nghiệp trong nước hoạt động xuất khẩu như thưởng xuất khẩu, trợcấp xuất khẩu, xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của quĩ hỗ trợ xuấtkhẩu từ nguồn ngân sách và nguồn đóng góp của các doanh nghiệp, trước hết
là các ngành hàng có kim ngạch lớn
Vai trò của nhà nước trong xây dựng và hoàn thiện các chính sách kinh tế liên quan
Tăng cường vai trò của nhà nước trong việc sử dụng linh hoạt các công
cụ kinh tế vĩ mô để thúc đẩy thương mại quốc tế như xác định tỷ giá hối đoáihợp lý, sát với sức mua của đồng Việt Nam và kích thích xuất khẩu, hỗ trợ lãisuất cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, tiếp tục hoàn thiện chính sáchthuế, cơ cấu nguồn thu và tỷ suất thuế phải được điều chỉnh để vừa đáp ứngđược yêu cầu, thông lệ quốc tế vừa đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách.Trên cơ sở nguyên tắc “không phân biệt đối xử” và “tự do hoá từng bước”,Nhà nước phải xoá bỏ dần nhưng triệt để các loại giá, phí, sắc thuế có tínhchất phân biệt đối xử, giảm dần thuế nhập khẩu, miễn thuế hoàn toàn chohàng hoá xuất khẩu, cải tiến thủ tục hành chính, hải quan để tránh gây phiền
hà cho hoạt động xuất khẩu Nhà nước cũng cần phải thiết lập chính sách lãisuất mềm dẻo, linh hoạt theo hướng giảm chi phí vốn cho các doanh nghiệp
và kích cầu cho nền kinh tế, đảm bảo theo kịp và làm chủ được những biếnđộng của thị trường
Nhà nước cần bảo vệ và hỗ trợ cho doanh nghiệp xây dựng thương hiệu
để hàng Việt Nam có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc
tế, rút ngắn thời gian và thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu
Trang 8thương hiệu, bằng phát minh, sáng chế, hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký, quản lý
và bảo hộ thương hiệu Việt Nam ở thị trường nước ngoài
Để hàng hoá Việt Nam có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và thuhút được các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đầu tư sản xuất hàng xuấtkhẩu, cần giảm giảm giá thành sản phẩm, mà trước hết, cần giảm các loại chiphí giao dịch, chi phí trung gian, chi phí độc quyền Muốn vậy nhà nước cầncan thiệp để có mức giá phù hợp đối với các hàng hoá, dịch vụ vốn đang đượcđộc quyền cung ứng như nước, điện, viễn thông, phí cảng vụ, cước vận tải nộiđịa…
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện nay làm xuất hiệnhình thức mua bán mới là thương mại điện tử Hình thức thương mại này rấtphù hợp với việc mua bán các hàng hoá vô hình và dịch vụ – những sản phẩm
mà nhu cầu đang ngày càng gia tăng Thương mại điện tử khiến nền kinh tếthế giới càng trở nên năng động hơn, nó góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhậpcủa tất cả các nước, trong đó có nước ta Vì vậy, nhà nước cần đầu tư mạnhcho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông,đào tạo và phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật, kinh tế, quản lý; xây dựngchính sách phát triển khoa học công nghệ, thiết lập thị trường khoa học côngnghệ, hiện đại hoá hệ thống thanh toán, ban hành pháp luật về thương mạiđiện tử phù hợp với Luật thương mại điện tử quốc tế và các cam kết thươngmại điện tử mà Việt Nam tham gia Tham gia mạnh mẽ vào thương mại điện
tử là điều kiện để Việt Nam tham gia sâu rộng hơn và nhanh hơn vào thịtrường thế giới
2) Vai trò của nhà nước đối với thương mại và dịch vụ (TMDV) trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Những năm gần đây, quy mô của TMDV ngày càng mở rộng: Giá trị cácngành dịch vụ mỗi năm đều tăng, trung bình từ năm 1991-2000 tăng 7,18%
Du lịch phát triển đa dạng, phong phú, chất lượng dịch vụ được nâng lên
Trang 9Dịch vụ vận tải về cơ bản đáp ứng được nhu cầu giao lưu hàng hoá và đi lạicủa nhân dân; khối lượng luân chuyển hàng hoá tăng 12%/năm và luânchuyển hành khách tăng 5,5%/năm Dịch vụ bưu chính - viễn thông có bướcphát triển và hiện đại hoá nhanh, tăng trung bình 18-20%/năm Các dịch vụtài chính, kiểm toán, ngân hàng, bảo hiểm được mở rộng và có những đổimới quan trọng, tăng bình quân 7,0%/năm; thị trường dịch vụ bảo hiểm đượchình thành với sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.Các loại dịch vụ khác như tư vấn pháp luật, khoa học và công nghệ bắt đầuphát triển Không chỉ đáp ứng được nhu cầu trong nước, các ngành dịch vụnước ta đã bắt đầu xâm nhập vào thị trường thế giới.
Cần phải tránh nhận thức sai lầm là tự do hóa TMDV đồng nghĩa vớiviệc thả nổi khu vực dịch vụ Bởi vì, sự điều tiết chặt chẽ của Nhà nước vàChính phủ đối với khu vực dịch vụ sẽ đóng vai trò then chốt đối với việc tăngcường năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chính vìvậy, quản lý nhà nước (QLNN) đối với các hoạt động TMDV tại Việt Namtrong bối cảnh hiện nay là điều vô cùng cần thiết
Quá trình mở cửa và từng bước tự do hoá thị trường dịch vụ luôn đi cùngvới việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh Từ khi đổimới mô hình quản lý kinh tế, khuôn khổ pháp lý cho khu vực dịch vụ của ViệtNam được phát triển nhanh chóng Nhiều văn bản pháp lý quan trọng điềuchỉnh các ngành dịch vụ đã và đang được Nhà nước ban hành như Luật Xâydựng, Luật Kế toán, Luật Hàng không dân dụng, Luật Ngân hàng nhà nước,Luật Hàng hải , và các văn bản pháp luật có tính liên ngành như LuậtThương mại, Luật Đất đai, Bộ luật Lao động và Luật Đầu tư Tuy nhiên,khuôn khổ pháp luật cho lĩnh vực TMDV vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, môitrường chính sách còn phức tạp và phần nào mâu thuẫn, cần được sửa đổi vàhoàn thiện
Trang 10Cơ quan QLNN là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép cung ứng dịch
vụ và quyết định việc gia nhập thị trường dịch vụ đối với doanh nghiệp, điềutiết các hoạt động của thị trường dịch vụ như định hướng phát triển và độ lớncủa thị trường, chính sách giá cả, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ, giải quyếttranh chấp, bảo vệ lợi ích khách hàng Không giống như các khu vực khác,dịch vụ có đặc thù là có nhiều mối quan hệ liên ngành và trong nội bộ ngành
ở mức độ cao nên sự phát triển của nó phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp giữacác bộ và các cơ quan Tuy nhiên, hiện nay, mỗi ngành dịch vụ thường chịu
sự quản lý của một bộ hoặc một ngành; ngoài ra, UBND tỉnh và các sở cũngchịu trách nhiệm về hoạt động của ngành dịch vụ đó trong phạm vi tỉnh Kếtquả là thị trường dịch vụ tại Việt Nam bị chia cắt do hệ thống quản lý hànhchính phức tạp với các mối liên kết chằng chịt, cả theo hàng dọc và hàngngang
Hiện nay, thể chế quản lý kinh tế trong TMDV còn thiếu sự tách bạchgiữa công tác quản lý và hoạt động kinh doanh Các bộ chủ quản có tráchnhiệm QLNN trong các ngành của mình đồng thời cũng là đại diện chủ sởhữu của Nhà nước trong công tác quản lý các doanh nghiệp quốc doanh cungcấp dịch vụ Mâu thuẫn lợi ích xuất phát từ tình trạng “vừa đá bóng vừa thổicòi” này khiến công tác quản lý về mặt chính sách gặp không ít khó khăn, dẫnđến sự độc quyền trong cung cấp dịch vụ
Việc tổ chức QLNN chồng chéo kéo theo nhiều hạn chế trong phát triểnTMDV Có thể nói, tổ chức bộ máy QLNN về TMDV ở nước ta còn lỏng lẻo,thiếu sự quản lý thống nhất có hệ thống và chưa đáp ứng được yêu cầu chung.Đến nay, vẫn chưa có một cơ quan QLNN nào được Chính phủ giao nhiệm vụđầu mối chuyên trách về quản lý TMDV, dẫn đến nhiều hậu quả không tíchcực: tăng chi phí giao dịch cho các doanh nghiệp dịch vụ trong và ngoài nước,giảm lợi nhuận và sức cạnh tranh của khu vực dịch vụ, từ đó làm gia tăng chiphí kinh doanh của các ngành sản xuất, giảm sức cạnh tranh của các ngành
Trang 11kinh tế Đặc biệt là ngành tài chính, ngân hàng với vai trò quan trọng trongviệc đảm bảo phân bổ các nguồn lực, nếu không được quản lý tốt sẽ làm giảmđáng kể lượng đầu tư và hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởngkinh tế.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của nhà nước trongquản lý hoạt động TMDV tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:
a) Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh:
Cạnh tranh luôn là yếu tố động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh của giaolưu kinh tế thương mại toàn cầu Trong kinh doanh dịch vụ ở nước ta, vấn đềcản trở nhất hiện nay là đa số các ngành dịch vụ đều thuộc độc quyền khaithác của một hay một vài doanh nghiệp do Nhà nước quản lý Hệ quả tất yếucủa độc quyền và tập trung kinh tế là hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh khônglành mạnh Theo Luật Cạnh tranh, một doanh nghiệp được coi là có vị tríthống lĩnh thị trường khi chiếm từ 30% thị phần trở lên Việc một công ty cónguồn tài chính và sức mạnh có thể mua lại bất kỳ doanh nghiệp nào để trởthành độc tôn trên thị trường mà không phải cạnh tranh là mối nguy hạinghiêm trọng cho môi trường cạnh tranh và sự phát triển kinh tế Vì vậy, tạo
ra cạnh tranh luôn song hành cùng vấn đề xử lý độc quyền qua việc cho phépnhiều doanh nghiệp mới cùng tham gia thị trường dịch vụ
Nhưng cạnh tranh hiệu quả đạt được bằng cách nào? Kinh nghiệm chothấy sự hiện diện của một doanh nghiệp chủ đạo thuộc sở hữu nhà nước cóthể ngăn chặn việc hình thành các lực lượng cạnh tranh Chính phủ thườngbảo vệ các doanh nghiệp nhà nước bằng cách chỉ cho phép cạnh tranh ởnhững phân đoạn thị trường nhỏ hoặc những khu vực địa lý nhất định Nhữngnhà cung cấp mới gia nhập thị trường dịch vụ sẽ khó có thể cạnh tranh nổinếu các công ty nhà nước duy trì giá dịch vụ ưu đãi hơn nhiều hoặc vẫn cócác biện pháp bảo hộ trợ giá khác của Chính phủ Các kết quả nghiên cứu cho