1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Ebook quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở việt nam trong thời kì hội nhập quốc tế phần 2 TS nông đức

164 403 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 11,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khoản 1 Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Trong việc kết hôn giữa công dán Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân the

Trang 1

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH ĐIỂU CHỈNH QUAN HỆ HÒN NHÂN

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI ở VIỆT NAM

Hiện nay, trong pháp luật Việt Nam và HĐTTTP Việt Nam ký kết vói các nước đều có quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô nước ngoài Khi nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân

và gia đình có yếu tô nước ngoài ở Việt Nam cho thấy, một

bộ phận lón các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô" nước ngoài, còn một bộ phận khác là các quy định của điểu ước quôííc tê

mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô nước ngoài Đó là chưa nói đến

sự th a m gia trong một sô" trường hỢp cụ th ể của các quy định của pháp luật nước ngoài liên quan do pháp luật Việt Nam hoặc điểu ưốc quốc tê dẫn chiếu đến

I PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH ĐiỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU T ố Nước NGOÀI ỏ VIỆT NAM

Như đã trìn h bày ở trên, quan hệ hôn n h â n là quan hệ

Chương II

Trang 2

Chưong II QĐ của PL hiện hành điều chỉnh quan hệ hôn nhân

bao gồm tổng thể quan hệ vê kết hôn, quan hệ giữa vờ và chồng và chấm dứt quan hệ vỢ chồng Do đó, nội dung pháp

lu ậ t điều chỉnh quan hệ hôn n h ân có yếu tô" nưốc ngoài gồm

3 vấn đề, đó là: vấn đề pháp lý về quan hệ kết hôn, quan hệ

vỢ chồng và chấm dứt quan hệ uợ chổng có yếu tô nước ngoài.

1 Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Khi xem xét tính hỢp pháp của việc kết hôn, pháp luật

đề cập tới 2 vấn đề là điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn.

về điều kiện kết hôn có yếu tể

nươc ngoãĩ

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì “đ iều

k iệ n kết hôn là điều kiện đ ể Nhà nước công nhận việc kết hôn của các bên nam hoặc nói cách khác, điều kiện kết hôn là những đòi hỏi của pháp luật đặt ra khi kết hôn Chỉ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó thì việc kết hôn mới hỢp p h áp và được p h áp lu ậ t bảo vệ.

Theo quy định của pháp luật các nưốc trên thê giói, việc chọn pháp luật áp dụng điều chỉnh điều kiện kết hôn

có yếu tô" nước ngoài thường dựa vào dấu hiệu quốc tịch hoặc dấu hiệu nơi cư trú của đưđng sự Do đó, đương sự

<'> Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (1999), Trường Đại học Luật

Hà Nội, Nxb Cỗng an nhân dân, Hà Nội.

Trang 3

mang quổc tịch hoặc có nơi cư trú ở nưóc nào thì pháp luật nưóc đó sẽ quy định về điều kiện kết hôn Việc áp dụng dấu hiệu quốc tịch hoặc nơi cư trú phụ thuộc vào quy định của pháp luật mỗi nưóc Thông thường, các nưóc theo hệ thống Civil Law quy định dùng dấu hiệu quốic tịch, còn các nưóc theo Common Law dùng dấu hiệu nơi cư trú của đương sự.

Để thổhg nhất hoá việc chọn pháp luật áp dụng điều chỉnh điểu kiện kết hôn có yếu tô nưóc ngoài, trong quan

hệ quốc tế, các nưốc thường ký kết các điều ước quốc tế Trong các điều ưóc quốc tê này, nguyên tắc chọn pháp luật

áp dụng điều chỉnh điều kiện kết hôn được ghi nhận Trên thực tế, hầu hết các điều ước quốc tê mà các nưốc ký kết đều quy định điều kiện kết hôn của các bên sẽ do pháp luật của nước mà các bên chủ thể mang quôc tịch điều chỉnh

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khoản 1 Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“Trong việc kết hôn giữa công dán Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước m ình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thi người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt N am trước cơ quan có thẩm

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở VN

Trang 4

Chương II QĐ của PL hiện hành điều chỉnh quan hệ hôn nhân

quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”.

Từ nội dung của khoản 1 Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình n ă m 2000 trê n đây, việc áp dụng pháp lu ậ t điều chỉnh điều k iện k ế t hôn có yếu tô" nước ngoài có th ể đưỢc chia làm 2 trư ờ n g hỢp đó là: trường hỢp kết hôn không được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và trường hỢp kết hôn được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Trường hợp thứ nhất, khi k ế t hôn kh ô n g được tiến

h à n h trước cơ q u a n có th ẩ m quyền của Việt N am

Trường hỢp này xảy ra khi công dân Việt Nam kết hôn vói người nước ngoài mà việc kết hôn này không được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam mà tiến hành

trưốc cơ quan có thẩm quyền của nưốc ngoài Trong trường

hỢp này, công dân Việt Nam phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, còn ngưòi nước ngoài phải đảm bảo các tiêu chuẩn về điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật của nưốc ngưòi đó mang quốc tịch Việc tuân theo quy định trên đây sẽ là một trong những cơ sỏ pháp lý quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công n h ậ n tín h hỢp p h áp của việc kết hôn đó.

Trong thực tiễn quốc tế, để xác định điều kiện kết hôn

có yếu tô nước ngoài, pháp luật của hầu hết các nưóc trên thê giới đêu quy định các bên kết hôn phải tuân theo pháp

Trang 5

luật nưóc mình về điều kiện kết hôn Đây được coi là tiêu chí đầu tiên để cơ quan có thẩm quyền của một nưỏc công

n h ậ n tín h hỢp p h áp của việc kết hôn có yếu tô" nước ngoài khi việc kết hôn đó không được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyên củà nước đó Như vậy, có thể nói các quy định hiện hành của Việt Nam trên đây về vấn đề chọn pháp luật điều chỉnh điều kiện kết hôn có yếu tô" nước ngoài là hoàn toàn p h ù hỢp vói thực tiễn quốc tế.

Quan hệ hôn nhân và gía đình có yếu tố nước ngoài ỏ VN

Trường hỢp thứ hai, k ế t hôn được tiến h à n h trước cơ

q u a n có th ẩ m quyền của Vỉêt N am Trong trường hợp

này, khi các bên kết hôn (công dân Việt Nam kết hôn với ngưòi nưóc ngoài hoặc ngưòi nước ngoài kết hôn vối nhau) tiến hành kết hôn trưóc cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam thì các bên phải tuân theo pháp luật nưóc mình về điều kiện kết hôn, đồng thòi, ngưòi nưóc ngoài phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điểu kiện kết hôn

Cụ thể hoá các điều kiện kết hôn trong Luật hôn nhăn

và gia đinh năm 2000, Điều 10 Nghị định sô 68 ỉ 2002/ NĐ-

CP ngày 10 n i 2002 quy định hai trường hỢp cụ thê như sau:

Trong trường hỢp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn, đồng thời người nước ngoài còn phải tuân theo Điều 9 và Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đinh năm 2000 về điều kiện kết

Trang 6

hôn và các trường hỢp cấm kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan có thẩm

quyền của Việt Nam (khoản 1).

Trong trường hỢp người nước ngoài kết hôn với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thâm quyền của Việt Nam thì mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước minh là công dàn hoặc theo pháp luật nơi thường trú (đôi với người không quốc tịch) về điều kiện kết hôn; ngoài ra, các bên còn phái tuân theo Điều 9 và Điều 10 của Luật hôn nhăn và gia đình năm

2000 về điều kiện kết hòn và các trường hỢp

cám kết hôn (khoản 2).

Theo Điều 9 và Điều 10 Luật hôn nhân ưà gia đinh

năm 2000 thì điều kiện kết hôn các trường hỢp cấm kết hôn được quy định cụ thể như sau:

Chương II QĐ của PL hiện hành điều chỉnh quan hệ hôn nhãn

Nhìn chung, khi đê cập đến điều kiện kết hôn, pháp luật thường quy định các vấn đê liên quan tối nhân thân của người muôn kết hôn như: tuổi táo, svlír khoẻ, tình trạng hôn nhân, quan hệ thân thuộc của các bên muốn kết hôn.Theo quy định của pháp luật tất cả các nước, tu ố i k ế t hôn đưỢc xem xét như là một điều kiện đầu tiên cho việc

Trang 7

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở VN

kết hôn Một ngưòi chỉ đưỢc phép kết hôn khi đã đạt được

độ tuổi nhất định Việc quy định về độ tuổi kết hôn không chỉ nhằm bảo vệ sức khoẻ của các bên kết hôn mà điều cđ bản là bảo vệ cuộc sông gia đình của họ Một gia đình không thể bền vững, không thể hạnh phúc khi mà chủ thế của quan hệ hôn nhân trong gia đình đó là những người chưa phát triển đầy đủ vê thể lực và trí lực để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của gia đình

Tuy nhiên, xuất phát từ sự khác nhau vê trình độ kinh

tế, đặc biệt là sự khác nhau về phong tục tập quán giữa các nước mà pháp luật của các nước có quy định không giông nhau về độ tuổi đủ điều kiện kết hôn

Ví dụ, theo pháp luật của Trung Quốc thi nam từ hai mươi hai tuổi trờ lên, nữ từ hai mươi tuổi trờ lên mới đủ điều kiện kết hôn Trong khi đó, theo luật của Anh thi tuổi kết hôn đối uới cả nam và nữ là mười sáu tuổi'” Theo luật của Australia thi cả nam và nữ khi

đủ mười tám tuổi thì đủ điều kiện về tuổi kết hôn Tuy nhiên, tại Australia, trong một sô trường hỢp đặc biệt, tuổi đủ điều kiện kết hôn đối với công dân Austraỉia có thê dưới mười

Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giào trinh Tư pháp quốc tế, Nxb Công an nhân dàn, Hà Nội, tr 234.

Trang 8

tám tuổi Trong những trường hỢp dặc biệt thì

nữ mười bốn tuối, nam mười sáu tuổi được

phép kết hôn nếu được sự đống ý của cha mẹ

và của toà án

Theo pháp luật Việt Xam về dộ tiiối kết hòii Điểu 9 khoán 1 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định nam từ hai mưdi tuổi trở lên nữ từ muòi tám tuổi trở lên mới đủ điều kiện vê tuổi kết hôn Đối với các trường hỢp kết

hôn có yếu tô nưốc ngoài, khoán 1 Điếu 103 Luật hôn nhân

và gia đình năm 2000 quy định:

Trong việc kết hôn giữa công dân Việt

Nam với người nước ngoài hoặc giữa những người nước ngoài với nhau được tiến hành

trước cơ quan có thám quyền của Việt Nam thi

các bên phải tuân theo pháp luật Việt Nam về

điều kiện kết hôn.

Như vậy, có thể nói về độ tuổi kết hôn đê xác định điểu kiện kết hôn theo quv định của pháp luật Việt Nam trong các trường hợp có yếu tô nước ngoài sẽ được áp dụng cụ thế như sau:

Chương II QĐ của PL hiện hành điểu chỉnh quan hệ hôn nhân

dan Bovven (1988), Easy Guide to the Law for Young Australians, The Macquarie Library, tr.116 - 117.

Trang 9

- Trong trường hỢp nếu hai bên muôn kết hôn cùng

mang quôc tịch Việt Nam nhưng kết hôn được tiến hành ở nước ngoài thì nam phải từ hai mươi tuổi trở lên và nữ từ mưòi tám tuổi trở lên;

- Trưòng hỢp nếu một bên là công dân Việt Nam và một bên là ngưòi nước ngoài muôn kết hôn với nhau ở nước ngoài mà việc kết hôn này không được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyển của Việt Nam, thì điều kiện vê tuổi kết hôn sẽ là: nam công dân Việt N a m p h ả i từ hai mươi tuổi trở

lên và nữ công dán Việt Nam phải từ mười tám tuổi trở lên;

- Trường hđp nếu công dân Việt Nam kết hôn với người nưóc ngoài hoặc những người nưóc ngoài kết hôn với nhau trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì các bên không những phải tuân theo quy định về tuổi kết hôn theo pháp luật nước mình mà còn phải tuân theo pháp luật Việt Nam về độ tuổi kết hôn Theo quy định này thì ngưòi nưốc ngoài nếu là nam thì phải từ hai mươi tuổi trở lên, nếu là

nữ thì phải từ mười tám tuổi trở lên mới đủ điểu kiện về độ tuổi kết hôn

Pháp luật của các nước nói chung và pháp luật của Việt Nam nói riêng chỉ quy định độ tuổi tối thiểu, mà không quy định cụ thể về tuổi tôl đa trong việc kết hôn, đồng thòi pháp luật cũng không quy định giới hạn về sự chênh lệch tuổi giữa nam và nữ trong việc kết hôn Điều này p h ù hỢp với q u a n điểm cho rằng, h ô n n h â n được b ắt nguồn từ tình yêu, do đó, không có giới hạn về tuổi tác giữa

Quan hệ hôn nhân và gia đinh có yếu tố nưóc ngoài ỏ VN

Trang 10

các bên muôn kết hôn.

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay vê vấn đề kết hôn với người nước ngoài ''không tính đến tuổi tác" cần phải đưỢc các cơ quan hữu quan xem xét một cách nghiêm túc Trong những năm vừa qua, tại một sô tỉnh và thành phô của Việt Nam đã có rất nhiều trường hỢp nữ công dân Việt Nam kết hôn vối ngưòi nước ngoài hơn mình nhiều tuổi một cách bất

bình thường Ví dụ, có những trường hỢp nữ công dân Việt

Nam kết hôn vói công dân Đài Loan lớn hơn mình đến năm mưđi tuổi, t h ậ m chí có trường hỢp chênh n h a u tói sáu mươi tuổi*'* Đằng sau những trường hỢp bất bình thường này rất

có thể là những toan tính, vụ lợi, không đúng với bản chất

tô"t đẹp của hôn nhân đó là tình yêu Vì vậy, các cơ quan chức năng của Nhà nước cần nghiên cứu tìm ra các biện pháp ngăn c h ặ n các trường hỢp làm mất đi bản ch ất tốt đẹp của hôn nhân

Chương II QĐ của PL hiện hành điểu chỉnh quan hệ hôn nhân

Sức khoẻ là một trong những điều kiện hết sức cần thiết để cho một ngưòi trở thành một bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân Để đảm đương được công việc của cuộc sôVig gia đình và duy trì tôt giống nòi (một chức năng quaj

"'Sở Tư pháp tỉnh An Giang, Bào cáo tổng kết sô' 150/BCTP ngày 23/11/1999 về việc thực hiện Nghị định số 184/CP của Chính phủ.

Trang 11

Quan hệ hôn nhãn và gia đinh có yếu tố nước ngoài ở VN

trọng của gia đình), pháp luật của hầu hết các nưóc đều quv định các bên nam, nữ trong quan hệ hôn nhân phải đủ

đ iêu k iê n sức khoẻ Nói chung, một ngưòi có đủ độ tuối

kết hôn theo quy định của pháp luật thì cũng đã có đủ điêu kiện sức khoẻ đế kết hôn Tuy nhiên, trong nhiều trường hỢp, nhiều ngưòi mặc dù đã đủ tuổi kết hôn, song không đủ điều kiện sức khoẻ vì lý do bệnh tật (đôi với một sô bệnh tật nhất định) thì cũng không được phép kết hôn Bởi vì y học

đã chứng minh ràng nếu cha mẹ mắc một sô bệnh đặc biệt thì thường sẽ cho ra đòi những đứa trẻ có khuyết tật Vì vậy, để bảo vệ gia đình và xã hội, pháp luật của hầu hết các nước trên thê giới đều quy định nhửng người mắc một sô bệnh nhất định sẽ không đưỢc phép kết hôn

Mặc dù, pháp luật các nưốc có sự khác nhau trong việc

qu3' định về các loại bệnh cụ thế mà những ngưòi mắc phải không đưỢc phép kết hôn, nhưng nhìn chung, pháp luật các nưốc đều quy định những ngưòi mắc một số bệnh nhất định liên quan tới thần kinh, các bệnh liên quan đến đưòng sinh dục không được phép kết hôn

Theo pháp luật Việt Nam, việc quy định ngưòi mắc một

sô bệnh nhất định không được phép kết hôn đã được ghi

nhận trong nhiều văn bán pháp luật từ trưóc tói nay Vỉ' dụ,

Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với ngưòi nưóc ngoài năm 1993, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định như sau:

Trang 12

Điều 10 Luật hôn nhản và gia đinh năm 1959 quy định: nhửng người bát lực hoàn toàn vể sinh lý; mắc một

trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc mà chưa chữa khỏi thì không được kết hôn;

Điều 7(b) Luật hôn nhăn và gia đình năm 1986 quy định: những ngưòi đang mắc bệnh tâm thần không có khả

năng nhận thức hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu không được phép kết hôn

Khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993 quy định:

''Trong việc kết hôn giữa công dân Việt

N am với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước minh về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành trước cơ quan có thám quyền của Việt

N am thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định tại các điều 5, 6 và 7 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, không bị nhiễm H IV và được cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân xác nhận có

đủ điều kiện kết hôn I'à việc kết hôn đó được nước họ công nhận".

Chương II QĐ của PL hiện hành điều chỉnh quan hệ hôn nhân

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về điều

Trang 13

Quan hệ hôn nhãn và gia đình có yếu tô' nưốc ngoài ở VN

kiện sức khoẻ tại khoản 2 Điểu 10 là ''những người mất năng lực hành vi dán sự không được kết hôn".

So sánh các quy định về điều kiện sức khoẻ được ghi nhận trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 vói các văn bản pháp luật trước đây, có thể thấy nội dung quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

là quv định mở rộng hơn so với các quv định trong Luật hôn nhân và gia đình nám 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với ngưòi nước ngoài năm 1993 Bởi vì, các quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, năm

1986 và Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài về vấn đề sức khoẻ của các bên kết hôn được quy định theo tính chất liệt kê đôi vói một sô" bệnh cụ thể, nhưng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, vấn đê này được quy định có tính nguyên tắc vói nội dung đảm bảo quyền dân sự của mỗi cá nhân Nội dung

này hoàn toàn phù hỢp với các quy định của Bộ luật dân sự

được ghi nhận tại Điều 12 về bảo vệ quyền dân sự và Điều

35 về quyền kết hôn

Để thực hiện quy định về điều kiện sức khoẻ trên đây, khoản l(b) Điều 13 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định một trong các loại giấy tồ trong hồ sơ xin đăng ký kết hôn

là Giấy xác nhận của tổ chức y tê có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp chưa quá 6 tháng (tính cho đến ngày nhận hồ sđ) xác nhận hiện tại người xin đăng ký

Trang 14

Chương II QĐ của PL hiện hành điểu chỉnh quan hệ hôn nhân

kết hôn không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh tâm thần nhưng chưa đến mức không có khả năng nhận thức

đưỢc hành vi của mình.

Tuy nhiên, vấn đê được đặt ra là theo quy định của khoản 2 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì một ngưòi như thê nào thì bị coi là ngưòi mất năng lực hành

vi dân sự? Về việc mất năng lực hành vi dân sự, khoản 1 Điêu 24 đoạn 1 của Bộ luật dân sự Việt Nam quy định:

''Khi một người do bị tám thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thê nhận thức, làm chủ được hành vi của minh, thi theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án

ra quyết định tuyên bô mất năng lực hành vỉ dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thâm quyền".

Từ nội dung của khoản 1 Điều 24 Bộ luật dân sự trên đây, có thế rút ra 3 cơ sở pháp lý cơ bản để xác định một ngưòi mất năng lực hành vi dân sự như sau:

Thứ nhất, người m ấ t n ăn g lưc hành vi dân sự

người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thế nhận thức đề làm chủ hành vi của mình;

Thứ hai, một ngưòi chỉ bị coi là mất năng lực hành vi

dân sự khi có quyết định của Toà án trên cơ sở kết luận của

tổ chức giám định có thẩm quyền

Trang 15

Thứ ba, các cơ quan chức năng như Toà án, tổ chức

giám định có thẩm quyền chỉ tham gia xem xét một ngưòi

có bị mất năng lực hành vi dân sự hay không khi có yêu cầu của người có quyền, hoặc lợi ích liên quan

Nội dung của các quy định tại khoản 1 Điều 24 Bộ luật dân sự trên đây là cần thiết Bởi vì, quy định này là cơ sở pháp lý để Toà án thực hiện nhiệm vụ của mình là bảo vệ quyển lợi của những ngưòi có lợi ích liên quan Tuy nhiên,

việc xác định điều kiện sức khoẻ đÕì với các trưòng hỢp kết hôn có yếu tố nưóc ngoài cần được quy định cụ thể hơn và

chi tiết hơn

Thực tê cho thấy trong một vài năm trở lại đây, hiện tượng nhiều công dân Việt Nam, đặc biệt công dân nữ, kết

hôn vói ngưòi nưóc ngoài ngày càng trở nên phổ biến, trong

đó không ít các trưòng hỢp không bình thưòng liên quan tới

vấn đề sức khoẻ của các bên kết hôn Theo báo cáo của Sở Tư pháp tỉnh An Giang sô" 150/BC.TP ngày 23/11/1999 về sơ kết

5 năm thực hiện Nghị định 184 của Chính phủ, thì có nhiều trưòng hỢp công dân nữ Việt Nam lấy ngưòi Đài Loan có thể trạng dị tật, bại liệt chân tay Vê mặt pháp lý thì những

trường hỢp trên đây không vi phạm các quy định về điều kiện sức khoẻ, bởi vì những người dị tật hay bại liệt chân tav nhưng không mất năng lực hành vi dân sự thì vẫn được phép

kết hôn Tuy nhiên, trưòng hỢp nhiều phụ nữ Việt Nam trẻ, khoẻ và xinh đẹp sẵn sàng kết hôn vói một người Đài Loan

nhiều tuổi, dị tật hoặc bại liệt là hiện tượng không bình

Quan hệ hôn nhân và gia đinh có yếu tố nước ngoài ỏ VN

Trang 16

Chương II QĐ của PL hiện hành điểu chỉnh quan hệ hôn nhân

thường nên được điều tra, xác minh, xem xét thật kỷ lưỡng Việc làm này là cần thiết và hợp pháp bởi vì Nghị định sô" 68/2002/NĐ-CP quy định tại khoản 2 Điêu 18 như sau:

“Vỉệc đăng ký kết hôn củng sẽ bị từ chối, nếu kết quả thấm tra, xác minh cho thấy việc kết hôn là giả tạo, không nhằm mục đích xây dựng gia đinh no ấm, binh đắng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; kết hôn nhằm mục đích mua bán phụ nữ, xâm phạm tinh dục đối với phụ nữ hoặc vi mục đích trục lợi khác".

Vấn đê đặt ra ở đây cho các cơ quan chức năng là bằng cách nào để thẩm tra, xác minh một cách chính xác trường hợp nào kết hôn vì tình yêu và trường hỢp nào kết hôn vì

mục đích vụ lợi.• • •

Để bảo đảm các quy định vê việc xác định điều kiện sức khoẻ của các bên kết hôn có yếu tô nước ngoài, được quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 đã nêu trên đây được thực hiện có hiệu quả, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu đế bổ’ sung chi tiết thủ tục xác định người mất năng lực hành vi dân sự

Nhìn chung, luật pháp của hầu hết các nưốc đều quy

Trang 17

Quan hệ hôn nhân và gia đỉnh có yếu tố nước ngoài ỏ VN

định về tình trạng hôn nhân của các bên kết hôn như một điều kiện kết hôn Nội dung pháp luật quy định vê vấn đê này phụ thuộc vào chê độ kinh tê và phong tục tập quán của mỗi xă hội khác nhau.

ở Việt Nam, tình trạng hôn nhân được xem như một điều kiện trong việc kết hôn có quy định khác nhau trong từng thòi kỳ lịch sử Dưới thòi phong kiến, vối quan điểm ngưòi đàn ông có quyền lấy nhiều vỢ, do đó, pháp luật của nhà nước phong kiến Việt Nam cho phép đàn ông có thể lấy nhiều vỢ

Ví dụ, Dân pháp điển Bắc Kỳ (1931) quy định: “Có hai giá thú hỢp pháp: Giá thú về chính thất và giá thú về thứ thất" (Điều 79) Tuy nhiên, “Chưa lấy vợ chính thì cấm không được lấy vỢ th ứ ' (Điều 80) Từ nội dung của các quy định này có th ể thấy, thực chất pháp luật đã công nhận ch ế độ đa thê.

Việc cho phép đàn ông lấy nhiều vỢ thể hiện quan điểm

trọng nam khinh nữ Quan niệm này không thể chỉ thể hiện trong cuộc sông gia đình mà còn th ể hiện trong xã hội Việc hạ thấp vai trò của người phụ nữ trong xã hội nói chung và trong cuộc sống gia đình nói riêng đã kìm hãm

khả năng của người phụ nữ mà kết quả là kìm hãm sự phát

triển của cả xã hội.

Trang 18

Từ năm 1945, sau khi chê độ phong kiến bị lật đổ, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đòi, những quan niệm cổ hủ như chê độ đa thê cũng dần dần bị xoá bỏ.

Chương II QĐ của PL hiện hành điểu chỉnh quan hệ hôn nhân

Ví dụ: Hiến pháp năm 1946 quy định quyền binh đăng giữa nam và nữ về mọi mặt; Sắc lệnh sô 97-SL quy định ''chồng và vỢ có địa

vị bình đẳng trong gia đinh" (Điều 5); Luật hôn nhản và gia đinh 1959 quy định: “Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cần trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi ưỢ Cám lấy vỢ lể' (Điều 3).

Quy định câm đàn ông lấy nhiều vỢ, cấm đàn bà lấy nhiều chồng còn đưỢc th ể hiện rõ trong các văn bản pháp luật của Việt Nam sau này như Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Ví dụ, Điều 4 Luật hôn nhăn và gia đình năm 1986 quy định: ''Cấm người đang có vỢ,

có chồng kết hôn hoặc chung sống như vỢ chồng với người khác" hoặc khoản 1 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định người đang có ưỢ hoặc có chồng không được kết hôn với người khác.

Việc pháp luật hiện hành quy định tình trạng hôn

Trang 19

nhân của một ngưòi là một điều kiện kết hôn được xem là một trong những quy định rất tiến bộ của Việt Nam Quy định này không chỉ phủ nhận hoàn toàn quan điểm trọng nam khinh nữ của chê độ phong kiến mà nó còn có ý nghĩa trong việc phát huy vai trò của ngưòi phụ nữ trong gia đình

và xã hội

Trong quan hệ hôn nhân có yếu tô" nưỏc ngoài, tình trạng hôn nhân của các bên cũng được xem như một trong những điều kiện kết hôn Cụ thể hóa khoản 1 Điểu 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, trong quan hệ hôn nhân có yếu tô" nưởc ngoài, Nghị định sô 68/2002/NĐ-CP

quy định tại Điều 13 như sau: Một trong những giấy tờ cần thiết cho việc xin đăng ký kết hôn là Tờ khai xin đăng ký kết hôn có xác nhận chưa quá 6 tháng (kê từ ngà) nhận hồ sơ) của cơ quan có thẩm quyền về việc hiện tại người xin đăng ký kết hôn không có vỢ hoặc không có chồng (khoản la) Trong trưòng hỢp các bên đã có vợ hoặc đã có chồng

n h ư ng đã ly hôn hoặc đã chết thì p h ải có b ả n sao bản án, quyết định cho ly hôn đã có hiệu lực ph áp lu ậ t hoặc bản sao chứng tử của ngưòi vỢ hoặc của ngưòi chồnạ đã chết

(khoản 2b, 2c).

Việc pháp luật quy định về tình trạng hôn nhân một vợ

một chồng của quan hộ hôn nhân có yếu tố nưốc ngoài không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi cụ thể của các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân mà còn nhằm bảo vệ các nguyên tắc pháp lý của pháp luật Việt Nam

Quan hệ hôn nhản và gia đỉnh có yếu tô nước ngoài ở VN

Trang 20

Điều kiện không có quan hệ dòng

họ hoặc quan hệ thân thuộc

Chương II QĐ của PL hiện hành diều chỉnh quan hệ hôn nhân

Pháp luật quy định những người có quan hệ dòng họ hoặc quan hệ thân thuộc không được kết hôn là nhằm bảo

vệ sự lành mạnh của mỗi tẽ bào xã hội đó là gia đình Sự bảo vệ này được thể hiện ở hai khía cạnh là bảo vệ giống nòi và bảo vệ luân thường đạo lý

Thứ nhất là bảo vê g iô n g nòi Sinh sản là một trong

những chức năng cơ bản của gia đình, do đó việc phát triển tôt hay xấu giông nòi hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì những đứa con sinh ra bởi các cặp vỢ chồng cùng huyết thống thì thưòng bị dị dạng hoặc mắc một sô bệnh tật như: câm, điếc, mù Nếu quan hệ huyết thông của cha mẹ càng gần nhau thì tỷ lệ con cái bị tử vong khi sinh ra càng cao Như vậy có thể thâV rằng pháp luật quy định các bên muôVi kết hôn phải không có quan hệ huyết thống là nhằm bảo vệ sự phát triển của nòi giông

Thứ hai là bảo vê lu â n thư ờng đao lý Như đã trình

bày ở Chương 1 lịch sử phát triển của hôn nhân đã trải qua rất nhiều thòi kỳ Thòi quần hôn, do nhận thức của con người về gia đình và xã hội còn nhiều hạn chê nên quan hệ tính giao bừa bãi mà không phân biệt quan hệ cha, mẹ, anh, em Thòi kỳ quần hôn được xem là thòi kỳ mông muội của loài ngưòi Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học

Trang 21

Quan hệ hôn nhân và gia đỉnh có yếu tố nước ngoài ở VN

kỹ thuật và nhận thức của con người về cuộc sống hôn nhân

mà quan niệm của con ngưòi đã khác xưa rất nhiều Quan

hệ tính giao bừa bãi trong quan hệ huyết thông không chỉ phản ánh sự mông muội vê nhận thức mà nó còn phản ánh

sự suy đồi về đạo lý và bị xã hội lên án Quan niệm này dần dần được hoàn thiện và được thể chê bằng pháp luật Pháp luật không chỉ cấm quan hệ hôn nhân giữa những ngưòi có quan hệ huyết thống mà còn không cho phép nhủng người

có quan hệ nuôi dưỡng kết hôn vói nhau

ở Việt Nam, pháp luật từ trưóc tới nay đều quy định cấm những người có q u an hệ huyết thông hoặc có q u an hệ thân thuộc kết hôn vói nhau Quy định việc cấm những ngưòi có quan hệ dòng máu về trực hệ và những ngưòi có quan hệ thân thích kết hôn vối nhau được ghi nhận trong các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình như; Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 (Điều 19), Luật hôn nhân

và gia đình năm 1986 (Điều 7c,d) và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 10)

Ví dụ, khoản 3, 4 Điều 10 Luật hôn nhân

và gia đinh năm 2000 quy định như sau: Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi

ba đời (khoản 3); giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, hô chồng với con dâu, mẹ vợ với con rê, bô dượng với con riêng của vỢ, mẹ

Trang 22

Chương II QĐ của PL hiện hành điều chỉnh quan hệ hôn nhân

k ế với con riêng của chồng (khoản 4).

Từ những quy định trên đây, trên cờ sở cấp độ quan hệ giữa những người kết hôn, có thế phân ra thành hai nhóm ngưòi sau: nhóm những người có quan hệ vê dòng họ và nhóm những ngưòi có quan hệ thân thuộc

N h ó m n h ữ n g người có q u a n hề vê dòng ho bao

gồm những người có cùng dòng máu vê trực hệ và những ngưòi có quan hệ họ hàng trong phạm vi ba đời ĐÕì với nhóm người này pháp luật không cho phép họ kết hôn với nhau, bởi vì việc kết hôn giữa những ngưòi trong nhóm này không chỉ đi ngược lại luân thường đạo lý mà còn có nguy

cd cho ra đòi những đứa trẻ không bình thường do hậu quả

là cha mẹ chúng có cùng dòng máu vê trực hệ

N h ó m n h ữ n g người có q u a n hệ th á n thu ô c bao

gồm những ngưòi tuy không có quan hệ về dòng máu trực

hệ hoặc không có quan hệ họ hàng, nhưng có quan hệ mang tính chất gia đình như bô mẹ nuôi vối con nuôi, bô chồng với con dâu, mẹ vỢ vối con rể Việc pháp luật quy định cấm những ngưòi trong nhóm này kết hôn với nhau nhằm bảo

vệ trậ t tự, luân lý trong gia đình, nó là cơ sở cho một trật

tự trong xã hội vàn minh

Trong quan hệ hôn nhân có yếu tô nưốc ngoài vân đê kết hôn giữa những người cùng dòng máu vê trực hệ và những ngưòi có quan hệ thân thuộc cũng được đặt ra Trên thực tế,

ở Việt Nam, có nhiều trường hỢp công dân Việt Nam định cư

Trang 23

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nưóc ngoài ỏ VN

ở nước ngoài hoặc những ngưòi Việt Nam đã nhập quốc tịch nưỏc ngoài, sau đó trở vê Việt Nam xin đăng ký kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước nhưng có quan hệ dòng họ hoặc th â n thuộc Các trường hỢp này, pháp luật Việt Nam không cho phép kết hôn Để xác định điều kiện không có quan hệ dòng họ hoặc quan hệ thân thuộc giữa các bên kết hôn, khoản Id Điều 13 Nghị định sô 68/2002/NĐ-CP quy định các bên muôn kết hôn phải nộp hồ sơ đăng ký kết hôn

trong đó có “Lý lịch cá nhân theo mẫu quy định".

Theo quy luật tự nhiên, sinh đẻ là kết quả của quan hệ tình dục giữa các bên nam nữ Do đó trong luật pháp của hầu hết các nước đều quy định việc kết hôn chỉ được tiến hành đôl vúi câc bên chủ thể là nam và nữ Mặc dù ngày

nay ở một số nước trên th ế giới như Hà Lan, pháp luật cho

phép những ngưòi cùng giới tính (đồng tính luyến ái) có quyền kết hôn vói nhau và pháp luật công nhận cuộc sông

và các quyền khác của họ n h ư quyền của vỢ chồng trong một gia đình bình thường

ở Việt Nam, trong các văn bản pháp luật trước đây như Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì vấn đề cấm kết hôn giữa những ngưòi cùng giói tính đã được đặt ra Mặc dù nội dung của các quy định này chưa thật rõ ràng nhưng dựa

Trang 24

vào nội dung của ch úng cĩ thê suv diễn rằ n g việc kêt hơn chi được tiến h à n h giữa một bên n a m và một bên nữ.

Ví dụ, Điều 1 của Luật hơn nhân vá gia đình năm 1959 và Điều 1 của Luật hơn nhân

và gia đình năm 1986 đều quv định Nhà nước đảm bảo thực hiện chế độ hịn nhản một vỢ, một chồng hoặc Điều 4 Luật hơn nhân và gia đình năm 1959 hoặc Điều 6 của Luật hơn nhản và gia đinh năm 1986 đều quy định việc kết hơn được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện của các bên nam nữ.

Từ các quy định nêu trên cĩ thê được hiểu ràng, việc kơt hơn chỉ được tiến h à n h đơi với các bên khác giới tính

Đé cụ thê hĩa một cách rõ ràng nội dung này, khoản 5 Điểu

10 Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định những người cùng giới tín h khơng đưỢc kết hơn với nhau.Quy định những người cùng giới tính khơng được kết hơn với nhau cũng được áp dụng cho quan hệ hơn nhân cĩ yếu tơ nước ngồi Bởi vì tại khoản 1 Điêu 7 Luật hơn nhân

và gia đình năm 2000 quy định: “Các quy định của pháp luật về hơn nhân và gia đình cua Cộng hó xà hội chủ nghía Việt Nam được áp dụng đơi với quan hệ hơn nhán và gia đình cĩ yếu tơ nước ngồi, trừ trường hỢp Luật này cĩ quv định khác".

Tĩm lại pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của

Chương II QĐ của PL hiện hành điểu chỉnh quan hệ hơn nhản

Trang 25

hầu hết các nưóc trên thê giói đều quy định khi tiến hành kết hôn có yếu tô nước ngoài các đương sự phải tuân theo các điều kiện áp dụng cho việc kết hôn nói chung Thông thưòng đó là các quy định vê độ tuổi, sức khoẻ, tình trạng hôn nhân, điều kiện quan hệ dòng họ hoặc thân thuộc, không cùng giói tính.

Quan hệ hôn nhân và gia đinh có yếu tô' nưóc ngoài VN

Về nghi thức hôn cỏ yếu

tổ nước ngọậi ,^ẩ_l

N g h ỉ th ứ c k ế t hôn là trình tự tiên hành chính thức

công nhận một cách hỢp pháp quan hệ vỢ chồng Khi các bên muôn kết hôn có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì các bên phải tiến hành kết hôn theo quy định của pháp luật Nói cách khác, một quan hệ giữa hai bên n am nữ muôíh được pháp lu ậ t công n h ậ n là q u a n hệ vỢ chồng thì bên cạnh việc các bên phải đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì việc kết hôn phải được tiến

h à n h phù hỢp với quy định của pháp luật.

Pháp luật của các nước có quv định khác nhau vê nghi thức kết hôn Hiện nay trên thê giói tồn tại một sô" hình thức

kết hôn phổ biến như: kết hôn theo nghi thức dân sự, kết hôn theo nghi thức tôn giáo, hoặc nghi thức kết hôn kết hỢp giừa nghi thức kết hôn dân sự và nghi thức kết hôn tôn giáờ^\

Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Công an nhân dân Hà Nội, tr 237.

Trang 26

Chương II QĐ của PL hiện hành điểu chỉnh quan hệ hôn nhãn

Pháp luật của hầu hết các nước trôii thê giới đều quy

định việc tiến hành kết hôn theo n g h i thứ c k ế t hôn d â n

sự Theo nghi thức này, các bên nam nữ muôn kết hôn với

n h a u sẽ đến cơ quan có th ẩ m quyền của nh à nưốc để xin đăng ký kết hôn Sau khi xem xét các điều kiện kết hôn,

nếu các bên có đủ điều kiện kết hôn và không vi phạm các

điều cấm kết hôn theo quy định của pháp luật thì cd quan

n h à nưốc có th ẩ m quyền sẽ đăng ký vào số’ đăng ký kết hôn

và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho các bên

N g h ỉ th ứ c k ế t h ô n tôn g iá o được áp dụng phổ biến ở

các nước theo đạo giáo như thiên chúa giáo và hồi giáo, ơ các nước này, nghi thức kết hôn đưỢc tiến h à n h theo quy định của đạo giáo.

N g h i th ứ c k ế t hôn k ế t hơp giữ a n g h i thứ c d à n sự

và n g h i thứ c tôn g iá o là nghi thức kết hôn mà các bên

sau khi tiến hành đăng ký kết hôn theo nghi thức dân sự trước cơ quan có thẩm quyền của nhà nước sẽ tiến hành kết hôn trưỏc sự chứng kiến của những người có thẩm quyền trong đạo giáo theo quy định của đạo giáo

Do có sự quy định khác nhau của pháp luật giữa các nước về nghi thức kết hôn cho nên thường có sự xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn có yếu tô nưởc ngoài Trong thực tiễn quốc tế, giải quyết xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn có yếu tô nước ngoài, ngưòi ta thường áp dụng

luật nơi tiến hành kết hôn (Lex ỉoci celebrationis) nhằm xác

định tính hđp pháp về nghi thức kết hôn có yếu tô" nưóc

Trang 27

ngoài Theo nội dung này thì nghi thức kết hôn được tiôn

h à n h ở đâu thì pháp luật của nơi ấy sẽ quy định vê tính hỢp pháp vê mặt hình thức của cuộc hôn nhân đó Bên cạnh việc áp dụng luật nơi tiến h à n h kết hôn, nhiều nước còn đưa ra một sô điều kiện bố sung để nhằm xác định tính hỢp pháp của nghi thức kết hôn có yếu tô nước ngoài.

Ví dụ, theo quy định của pháp luật Cộng hoà Pháp thi khi công dân Pháp kết hôn ở nước ngoài, thi bên cạnh việc phải tuân thủ quy định của pháp luật nơi tiến hành kết hôn, công dân Pháp phải thông báo việc kết hôn này về nước cho cơ quan có thẩm quyền; hoặc theo quy định của pháp luật Đức thi khoản 3 Điều 13 Tư pháp quốc tế Đức được sửa đổi ngày 15/7/1986 quy định, một cuộc hôn nhân có yếu tô nước ngoài nếu không phù hỢp với pháp luật nước nơi tiến hành kết hôn, nhưng phù hỢp với pháp luật quốc tịch của đương sự thì cuộc hôn nhân đó vẫn được coi

ỉà hỢp pháp về mặt nghi thức; hoặc trong các điều ước quốc tế liên quan tới quan hệ hôn nhăn có yếu tò nước ngoài khi xác định tính hợp pháp của nghi thức kết hôn đều ghi nhận việc áp dụng luật nơi tiến hành kết hôn Ví

dụ, Điều 15 Công ước Lahay 1902 về kết hòn

có quy định: “Nghi thức kết hôn được còng

Quan hệ hôn nhản và gia dinh có yếu tố nưóc ngoài ở VN

Trang 28

nhận là hỢp pháp nếu nó tuân theo luật nơi tiến hành kết hôn".

Theo pháp luật Việt Nam, Luật hôn nhân và gia đình nãm 2000 không có quy phạm quy dịnh cụ thê việc chọn pháp luật áp dụng đê điều chỉnh nghi thức kết hôn có yếu

tô nước ngoài Tuy nhiên, vấn đê liên quan tới nghi thức kết hôn có yếu tô nưốc ngoài được đê cập tối tại khoản 1 Điều 20 Nghị định sô 68/2002/NĐ-CP, cụ thể như sau:

“Việc kết hôn giữa công dán Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được đăng

ký tại cơ quan có thảm quyền của nước ngoài, phù hỢp với pháp luật của nước đó thi được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn công dán Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hỢp cấm kết hôn".

Theo quy định trên đây, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài trước cơ quan có thẩm

quyền của nưóc ngoài phải “phù hỢp với pháp luật nước đó thì được công nhận tại Việt Nam" Sự “phù hỢp" trong quy

định này được hiểu là việc kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của nưóc ngoài không chi’ phù hỢp với điều kiện kết hôn m à còn phải phù hỢp vê nghi thức kết hôn theo quv định cúa pháp luật nước đó Như vậy, có thế nói, quy định

Chương II QĐ của PL hiện hành điều chỉnh quan hệ hôn nhân

Trang 29

Quan hệ hôn nhân và gia đỉnh có yếu tô nước ngoài VN

nghi thức kết hôn tiến h à n h ở nước ngoài trê n đây là phù hỢp vói các quy định pháp lu ậ t của n h iều nước và p h ù hỢp với Công ước LaHaye 1902

Tuy nhiên, nội dung của khoản 1 Điều 20 Nghị định sô 68/2002/NĐ-CP trên đây là quy định về công nhận nghi thức kết hôn ở nước ngoài chứ không được coi là quy định

về chọn pháp luật điều chỉnh nghi thức kết hôn có yếu tô" nước ngoài Vì vậy, các quy định chọn pháp luật áp dụng cho nghi thức kết hôn có yếu tố nưóc ngoài tại Việt Nam cần được nghiên cứu bổ sung

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì nghi thức kết hôn dân sự là nghi thức kết hôn hđp pháp

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về nghi thức kết hôn như sau: Việc kết hôn phải đưỢc đăng ký trước cơ quan nhà nước

có thẩm quyền (khoản 1 Điều 11); Khi đăng ký kết hôn phải có mặt của cả hai bên nam nữ kết hôn, đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muôn tự nguyện kết hôn của

họ, nếu hai bên đồng ý tự nguyện kết hôn thi đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên kết hôn (Điều 14); Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 sẽ không đưỢc pháp luật công nhận

Trang 30

là vỢ chồng; nam, nữ không đăng ký kết hôn

mà chung sống với nhau như vỢ chồng thi không được pháp luật công nhận là vỢ chồng;

vợ chồng đả ly hôn muôn kết hôn lại với nhau củng phải đăng ký kết hôn (khoản 1 Điều 11).

Vê vấn đề này, Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quôc hội vê việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình quy định: Trong trường hợp quan hệ vỢ chồng

đưỢc xác lập trước ngày 03/01/1997 mà chưa đăng ký kết

hôn thì được khuyên khích kết hôn; nam nữ sông vói nhau như vỢ chồng từ này 03/01/1997 đến ngày 01/01/2000 có đủ điểu kiện đăng ký kết hôn thì có nghía vụ đăng ký kết hôn trong thòi hạn hai năm kể từ ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003 từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp

lu ậ t không công n h ậ n họ là vỢ chồng.

Như vậy, pháp luật Việt Nam quy định nghi thức kết hôn là nghi thức kết hôn dân sự và việc tiến h à n h theo nghi thức này là điều kiện bắt buộc đế công n h ậ n tính hỢp pháp của q u a n hệ vợ chồng.

Thủ tục kết hôn quy định trên đây cũng được áp dụng cho quan hệ hôn nhân có yếu tô nước ngoài khi việc kết hôn này được tiến hành trưốc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam Để quy định chi tiết nội dung của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 vê nghi thức kết hôn có yếu tô” nưóc

Chương II QĐ của PL hiện hành diều chỉnh quan hệ hôn nhân

Trang 31

Quan hệ hôn nhân và gia đinh có yếu tố nưòc ngoải ỏ VN

ngoài, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định tại Điều 11 như sau:

Việc đăng ký kết hôn phải được đăng ký

và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Nhà nước Việt N am thực hiện theo nghi thức

đã được pháp luật quy định, mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý; các bên nam nữ không đăng ký kết hôn mà chung sông với nhau như vỢ chồng thi không được công nhận là vỢ chồng.

Thực tê ở Việt Nam trong những năm qua, cùng vối

sự phát triển kinh tế, vãn hoá - xã hội của đất nước và xu hưóng hội nhập kinh tê quốc tế, các quan hệ hôn nhân có yếu tô nước ngoài ở Việt Nam có những bước phát triển đáng kế Theo tổng kết của Bộ Tư pháp thì trong thòi gian thực hiện Nghị định sô 184/CP ngày 30/11/1994 của Chính phủ quy định vê thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với ngưòi nước ngoài (từ năm 1995 đến năm 2000) các Sở Tư pháp trong cả nước đã đăng ký cho 66.141 trường hỢp kết hôn có yếu tô" nước ngoài Con số vê các

trường hỢp k ết hôn có yếu t ố nước n g o à i tạ i Việt Nam trong thòi gian 6 năm (từ 1994 đến 2000) đã phản ánh một thực tê là việc kết hôn có yếu tô" nước ngoài đã không còn là hiện tượng hiếm hoi nữa

Trang 32

Điếm đáng lưu ý là các quan hệ kêt hôn có yêu tô nước ngoài trong thòi gian qua diễn ra tương tỉòi phức tạp cả về quy mô và tính chát Điểu này thế hiện ở số lượng các trường hỢp kết hôn giữa công dân Việt Xam vối người nước ngoài ngày càng có xu thê gia tăng một cách đáng kể Theo Báo cáo sđ kết công tác 4 năm thực hiện Nghị định sô 184/CP của Chính phủ vê hôn nhân Vcà gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, thì ở tỉnh Long An năm 1995 có 137 trường hỢp, năm 1996 có 154 trường hỢp, năm 1997 có 235 trường hợp ước tính năm 1998 có khoảng trên 230 trường hỢp"’ ở tỉnh Tây Xinh, sô lượng các

trường hỢp kết hôn giữa công dân Việt Xam với ngưòi nưóc

ngoài từ năm 1995 đến năm 1998 thê hiện như sau: năm 199Õ có 78 trường hỢp năm 1996 có 131 trường hỢp, năm

1997 có 156 trường hỢp và năm 1998 (tính đến tháng 10/1998) có 214 trường hỢp'-’ ỏ tỉnh Bạc Liêu năm 1998 có

252 trường hỢp, năm 1999 (tính đến ngày 10/11/1999) có

414 trường hợp‘” Việc kết hôn giữa công dàn Việt Nam với người nưốc ngoài ngày càng gia tăng đã phản án h một phần thực tê của xu thê hội nhập quốc tê

Chương II QĐ của PL hiện hành điều chỉnh quan hệ hôn nhãn

Sỏ Tư pháp tỉnh Long An, Báo cáo sô' 882BC.HC.TP ngày 23/12/1998 về việc thực hiện Nghị định số 184/CP của Chinh phủ.

Sở Tư phàp tỉnh Tây Ninh, Báo cáo số 1002/ BC-TP ngày 17/11/1998 về việc thực hiện Nghị định số 184/CP của Chính phủ

'^'Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu Báo cào tổng kết số 55/ BC-HC ngày 24/11/1999 về việc thực hiện Nghị định số 184/CP của Chính phủ.

Trang 33

Tuy nhiên, việc kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian qua đã có một số biểu hiện tiêu cực ảnh hưởng tới đời sống xã hội Việt Nam như sau:

Việc nữ công dân Việt Nam lấy chồng là người nước ngoài thông qua tổ chức môi giói kết hôn đã có lúc, có nơi trỏ thành trào lưu, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh và một sô" tỉnh phía Nam Để đáp ứng nhu cầu của ngưòi nước ngoài muốn lấy vỢ Việt Nam, hàng loạt tổ chức trung gian, môi giói ra đòi, nhiều loại hình giao dịch hôn nhân như

''chợ tình" được hình thành và phát triển Theo Báo cáo sô

882/BC.HT.TP ngày 23/12/1998 của Sở Tư pháp tỉnh Long

An về sơ kết 4 năm thực hiện Nghị định 184/CP của Chính phủ về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với ngưòi nước ngoài, thì hầu hết các cuộc hôn nhân này được tiến hành qua khâu trung gian mà không có quá trình tìm hiểu giữa các bên về nhân thân và điều kiện sống Phần lớn các trường hỢp, phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài là người Đài Loan hơn mình hàng chục tuổi, nhiều trường hỢp phụ nữ đã chấp nhận lấy chồng là ngưòi nưỏc ngoài bị mắc dị tật hoặc bại liệt'" Củng theo nhận định của Báo cáo trên đây của Sở Tư pháp tỉnh Long An thì khoảng 80% trường hỢp kết hôn với người nưóc ngoài là vì lý do kinh tế.

Quan hệ hôn nhân và gia đinh có yếu tố nước ngoài ỏ VN

Sỏ Tư phàp tỉnh Long An, Bào càọ số 882 ngày 23/12/1998 vể việc thực hiện Nghị định số 184/CP của Chính phủ.

Trang 34

Chương II QĐ của PL hiện hành điểu chỉnh quan hệ hôn nhân

lấy chồng đế có tiền giúp đở gia đình"’ Theo Báo cáo số

18/BC-TP ngày 27/4/2001 của ưỷ ban nhán dân thành phô"

Đà Nẳng vê tình hình thực hiện Nghị định số 184/CP thì

ở địa phương có những trưòng hỢp công dân Việt Nam kết hôn với ngưòi nước ngoài nhằm mục đích được xuất cảnh, hoặc vì lợi ích vật chất hoặc thiếu hiểu biết, hoặc bị lừa dôi• • • • ' • •

về viễn cảnh cuộc sôVig đầy đủ vật chất sung sưỏng ở nước ngoài Theo đánh giá của Bộ Tư pháp, thì ưóc tính trong năm 2000 mỗi tháng có khoảng 1.000 cô dâu Việt Nam nhập cảnh vào Đài Loan Tính cho đến tháng 3 năm 2001

đã có 42.599 cô dâu Việt Nam tại Đài Loan, chiếm 1/4 tổng sô" cô dâu nưóc ngoài tại Đài Loan Một điểm đáng lưu ý là vào khoảng 85% các cuộc hôn nhân này là vì mục đích kinh

tế thông qua sự môi giối của khâu trung gian

Bên cạnh “trào lưù' lấy chồng ngoại thì “írào lưu” lấy

vỢ ngoại cũng được diễn ra tại một sô địa phương ở miền Nam Trên Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh sô" 13/2002 (583) ngày 01/4/2002, tác giả Hoàng Hùng có bài

“Gái Đài tuyển chồng Việt" đã nêu lên hiện tượng không

bình thưòng xảy ra ở hai tỉnh Long An và Tây Ninh, khi có nhiều phụ nữ Đài Loan sang Việt Nam đế tìm chồng Theo tác giả bài báo thì cuối nám 2001 có một sô" phụ nữ Đài Loan, độ tuổi trung bình từ 25 đến 40 và cân nặng từ 100

Sỏ Tư pháp tỉnh Long An, Tài liệu đã dẫn.

Trang 35

đến 140 kg đến các địa phương trên đế ‘''tuyển chồng".

Những ngưòi đi "tuyển chồng" này ra giá trả cho gia

đình nhà trai từ 1,5 triệu đến 2 triệu đồng một kg cân nặng của mình, theo đó ngưòi đàn ông Việt Nam nào chấp nhận lấy người phụ nữ Đài Loan làm vỢ thì được hưởng một

khoản tiền tưđng đương với số tiền từ một đến hai triệu

đồng nhân vói trọng lượng cơ thể của ngưòi phụ nữ Nguyên nhân của việc “tuyến chồng” này là do nhiều cô gái Đài Loan trong tình trạng béo phì quá mức bình thường nên không thế lấy được chồng ở xứ của họ, nên phải sang Việt Nam đế tìm chồng

Trước tình hình thực tê trên đây, các cơ quan chức năng của Nhà nước đã và đang tiến hành nghiên cứu và triển khai nhiều công việc giúp cho công tác quản lý, điều chỉnh việc kết hôn có yếu tô" nước ngoài tại Việt Nam đi đúng hưóng và bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam

Từ thực tiễn của đòi sống hôn nhân có yếu tô" nước ngoài tại Việt Nam diễn ra trong thòi gian qua như đã nêu trên, có thể thấy rằng trong tương lai, các quan hệ hôn nhân có yếu tô nước ngoài sẽ càng gia tăng và những khó khăn trong việc điều chỉnh các quan hệ này sẽ xuất hiện Những khó khăn nảy sinh không phải là từ tính chất của quan hệ hôn nhân có yếu tô nước ngoài mà từ việc thiếu các quy định của pháp lu ật p h ù hỢp với đòi sông quốíc tê trong lĩnh vực này Vì vậy, bên cạnh việc tìm ra các biện pháp đế giải quyết trước mắt những vấn để nảy sinh trong quan hệ

Quan hệ hôn nhân và gia đỉnh có yếu tố nước ngoài ở VN

Trang 36

hôn nhân có yêu tô" nưóc ngoài, các cơ q u a n có thẩm quyền của Nhà nước cần phải nghiên cứu hoàn thiện pháp luật điểu chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tô nước ngoài trong tình hình mói phù hỢp với pháp luật và tập quán quốc tế.

2 Quan hệ vợ chồng có yếu tố nưóc ngoài

ở Việt Nam, dưới chê độ phong kiên, quan hệ giữa nước

ta và các nước trên thê giới vê tất cả lĩnh vực của đòi sông

xã hội, đặc biệt là lĩnh vực hôn nhân và gia đình chưa phát triển Vì thế, có rất ít phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc và ngược lại Mặt khác, nếu như có thì cuộc hôn nhân

đó cũng không vượt qua được cái ngưỡng của quan niệm thòi đại là người chồng nắm quyền gia trưởng trong gia đình, người vỢ phụ thuộc vào người chồng trong mọi trưòng hợp Cách mạng tháng Tám thành công đã giải phóng người phụ nữ khỏi thân phận lệ thuộc bởi sự ràng buộc của thuyết

“íam tòng” trong chê độ phong kiến Hiến pháp năm 1946

và Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950, sác lệnh số 1Õ9/SL ngày 17/11/1950 đã khẳng định địa vị bình đẳng giữa người

vỢ và người chồng trong gia đình Tuy nhiên, do hạn chê nhất định của thòi đại cho nên dù đâ xuất hiện những tư tưởng tiến bộ song pháp luật nưóc ta còn có quy định lỗi

thòi, thế hiện trong sắc lệnh sô 53 ''Người phụ nữ khi lấy chồng ngoại quốc thi đương nhiên mất quốc tịch của minh

và phải theo quốc tịch của chồng" Sau năm 1954 hoàn

cảnh trong nước và trên thê giới có nhiều thay đổi, dần đến

sự th ay đổi lớn trong quan niệm vê quốc tịch của người phụ

Chương II QĐ của PL hiện hành diều chỉnh quan hệ hôn nhân

Trang 37

nữ lấy chồng nước ngoài Việc Việt Nam tham gia Công ưốc ngày 29/11/1957 và Công ưóc New York nàm 1973 đã thể hiện quan điểm của Nhà nước ta về quổc tịch của người phụ

nữ lấy chồng nước ngoài Điều 4 Luật quốc tịch Việt Nam

năm 1988 “Việc kết hôn, Ly hôn, huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa công dăn Việt Nam và người nước ngoài hoặc người không quốc tịch không làm thay đổi quốc tịch của họ Hoặc vỢ hoặc chồng vào hoặc mất quốc tịch Việt Nam không làm thay đổi quốc tịch của người k itỉ’ Như vậy, ngưòi phụ

nữ lấy chồng nước ngoài vẫn có quyền giữ quốc tịch của mình Đây là một trong các nguyên nhân xuất hiện quan hệ giữa vỢ chồng có yếu tô nước ngoài tại Việt Nam Mặt khác, sau khi đất nưóc được giải phóng, Việt Nam thiết lập quan

hệ ngoại giao ngày càng nhiều vói các nước trên thê giối, thực tế đó đã làm phát sinh ngày càng nhiều các mối giao lưu dân sự, kinh tế, văn hoá giữa công dân nước ta với công dân các nưốc Đây chính là cơ sở làm xuất hiện quan

hệ kết hôn có yếu tô" nưốc ngoài - tiền đề cho sự xuất hiện quan hệ vỢ, chồng có yếu tô nước ngoài tại Việt Nam

Như vậy, ở Việt Nam, sự thay đổi quan niệm vê quổc tịch của ngưòi phụ nữ lấy chồng nưóc ngoài và sự p h á t triển của q uan hệ ngoại giao chính là n h á n tô" tích cực làm

x u ất hiện quan hệ giữa vỢ và chồng có yếu tô' nước ngoài

Từ đó, nảy sinh yêu cầu cần phải điều chỉnh quan hộ giữa

vỢ và chồng ngày càng trở nên q u a n trọ n g và bức xúc.

Sự kiện kết hôn đã làm phát sinh q u a n hệ p h á p lu ậ t

Quan hệ hôn nhãn và gia đinh có yếu tố nước ngoài ở VN

Trang 38

g iữ a vơ và chồng Nội dung của quan hệ pháp luật giữa

vỢ và chồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ vê n h ân th â n

và tài sản Các quyền và nghĩa vụ này được pháp luật bảo

hộ Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không có điều khoản riêng quy định rõ luật áp dụng để điều chỉnh quan

hệ vê nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng có yếu tô nước ngoài Tuy nhiên, theo khoản 1, 2 Điều 100 và Điều 7 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì pháp luật điểu chỉnh quan hệ trên có thế là pháp luật Việt Nam Pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ vê nhân thân và tài sản giữa vợ

và chồng có yếu tô" nưốc ngoài ở Việt Nam là các quy phạm pháp luật đưỢc ghi nhận trong Luật hôn nhán và gia đình Việt Nam và các quy phạm khác của pháp luật Việt Nam

Theo Luật hôn nhân và gia đình, các quyên và n g h ĩa vu

về n h â n th ả n g iữ a vơ và chồng được quy định từ Điều

18 đến Điêu 26 Qua các điều này cho thấy, những quyền

và nghĩa vụ vê n h â n th â n giữa vỢ và chồng mang yếu tô tình cảm gắn liền với bản thân vớ chồng không thế chuyên giao cho người khác, chỉ với tư cách là vỢ chồng của nhau thì họ mói có những quyền và nghĩa vụ đó Các quyền và nghĩa vụ nàv bao gồm cá tình yêu, sự hoà thuận và lòng kính trọng lẫn nhau, việc xử sự trong gia đình, các quan hệ đối với con và những thành viên khác trong gia dinh Đế điếu chỉnh có hiệu quả các quan hệ dó phải kết hỢp giữa quy định của pháp luật vỏi những quy tắc đạo đức là lẽ sống trong xã hội xã hội chủ nghĩa

Trong quan hệ giữa vỢ và chồng, bên cạnh quyền và

Chương II QĐ của PL hiện hành diếu chỉnh quan hệ hôn nhân

Trang 39

nghĩa vụ về nhân thân còn có các quyển và nghĩa vụ vê tài sản Các quyền và nghĩa vụ này được quy định Điều 27 đến Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 bao gồm, quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng và

quyền thừa kê tài sản Q uyền và n g h ĩa vụ tà i sả n g iữ a

vơ và chồng có vai trò quan trọng là cơ sở đế đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt chức năng của nó Các quyền và nghĩa vụ đó còn đáp ứng được những lợi ích chính đáng của

vỢ, chồng, đảm bảo cho vỢ, chồng thực hiện tốt các quyền

và nghĩa vụ nhân thân vói nhau và thực hiện tôt các quyền

và nghĩa vụ đôl với con

Như vậy, khi điều chỉnh quan hệ nhân thân và tài sản giữa vđ và chồng có yếu tố nưốc ngoài, pháp luật áp dụng

để điều chỉnh các quan hệ đó là các quy phạm pháp luật được ghi nhận trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

và các quy phạm khác của pháp luật Việt Nam Đây là điểm khác giữa Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 so vối các văn bản pháp luật đã được ban hành Trước đây, quan

hệ n h â n th â n và q u a n hệ tài sản giữa vỢ và chồng được quy định tại Điều 10 Pháp lệnh năm 1993 Theo quy định này, tiêu chí đầu tiên để xác định quyền và nghĩa vụ vê nhân

t h â n và tài sản giữa vỢ và chồng là nguyên tắc lu ật nơi thường trú chung (hoặc nơi thường trú chung cuôl cùng) và chỉ khi họ không có nơi thưòng trú chung thì mới điều chỉnh theo pháp luật Việt Nam Theo sự dẫn chiếu của qưy phạm xung đột đó, có thể cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ phải sử dụng pháp luật nưốc ngoài trong trường

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở VN

Trang 40

Chương II QĐ của PL hiện hành diều chỉnh quan hệ hôn nhân

hợp nếu vỢ, chồng có nơi thường trú chung (hoặc thường trú chung cuối cùng) ở nước ngoài Nhưng theo Luật hôn

n h â n và gia đình năm 2000, xung đột pháị) lu ậ t vê quan hệ

n h â n th â n và tài sản giữa vỢ và chồng, các cơ quan có th ẩ m quyền chỉ điều chỉnh theo pháp luật Việt Nam

Nghiên cứu pháp luật của một sô” nước trên thê giới cho thấy, pháp luật vê quan hệ giữa vợ và chồng quy định rất

khác nhau, ơ mức độ khái quát nhát, những xung đột pháp luật được điều chinh theo các nhóm nguyên tắc sau:

Thứ nhất, nguyền tắc lu à t quốc tich của đư ơ ng sư.

Một sô nưốc sử dụng nguyên tắc này như là nguyên tắc chính đế điều chỉnh quan hệ n h ân thâii giữa vợ và chồng (Pháp), hoặc điểu chỉnh cá quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản (các nưốc Đông Âu) Pháp luật của các nước phương Tây như Đức, Italia, Hy Lạp quy định các bên có quyển thoả th u ậ n chọn pháp luật đế điều chỉnh q u a n hệ tài sản của mình, tr ừ trường hỢp các bên không thoả th u ậ n được thì điều chỉnh theo ph áp luật của nước vợ, chồng m ang quốc tịch Nếu vỢ chồng không cùng quốc tịch thì sử dụng

ph áp luật nưốc ngưòi chồng mang quôc tịch để điều chỉnh quan hệ đó Trong trường hờp này, nguyên tắc luật quốc tịch được coi là nguyên tắc bô sung'".

Theo pháp luật các nước Đông Âu, quan hệ lìhân thân

Đại học quốc gia Hà Nội (1997), Giáo trinh Tư pháp quốc tế, Nxb

Ngày đăng: 06/12/2015, 18:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w