1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Ebook đổi mới chính sách sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ trong cơ quan nghiên cứu phát triển phần 2 nguyễn thị anh thu (chủ biên)

67 305 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới, nhất là các nước trong khu vực châu Á về vấn đề sử dụng nhân lực KH&CN trong cơ quan nghiên cứu - phát triển có vai trò quan trọng và

Trang 1

ae Chuong ba

KINH NGHIỆM SỬ DỤNG NHÂN LỰC

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CƠ QUAN NGHIÊN CỨU - PHÁT TRIEN Ở MỘT SỐ NƯỚC

TRONG KHU VỰC

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới, nhất là các nước trong khu vực châu Á về vấn đề sử

dụng nhân lực KH&CN trong cơ quan nghiên cứu -

phát triển có vai trò quan trọng và là vấn để rất

cần thiết đối với người sử dụng lao động nói chung,

các nhà hoạch định chính sách KH&CN nói riêng

„ "Thực tế rất phong phú, đa dạng Có thể nói, có

những kinh nghiệm hay của quốc gia này nhưng không

thể lặp lại nguyên dạng cho một quốc gia khác, vì điểu

kiện kinh tế - xã hội, văn hoá khác nhau Tuy nhiên bài

học thành công hay thất bại cũng như cách giải quyết vấn đề lại rất bổ ích cho chúng ta về phương pháp luận

cũng như cách tư duy trong việc nghiên cứu và đề xuất

chính sách Trong khuôn khổ một quyển sách chuyên khảo, nhóm tác giả trình bày những nghiên cứu về

chính sách sử dựng nhân lực khoa học và công nghệ của

Trang 2

¬

các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines

và Singapore; đây là những kinh nghiệm có thể tham

khảo trong việc hoạch định và thực thi một số chính

sách sử dụng nhân lực KH&CN trong cơ quan nghiên

cứu - phát triển ở nước ta

1 TRƯNG QUỐC

1 Thiết lập hệ thống thi tuyển vị trí làm việc

Vị trí làm việc của cán bộ KH & CN được xác định bởi cấu trúc hợp lí và tỷ lệ thích hợp của đội ngũ cán bộ

trong nhiệm sở với các loại hình cán bộ có trình độ cao

cấp, trung cấp và sơ cấp Số vị trí làm việc cũng như

những yêu cầu về trách nhiệm, trình độ, nhiệm kỳ v.v được xác định trước Mỗi cán bộ KH & CN muốn chiếm được một chỗ cần phải là người chiến thắng trong ky thi tuyển Để cho khách quan, lãnh đạo hành chính quyết

định một hội déng tuyển chọn, công bố trước các yêu

cầu, chức trách, trình độ đòi hỏi, nhiệm kỳ và mức

lương thích hợp :

Hình thức thi tuyển hoặc thử thách cũng được ấp

dụng trong đánh giá cán bộ KH & CN Kết quả của nó

liên quan trực tiếp đến việc tăng lương, thưởng, phạt,

kết thúc hoặc kéo dài hợp đồng v.v Hệ thống quản lý

mới này được áp dụng ở Trung Quốc từ năm 1984 dưới

dạng thử nghiệm Với kết quả và kinh nghiệm thu

được, họ ngày càng mở rộng hình thức này, áp dụng cho

Trang 3

yết nhiều lĩnh vực, trong đó có hệ thống nghiên cứu

khoa học Hình thức quản lý mới đang phát huy cao

độ vai trò, trách nhiệm và khả năng của đội ngũ cần

bệ, KH & CN, khuyến khích họ đóng góp ngày một

nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển của KH & CN,

quá trình tăng trưởng kinh tế và công cuộc hiện đại hoá đất nước

„9 Chính sách tiển lương

Chính phủ Trung Quốc quy định hệ số chênh lệch giữa lương khởi điểm của cử nhân trong cơ quan NC-

TK và lương tối thiểu trong nền kinh tế là 2,7 Hệ số

này không cao, ở mức trung bình khá so với các nước đang phát triển Tuy nhiên, trong thực tế có sự khuyến

khích đáng lưu ý:

- Khuyến khích lương cho nhân lực KH&CN chuyển

về làm việc tại nông thôn, vùng xa, biên giới Khi đi làm việc (lâu dài cũng như tạm thời) tại các vùng xa xôi, đặc biệt là các vùng biên giới, nhân lực khoa học được

hưởng lương thêm với hệ số trung bình cõ 1,5 Chính

sách này đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và

tăng cường đội quân KH&CN ở vùng nông thôn cũng

như nơi xa Xôi

- Khuyến khích tăng thu nhập, tiền thưởng bằng

hoạt động KH&CN Cho phép các nhà khoa học và kỹ

sư được dùng một phần thời gian làm việc chính ngạch

Trang 4

để tham gia các hoạt động khác có liên quan đến phát triển KH&CN Các cơ quan kinh tế (Nhà nước, không

của Nhà nước) được quyển ký kết hợp đổng lao động với mức lương không hạn chế Đối với người giỏi, mức lương

có thể gấp 10 lần so với khi làm việc cho Nhà nước

3 Chính sách đào tạo

Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh vai trò của phát

triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực KH&CN Triết lý của Trung Quốc là: thiết bị là phần “cứng”, công

nghệ là phần “mềm” còn nguén nhân lực trình độ cao là phần “sống” Thiếu phần “sống” thì cả phần “cứng”, phần

“mềm” đều không vận hành có hiệu quả Vì vậy chính

sách đào tạo của Trung Quốc là tăng số lượng và nâng

cao chất lượng đào tạo trong nước đồng thỏi với việc gửi

sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài Chỉ từ năm 1979 đến

1887 hơn 4 vạn sinh viên Trung Quốc đã được gửi ra nước ngoài học tập và cũng chính trong thời gian này

18.000 sinh viên du học đã tốt nghiệp về nước phục vụ

Trong các cơ quan nghiên cứu-phát triển, hầu hết

nhân lực KH&CN đều đã có trình độ cử nhân Vì vậy,

chính sách đào tạo tiếp tục tập trung theo các hướng sau đây:

« Bồi dưỡng sau đại học;

« Đào tạo tiến sĩ

Trang 5

«+ Đào tạo và bồi dưỡng sau đại học được tiến hành ở

trong nước (các trường đại học và các viện nghiên cứu

khoa hoc) va gửi đi đào tạo ở nước ngoài Ngày nay, các cán bộ nghiên cứu của Trung Quốc chủ yếu gửi đi đào

tạo tại các nước công nghiệp phát triển, nhiều nhất là

Mỹ, Đức, Nhật Bản, Pháp Khi về nước, họ được bố trí

làm việc tại các Labo được trang bị không thua kém ở

nước ngoài, vì vậy công việc nghiên cứu của họ xem như

là liên tục

_4 Chính sách khuyến khích các nnà khoa học

về nông thôn, vùng biên giới và các vùng dân tộc

thiểu số

°" Từ năm 1983, Hội đồng Nhà nước và chính quyền

các tỉnh, các khu tự trị và các vùng dân tộc thiểu số đã

để xuất một số chính sách đặc biệt đối với các cán bộ

KH & CN đang làm việc ở nông thôn, các vùng xa xôi, biên giới Đó là các chính sách liên quan đến thời hạn

phục vụ, bảng lương, hưu trí v.v Các chính sách này đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và tăng

cường đội quân KH & CN ở các vùng xa xôi cũng như ở nông thôn ví dụ như ở Nội Mông, Tây Tạng v.v Hiện nay, Nhà nước Trung Quốc đang thực hiện chính sách

“hướng về phía Tây”, trong đó các nhà khoa học giữ

vai trô quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ

Trang 6

ð Chinh sách khuyến khích việc kết hợp giữa trao đổi nhân lực KH&CN với chuyển giao công nghệ

Hiển nhiên là nhân lực KH & CN có khả năng cống hiến trong mọi lĩnh vực nhưng hiện nay người Trung Quếc xác định rằng đóng góp quan trọng nhất của nhân

lực KH & CN là thúc đẩy tiến bộ công nghệ trong sản

xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế

Việc trao đổi nhân lực KH & CN thực hiện nhờ các trung tâm trao đổi nhân lực KH & CN Năm 1985 toàn Trung Quốc đã có tới 1.203 trung tâm như vậy Kết quả

đã tạo ra được “dòng chảy” cán bộ KH & CN từ miền

này sang miền khác, đặc biệt từ các thành phố lớn về các thành phố trung bình, nhỏ và về nông thôn Kèm

theo dòng chảy này là quá trình thực hiện chuyển giao

công nghệ Một cách tổng quát, dòng chảy nhân lực KH

& CN mang lại một số kết quả đáng khích lệ sau :

- Trong hầu hết các trường hợp, dòng chảy định

hướng từ các trung tâm thành thị về các vùng nông thôn, hoặc từ các Viện nghiên cứu khoa học hay trường đại học

về khu công nghiệp

- Dòng chảy nhân lực kéo theo dòng chảy công nghệ

và thiết bị

- Một bộ phận của “dòng chảy” nhân lực có công

việc mới, định vị ở nông thôn hay các khu vực sản xuất

Trang 7

pm

:,8, Chính sách cấp các giải thưởng cho các nhà khoa học có cống hiến

Những thành tựu KH&CN là sự phần ánh tài năng,

sự hiểu biết và sáng tạo của đội ngũ cán bộ KH & CN

Vì lẽ đó, Trung Quốc đã xây dựng điều lệ khen thưởng

cho các hoạt động sáng chế, phát minh, tiến bộ KH&CN, hợp lý hoá sản xuất và cải tiến công nghệ Khoảng từ năm 1984 đến 1987, Nhà nước đã có sự

chăm lo thích đáng đến điểu kiện làm việc, điều kiện

sống và các điều kiện khác của hơn 1.000 nhà khoa học

là những người đã có cống hiến to lớn Đồng thời, vài

nghìn nhà khoa học và công nghệ đã được lựa chọn từ

7, Chính sách cho phép các nhà khoa học được

dùng một phần thời gian làm việc chỉnh ngạch để tham gia các hoạt động khác có liên quan đến phát triển KH&CN và được nhận tiện công và tiền

thưởng hợp lý

Chính sách này tạo nên một bức tranh sinh động và

Hinh hoạt trong sử dụng nhân lực KH&CN, góp phần

Trang 8

khai thác hiệu quả và triệt để tiểm năng chất xám vi mục tiêu phát triển

8 Chính sách kiều dân đối với các nhà khoa học Nhà nước Trung Quốc áp dụng nhiều biện pháp thu hút kiểu dân là các nhà khoa học và các nhà công nghệ (trình độ càng cao càng tốt) là kiểu dân gốc Hoa trở về

đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước Tuy nhiên,

Trung Quốc không chủ trương cho họ trở về định cư ở

trong nước

9 Tuổi nghỉ hưu và vấn đề đề bạt

Tuổi nghỉ hưu tỉnh thần chung theo Luật lao động

Cán bộ lãnh đạo ở các Viện nghiên cứu khoa học của

Nhà nước đa phân nằm trong dải 36 đến B5 tuổi Các giáo sư lớn tuổi thường giữ vai trò cố vấn hoặc hướng

dẫn khoa học (supervisor)

I HAN QUOC

1 Chính sách tiền lương

- Để tạo điểu kiện cho khoa học và công nghệ phát

triển, Nhà nước đặc biệt quan tâm đến chính sách tiền

lương cho các nhà khoa học làm việc trong các cơ quan

nghiên cứu - phát triển Bội số tiền lương giữa lương cử

nhân và lương tối thiểu đạt tới giá trị lớn hơn 3 Tiền lương của họ thay đổi ở mức khá lớn sau khi đạt được

Trang 9

sự chuyển đổi về trình độ hoặc được phong học hàm

giáo sư, phó giáo sư

9 Chính sách đào tạo

Cuối những năm 80, Chính phủ cùng với khu vực

tư nhân tăng cường nhiệm vụ đào tạo nhân lực KH&CN có trình độ cao trong các lĩnh vực KH&CN

Chính phủ tăng rất mạnh ngân sách cho khu vực nghiên cứu - phát triển Tổng chi cho các hoạt động

nghiên cứu - phát triển từ ð77 triệu USD năm 1981

(chiếm 0,9% GNP) lên tới 1,8 tỷ USD vào năm 1986

(chiếm 2% GNP), dự kiến vượt quá ð% GNP vào

năm 2001 Với nguồn kinh phí lớn như vậy, Hàn

Quốc đủ sức tăng cường công tác đào tạo nhân lực khoa học và kỹ nghệ cao, mở rộng chương trình gửi đi

đào tạo ở nước ngoài các ngành khoa học tiên tiến, có

đủ khả năng tạo được đội ngũ các nhà khoa học đầu

đàn, đóng vai trò lãnh đạo trong các lĩnh vực nghiên

cứu - phát triển - đào tạo Con số đó dự kiến lên tới

15.000 người vào năm 2001, chiếm 10% trong tổng số

những người làm việc trong khu vực nghiên cứu -

phát triển

8 Chính sách kiểu dân đối với các nhà khoa học _ Giải quyết tốt bài toán về sự di chuyển chất xám là một trong những bài học thành công trong sự nghiệp

Trang 10

công nghiệp hoá và biện đại hoá của Hàn Quốc Có thé tóm tắt các chính sách đó như sau:

- Gửi nhiều lưu học sinh đi học, chủ yếu ở Nhật

Bản (trước đây) và Hoa Kỳ (hiện nay) Tuỳ theo từng

thời kỳ có thể cho phép họ ở lại nước sở tại làm việc để tích luỹ kinh nghiệm Chính vì vậy đến năm 1980 các

nhà khoa học và công nghệ Hàn Quốc đã cơ bản hoàn

thành thời kỳ tiếp thu công nghệ, để từ đó chuyển sang

thời kỳ sáng tạo công nghệ

- Có chính sách rõ ràng (ương cao, nhà ở, điểu kiện sống cho bản thân và gia đình, điều kiện làm việc, giải thưởng .) nhằm thu hút kiểu dân gốc Triều Tiên trổ về

làm việc ở Hàn Quốc Họ trở về mang theo công nghệ Khi trở về, họ cũng là những người đi tiên phong trong

quá trình sắng tạo công nghệ

- Thu hút nhân lực KH&CN từ các nước đang phát

triển bằng cách trả lương khá (khoảng 15-40 lần so với lương khi làm việc ở nước họ)

¬ Đặt cơ quan liên lạc ở hải ngoại hoặc cử các đoàn ra

nước ngoài “lôi kéo” nhân tài ở các nước ngoài (kiểu dân

gốc Triểu Tiên) về làm việc ở Tổ quốc Thí dụ, Chính phủ Hàn Quốc thành lập “Hiệp hội các nhà khoa học, công trình sư” tại Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu Từ năm 1968 Hàn

Quốc bất đầu thi hành chính sách “kế hoạch hoá đưa

nhân tài về nước”, trong đó quy định rõ những đài thọ chi

Trang 11

phí đi về, sắp xếp nơi ăn, ở cho họ, sắp xếp việc làm thích hợp ban đầu theo trình độ và ngành nghề v.v

II THÁI LAN

1 Chính sách thi tuyển vào các vị trí làm việc

trong các cơ quan nghiên cứu - phát triển

- Thái Lan áp dụng chính sách thi tuyển đối với các nhà khoa học làm việc trong các cơ quan nghiên cứu -

phát triển Số lượng tuyển, tiêu chuẩn được công khai

trên các phương tiện thông tin đại chúng

- Trường hop đặc biệt: Bộ KHƠN&MT cấp học bổng

để tuyển chọn sinh viên ra nước ngoài học tập theo những chuyên ngành Nhà nước yêu cầu Những người nhận các học bổng này phải ký kết sẽ làm việc tại các Viện R&D quốc gia hoặc các phòng thí nghiệm đặc biệt

sau khi họ tốt nghiệp

= 9®, Chính sách tiền lương

Tiền lương ở mức khổi điểm của nhân lực KH&CN

trong các cơd quan nghiên cứu - phát triển ở Thái Lan ở mức gấp 3 lần lương tối thiểu Tuy nhiên, tốc độ tăng lương của họ nhanh, nhất là khi chuyển đổi trình độ và đặc biệt là sau khi được xét phong PGS hoac GS

Về cơ cấu tiển lương và thưởng, nhân lực KH&CN

trong các cơ quan nghiên cứu - phát triển được hưởng

Trang 12

thường cao hon cd 20% (hình thức thu hút thông qua cách trả lương cao hơn)

3 Chính sách đào tạo

Những năm gần đây, Thái Lan tích cực chuẩn bị và

thực thi chính sách đào tạo nhân lực KH & CN có trình

độ cao (cấp đại học, thạc sỹ và tiến sỹ) ở những ngành

mũi nhọn, đặc biệt trong ba lĩnh vực: công nghệ sinh học, công nghệ kim loại và luyện thép, điện tử và công nghệ máy tính Những người này được chuẩn bị và đào tạo theo các học bổng của Chính phủ, chủ yếu để họ giảng dạy ở các trường đại học và các viện nghiên cứu

khoa học

Dé minh hoạ, xin trích dẫn một dự án quan trọng

của Chính phủ trong kế hoạch phát triển nguồn nhân

lực KH&CN Kế hoạch này bao gồm 3 nội dung chính

sau đây:

a) Các học bổng cho các lĩnh Uuực công nghệ

đặc biệt

Dự án này cung cấp các suất học bổng cho sinh viên

đi học ở nước ngoài cho tới trình độ Ph.D Ba lĩnh vực mục tiêu là công nghệ sinh học, điện tử và máy vi tính, các khoa học vật liệu Trong 10 năm có cả thảy 789 học

bổng Ví dụ trong năm 1989 Bộ Khoa học, Công nghệ và

Môi trường cấp học bổng với ngân sách là 1.642,8 triệu baht (tương đương 65.19 triéu USD)

Trang 13

-

Những người nhận các học bổng này ký kết sẽ làm

việc:ổ các viện NC-PT quốc gia hoặc các phòng thí

nghiệm đặc biệt sau khi họ tốt nghiệp

„ Một loại hình hoạt động tương tự được Bộ các

trường đại học (Ministry of University Affairs) thực

hiện, với tổng số 400 học bổng Những người tốt

nghiệp sẽ làm việc với tư cách cán bộ giảng dạy ở các trường đại học hoặc trong các phòng thí nghiệm NC-PT

của trường

_b) Dự án hỗ trợ các tài năng vé KH & CN

Dự án bất đầu từ năm 1984 với mục tiêu hỗ trợ

những người có tiểm năng đặc biệt về KH & CN với các bước đào tạo rõ ràng : trước đại học tồi trình độ cử nhân Tên thạc sỹ và thạc sỹ lên tiến sỹ

"Dự án nhằm mục tiêu đào tạo 420 người để trở

thành các nhà khoa học và công nghệ có trình độ cao

vào cuối năm 1990 Những người tốt nghiệp sẽ làm việc

tại các viện R & D quốc gia

©) Dự án uề hưu muộn

Bộ các trường đại học đã bắt đầu một dự án mới, gọi

là dự án về hưu muộn đối với các giáo sư và cán bộ

giảng dạy các trường đại học ở một số ngành chuyên môn Họ được tiếp tục công việc của mình sau khi đã về hưu ở độ tuổi 60

Trang 14

Mục dich cia dự án là tận lượng để làm sâu sắc

thêm nguồn nhân lực, để họ hỗ trợ cho sự phát triển

của đất nước

4 Chính sách khuyến khích các nhà khoa học

có cống hiến

Chính sách khuyến khích các nhà khoa học trong

các cơ quan nghiên cứu - phát triển ở Thái Lan được thực hiện thông qua các biện pháp sau đây:

~ Cải thiện môi trường làm việc của các nhà khoa học, tạo điểu kiện để họ thăng tiến về nghề nghiệp ở trong hệ thống của Nhà nước;

- Nhà nước cải tiến chế độ tiển lương và thưởng,

có cơ chế mềm đẻo để thu hút người tài, tạo điều

kiện để họ làm việc ổn định và có nhiều cống hiến;

- Xét tặng các giải thưởng Nhà nước cho các nhà khoa

học có nhiều cống hiến

ð Chính sách kiều đân đối với các nhà khoa học

Chính sách Nhà nước đối với các kiều đân Thái Lan

đang sinh sống ở nước ngoài đuực thực hiện như sau:

- Khảo sát và có kế hoạch động viên các nhà khoa học

và các nhà công nghệ hàng đầu người Thái ở nước ngoài,

khuyến khích họ đáp ứng các nhu cầu ở trong nước dưới

các hình thức: cố vấn về KH&CN, theo đối và cung cấp

Trang 15

pm

thông tin về KH&CN ở các nước phát triển, xác định phương pháp chuyển giao công nghệ thích hợp nhất, tìm kiếm các cơ hội hợp tác về công nghệ với các đối tác ở nước

ngoài, về nước làm việc;

T7 thính e# dnnơ các chuyên øia nƯỚc ngoài

Sự khuyên khích thế hiện QƯƠI CaC Gạng g1 váuc sáu

nhập cá nhân, tăng tiền thưởng, tạo lập môi trường làm

việc tốt

WN PHILIPPINES

1 Chính sách tiền lương

Chính sách tiển lương của nhân lực KH&CN làm

việc trong các cơ quan nghiên cứu - phát triển của

Philippines tương tự ở Thái Lan Những người làm việc

trong khu vực Nhà nước hưởng theo thang bảng lương

của Chính phủ Khu vực phi Chính phủ có mức cao hơn một chút Nói chung, lương của nhân lực KH&CN trong

các cơ quan nghiên cứu - phát trién cia Philippines

không cao, thiếu tính hấp dẫn đối với các nhà khoa học

9 Chính sách đào tạo

Ở Philippines tổn tại hệ thống giáo dục kỹ thuật,

đào tạo nghề, đào tạo đại học và sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ Nhà nước xúc tiến việc chuẩn hoá các chương

trình và các khoá đào tạo để công nhận cấp trình độ cho

Trang 16

nhân lực KH&CN nói chung Ủy ban KH&CN Nhà nước (National Science and Technology Authority) tap

trung mọi nỗ lực nhằm đạt được chất lượng và các tiêu

chuẩn của nhân lực KH&CN thông qua các hoạt động như: Phát triển chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức mới, tiến hành việc chuẩn hoá, công nhận các

chương trình và các khoá đào tạo ở các cấp trình độ

KH&CN khác nhau Một loạt văn bản luật và dưới luật

về đào tạo được ban hành, như Luật về chế độ học bổng

và đào tạo cán bộ KH&CN, đạo luật về chế độ chức

nghiệp cho cán bộ KH&CN, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho phát triển chức nghiệp KH&CN, thiết lập một chương trình phát triển nguồn nhân lực KH&CN

3 Chính sách khuyến khích đối với các nhà

khoa học

Những khuyến khích nhằm mục tiêu thu hút, kích

thích nâng cao trình độ và hiểu biết về KH&CN là su tổng hợp của các yếu tố sau đây:

- Các học bổng;

_— Các giải thưởng;

- Các khuyến khích tài chính;

- Các nhu cầu cơ bản (ví dụ đặc ân về nhà ở)

Hiến pháp năm 1987 đã nêu rõ trách nhiệm Nhà

nước Philippines đối với khuyến khích phát triển

KH&CN, đồng thời tạo các điều kiện thuận lợi cho hoạt

Trang 17

-

động nghiên cứu và triển khai Điều 10 của Hiến pháp

đã khẳng định KH&CN rất quan trọng đối với sự phát triển và tiến bộ quốc gia Nhà nước sẽ ưu tiên cho nghiên cứu và phát triển, phát minh và sáng chế, đổi mới công nghệ, ưu tiên cho giáo dục KH&CN

Philippines đã ban hành “Luật 1993 về phát triển các nguồn nhân lực KH&CN” trong đó đưa ra các thiết

chế nhằm tạo ra và tăng cường tiểm lực về nhân lực,

thiết bị và cơ sở hạ tầng cho các tổ chức quản lý nghiên

cứu và đào tạo khoa học, trong đồ co quy định các ưu

đãi đối với các nhà KH&CN, khuyến khích sáng tạo khoa học, coi trọng chất xám và trả công xứng đáng cho

lao động trong lĩnh vực này

Ngành công nghiệp của đất nước cũng đặt ra những khuyến khích đốt với các nhà khoa học, ví dụ khuyến khích vật chất đối với những đóng góp tư vấn trong sản xuất công nghiệp

4 Chính sách cho phép các nhà khoa học nước

ngoài vào làm việc tại Philippines

CAc co quan nghiên cứu - phat triển được mời các

nhà khoa học nước ngoài vào làm việc để hỗ trợ cho

các chương trình, dự án khi khả năng trong nước

không tự giải quyết được Việc sử dụng người nước ngoài cân thoả mãn các điều kiện như thời hạn thuê

Trang 18

chuyên gia không được quá ð năm, trong thời gian không quá 6 tháng chuyên gia phải tiến hành công tác

đào tạo và phải gửi báo cáo hàng năm về Cục đầu tự

ð Chính sách kiểu dân đối với các nhà khoa

học là kiều dân

Những nghiên cứu và khảo sát của Nhà nước cho thấy rằng có khoảng 7% người Philippines sau khi tốt nghiệp các trường đại học đã bỏ đi sống lâu đài ở nước ngoài Nhiều lưu học sinh Philippines du học ở Mỹ,

cứu KH&CN,

- Động viên các nhà khoa học Philippines ở nước

ngoài trở về tổ quốc và đóng góp trí tuệ của họ cho các

chương trình phát triển của đất nước

V SINGAPORE

1 Chính sách thu hút lao động KH&CN

Singapore cho rang nguén tai nguyên giầu có

nhất của đất nước là con người mà hạt nhân là những

Trang 19

pm

người có trình độ cao Chính phủ Singapore thực sự

quan tâm đến đội ngũ các nhà khoa học, kỹ sư làm việc trong khu vực nghiên cứu — phát triển, kể cả

những người làm nhiệm vụ hỗ trợ kỹ thuật cho họ

Hàng năm có khoảng 10% số người tốt nghiệp các ngành khoa học, kỹ thuật được bổ sung vào các cơ

quan NC-PT Nhà nước lập ra các don vi NC-PT trong các trường đại học

Đối với hoạt động NC-PT ở khu vực doanh nghiệp,

Chính phủ hỗ trợ thông qua chương trình bổ sung các ñhà nghiên cứu nước ngoài Chương trình này được hình thành đầu năm 1990 nhằm tuyển dụng chuyên

gia người nước ngoài hỗ trợ cho nghiên cứu — phát triển

_gửủa các công ty Chỉ trong năm 1993, chương trình đã

giúp 13 công ty tuyển được 52 chuyên gia nước ngoài

Họ có nhiều đóng góp cho các hoạt động NC-PT, uừa

chuyển giao kính nghiệm từ nước ngoài, vita tham gia

dao tao cho người bản xứ

9 Chính sách tiền lương

Chính sách tiền lương nói chung ở Singapore là rất

cao, thứ hai ở châu Á, chỉ sau Nhật Bận Bội số lương

khởi điểm cõ hơn 3 lần lương tối thiểu, song chỉ sau

khoảng 10 năm công tác (cõ nghiên cứu viên chính),

lương của họ đã đạt tới 6.500 SD, PGS: 9.000SD và khi trở thành G6: 12.000 SD

Trang 20

Hội đồng lương quốc gia, từ năm 1981, đã để xuất những quy định mới về mức tăng lương Theo đó, mức

tăng lương bình quân là 20% cho từng giai đoạn, ba

năm một lần (trước đó chỉ có 11%) Mục đích của việc làm này là nhằm thay đổi giá trị công lao động, kích thích các cơ quan tuyển chọn, thu hút người có trình độ

cao, chuyên gia giỏi

3 Chính sách đào tạo

Singapore là quốc đảo đa dân tộc, có trình độ học -

vấn rất cao Riêng về ngoại ngữ, Chính phủ coi trọng tiếng Anh và tiếng mẹ để, ngoài ra còn khuyến khích

học thêm ngoại ngữ thứ ba

Chính phủ Singapore thực sự quan tâm tới việc đào tạo đội ngũ các nhà khoa học và các kĩ sư làm việc trong khu vực nghiên cứu - triển khai Ngân sách được sử dụng cho việc trang bị các thiết bị nghiên cứu hiện đại ở các cơ quan nghiên cứu-triển khai nói chung, trong đó có các cơ quan nghiên cứu-triển khai của các trường đại học

Nhiều học bổng (rong, ngoài nước) được cấp cho các cán

bộ nghiên cứu khoa học, bao gồm cả tham quan, khảo sát,

tham dự các hội nghị khoa học ở các quốc gia và quốc tế

4 Chính sách cấp các giải thưởng cho các nhà khoa học có cống hiến

Cục KH&CN quốc gia Singapore quan tâm tối các biện pháp khuyến khích các nhà KH&CN nói chung,

Trang 21

-

khu vực các cơ quan nghiên cứu-triển khai nói riêng để

ghỉ công những người có những cống hiến lớn lao với 3

hình thức:

- Giải thưởng khoa học quốc gia (NSA) dành cho

những cá nhân và tập thể có đóng góp trong nghiên cứu cơ

bản thuộc các lĩnh vực của khoa học và kỹ thuật,

- Giải thưởng công nghệ quốc gia (NTA) để ghi nhận các hoạt động nổi tiếng trong lĩnh vực NC-PT ứng dụng,

- Huy chương KH&CN quốc gia ghi nhận những đóng' góp to lớn của những người có công đối với sự tăng trưởng

và phát triển của đất nước Singapore thông qua các hoạt

động quản lý và thúc đẩy phát triển các boạt động nghiên

cứu — phát triển

=; § Chinh sách cho phép các nhà khoa học được

làm việc theo chế độ kiêm nhiệm

:x Ghính sách này không phải là đặc thù ở Singapore

Tuy nhiên, việc các nhà khoa học trong các cơ quan

nghiên cứu - phát triển và các nhà công nghệ nổi tiếng

tham gia giảng dạy ở các trường đại học là công việc hết

sức thường tình Ngược lại, hầu như 100% các thầy giáo

ở các trường đại học tham gia nghiên cứu khoa học

Trang 22

Chương bốn

CĂN CỨ LÝ LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG NHÂN LỰC KHOA

HOC VA CÔNG NGHỆ TRƠNG CƠ QUAN

NGHIÊN CỨU - PHÁT TRIÊN

L CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG

CƠ QUAN NGHIÊN CỨU - PHÁT TRIỂN

1 Tính đặc thù của lao động trong cơ quan nghiên cứu ~ phát triển

Xây dựng và đổi mới chính sách sử dụng nhân lực

KH&CN trong cơ quan NC-PT phải tính đến đặc thù của lao động khoa học trong lĩnh vực này, đó là tính sáng tạo, tính cá nhân, rủi ro cao, đòi hỏi sự tích luỹ

lớn về kiến thức và môi trường thật sự dân chủ, tự do

sáng tạo

Không phải mọi kết quả của lao động khoa học đều

có thể trực tiếp đo đếm được bằng giá trị đồng tiển, làm lợi ra bao nhiêu đồng hay tăng năng suất bao nhiêu

Trang 23

cứu có: cách làm riêng, cách suy nghĩ sáng tạo riêng

Cũng như nhà văn, nhạc sĩ, tác phẩm là công trình của lao động, nhưng không phải chỉ là của lao động cẩn mẫn mà là lao động đây trí tuệ và đôi khi cả cảm hứng, ˆ

trăn trở

Lao động sáng tạo không phải là một quá trình tuỳ tiện mà được tiến hành trên cơ sở một hệ thống các quy

tắc, nguyên lý và phương pháp nhất định Các quy tắc

nguyên lý và phương pháp đó đóng vai trò là phương

tiện và công cụ để xử lý và giải thích các hiện tượng xã hội và quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu Sáng tạo khoa học là một quá trình gian khổ, đòi hỏi kiến thức hệ thống và thế giới quan biện chứng để xử lý

hệ thống kiến thức

Như vậy, đối với người hoạt động lao động sáng tạo phải có hệ thống tri thức khoa học (kể cả tri thức thường ngày và tri thức kinh nghiệm), phương phấp

nghiên cứu và lao động khoa học và thế giới quan

biện chứng

Sáng tạo là sự tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tỉnh thần, hoặc tìm ra cách giải quyết mới, phương

Trang 24

pháp mới Sự sáng tạo không phải ai cũng có, và không

phải xuất hiện bất kỳ lúc nào Sự sáng tạo khoa học thường có mần mống và tích luỹ dần qua giáo dục, đào tạo và nảy sinh trong quá trình nghiên cứu tìm tòi Việc trang bị kiến thức, môi trường hoạt động, điểu kiện

sống cũng như các quan hệ xã hội, tuổi tác vv là những yếu tố tác động mạnh mẽ đến lao động sáng tạo

của đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học Chính sách

quan trọng đối với đội ngũ này là tạo điểu kiện vật chất

và tỉnh thần, môi trường dân chủ để phát huy sáng tạo

của bọ

“Cân tạo ra bầu không khí dân chủ trong nghiên

cứu khoa học, tạo điêu biện để các nhà khoa học phát

huy sáng tạo khoa học, cống hiến cho dân tộc, cho đất nước Đi liên uới bầu hông bhí dân chủ trong nghiên cứu khoa hoc là đời sống uật chất của nhà khoa học phải được đảm bảo Có chế độ thưởng, phu cap va trợ

cấp cho các công trình KH&CN có giá trị Có cơ chế để

cán bộ KH&CN bảo đảm thu nhập thích đáng thông

qua uiệc tham gia các hợp đồng nghiên cứu triển khai”,

Cũng chính từ yêu câu về tính sáng tạo, vai trò cá

nhân, phẩm chất cá nhân của mỗi nhà khoa học nổi lên

rất rõ rệt Trong hoạt động nghiên cứu, không thể lấy

1 Trích bài phát biểu của Đ/c Tổng bí thư Lê Khả Phiêu tại Trung tâm

KHXH & NV Quốc gia ngày 17-2-1998

Trang 25

pm

số lượng để bù đắp sự yếu kém về chất lượng cán bộ; để

có hiệu suất cao trong hoạt động nghiên cứu, cần có sự chọn lọc khắt khe để có được những người thực sự có tài

năng và sáng tạo mạnh mẽ Một viện nghiên cứu cho dù

có đông đảo đến mấy, nhưng thiếu những con người có những suy nghĩ độc đáo, thông mình và sáng tạo thì cũng không thể thành công trong hoạt động của mình

Vì uậy, yêu cầu tuyển chọn nhân lực nghiên cứu cần được tiến hành khá chặt chẽ, cần thường xuyên có quá

trình đào thải những cán bộ nghiên cứu không còn đáp

ứng yêu cầu, đã trở nên bảo thủ va thiếu sáng tạo 0ò

Nha nude phải có những chính sách đặc biệt để thu hút những tài năng sáng tạo cho khoa học

› "Tfnh "cá nhân”:

_ Dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhan trong sang tao cũng mang yếu tố quyết định "Tính cá nhân" là sự thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân Tư duy và chủ kiến cá nhân thường gắn chặt với tính cách sáng tạo đơn nhất thể hiện qua các mặt

sau đây:

~ Suy nghĩ độc lập Tính cách này sẽ càng phát triển

cùng với sự nâng cao trình độ học vấn Đây là cơ sở của các nghi vấn khoa học và là nguồn gốc của các phát minh,

sáng chế, vv

Trang 26

- Su tim tdi, ham hiéu biét va dam mé nghệ nghiệp

Đó là khát vọng hiểu biết và phát triển những khả năng trí tuệ để đạt tới kiến thức và phương pháp nghiên cứu,

lao động khoa học một cách hệ thống nhằm khám phá và

sáng tạo không ngừng

~ Tinh cách thực nghiệm và duy lý phê phán nhằm để kbẳng định những sáng tạo của cá nhân nhà khoa học

~ Không sợ ưy quyển, dù là uy quyền chính tri hay

khoa học để bảo vệ và phát hiện chân lý!

"Tính cá nhân" trong lao động sáng tạo không có

nghĩa là vị kỷ cá nhân, mà là khả năng độc lập và tự

chủ trong khám phá, sắng tạo mang đậm nét cá tính và năng lực của cá nhân nhà khoa học Tuy theo trình độ

học vấn, tư chất di truyền, thể lực và môi trường xã hội

mà cá tính và năng lực cá nhân hình thành và phát huy khác nhau Chính nhờ "tính cá nhân" hay mà các trường phái khoa học hình thành và phát triển Các nhà bác học lỗi lạc trên thế giới ở nhiều thời đại khác

nhau mà tên tuổi của họ gắn liền với những phát minh,

sáng chế hoặc những trường phái khoa học mới đã

chứng mỉnh cho vai trò cá nhân trong nghiên cứu và

phát triển KH&CN

1 Nguyễn Thanh Tuấn Một số vấn để trí thức Việt Nam Nxb Chính trị

Quốc gia, H, 1998, tr 28, 29

182

Trang 27

Việc tôn trọng ý kiến để xuất khoa học của một cá

nhân, nghệ thuật sử dụng cá nhân các nhà khoa học

thuộc các cá tính khác nhau sẽ là một yếu tố quan trọng

tạo nên sức mạnh cho nên khoa học “Bản lĩnh quan trọng của nhà lãnh đạo là biết đánh giá đúng và mạnh dạn sử dụng người tài, kể cả người tài hơn mình Chỉ có

ở đâu, ngành nào mà tài năng chân chính được ưu ai thì ở đó, ngành đó mới quy tụ được nhân tài, và tài năng mới có điểu kiện thuận lợi để nảy nở và phát

triển Còn ở đâu mà tài năng chân chính bị lãng quên, ở đâu mà người giỏi không được sử dụng, thậm chí còn bị thành kiến hay mặc cảm, ở đâu mà tiển bạc và chức

quyển được trọng hơn tài năng và đức độ, thì ở đó

không có chỗ cho nhân tài phất triển đã đành mà cũng không có đất cho những mầm tài năng trẻ nảy nở”

, _ Tính rủi ro:

“Lao động của trí thức là lao động mang tính sáng tạo, đi tìm kiếm cái chưa biết, do đó mà cũng có thể

thãnh công và cũng có thể thất bại Sự thất bại thường

đủ 'nhiều trong nghiên cứu khoa học Sự thất bại này

đö 'ñhHiểu nguyên nhân khác nhau:

REF

ae Do thiếu thông tin cân thiết và đũ tin cậy để xử lý

những vấn dé dat ra trong aghiên cứu;

ve! _Hichog Tuy Quy tụ và sử dụng nhân tài: bản lĩnh của người lãnh đạo:

mới Bảo Nhân dân cuối tuần 4/7/1999

133

Trang 28

- Do trình độ kỹ thuật của thiết bị phục vụ nghiên cứu chưa đạt tối trình độ để kiểm chứng lý thuyết, giả thuyết đặt ra;

- Do khả năng thực hiện của người nghiên cứu chưa

đủ tâm để xử lý vấn để;

~ Do môi trường xã hội (thiếu dân chủ để khích lệ

người nghiên cứu sáng tạo; do yếu tố văn hoá cẩn trở

v.V );

- Do những nguyên nhân bất khả kháng khác

Tuy nhiên trong lao động sáng tạo, thất bại ở một

khía cạnh khác cũng được xem là một kết quả, nó là bài

học và kinh nghiệm cho người nghiên cứu tiếp tục về

sau Trong nghiên cứu khoa học và công nghệ, theo

công bố của UNESCO, thì tỷ suất thành công và thất bại đối với nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, - nghiên cứu triển khai và những nghiên cứu cải tiến kỹ thuật công trình rất khác nhau (xem bảng 3)

'Tính rủi ro này đặt ra cho Chính phủ phải có chính

sách đầu tư và hỗ trợ đối với những hoạt động có tính

rủi ro cao và quan tâm đến các nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực này Bởi lẽ kết quả lao động sáng tạo của

họ không dễ gì đã biến thành thành quả mà xã hội có

thể ứng dụng được và có thể thương mại boá kết quả nghiên cứu Nếu những hướng nghiên cứu mà Chính phủ cho là cần thiết (đặc biệt là nghiên cứu cơ bản) và

Trang 29

-

mang tính rủi ro cao, thì Chính phủ sẽ là người chủ yếu

đầu tư hoặc thông qua vốn hoặc thông qua chính sách,

cơ chế hỗ trợ khác nhau

Bang 3: Thống kê tỷ suất thành công, that bại

của hoạt động KH&CN

Hoạt động khoa học Tỷ suất thành công “Tỷ suất thất bại

công nghệ

Nghiên cứu cơ bản 0,25 | 0,80

Nghiên cứu ứng dụng, 0,40 0,60

Nghiên cứu triển khai thử 0,60 0,40

Cải tiến và cải tạo kỹ thuật 0,90 0,10

cổng trình

Nguồn: Quản lý khoa học uờ công nghệ Trường Nghiệp 0ụ

Quan ly NXB KH&KT H., 1997, tr 67

Tinh ké thita va tich luy:

Lao động sáng tạo của trí thức thường là xuất phát

từ sự kế thừa của lao động sáng tạo của những người đi trước Những tri thức mới mà thế hệ đương thời tạo ra cũng sẽ được người khác hoặc thể hệ sau thừa kế Thông thường cái sau là sự kế thừa của cái trước, đó cũng là sự kế thừa của lao động Mặt khác, lao động sáng tạo phải trải qua một thời ký thai nghén, thu thập

và tích luỹ một lượng thông tin có liên quan đến

phương pháp, thủ pháp và hướng tư duy của công việc

Trang 30

sáng tạo tiến hành Không chỉ vậy, mà những ý tưởng

mới để có thể đưa vào cuộc sống cần thời gian kiểm

nghiệm thực tế Cho nên những người làm công việc

sáng tạo, để đạt được kết quả nhất định đều phải trải qua những lao động cần cù, gian khổ, thu hút nhiều trí

lực, tâm lực, thể lực Việc đánh giá lao động của nhà

khoa học không đơn thuần là 8 tiếng làm việc, cách

quản lý cũng không nên theo kiểu giờ hành chính Mặt khác, hiệu quả hoạt động của nhà khoa học phụ

thuộc một cách đáng kể vào thông tin và các công cụ thí nghiệm và công cụ nghiên cứu khác

Trong điểu kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học

và công nghệ hiện nay, đo việc tăng nhanh các thành tựu của khoa học và công nghệ và các nhu cầu kinh tế,

xã hội, một phân kiến thức con người tiếp thu được sẽ

thường xuyên bị mất giá trị Các chuyên gia cho rằng nhịp độ tiến bộ trung bình hàng năm của kiến thức

nhân loại đao động trong khoảng 4% đến 6%; như vậy

trên ð0% toàn bộ kiến thức chuyên môn của con người

sẽ phải được bổ sung thông qua con đường học tập

thường xuyên Thời gian đành cho việc này ở cán bộ

trung học chuyên nghiệp là 24%, ở cán bộ đại học là

28% toàn bộ thời gian có khả năng lao động! Như uậy,

1 Deep S Human Relation in Management, Publising Co Inc.’ Encino California Collier Mac Millan Publishers London, 1978 Bản địch tóm

tất trong “Những vấn đẻ phát triển khoa học và kỹ thuật” 3-1985, Viện

Thông tin Khoa học và Kỹ thuật TƯ

Trang 31

viée tuo cdc diéu kiện học tập, trao đổi thông tin trong

tập thể khoa học là uô cùng quan trọng đổi uới nhà nghiên cứu, nó chiếm một lượng thời gian khá lớn Mặt

khác, từ đặc điểm này có thể thấy được rằng lao động khoa học cần được tiến hành liên tục, nhiệt tình uà say

mê thì mới có thể có hiệu quả khả quan; nhà khoa học cân phải say mê nghệ nghiệp uò phải được giao uiệc theo đúng chuyên môn uà trình độ nếu không muốn có

sự hao mòn chất xám uù giằm sút hiệu quả lao động

2 Lao động của nhà khoa học và động cơ

thúc đẩy

Động cơ chiếm một trong những vị trí trung tâm

trong các đặc điểm tâm lý — xã hội của cá nhân và là miột thành té năng động nhất trong cơ cấu nhân cách của con người, là động lực hành vi của họ, cho phép giải

thích tại sao người này lại làm việc tích cực, nhiệt tình

hơn người khác, tại sao một người năng lực yếu hơn lại

có thể đạt những thành tích rực rõ hơn những người có

Một trong các thuyết về động cơ là thuyết thang bậc

nhu cầu của Abraham Maslow Ông cho rằng trong mỗi con người tồn tại một thang ð bậc nhu cầu Các nhu cầu

này là!:

1 Stephen P Robbins Organization Behavior: Concepts, Controversies and

Trang 32

(a) Nhu cau sinh ly (physiological) — bao gém ăn,

mặc, ở, tình dục và những nhu cầu khác về cơ thể

để con người tôn tại

(b) Nhu cầu an toan (safety) — bao gồm sự an toàn,

bảo vệ khỏi những tác hại đến thể xác và tỉnh thần () Tinh yêu (love) — bao gồm cảm tính, sự kết đoàn,

sự công nhận của cộng đồng và tình bạn

(d) Sự kính trọng (esteem) ~ bao gồm những nhân tế

đánh giá bên trong như sự tự trọng, tính tự chủ,

sự thành đạt và những yếu tố đánh giá bên ngoài

như địa vị, sự công nhận và sự quan tâm chú ý (e) Tự thể hiện (self-actualization) — được hiểu là

khuynh hướng (drive) muốn trổ thành người như

ý muốn; bao gồm sự trưởng thành, đạt tới tiểm

năng của mình và sự tự hoàn thiện

Khi mỗi nhu cầu được thoả mãn thực sự, nhu cầu kế tiếp sẽ nổi lên, mỗi cá nhân đều tiến lên theo các bậc thang này Theo quan điểm về động cơ, lý thuyết này

nói rằng không có nhu cầu nào đã từng được thoả mãn

hoàn toàn, một nhu câu được thoả mãn về cơ bản sẽ

không còn tác dụng kích động nữa

Maslow chia các nhu cầu trên thành các bậc thấp và

bậc cao Các nhu cầu sinh lý và an toàn được coi như

những nhu cầu bậc thấp, còn tình yêu, sự kính trọng và

138

Trang 33

-

tự thể hiện là những nhu cầu bậc cao Sự phân tách

giữa hai thứ bậc nhu cầu dựa trên lý giải rằng các nhu

câu bậc cao được thoả mãn về bên trong của mỗi người,

trong khi nhu cầu bậc thấp chủ yếu được thoả mãn từ

phía bên ngoài

Riêng đối oới các nhà khoa học, Masiou đặc biệt

nhấn mạnh rằng họ có thêm hàng loạt nhu cầu riêng:

nhu câu hiểu biết đây đủ (lòng ham học hỏi, như cầu

nhận thức (triết học, mục đích luận), nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, sự cân đối, sự đơn giản, trật tự) Nghĩa là cá

nhân nhà khoa học cũng có những nhu cầu như những người khác, nhưng bổ sung vào đó là những nhu cầu về

tính hợp lý và thẩm mỹ có liên quan tới đặc thù nghề

nghiệp của họ

-Một lý thuyết động cơ khác là thuyết hai nhân tố

(Motivation-Hygiene Theory) cha nha tam ly hoc Frederick Herzberg Ong thay rang những nhân tố nội

tại như: sự thành công, được công nhận, bản thân công việc, tính trách nhiệm, sự thăng cấp và trưởng thành có

về liên quan tới sự thoả mãn trong công việc Với các số

liệu ông đã khẳng định rằng ngược với sự thoả mãn

không phải là sự bất mãn như người ta thường quan

niệm Việc xoá bỏ những nhân tố làm bất mãn khổi công việc không nhất thiết làm cho công việc trổ nên

thoả mãn Theo ông, những nhân tế dẫn tới sự thoả mãn là tách biệt với những nhân tố dẫn tới sự bất mãn

Ngày đăng: 06/12/2015, 17:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm