Năm 2007 là năm đất nước ta đã đón chào nhiều sự kiện nổi bật và cùng với nó là nhiều con số rất đáng tự hào. Đặc biệt, trong lĩnh vực đầu tư, lượng vốn đầu tư nước ngoài thu hút được đã đạt mức cao nhất 20,3 tỷ USD, lượng kiều hối 5 tỷ đạt mức cao nhất…
Trang 1Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU VÀ MỐI QUAN HỆ ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU 4
I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 4
1 Khái niệm và phân loại 4
1.1 Khái niệm đầu tư 4
1.2 Khái niệm đầu tư phát triển 4
1.3 Phân loại đầu tư 4
1.4 Đặc điểm của đầu tư phát triển 5
2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư 6
2.1 Thu nhập 6
2.2 Chi phí 6
2.3 Môi trường đầu tư 7
II NỘI DUNG CỦA ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU VÀ MỐI QUAN HỆ ĐTCR VÀ ĐTCS 8
1 Đầu tư chiều rộng 8
1.1 Khái niệm 8
1.2 Nội dung của đầu tư chiều rộng 8
1.3 Ưu, nhược điểm: 8
1.3.1 Ưu điểm 8
1.3.2 Nhược điểm 9
1.4 Vai trò của đầu tư theo chiều rộng 9
2 Đầu tư theo chiều sâu 9
2.1 Khái niệm: 9
2.2 Nội dung và đặc điểm của đầu tư theo chiều sâu: 10
2.2.1 Nội dung đầu tư theo chiều sâu 10
2.2.2 Đặc điểm của đầu tư theo chiều sâu: 11
2.3 Sự cần thiết khách quan phải có đầu tư theo chiều sâu: 12
3 Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu 13
3.1 ĐTCR là nền cơ sở, là bước đi đầu tiên để đầu tư chiều sâu 13
3.2 Đầu tư chiều sâu tiếp tục tạo tiền đề để đầu tư chiều rộng 14
3.3 Đầu tư chiều sâu và đầu tư chiều rộng không tách rời nhau, đan xen và bổ sung lẫn nhau trong quá trình thực hiện chiến lược đầu tư phát triển của doanh nghiệp và đầu tư chiều sâu là chiến lược lâu dài của doanh nghiệp 15
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu 16
4.1 Sự tác động từ yếu tố cung cầu thị trường 16
4.2 Đặc tính sản phẩm 17
4.2.1 Vòng đời của sản phẩm 17
4.2.2 Chu kỳ sống của sản phẩm 17
4.3 Môi trường vĩ mô 18
4.3.1 Môi trường tự nhiên 18
4.3.2 Môi trường kinh tế xã hội văn hoá 18
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, CHIỀU SÂU VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU 20
I THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, CHIỀU SÂU 20
1 Đầu tư theo chiều rộng 20
1.1 Thành tựu của đầu tư theo chiều rộng 20
1.2 Hạn chế của đầu tư theo chiều rộng 24
2 Thực trạng của đầu tư theo chiều sâu 25
Trang 2
2.1 Thành tựu 25
2.2 Hạn chế 28
II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ KẾT HỢP ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU 31
1 Tình hình kết hợp đầu tư chiều rộng và chiều sâu ở nước ta hiện nay 31
2 Tình hình kết hợp đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu trong các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay 34
3 Những vấn đề tồn tại cần khắc phục để sự phối kết hợp đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu để đạt hiệu qủa cao 36
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KẾT HỢP HÀI HÒA GIỮA ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU VÀ ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG 41
I PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU TRONG DOANH NGHIỆP 41
1 Phương hướng nâng cao hiệu quả đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu trong doanh nghiệp 41
1.1 Lựa chọn lĩnh vực đầu tư phù hợp với định hướng tổ chức, 41
1.2 Triệt để khai thác các nguồn lực xã hội, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu trong các doanh nghiệp 42
II MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KẾT HỢP ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU TRONG DOANH NGHIỆP 42
1 Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư chiều rộng, đầu tư chiều sâu 42
1.1 Về phía nhà nước 43
1.2 Về phía doanh nghiệp 44
2 Kết hợp hài hòa mối quan hệ giữa đầu tư chiều sâu và đầu tư chiều rộng trong doanh nghiệp 45
III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM KẾT HỢP ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU ĐẠT ĐƯỢC HIỆU QUẢ CAO TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 46
KẾT LUẬN 48
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 3
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007 là năm đất nước ta đã đón chào nhiều sự kiện nổi bật và cùng với nó lànhiều con số rất đáng tự hào Đặc biệt, trong lĩnh vực đầu tư, lượng vốn đầu tư nước ngoàithu hút được đã đạt mức cao nhất 20,3 tỷ USD, lượng kiều hối 5 tỷ đạt mức cao nhất…Đâyquả là những dấu hiệu tốt, những điều kiện tiền đề vô cùng quan trọng đối với nước ta, mộtnước đang phát triển rất cần vốn cho hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng…Tuy nhiên, cóđược vốn rồi thì một vấn đề không kém phần quan trọng là sử dụng vốn sao cho có hiệuquả Đây không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước mà cũng là của các doanhnghiệp Đầu tư như thế nào để đem lại tăng trưởng kinh tế cho đất nước, lợi nhuận cao chodoanh nghiệp?
Như chúng ta đã biết, xu hướng đầu tư hiện nay ở đất nước ta cũng như trên thế giớichính là đầu tư chiều sâu kết hợp với đầu tư chiều rộng, mở rộng sản xuất Tuy vậy, khôngphải lúc nào hai hình thức này cũng được kết hợp một cách có hiệu quả trong nền kinh tế
và trong cả doanh nghiệp Vậy thực trạng hai hình thức này ở Việt Nam ra sao? Thành tựu
mà chúng ta đạt được là gì? Làm thế nào để khắc phục được những hạn chế còn tồn tại?Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, nó quyết định chất lượng, sự phát triển bền vữngcủa nền kinh tế và sự tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp Do đó, chúng tôi, những
sinh viên của chuyên ngành đầu tư đã chọn nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu”.
Trang 4
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU VÀ MỐI QUAN HỆ ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU
I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
1.1 Khái niệm đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạtđộng nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơncác nguồn lực đã bỏ để đạt được kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư
là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phảigánh chịu khi tiến hành đầu tư
Nguồn lực đó có thể là tiền, TNTN, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đó cóthể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất và nguồn nhân lực có đủ điều kiện
để làm việc với năng suất cao
Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào một hoạt động nào đó nhằm thu
về mục đích và mục tiêu cho chủ đầu tư trong tương lai
Theo phương diện tài chính: Đầu tư là một chuỗi hoạt động chi tiêu để chủ đầu tưnhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời
Theo phương diện tiêu dùng: Đầu tư là hình thức hạn chế tiêu dùng hiện tại để thu
về một mức tiêu dùng cao hơn trong tương lai
1.2 Khái niệm đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp Hoạt động đầu tư nàynhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đờisống của xã hội
Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất
và cung ứng dịch vụ Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng
và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia
1.3 Phân loại đầu tư
Theo bản chất của đối tượng đầu tư: Đầu tư cho các đối tượng vật chất, Đầu tư chocác đối tượng tài chính, đầu tư cho các đối tượng phi vật chất
Theo cơ cấu tái sản xuất: Đầu tư chiều rộng, đầu tư chiều sâu
Theo phân cấp quản lý: Tuỳ theo tính chất và quy mô đầu tư của dự án mà phânthành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B và C, trong đó, dự án quan trọng quốc
Trang 5gia do Quốc hội quyết định, dự án nhóm A do Thủ tướng Chính phủ quyết định, nhóm B
và C do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ, UBNDtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định
Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của các kết quả đầu tư: Đầu tư phát triển sảnxuất kinh doanh, Đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: Đầu tư cơ bản, đầu tư vận hành.Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội:Đầu tư lĩnh vực lưu thông dịch vụ, đầu tư sản xuất
Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi vốn đã bỏ ra của các kếtquả đầu tư: Đầu tư ngắn hạn, đầu tư trung hạn và đầu tư dài hạn
Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp
Theo nguồn vốn: Vốn huy động trong nước, vốn huy động từ nước ngoài
Theo vùng lãnh thổ: cách phân loại này phản ánh tình hình đầu tư của từng tỉnh, từngvùng kinh tế và ảnh hưởng của đầu tư đối với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từngđịa phương
1.4 Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau:
Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thườngrất lớn Vốn đầu tư lớn và nằm khê đọng trong suốt qúa trình thực hiện đầu tư, đây làcái giá phải trả khá lớn của ĐTPT Lao động cần sử dụng cho các dự án rất nhiềunhất là các dự án trọng điểm quốc gia
Thời kỳ đầu tư kéo dài: Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi
dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: Các công trình đầu tư phát triển cógiá trị sử dụng lâu dài, có khi hàng trăm, hàng ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnhviễn như các công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới (Kim Tự Tháp cổ Ai Cập, nhà thờ
La Mã ở Rôm, Vạn lý trường thành ở Trung Quốc…) Đây là những thành tựu to lớncủa đầu tư phát triển
Các thành quả của các hoạt động ĐTPT sẽ là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ởngay nơi mà nó được tạo dựng nên, do đó, các điều kiện về địa lý, địa hình, tập quánsinh hoạt có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, vận hành các kết quảđầu tư của dự án
Đầu tư phát triển có rủi ro cao: Do quy mô vốn lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thờigian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài… nên mức độ rủi ro của hoạt động
Trang 6đầu tư thường cao Như vậy, để hoạt động đầu tư có hiệu quả cần thực hiện các biệnpháp quản lý rủi ro như: nhận diện rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro, xây dựng biệnpháp phòng chống rủi ro.
Hiệu quả của đầu tư chịu nhiều ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố tác động qua lại, đanxen lẫn nhau Thực chất, hiệu quả của đầu tư là lợi nhuận do hoạt động đầu tư mang lại.Hay nói cách khác, các doanh nghiệp chỉ đầu tư khi dự kiến rằng hoạt động đầu tư (xâydựng một nhà máy mới, mua một nhà máy mới, hay thay thế một dây chuyền côngnghệ… ) sẽ tạo ra cho họ lợi nhuận, nghĩa là họ sẽ thu về được một số tiền lớn hơn số tiền
do họ bỏ ra đầu tư Điều đó chứng tỏ, hiệu quả của hoạt động đầu tư phụ thuộc vào 3 yếu
tố cơ bản là thu nhập, chi phí và môi trường đầu tư
2.1 Thu nhập
Ở góc độ vĩ mô (phạm vi toàn bộ nền kinh tế): khi số lượng hàng bán ra tăng lên hay
số “đầu ra” có xu hướng tăng lên sẽ làm tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tăngtrưởng kinh tế, mặt khác theo nguyên tắc gia tốc thì những thay đổi về sản lượng có thểbiến thành những thay đổi lớn hơn về đầu tư và như vậy sẽ làm tăng tỷ lệ đầu tư phát triểntrên GDP tức hiệu quả của đầu tư tăng
Ở góc độ vi mô: sản phẩm bán được nhiều khiến cho doanh thu bán hàng tăng, khi
đó chi phí cố định không thay đổi mang lại lợi nhuận (lãi ròng) trực tiếp cho doanh nghiệp.Theo đó, hiệu quả của đầu tư tăng lên tương ứng, tăng vòng quay vốn, rút ngắn thời gianhoàn vốn, tăng đáng kể các chỉ tiêu NPV, B/C… ngược lại, sau đầu tư mà sản phẩm củadoanh nghiệp bán ra không tăng hoặc tăng chậm, doanh thu bán hàng không cao tức là đầu
tư không hiệu quả
2.2 Chi phí
Chi phí đầu tư sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao độngsống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất trongmột chu kỳ kinh doanh nhất định
Chi phí đầu tư sản xuất có nội dung rất phức tạp với nhiều phương pháp tính khácnhau,nó có mối quan hệ chặt chẽ với chỉ tiêu kinh tế_kỹ thuật khác, ảnh hưởng đến các chỉtiêu đánh giá hiệu quả đầu tư sản xuất:
Lãi suất: trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư ngoài các nội dung về thị trường, côngnghệ, quy mô… thì nội dung quan trọng và có ý nghĩa quyết định thực hiện dự án là khảnăng huy động vốn đầu tư Cung về nguồn vốn đầu tư cho thấy nguồn vốn trong nước có
Trang 7vai trò quyết định, vốn đầu tư nước ngoài là quan trọng, trong đó lãi suất là cầu nối giữacung và cầu vốn đầu tư Có nghĩa là dù nhu cầu vốn đầu tư lớn nhưng lãi suất quá cao thìkhả năng cung cấp vốn đầu tư bị hạn chế, không thoả mãn được nhu cầu về vốn đầu tư.Thuế: một yếu tố chi phí quan trọng khác ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đầu tư đó
là thuế Trong những năm gần đây, thực hiện đổi mới nền kinh tế, chính sách thuế của ViệtNam thể hiện rõ quan điểm ưu tiên cho hoạt động đầu tư, miễn giảm 50% thuế doanh thu
từ 1-2 năm, thuế lợi tức doanh nghiệp từ 2-4 năm đối với những cơ sở mới thành lập và đivào sản xuất Đặc biệt là đối với việc đầu tư nhằm đồng bộ hoá dây chuyền công nghệ vàhiện đại hoá máy móc thiết bị Thể hiện, giảm 100% thuế nhập khẩu đối với nhập khẩumáy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ trọn bộ (không tính thuế doanh thu đối với thiết bịtrọn bộ đi liền với công trình xây dựng căn bản …) Điều đó đã thực sự mang lại hiệu quảcho các nhà đầu tư, đồng thời khuyến khích đầu tư, đổi mới công nghệ, áp dụng nhữngthành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất kinh doanh
2.3 Môi trường đầu tư
- Ổn định về chính trị xã hội: chế độ chính trị xã hội của một quốc gia ổn định trong mộtthời gian dài sẽ tạo lòng tin cho các nhà đầu tư, đây là điều kiện tiên quyết cho mọi ýđịnh và hành vi đầu tư An toàn về vốn đòi hỏi môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, khônggặp rủi ro do các yếu tố chính trị xã hội hay môi trường pháp lý
- Chế độ chính sách quản lý đầu tư: nó có thể gây ra nhiều thất thoát, lãng phí lớn khiđồng vốn đầu tư bỏ ra không tương xứng với giá trị đầu tư làm cho đầu tư kém hiệuquả Nó tác động trực tiếp đến chất lượng công trình xây dựng cơ bản, làm giảm tuổithọ của các dự án, không đáp ứng đầy đủ chỉ tiêu hiệu quả đầu tư Đồng thời cũng tácđộng trực tiếp lên môi sinh, môi trường (có những dự án đầu tư mang lại hiệu quả kinh
tế nhưng làm tác hại lớn đến môi trường: chất thải, khí độc…)
- Chính sách đổi mới công nghệ: nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư chiều sâu,nếu không có chính sách công nghệ quốc gia phù hợp thì sẽ bị lệ thuộc về công nghệ,gây lãng phí vốn…
- Hệ thống thông tin: hệ thống thông tin giúp các nhà đầu tư nắm bắt được nhu cầu củasản phẩm và các sự phát triển của khoa học công nghệ trên thế giới … để các nhà đàu tư
có quyết định hiệu quả và chính xác
Tóm lại, hiệu quả đầu tư chịu tác động của nhiều nhân tố Muốn nâng cao hiệu quảđầu tư trước hết ta cần phải nhận thức đầy đủ và đúng đắn về thực chất của các nhân tố tácđộng để từ đó có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu
Trang 8cực, thúc đẩy những ảnh hưởng tích cực, mang lại hiệu quả đầu tư tối ưu cho doanhnghiệp…
II NỘI DUNG CỦA ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU VÀ MỐI QUAN HỆ ĐTCR VÀ ĐTCS
1.1 Khái niệm
Đầu tư chiều rộng là hình thức đầu tư trên cơ sở cải tạo và mở rộng cơ sở vật chất
kỹ thuật hiện có, xây dựng mới nhưng với kỹ thuật công nghệ không đổi
1.2 Nội dung của đầu tư chiều rộng
Đầu tư chiều rộng là đầu tư xây dựng mới nhà cửa, cấu trúc hạ tầng theo thiết kếđược phê duyệt lần đầu làm tăng thêm lượng tài sản vật chất tham gia vào quá trình sảnxuất kinh doanh Tuy vậy tính kỹ thuật của các công trình tài sản đó vẫn dựa trên nhữngthiết kế có sẵn chưa được cải tạo và hiện đại hoá
Đầu tư chiều rộng là hoạt động mua sắm máy móc thiết bị để đổi mới thay thế chonhững thiết bị cũ theo một dây chuyền công nghệ đã có từ trước
Đầu tư chiều rộng là mở rộng quy mô sản xuất mà không làm tăng năng suất laođộng Đó là đầu tư cho cả bốn yếu tố của đầu vào là lao động, vốn, công nghệ và tàinguyên một cách tương xứng như nhau, theo một tỷ lệ như cũ để sản xuất theo công nghệhiện tại
Như vậy thực chất của đầu tư chiều rộng là để mở rộng quy mô sản xuất nhằm sảnxuất một khối lượng sản phẩm lớn hơn nữa trên cơ sở xây dựng mới thêm các hạng mụccông trình như nhà xưởng sản xuất, thuê thêm nhiều nhân công để đáp ứng khối lượng yêucầu tăng thêm của sản xuất và đào tạo cơ bản cho họ
có thể đáp ứng được công việc
1.3 Ưu, nhược điểm:
1.3.1.Ưu điểm
Đầu tư chiều rộng thành công tạo ra sự tăng nhanh về số lượng sản phẩm
Dựa trên cơ sở khoa học công nghệ ban đầu, đầu tư theo chiều rộng không cầntiến hành nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ mới, giảm được chi phí vềthời gian và tiền bạc
Trang 9
Đầu tư theo chiều rộng góp phần mở rộng quy mô nhà xưởng của doanh nghiệp ởnhiều vùng địa phương, góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ cũng như tăng khảnăng tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào
Đầu tư theo chiều rộng tạo ra cho nền kinh tế hệ thống công trình xây dựng hoạtđộng trong nhiều năm, tăng việc làm, giảm thất nghiệp
Lợi nhuận thu được từ đầu tư theo chiều rộng chủ yếu nhờ tăng số lao động sống
do vậy doanh nghiệp phải tuyển thêm nhiều lao động
Nếu chỉ đầu tư theo chiều rộng thì nền kinh tế khó có thể có được sự tăng tốc vàkhó đạt hiệu quả cao
1.4 Vai trò của đầu tư theo chiều rộng
Đầu tư theo chiều rộng có vai trò hết sức quan trọng
Đối với toàn bộ nền kinh tế: Đầu tư theo chiều rộng là nhân tố làm tăng quy mô của
nền kinh tế, tạo đà cho nền kinh tế tăng trưởng với quy mô lớn hơn trước trên cơ sở xâydựng mới và mở rộng nhiều vùng kinh tế, nhiều khu, cụm công nghiệp trên khắp cả nước
Do đó nó còn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế, thúc đẩy, tạo điều kiện
và hỗ trợ các vùng kinh tế chậm phát triển, vùng sâu vùng xa được tham gia vào quá trìnhphát triển kinh tế của đất nước một cách tích cực hơn, mạnh mẽ hơn
Đối với các doanh nghiệp: Đầu tư chiều rộng đi cùng với việc có thêm nhiều cơ sở
sản xuất kinh doanh được xây dựng thêm khiến cho quy mô sản xuất của các doanh nghiệpđược mở rộng, đưa năng suất tăng lên cho phép khai thác hiệu quả theo quy mô Nó còngóp phần tạo ra nhiều việc làm mới, giải quyêt công ăn việc làm cho người lao động ở cácđịa phương; làm tăng doanh thu của các doanh nghiệp, góp phần làm tăng ngân sách nhànước, đóng góp vào đà tăng trưởng chung của nền kinh tế Đầu tư chiều rộng có hiệu quảcàng nhiều thì doanh nghiệp càng có điều kiện về vốn, lao động tài nguyên, công nghệ đểphát triển sản xuất
2.1 Khái niệm:
Trang 10
Đầu tư theo chiều sâu là hình thức đầu tư cải tạo, mở rộng, nâng cấp thiết bị hoặcđầu tư đổi mới dây truyền công nghệ trên cơ sở kỹ thuật công nghệ hiện đại nhằm nâng caonăng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả đầu tư
2.2 Nội dung và đặc điểm của đầu tư theo chiều sâu:
2.2.1.Nội dung đầu tư theo chiều sâu
Đầu tư chiều sâu nhằm làm tăng năng suất lao động Đó là việc cải tạo nâng cấp,đồng bộ hoá, hiện đại hoá dây chuyền công nghệ hiện có thay thế dây chuyền công nghệ
cũ Đầu tư theo chiều sâu là hình thức đầu tư vào các yếu tố sau: đầu tư nguồn nhân lực,đào tạo công nhân nâng cao trình độ để họ có thể thích ứng với công nghệ mới( có thể đàotạo trực tiếp tại các doanh nghiệp hoặc liên kết đào tạo với các trung tâm dạy nghề, cáctrường kỹ thuật); trang bị thêm máy móc; sử dụng thêm các loại nguyên liệu đầu vào mớihay công nghệ mới để tăng sản lượng, giảm chi phí sản xuất với đội ngũ công nhân hiệntại
Thật vậy, với sự hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệpphải cạnh tranh với nhau để chiếm lĩnh được các thị trường, thị phần trong nước và quốc
tế Tức là sản phẩm của họ phải được người tiêu dùng chấp nhận hơn các sản phẩm cùngloại khác trên thị truờng Để làm được điều đó các doanh nghiệp không còn cách nào khác
là phải tăng cường cải tạo, nâng cấp, đổi mới dây truyền công nghệ hiện có Chỉ có thayđổi công nghệ hiện đại mới làm cho năng suất lao động tăng, hạ giá thành sản phẩm, cảitạo được mẫu mã sản phẩm, thu hút được người tiêu dùng, tăng đuợc doanh thu và nângcao được hiệu quả đầu tư
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực:Đầu tư chiều sâu bao gồm hoạt động phát triểnnguồn nhân lực và đầu tư để tổ chức lại bộ máy quản lý, phương pháp quản lý Chất lượngnguồn nhân lực và hiệu quả của bộ máy quản lý là một nhân tố hết sức quan trọng, quyếtđịnh cho hiệu quả sản xuất kinh doanh Nếu một doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên cótrình độ chuyên môn cao và dây truyền công nghệ hiện đại thì doanh nghiệp sản xuất đượcsản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu nguời tiêu dùng và thu đuợc lợi nhuận cao.Nhưng nếu trình độ chuyên môn thấp sẽ không thể tiếp nhận công nghệ hiện đại dẫn tớilàm thất thoát lãng phí vốn đầu tư Do đó, thành công thực sự của một doanh nghiệp làphải biết kết hợp chặt chẽ giữa trình độ năng lực của nhân viên và dây truyền công nghệhiện có
Đầu tư phát triển bộ máy quản lý và phương pháp quản lý là cách tốt nhất để hạnchế
Trang 11thất thoát lãng phí trong đầu tư nhất là đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước Thật vậy, vớilợi thế của đội ngũ gần 300.000 doanh nghiệp đủ mọi thành phần, một nền kinh tế có tốc
độ tăng trưởng đứng vào hàng cao nhất thế giới, với đội ngũ nhân lực trẻ, nhiều tiềm năng
về khoáng sản, dịch vụ, vận tải…là những lợi thế cần khai thác Mặt khác, khi Việt Nam đã
là thành viên của WTO và muốn duy trì tốc độ phát triển nhanh, bền vững chúng ta cầnmột hệ thống luật pháp chặt chẽ, minh bạch, ổn định, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi hợppháp của người kinh doanh
2.2.2.Đặc điểm của đầu tư theo chiều sâu:
Đầu tư theo chiều sâu phải gắn với công nghệ và đổi mới công nghệ Hay nói mộtcách khác nội dung chủ yếu của đầu tư chiều sâu là đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ
sử dụng máy móc, thiết bị, công nghệ mới Tuy nhiên không thể đồng nhất được hai kháiniệm đó mà chỉ có thể hiểu đầu tư chiều sâu và đổi mới công nghệ có quan hệ mật thiết,hữu cơ và luôn luôn đi liền với nhau Đặt vấn đề đầu tư chiều sâu nhằm mục đích tạo ranăng lực sản xuất mới bằng cách áp dụng biện pháp và quy trình tiến bộ hơn, nâng cao chấtlượng sản phẩm hay đầu tư vào khâu trọng yếu trong quá trình sản xuất ra sản phẩm… tất
cả những điều đó đều là kết quả cụ thể của đổi mới công nghệ Đầu tư chiều sâu là nhân tốquyết định đổi mới công nghệ, tạo điều kiện và khả năng cho đổi mới công nghệ Đổi mớicông nghệ là nội dung, phương thức tiến hành hoạt động đầu tư chiều sâu có hiệu quả.Với đầu tư chiều sâu thì tốc độ tăng vốn lớn hơn tốc độ tăng về lao động trong điềukiện nước ta và các đang phát triển trên thế giới thì sức ép về lao động lại là vấn đề cấpbách Đặc điểm này đòi hỏi phải lựa chọn phương án đầu tư sao cho vừa kết hợp đượccông nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại vừa giải quyết công ăn việc làm cho ngườilao động và tăng trưởng kinh tế
Đầu tư chiều sâu làm giảm chi phí sản xuất tăng năng suất lao động và nâng cao hiệuquả đầu tư
- Thông thường đầu tư chiều sâu được thực hiện theo trọng điểm, do đó chỉ tập trungvào một số yếu tố nhất định như đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động, trang bịthêm máy móc, thay thế các nguyên liệu đầu vào mới hay áp dụng công nghệ mới
- Thời gian thực hiện đầu tư chiều sâu tương đối ngắn so với đầu tư chiều rộng dokhối lượng công việc ít đa dạng hơn Do đó hình thức đầu tư theo chiều sâu ít mạo hiểmhơn và có độ rủi ro thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng
- Do chỉ tập trung đầu tư cho một số hạng mục công trình cho nên hình thức này sẽthuận lợi hơn cho việc quản lý; tuy nhiên do công việc có tính phức tạp về mặt công nghệcho nên đòi hỏi phải thi công với kỹ thuật cao
Trang 12
- Đầu tư theo chiều sâu thu hồi vốn nhanh: Thông thường trong quá trình thực hiệnđầu tư việc sản suất vẫn có thể song song, thêm vào đó do khối lượng vốn đầu tư tương đốinhỏ khiến cho việc thu hồi vốn diễn ra nhanh chóng
2.3 Sự cần thiết khách quan phải có đầu tư theo chiều sâu:
Tiến bộ công nghệ là yếu tố cần thiết khách quan cho tăng trưởng bền vững haytăng chất lượng của tăng trưởng kinh tế Đó là do tiến bộ công nghệ làm tăng hiệu quả sửdụng các loại tài sản vốn và qua đó làm tăng năng suất lao động Đối với các nước nghèo,sản phẩm sản xuất ra sẽ không có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nướcnếu như sử dụng công nghệ trình độ lạc hậu
Trước xu hướng toàn cầu hoá các nước đang phát triển, nhất là nước nghèo, cónhiều cơ hội để nhập công nghệ từ các nước phát triển, đặc biệt là thông qua con đườngđầu tư trực tiếp nước ngoài và tự do hoá thương mại Quá trình toàn cầu hoá cũng làm chocác nền kinh tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau hơn, thúc đẩy sự hình thành các liên minhchiến lược, gia tăng xu hướng hợp nhất và mua đứt của các công ty xuyên quốc gia Cáctập đoàn lớn đó đóng vai trò then chốt trong truyền bá kiến thức, thông tin, và chuyển giaocông nghệ trên thế giới Tuy nhiên tốc độ phổ biến và chuyển giao công nghệ sẽ nhanh hơnnếu như trình độ lao động hay vốn con người cũng tăng cả về số lượng và chất lượng Đó
là một thách thức lớn đối với các nước nghèo nếu như các nước này không có khả năngtiếp thu kiến thức và tiến bộ công nghệ mới và điều đó sẽ bất lợi cho tăng trưởng dài hạncủa các nước nghèo Như vậy đầu tư chiều sâu để phát triển kinh tế của Việt Nam là vôcùng quan trọng và cấp thiết vì nó quyết định sự tăng trưởng trong dài hạn của đất nước.Hiện nay một chiến lược quan trọng trong quá trình CNH-HĐH đất nước là chútrọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng trong quá trình thực hiện có vấn đềtồn tại: thị trường hạn hẹp, không ổn định, vốn ít, kỹ thuật công nghệ lạc hậu Ngược lại dovốn ít nên không có khả năng thay thế công nghệ mới, do đó sản phẩm không có khả năngcạnh tranh trên thị trường và cũng không có thị trường Bởi vậy cần thiết phải đầu tư theochiều sâu, phát triển năng lực sản xuất nhằm nâng cao năng xuất, hạ giá thành sản phẩm đểsản phẩm có thể chiếm được cảm tình của người tiêu dùng trên thị trường và có thể chiếnthắng được trong cạnh tranh
Đường lối phát triển kinh tế của nước ta là tiến hành CNH-HĐH với phương châmlấy khoa học công nghệ làm nền tảng, lấy hiệu quả KT-XH làm tiêu chuẩn cơ bản để xácđịnh phương hướng phát triển Do đó cần thiết phải đầu tư theo chiều sâu, coi đó là độnglực trực tiếp thúc đẩy CNH-HĐH
Trang 13ĐTCS nhằm khai thác tối đa khả năng hiện có của doanh nghiệp, rút ngắn khoảngcách tiến tới kỹ thuật sản xuất tiên tiến, công nghệ hiện đại, đạt hiệu quả KT-XH cao nhất,tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý của nền sản xuất hiện đại phù hợp yêu cầu về trình độ tăngtrưởng trong những năm tiếp Đầu tư theo chiều sâu là chiến lược tồn tại, phát triển lâu dàicủa doanh nghiệp Sau một thời gian mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm chiếm lĩnh mộtthị phần lớn hơn của sản phẩm trên thị trường, hay sau nhiều chu kì kinh doanh máy mócthiết bị của doanh nghiệp đã bị hao mòn thì các doanh nghiệp đều cần phải tiến hành đầu tưchiều sâu nhằm đổi mới lại thiết bị, tăng cường hàm lượng công nghệ, kỹ thuật cho các yếu
tố đầu vào Có như thế sản phẩm của doanh nghiệp làm ra mới luôn luôn được đổi mới vànâng cao về chất lượng, qua đó mới có thể cạnh trạnh được với các đối thủ và có được chỗđứng vững chắc trên thị trường
Nhờ đầu tư chiều sâu thì doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất lao động, nângcao chất lượng sản phẩm, do đó có điều kiện giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩmnhờ đó nâng cao được khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường
3.1 ĐTCR là nền cơ sở, là bước đi đầu tiên để đầu tư chiều sâu.
Để có thể đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì bất kỳ doanh nghiệp nào cũngcần có được một nền tảng cơ bản Nền tảng cơ bản đó bao gồm hệ thống nhà xưởng, cơ sở
hạ tầng, máy móc trang thiết bị, công nhân lao động, đội ngũ cán bộ quản lý điều hành…Những hoạt động này đòi hỏi một lượng vốn đầu tư ban đầu lớn Do đó các doanh nghiệptrong thời gian đâu thành lập thường có quy mô vừa và nhỏ Trong quá trình hoạt động sảnxuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ tích luỹ để có vốn tiếp tục đầu tư Lúc này, doanh nghiệpcần tiến hành đầu tư chiều rộng để mở rộng hoạt động sản xuất của mình, củng cố vị trí củamình trên thị trường Sau khi đã có được một nền tảng vững chắc, một vị thế tốt trên thịtrường thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất là rất cần thiết Trên nền tảng có được thôngqua hoạt động đầu tư theo chiều rộng, doanh nghiệp sẽ tiến hành đầu tư theo chiều sâu nhưhiện đại hoá, đổi mới công nghệ, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo nâng caotrình độ tay nghề cũng như trình độ quản lý điều hành…Những hoạt động này chỉ có thểtiến hành khi đã có được một nền tảng vững chắc Vì vậy, đầu tư chiều rộng đóng một vaitrò rất lớn đối với hoạt động đầu tư chiều sâu, nó là nền tảng, là cơ sở để hoạt động đầu tưchiều sâu có hiệu quả
Nếu xét cụ thể đối với một doanh nghiệp trẻ, mới thành lập thì đầu tư chiều rộngchiếm chủ yếu bởi doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cơ bản để
có thể tiến hành sản xuất Tuy nhiên không phải vì thế mà sản phẩm của các doanh nghiệp
Trang 14trẻ kém tính cạnh tranh hơn, bởi họ là những người đi sau có cơ hội áp dụng những côngnghệ tiên tiến hơn, xây dựng cơ sở ban đầu hoàn thiện và đồng bộ hơn Chính vì vậy, lợithế này sẽ giúp các doanh nghiệp trẻ sau này tiến hành đầu tư chiều rộng có hiệu quả hơn.
Đối với một doanh nghiệp đã có vị thế trên thị trường thì việc kết hợp giữa đầu tưtheo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu một cách hợp lý sẽ đem lại hiệu quả cao cho hoạtđộng của mình Quá trình hoạt động lâu dài sẽ khiến máy móc trang thiết bị của doanhnghiệp bị hao mòn vô hình và hữu hình Điều này là không thể tránh khỏi Vì vậy, doanhnghiệp cần bỏ vốn đầu tư thay thế máy móc, thiết bị cũ, tu sửa, cải tạo nhà xưởng…Sự tiến
bộ của khoa học công nghệ cùng sự tăng lên của thu nhập người tiêu dùng đòi hỏi sảnphẩm làm ra phải cải tiến về mẫu mã cũng như chất lượng và giá cả Do đó việc duy trìmột công nghệ quá lâu sẽ khiến sản phẩm của doanh nghiệp không thể đáp ứng được yêucầu ngày càng cao của khách hàng, khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thịtrường của các doanh nghiệp mới có công nghệ tiên tiến Tình hình cạnh tranh ngày cànggay gắt đó của thị trường buộc doanh nghiệp phải có sự thay đổi trong công nghệ cũng nhưtrong quản lý hay nâng cao trình độ công nhân…để từ đó có khả năng tăng năng suất laođộng, hạ giá thành sản phẩm Tóm lại, doanh nghiệp phải kết hợp một cách khoa học vàkhéo léo đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu để đem lại lợi ích lâu dài chodoanh nghiệp
3.2 Đầu tư chiều sâu tiếp tục tạo tiền đề để đầu tư chiều rộng ở những phương diện mới
Đầu tư chiều sâu là động lực thúc đẩy doanh nghiệp tiếp tục sản xuất, tiến hành đầu
tư theo chiều rộng Khi doanh nghiệp đầu tư theo chiều sâu thành công, doanh nghiệp sẽbắt kịp về trình độ khoa học công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giáthành cũng như hoàn thiện hơn công tác quản lý trong doanh nghiệp góp phần tăng khảnăng cạnh tranh trên thị trường Một nền tảng mới được thiết lập đòi hỏi doanh nghiệp có
sự củng cố, mở rộng hơn nữa những gì đã làm được Vì vậy lúc này đến lượt đầu tư chiềurộng cần được tiến hành
Với nền tảng mới do đầu tư chiều sâu tạo ra, đầu tư chiều rộng sẽ được tiến hànhtrên những phương diện mới, đưa doanh nghiệp lên vị thế mới với trình độ cao hơn Đầu tưtheo chiều sâu có hiệu quả sẽ tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể đầu tư nghiêncứu và sản xuất các sản phẩm mới hoặc các lĩnh vực kinh doanh có tiềm năng; tạo đà chodoanh nghiệp có thể chuyển từ đơn sản phẩm thành đa sản phẩm hay từ đơn lĩnh vực thành
đa lĩnh vực, qua đó doanh nghiệp lại tiếp tục đầu tư theo chiều rộng trên những phươngdiện mới Và từ đó, doanh nghiệp có thể khẳng định được vị thế của mình trên thị trường,
Trang 15duy trì tốc độ tăng trưởng, đồng thời không ngừng phát triển cả về chiều sâu lẫn chiềurộng Nhu cầu của thị trường là rất đa dạng, biến động, yêu cầu ngày càng cao về mọi mặtnên đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn linh hoạt trong vấn đề phối kết hợp đầu tư theo chiềurộng và theo chiều sâu.
3.3 Đầu tư chiều sâu và đầu tư chiều rộng không tách rời nhau, đan xen và bổ sung lẫn nhau trong quá trình thực hiện chiến lược đầu tư phát triển của doanh nghiệp
và đầu tư chiều sâu là chiến lược lâu dài của doanh nghiệp.
Đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu có mối quan hệ tác động qua lại, hỗ trợ nhau.Đầu tư theo chiều rộng sẽ tạo ra cơ sở nền tảng để tiến hành đầu tư chiều sâu Đến lượtmình thì đầu tư chiều sâu lại thúc đẩy hoạt động đầu tư chiều rộng Hai hoạt động nàykhông thể tách rời nhau được Nếu không có hoạt động đầu tư chiều rộng tiến hành trước
để tạo ra cơ sở vật chất cũng như nền tảng ban đầu cho doanh nghiệp thì không thể nào cóđược hoạt động đầu tư chiều sâu Và nếu chỉ tiến hành hoạt động đầu tư chiều rộng thìlượng sản phẩm sản xuất ra quá lớn mà không có sự thay đổi để đáp ứng tốt hơn nữa yêucầu của khách hàng thì sẽ khó tiêu thụ sản phẩm, gây ứ đọng vốn
Không ngừng bổ sung và hoàn thiện cho nhau nhưng hai hoạt động này cũng có tácđộng kiềm chế lẫn nhau Không phải lúc nào đầu tư theo chiều rộng cũng có tác dụng làđộng lực thúc đẩy đầu tư theo chiều sâu Đầu tư theo chiều rộng không hợp lý, tràn lan thìlại hạn chế hiệu quả của hoạt động đầu tư theo chiều sâu của doanh nghiệp
Nếu đầu tư theo chiều rộng tạo ra một cơ sở vật chất không phù hợp và đồng bộ nhưnhà xưởng không đúng quy cách, hay dây chuyền máy móc nhập lúc đầu quá lạc hậu hoặcquá tiên tiến, sự chênh lệch về trình độ công nghệ quá lớn giữa các bộ phận sản xuất… sẽdẫn đến tình trạng làm đầu tư chiều sâu không phát huy được hiệu quả, gây lãng phí, thấtthoát Doanh nghiệp không thể phát triển lên được nếu đứng trên một nền tảng không vữngvàng như vậy
Hơn nữa tiềm lực của mỗi doanh nghiệp là có hạn, do đó, đầu tư theo chiều rộngmột cách tràn lan, không đồng bộ, không có trọng tâm, trọng điểm sẽ làm hạn chế vốn vànguồn lực của doanh nghiệp khi đầu tư theo chiều sâu Bởi một trong những đặc điểm củahoạt động đầu tư theo chiều rộng là cần lượng vốn lớn, thời gian khê đọng vốn dài nên khi
đã đầu tư thì sẽ rất khó rút lại Nếu tiến hành hoạt động đầu tư chiều rộng trong điều kiệnnhu cầu hàng hoá trên thị trường đang bắt đầu bão hoà, hay tiến bộ khoa học công nghệđang tạo ra một loại sản phẩm mới chất lượng cao hơn thì sau khi tiến hành đầu tư chiềurộng xong khối lượng sản phẩm làm ra là rất lớn nhưng khả năng tiêu thụ đã giảm Do đódoanh nghiệp sẽ khó thu hồi vốn, hiệu quả đầu tư tạo ra là không cao
Trang 16
Ngược lại, đầu tư theo chiều sâu không hiệu quả sẽ làm cho doanh nghiệp không có
đủ điều kiện để tiếp tục đầu tư chiều rộng mở rộng sản xuất Trong bối cảnh hiện nay, khoahọc công nghệ đang hết sức phát triển do đó rất nhiều loại máy móc trang thiết bị hiện đạiđắt tiền được tạo ra Nhưng những công nghệ đó khi đưa vào sử dụng ở nước ta thì khôngphải lúc nào cũng phù hợp So với thế giới, thu nhập và trình độ chung của nước ta cònchưa cao Nếu tiến hành đầu tư theo chiều sâu với những trang thiết bị hiện đại nhập từnước ngoài về thì chi phí sản xuất sản phẩm sẽ là rất cao, dẫn đến sản phẩm sẽ có giá thànhcao Hoặc máy móc quá hiện đại tạo ra những sản phẩm cũng hiện đại không kém nhưngngười tiêu dùng thì không thể sử dụng hết các tính năng của nó Dù trong trường hợp nàothì sản phẩm của doanh nghiệp cũng trở nên khó tiêu thụ Do đó, hiệu quả đầu tư là không
có, không thu hồi được vốn, gây lãng phí vốn đầu tư Hơn nữa, không thu được lợi nhuận,thậm chí thất thu làm giảm khả năng tích lũy của doanh nghiệp Điều này làm hạn chế khảnăng mở rộng sản xuất của doanh nghiệp
Tóm lại, đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu có mối quan hệ vô cùngmật thiết Hoạt động này góp phần làm tăng hiệu quả của hoạt động kia và ngược lại Đồngthời, sự kém hiệu quả của hoạt động này cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt độngkia Do đó, để thực hiện đầu tư có hiệu quả thì doanh nghiệp cần xem xét đầy đủ, nghiêncứu kỹ lưỡng để phối kết hợp một cách hợp lý hai hình thức đầu tư này, tạo nên sức cạnhtranh và chỗ đứng vững chắc trên thị trường
Kết hợp đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu là không thể thiếu trong sựphát triển của mỗi nền kinh tế Việc xem xét chúng có thể đứng trên nhiều góc độ khácnhau song để vấn đề được làm sáng tỏ hơn ở đây trong bài viết này xem xét dưới góc độcủa doanh nghiệp
4.1 Sự tác động từ yếu tố cung cầu thị trường
Cung cầu là hai yếu tố mật thiết có tác động đan xen, chi phối quá trình đầu tư.Trong đó, cầu thị trường là yếu tố cần có, chi phối việc ra quyết định đầu tư Khi cầu vềsản phẩm cao, sản lượng không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường thì doanh nghiệp nên tiếnhành đầu tư theo chiều rộng (mở rộng quy mô các yếu tố đầu vào như nguyên liệu, laođộng…) nhằm tận dụng lợi thế theo quy mô đáp ứng nhu cầu thị trường Ngược lại, nếucầu sản phẩm thấp, dây chuyền công nghệ lạc hậu doanh nghiệp nên bắt đầu từ việc cảitiến công nghệ, tăng chất lượng sản phẩm, mẫu mã hoặc tìm ra sản phẩm mới đáp ứng nhucầu mới của khách hàng
Trang 17Tương tự như cầu, cung cũng có tác động trực tiếp đến việc quyết định đầu tư Việcđầu tư theo chiều rộng sẽ được áp dụng khi các nhà sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầutrên thị trường Còn ngược lại, khi cung thị trường quá cao đòi hỏi các nhà cung ứng đầu tưtheo chiều sâu.
Cung và cầu là hai yếu tố quan trọng để nhà đầu tư ra quyết định đầu tư theo chiềurộng hay chiều sâu Do đó, trước khi ra quyết định đầu tư doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹcung cầu trên thị trường và đánh giá đúng khả năng của mình
4.2 Đặc tính sản phẩm
4.2.1.Vòng đời của sản phẩm
Đối với những loại hàng hóa, dịch vụ có tuổi thọ ngắn như lương thực thực phẩm,vật dụng sinh hoạt, các sản phẩm công nghiệp chế biến… việc thay đổi mẫu mã, chấtlượng sản phẩm phải được tiến hành một cách thường xuyên Vì nếu không thay đổi thì cácsản phẩm nhanh bị đào thải, lãng quên trên thị trường Trong trường hợp này cần tiến hànhđầu tư cải tiến công nghệ, làm chất lượng sản phẩm được nâng cao, mẫu mã phong phú.Ngược lại, với những mặt hàng mang tính chất lâu bền và có giá trị lớn thì các hãng thườngcạnh tranh với nhau về chất lượng sản phẩm Do đó với những sản phẩm này nên đầu tưtheo chiều sâu
4.2.2.Chu kỳ sống của sản phẩm
Chu kì sống của sản phẩm là khoảng thời gian kể từ khi hàng hóa được tung ra chođến khi nó phải rút lui khỏi thị trường Các nhà đầu tư đều muốn kéo dài chu kỳ sống củasản phẩm nhằm đạt được hiệu quả cao nhất so với nguồn lực đã bỏ ra Muốn vậy, doanhnghiệp phải nắm được diễn biến của chu kỳ sống, đặc điểm của sản phẩm để điều chỉnhchiến lược đầu tư cho thích hợp Chu kì sống sản phẩm thường được chia làm bốn giaiđoạn, mỗi giai đoạn có những cách thức gia nhập thị trường khác nhau, có quyết định đầu
tư khác nhau để đạt hiệu quả cao nhất :
- Giai đoạn hình thành sản phẩm : Ở giai đoạn này, sản phẩm vừa được tung ra thịtrường, khách hàng bắt đầu làm quen với sản phẩm, chưa có nhiều nhà cung cấp Khi đó,đầu tư sản xuất sản phẩm này chủ yếu sử dụng những công nghệ sẵn có chưa cần thiết phảiđổi mới, cần tập trung vào quảng bá sản phẩm
- Giai đoạn phát triển : Sau một thời gian, đã có nhiều người sử dụng và ưa thích sảnphẩm, cầu sản phẩm tăng do đó ta nên cần tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất Bên cạnh đócũng cần có sự nghiên cứu nhằm cải tiến kỹ thuật để có thể đáp ứng với số lượng lớn hơn,sản phẩm có chất lượng tốt hơn
Trang 18
- Giai đoạn bão hòa: Lúc này sản phẩm đã tràn ngập thị trường, khách hàng có nhucầu thay đổi nhu cầu do đó muốn cần thức đầu tư theo chiều sâu Việc đổi mới công nghệ,nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã để đưa ra sản phẩm mới có khả năng cạnh tranh trênthị trường
- Giai đoạn suy thoái: Đây là giai đoạn mà mức tiêu thụ sản phẩm bắt đầu giảm sút rõrệt Vì thế vấn đề đặt ra trong hoạt động đầu tư lúc này là làm sao kết hợp hài hòa các hìnhthức đầu tư Việc đổi mới, cải tiến công nghệ để tìm ra sản phẩm mới có khả năng được thịtrường chấp nhận Đồng thời thu hẹp dần quy mô của sản phẩm cũ và mở rộng quy mô củasản phẩm mới nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường
4.3 Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô bao gồm rất nhiều yếu tố như môi trường tự nhiên, kinh tế, chínhtrị, văn hóa… tất cả đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến giai đoạn chuẩn bị, thựchiện và vận dụng các kết quả đầu tư
4.3.1.Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng nhiều mặt tới các nguồnlực đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh Đặc biệt là những ngành phụ thuộc chặtchẽ vào môi trường tự nhiên như ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác chế biến thủyhải sản …thì việc mở rộng, phát triển các ngành này luôn phải gắn liền với việc nghiên cứumôi trường tự nhiên Ngoài ra môi trường tự nhiên là điều kiện tiên quyết để đánh giá cơhội đầu tư Tài nguyên thiên nhiên khoáng sản, nguyên liệu là yếu tố đầu vào không thểthiếu cho rất nhiều ngành nhất là ngành công nghiệp khai khoáng Do đó cần đánh giá kỹ
số lượng, chất lượng các nguồn tài nguyên trước khi ra quyết định đầu tư Tránh tình trạng
sử dụng lãng phí các nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường
4.3.2.Môi trường kinh tế xã hội văn hoá
- Môi trường kinh tế trước hết phản ánh ở tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước Từ
đó có thể xác định được nhu cầu thị trường khi tốc độ tăng trưởng đang ở mức cao và cóbiện pháp kích cầu khi nền kinh tế đang suy thoái
- Môi trường chính trị: Sự ổn định về chính trị cũng như những đảm bảo về mặt pháp
lý liên quan đến quyền sở hữu và tài sản có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến ýđịnh và hành vi của nhà đầu tư Theo đánh giá của WB năm 2005 thì mức độ tin tưởng củadoanh nghiệp vào tương lai- kể cả độ tin cậy trong chính sách của nhà nước, sẽ quyết địnhviệc doanh nghiệp có đầu tư hay không và đầu tư như thế nào
Trang 19
- Môi trường văn hóa: Văn hóa là một vấn đề khó nhận biết và hiểu một cách thấuđáo, mặc dù nó tồn tại ở khắp mọi nơi và thường xuyên tới toàn bộ quá trình chuẩn bị, tiếnhành đầu tư Văn hóa tác động trực tiếp đến những người thực hiện hoạt động đầu tư vàsau đó tác động đến việc lựa chọn những người tiêu dùng sản phẩm đầu tư đó
- Lực lượng lao động: Là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình đầu tư, khi nguồnlao động ở một vùng hay một ngành phù hợp và đáp ứng được những yêu cầu sẽ kích thíchđược hoạt động đầu tư của ngành đó, vùng đó Với vai trò như vậy việc đầu tư vào lựclượng lao động là lĩnh vực đầu tư không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp
Trang 20
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, CHIỀU SÂU VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU
I THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, CHIỀU SÂU
Năm 2007, năm đầu tiên gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam có những thành tựu nổibật trong nhiều lĩnh vực với những con số ấn tượng Tăng trưởng kinh tế đạt 8.5%, mứctăng cao nhất trong 10 năm qua kỷ lục thu hút FDI, ODA, kiều hối: tổng vốn FDI năm
2007 đã đạt mức kỷ lục 20,3 tỷ USD Lượng kiều hối của kiều bào ở nước ngoài chuyển vềqua các dịch vụ ngân hàng cũng tăng đột biến, đạt mức 6 tỉ USD Bất ngờ không kém làlượng vốn ODA Tại hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG2007), cộngđồng tài trợ quốc tế cũng cam kết viện trợ cho Việt Nam hơn 5,4 tỉ USD, mở ra nhiều kênhODA mới giúp Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình vào năm 2010
1.1 Thành tựu của đầu tư theo chiều rộng
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010, nền kinh tế Việt Nam
đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Nổi bật là nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tếtương đối cao, trung bình 7,5 %/ năm Chất lượng cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thầnđược tăng lên rõ rệt Đời sống của đại bộ phận dân được cải thiện không ngừng.GDP/người tăng từ khoảng 290 USD năm 1995 lên khoảng 630 USD năm 2005
Quy mô vốn đầu tư xã hội của Việt nam không ngừng tăng qua các năm, trung bìnhnăm trong thời kì 1996-2004 đạt khoảng 13% riêng năm 2004 và 2005, mức tăng này đạtkhoảng 17%
B ng 1: T c ảng 1: Tốc độ tăng vốn đầu tư ốc độ tăng vốn đầu tư độ tăng vốn đầu tư ăng vốn đầu tư t ng v n ốc độ tăng vốn đầu tư đầu tư ư u t
Trang 21Trong những năm qua, nhờ mở rộng sản xuất, nhiều doanh nghiệp mới được thànhlập trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế, giúp giải quyết công ăn việc làm cho người lao động,nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động Thị trường ngày càng được mởrộng, phát triển, sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều và đa dạng hơn, đáp ứng tốt hơnnhu cầu ngày càng cao của dân cư Trong 3 năm kể từ 2001 – 2003, khu vực doanh nghiệp
đã thu hút thêm 1464 nghìn lao động, thu nhập của lao động khu vực doanh nghiệp, bìnhquân 1.25 triệu đồng / tháng cao hơn nhiều so với khu vực cá thể và hộ gia đình
Việc thi hành Luật doanh nghiệp mới từ năm 2000, đã tạo xung lực mới cho sựphát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp ngoài nhà nước Số lượng doanh nghiệp ngoàinhà nước đăng ký hàng năm tăng lên nhanh chóng Nếu năm 2001, có 19773 doanh nghiệpđăng ký với số vốn 25.610 tỷ đồng, thì năm 2005, có 45.162 doanh nghiệp với số vốn lêntới 108.800 tỷ đồng Năm 1996, các doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước trong nướcchiếm 23,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, đến năm 2005, tỷ trọng này có thể lên đếngần 28% Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế này đã thu hút được lượng vốn lớnsẵn có trong nước vào đầu tư phát triển và đóng góp vào xuất khẩu Nếu năm 2001, vốnđầu tư của dân cư và tư nhân (tính theo giá cố định năm 2000) mới là 37,8 ngàn tỷ đồng,chiếm 23,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thì năm 2005 vốn đầu tư của khu vực này đã lêntới 65,9 ngàn tỷ đồng, tăng 1,7 lần, chiếm 27,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Cùng với đó, khu vực tư nhân cũng tăng lên đáng kể về số lượng và quy mô của cácdoanh nghiệp Kể từ năm 2000, số lượng doanh nghiệp của tư nhân mới đăng ký liên tục
Trang 22tăng nhanh Năm 2000, số doanh nghiệp được đăng ký là 14413, đến năm 2004, con số này
là 36.795 Theo ước tính của bộ KH- ĐT, trong 5 năm (2001-2005) có 152.004 doanhnghiệp của tư nhân đăng ký kinh doanh, đưa tổng số doanh nghiệp tư nhân của nước ta đếnnăm 2005 lên khoảng 20 vạn Theo báo cáo của UBND các tỉnh, thành phố, có khoảng 80– 85 % số doanh nghiệp đăng ký đang hoạt động
Cũng trong 5 năm từ năm 2001 -2005, cả nước đã tăng thêm được 65 khu côngnghiệp với diện tích 10.005 ha Số khu công nghiệp được thành lập thời kỳ này đã chiếmtới 1/2 tổng số khu công nghiệp được thành lập từ 1991 đến nay Các khu công nghiệpđược phát triển rộng rãi trên các vùng lãnh thổ của đất nước, trong đó miền bắc chiếm hơn1/4, miền nam chiếm gần 1/2 tổng số các khu công nghiệp
Bảng 2: Tình hình phát triển các KCN thời kỳ 2001- 2005
giấy phép
Tổng số KCNluỹ kế
Diện tích KCN mới &
Nhìn chung, tốc độ phát triển đầu tư và sản xuất công nghiệp trong khu côngnghiệp đều cao hơn tốc độ phát triển chung của toàn bộ công nghiệp Cùng với sự hìnhthành các khu công nghiệp tập chung, nhiều địa phương đã xác định các khu công nghiệpvừa và nhỏ với diện tích từ 10 ha đến 30 ha để giải quyết khó khăn về mặt sản xuất, khắcphục tình trạng ô nhiễm môi trường trong phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt làphát triển các làng nghề truyền thống
Xét theo đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, đầu tư chiều rộngcũng đạt nhiều thành tựu đáng kể Trước hết, về công nghiệp và xây dựng, tốc độ tăngtrưởng giá trị gia tăng bình quân tăng trong 5 năm (2001 – 2005) là 10,3% cao hơn nhiều
so với tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của nền kinh tế và được coi là đầu tầu tăng trưởngcủa toàn bộ nền kinh tế Nhờ đẩy mạnh đầu tư chiều rộng, năng lực sản xuất của nhiều
Trang 23góp lớn cho xuất khẩu Giá trị công nghiệp xuất khẩu trong 5 năm (2001 – 2005) hơn 79tỷ$, chiếm 73% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Những sản phẩm đạt giá trị xuấtkhẩu của cả nước Những sản phẩm đạt giá trị xuất khẩu lớn năm 2005 là dầu thô 7378triệu $, dệt may 4806 triệu $, giầy dép 3005 triệu $, điện tử là 1442 triệu $, sản lượng một
số ngành công nghiệp không nhừng tăng qua các năm:
Bảng 3: Sản lượng của một số ngành công nghiệp
Nguồn: Thời báo kinh tế, kinh tế Việt Nam & Thế giới, năm 2001 – 2005
Giá trị Công nghiệp liên tục trong 15 năm qua (1991 – 2005) tăng trưởng 2 chữ số,riêng giai đoạn 2001 – 2005, tăng bình quân 15.7% cao hơn so với mức 13.9 % cuả giaiđoạn 1996 – 2000, mức 13.7% giai đoạn 1991- 1995, 5.5%của giai đoạn 1986-1990 Bên cạnh đó, lĩnh vực nông nghiệp cũng có rất nhiều thành tựu đáng kể, vốn đầu tưcho nông, lâm thuỷ sản liên tục tăng, mặc dù tỷ lệ này có xu hướng giảm
Bảng 4: Vốn đầu tư phát triển dành cho nông lâm - thuỷ sản
Nguồn: Niên giám thống kê
Với lượng vốn đầu tư nêu trên, nhà nước đã tập trung cao cho đầu tư thuỷ lợi.Trong 5 năm qua, vốn đầu tư cho thuỷ lợi đạt 25.511 tỷ đồng ( chưa kể 896 tỷ đồng chi cho
tu bổ đê điều) Trong đó, vốn do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lí là 8974 tỷ
và vốn do địa phương quản lí là 11637 tỷ đồng để thực hiện 244 công trình trong đó có 256công trình hoàn thành và đã được đưa vào sử dụng, làm tăng thêm diện tích được tưới
Trang 24
94000 ha, tiêu 146 ngàn ha, ngăn mặn 226 ngàn ha, tạo nguồn 206 ngàn ha, tăng chấtlượng cấp nước 1038 ngàn ha
1.2 Hạn chế của đầu tư theo chiều rộng
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, đầu tư theo chiều rộng còn có một số nhượcđiểm
Sản phẩm nếu chỉ được đầu tư theo chiều rộng thì sẽ cho chất lượng không cao,không đủ sức cạnh tranh trên thị trường, khả năng thu hồi vốn của các dự án đầu tư theochiều rộng thấp, độ mạo hiểm cao Khả năng cạnh tranh, của doanh nghiệp trên thị trườngdẫn tới lợi nhuận kém
Vốn đầu tư tổng xã hội chưa tập trung cho việc hình thành các sản phẩm chủ lựccũng như hình thành các nguồn vốn và lĩnh vực tạo thế và lực cho sự phát triển lâu dài, bềnvững và có hiệu quả
Cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu chuyển dịch theo chiều rộng Nhờ vào đó giá trịxuất khẩu tăng qua các năm Gia tăng xuất khẩu của cả nước ta trong thời gian qua chủ yếunhờ vào gia tăng nhu cầu của thị trường thế giới hơn là do các yếu tố nâng cao năng lựccạnh tranh của sản phẩm dịch vụ nước ta
Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp ViệtNam thời kì đầy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Ngành dệt may hiện nayđang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát triển mạnh Với những lợithế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều laođộng và có điều kiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước với sự tham gia của nhiềuthành phần kinh tế khác nhau Tuy vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế,,ngành dệt may đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, cạnh tranh ngang bằng với cáccường quốc xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Pakixtan, Hàn Quốc…ViệtNam hiện có hơn 1000 nhà máy dệt may thu hút trên 50 vạn lao động, chiếm đến 22% tổng
số lao động trong toàn ngành công nghiệp Sản lượng sản xuất hàng năm tăng trên 10%nhưng quy mô còn nhỏ bé, thiết bị và công nghệ khâu kéo sợi và dệt vải lạc hậu, khôngcung cấp được vải cho khâu may xuất khẩu Những năm qua tuy bổ sung thay thế 1500máy dệt không thoi hiện đại để nâng cấp mặt hàng dệt trên tổng số máy hiện có là 10500máy, thì cũng chỉ đáp ứng khoảng 15% công suất dệt Ngành may tuy liên tục đầu tư mởrộng sản xuất nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu ngày càng cao…
Nền kinh tế nước ta cũng như bất kì nền kinh tế nào khác, không thể tăng trưởngmãi theo chiều rộng bằng cách tăng vô hạn độ vốn đầu tư, đất đai, lao động, tài nguyên vìcác nguồn lực này đều có hạn Để đạt được tăng trưởng bền vững và phát triển lên các nấc