Nội dung cuốnsách đề cập đến 6 vấn đề gồm: 1/Việt Lập - vùng đất - con người; 2/Việt Lập từ những đốm lửa cách mạng đầu tiên đến cách mạng tháng Tám năm 1945;3/Chi bộ và nhân dân Việt Lậ
Trang 11.1.4 Đời sống kinh tế xa vµ nay 18
1.2 Quá trình hình thành và tồn tại của di tích đình Nội 33
1.2.1 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của di tích đình
Nội
33
1.2.2 Lai lịch vị thần được thờ trong đình Nội 35
Chương 2
2.1 Giá trị kiến trúc, nghệ thuật đình Nội 42
2.1.4 Nghệ thuật trang trí, điêu khắc trên kiến trúc 54
2.3 Thực trạng và giải pháp bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể
Trang 23.3 Thực trạng và giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể
BCHQS Ban chỉ huy Quân sự
BQL DT & DT Ban quản lý Di tích và Danh thắng
CTQG Chính trị Quốc gia
ĐH VHHN Đại học Văn hóa Hà Nội
Trang 3QĐND Quõn đội nhõn dõn
TP HCM Thành phố Hồ Chớ Minh
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộcViệt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớntrong sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc của nhân dân ta Dới sự lãnh đạo của
Đảng, trong những năm qua, nền văn hóa Việt Nam đã đạt được những thànhtựu to lớn Tuy nhiên, cùng với thời gian, do hoàn cảnh và nhiều lý do khácnhau, những di sản văn hóa đợc các thế hệ cha ông để lại đang có nguy cơ maimột Trớc nhu cầu đổi mới của đất nớc đã, đang và sẽ đặt ra các đòi hỏi cầnphải giải quyết nhiều nhiệm vụ trọng đại, cấp bách trong đó có vấn đề bảo tồncác di tích lịch sử văn hóa
Ngày 29/6/2001, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X đã thông qua Luật Disản văn hóa và đợc sửa đổi bổ sung năm 2009 khẳng định sự quan tâm của
Đảng và Nhà nớc đối với việc bảo tồn giá trị di sản văn hóa Di tích lịch sửvăn hóa là một bộ phận của di sản văn hóa Việt Nam gồm nhiều loại hìnhtrong đó đình làng là một loại hình di tích có giá trị độc đáo
Trang 4Đối với cỏc làng quờ Việt Nam, đỡnh làng được xem như biểu tượngđặc trưng, chiếm một vị trớ quan trọng gắn chặt cỏc giai tầng xó hội, đỡnh vừa
là nơi thờ cỳng Thành hoàng vừa là nơi diễn ra cỏc hoạt động văn húa củacộng đồng c dân làng xó của nụng thụn Việt Nam Đỡnh làng sẽ trở nờn cú ýnghĩa hơn nếu ta đi sõu tỡm hiểu, nghiờn cứu và búc tỏch từng lớp văn húachứa đựng trong nó Thụng qua đú, cú thể bảo tồn và phỏt huy cỏc giỏ trị vănhúa, gúp phần làm phong phỳ kho tàng di sản văn húa dõn tộc Việt Nam Đỡnh Nội, xó Việt Lập, huyện Tõn Yờn, Tỉnh Bắc Giang là một trongnhững cụng trỡnh kiến trỳc tớn ngưỡng quy mụ, di tớch cú niờn đại thời LờTrung Hưng Đõy là một trong số ớt cỏc di tớch tiờu biểu của huyện TõnYờn núi riờng và tỉnh Bắc Giang núi chung Vỡ vậy, việc nghiờn cứu mộtcỏch cú hệ thống những giỏ trị lịch sử, văn húa, nghệ thuật của đỡnh Nội đểgúp phần vào việc bảo tồn và phỏt huy giỏ trị văn húa truyền thống của huyệnTõn Yờn, tỉnh Bắc Giang, đồng thời làm phong phỳ thờm nền văn húa dõn tộc
Với lý do trờn, tôi đó chọn: “Giỏ trị văn húa, nghệ thuật đỡnh Nội (xó Việt Lập, huyện Tõn Yờn, tỉnh Bắc Giang)” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ, chuyờn
ngành Văn húa học
2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu
Đình làng của ngời Việt từ lâu đã là đề tài đợc nhiều học giả trong vàngoài nớc quan tâm nghiên cứu với những mục đích khác nhau Đỡnh Nội làcụng trỡnh kiến trỳc cú quy mụ lớn và nhiều nét độc đáo ở vựng Hà Bắc xưa
Từ trớc tới nay tuy cha có công trình nào nghiên cứu toàn diện, nhng cũng đã
có một số tác giả quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, dới đây là một
số công trình đã đề cập đến đình Nội:
- Cuốn sách “Thống kê Lễ hội Việt Nam” tập 1 do Cục Văn hóa Cơ sở,
Bộ VH, TT&DL xuất bản năm 2008 Ở bảng danh mục các lễ hội truyềnthống của tỉnh Bắc Giang của cuốn sách có liệt kê hội làng Nội ở mục số 11,
Trang 5lễ hội đợc tổ chức vào ngày mồng 09-10 tháng Giêng (âl) với mục đích kỷniệm vị thành hoàng làng là Cao Sơn, Quý Minh Trong lễ hội diễn ra các nghithức, nghi lễ nh: tục thờ thần bằng lợn đen, thi cây xôi - cây quấn, thi mâmxôi, cớp cầu Các trò chơi dân gian nh: đấu vật, kéo co, cờ ngời, kéo chữ, hát
ca trù, thi cỗ mâm xôi đắp thành chữ “Thiên hạ thái bình”…
- Bờn cạnh đú cũn cú một số cỏc cuốn sách đề cập đến vựng đất và con
người Việt Lập, về di sản văn húa nơi đõy: Cuốn sỏch “Địa chớ Hà Bắc” do
Ty Văn húa Thụng tin và Thư viện tỉnh biờn soạn năm 1982; Cuốn “Địa lý hành chớnh Kinh Bắc” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - Sở Văn húa Thụng tin Bắc Giang biờn soạn năm 1997; Sỏch “Từ điển - Địa Chớ Bắc Giang” do UBND tỉnh Bắc Giang xuất bản năm 2001; Cuốn “Địa chớ Bắc Giang, Địa lý - Kinh tế” do UBND tỉnh Bắc Giang biờn soạn năm 2006; Cuốn
“Di sản văn húa Bắc Giang - Biờn niờn sự kiện và tư liệu lịch sử” do Bảo tàng
tỉnh Bắc Giang biờn soạn năm 2008…
- Cuốn “Di sản văn húa Bắc Giang - Khảo cổ học từ tiền sử đến lịch sử”
do tỏc giả Hà Văn Phựng chủ biờn năm 2008 Ở phần 4.5 về “Đỡnh làng Bắc Giang thế kỷ XVII - XVIII” cú đề cập đến di tớch đỡnh Nội xó Việt Lập, huyện
Tõn Yờn Cụ thể, trong bảng kờ danh mục cỏc ngụi đỡnh làng, ở trang 272 cúghi tờn và niờn đại của di tớch đỡnh Nội; ở trang 285 cú đề cập đến tờn cỏc đềtài chạm khắc trờn kiến trỳc đỡnh Nội như: đỏnh cờ, uống rượu, hũa đàm, ngưụng đắc lợi
- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Tõn Yờn” do Ban chấp hành Đảng bộ
huyện Tõn Yờn chủ biờn năm 1999 Cuốn sỏch này đó trỡnh bày thành 7chương Trong đú ở chương mở đầu, cuốn sỏch đó giới thiệu một cỏch khỏiquỏt và cụ đọng nhất về Tõn Yờn - Vựng đất - Con người, đõy chớnh là cơ sởtạo nền tảng cho việc hỡnh thành lờn truyền thống cỏch mạng của người dõn
Trang 6Tân Yên trong lịch sử Các chương khác chủ yếu đề cập đến vấn đề xây dựnglực lượng, củng cố chính quyền và phát triển kinh tế của địa phương
- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã Việt Lập” do HĐND và UBND xã Việt Lập
hoàn thành năm 2003 Trong cuốn sách này đã ghi lại nội dung khái quát nhất
về lịch sử truyền thống của địa phương qua các thời kỳ lịch sử, đậm nét nhất,tiêu biểu nhất là thời kỳ từ khi có Đảng lãnh đạo cho đến nay Nội dung cuốnsách đề cập đến 6 vấn đề gồm: 1/Việt Lập - vùng đất - con người; 2/Việt Lập
từ những đốm lửa cách mạng đầu tiên đến cách mạng tháng Tám năm 1945;3/Chi bộ và nhân dân Việt Lập kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược;4/Đảng bộ lãnh đạo nhân dân hàn gắn vết thương chiến tranh cải tạo và xâydựng CNXH (1954 - 1964)… Đặc biệt, ở phần 1, cuốn sách đã giới thiệu mộtcách khái quát nhất về vùng đất, con người và truyền thống cách mạng tronglịch sử của xã Việt Lập, đây chính là phần tư liệu mà tác giả luận văn có thểnghiên cứu và kế thừa trong khi triển khai bài viết của mình
- Cuốn “Di tích Bắc Giang” do tác giả Trần Văn Lạng chủ biên năm
2001, trong cuốn sách từ trang 126 đến trang 136, tác giả đã giới thiệu về ditích đình Nội với những nội dung như: vị trí tồn tại, lịch sử ra đời và nhữnglần tu sửa, đề cập đến vị thần được thờ cũng như lễ hội tưởng niệm, về một số
sự kiện diễn ra tại đình làng, về giá trị kiến trúc nghệ thuật của di tích…
- Cuốn “Lễ hội Bắc Giang” do các tác giả Ngô Văn Trụ, Nguyễn Thu
Minh, Trần Văn Lạng hoàn thành năm 2002, trong cuốn sách từ trang 433 đếntrang 437 đã giới thiệu về lễ hội làng Nội với những nội dung như: Địa danhhành chính, dòng họ và các phe giáp, vị trí tồn tại của ngôi đình, niên đại xâydựng, trang trí chạm khắc, thành hoàng làng, những sự kiện diễn ra tại đìnhNội, đặc biệt đi sâu vào giới thiệu về lễ hội đình Nội với các nghi lễ và các tròchơi dân gian nh: vật cù
Trang 7- Trong “Hồ sơ khoa học di tích đình Nội” do Bảo tàng tỉnh Hà Bắc
(cũ) lập vào năm 1988, cã các nội dung liên quan đến di tích này như:đường đến di tích, không gian tồn tại của nó, niên đại đình Nội, đặc trưngkiến trúc, điêu khắc di tích, xác định các giá trị của di tích, thống kê các divật, ảnh và các bản vẽ minh họa… Nhưng trong hồ sơ khoa học này không
có tư liệu về lễ hội đình Nội
- Bản “Lược kê lý lịch di tích lịch sử văn hóa đình Nội” do Phòng Bảo
tồn bảo tàng, Sở Văn hóa Thông tin Hà Bắc (cũ) lập, với 05 trang đánh máykhổ giấy A4, có đề cập sơ lược đến một số nội dung như: tên, địa chỉ vàđường đi tới di tích, lịch sử di tích, nghệ thuật kiến trúc và những di vật phụ,người được thờ - phong tục hội hè, tình trạng hiện nay và tổ chức bảo quản,những kiến nghị của địa phương
Từ những tập hợp và phân tích trên đây cho thấy, việc nghiên cứu về ditích Đình Nội, xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã được đềcập đến qua một số các nguồn tư liệu Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa cómột công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và toàn diện về các giátrị của di tích đình Nội Tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của cáctác giả đi trước, tác giả luận văn tiếp tục nghiên cứu một cách chi tiết, đầy đủ,
hệ thống về di tích đình Nội với mục đích khai thác tốt các giá trị của di tích này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích đìnhNội, xã Việt Lập, huyện Tân Yên, Tỉnh Bắc Giang
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về vùng đất, con người xã Việt Lập, từ đó làm
cơ sở cho việc nghiên cứu di tích đình Nội
Trang 8- Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu, so sánh đối chiếu các tư liệu viết về đìnhNội xưa và nay.
- Nghiên cứu, khảo sát di tích trên hai phương diện: Giá trị văn hóa vậtthể bao gồm: kiến trúc, điêu khắc, các di vật, cổ vật Giá trị văn hóa phi vậtthể bao gồm: các nghi thức, nghi lễ và sinh hoạt văn hóa cộng đồng
- Nghiên cứu thực trạng di tích, từ đó đề xuất một số giải pháp về việc bảotồn và phát huy giá trị di tích đình Nội trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính là di tích đình Nội với các giá trị văn hóavật thể và phi vật thể, ngoài ra đề tài còn nghiên cứu về làng Nội xưa và nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hóa học: Sử học, Bảo tànghọc, Dân tộc học, Văn hóa học, Mỹ thuật học, Văn hóa dân gian…
Trang 9- Phương pháp khảo sát, điền dã: Quan sát, mô tả, phỏng vấn, ghi chép,
đo vẽ, chụp ảnh…
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh trên cơ sở các tư liệu nhưsách, hồ sơ, các tư liệu khảo sát thực địa
6 Những đóng góp của luận văn
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về những giá trị vănhóa, nghệ thuật của di tích đình Nội
- Phân tích thực trạng của di tích, đề xuất các giải pháp bảo tồn và pháthuy giá trị di tích trong giai đoạn hiện nay Đồng thời khẳng định vị trí vai tròcủa đình Nội trong đời sống của cộng đồng cư dân nơi đây
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các cấpcủa địa phương và bạn đọc muốn tìm hiểu di tích đình Nội
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu (07 trang), Kết luận (02 trang), Danh mục tài liệutham khảo (05 trang), Phụ lục (33 trang), luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đình Nội trong không gian văn hóa xã Việt Lập
Chương 2: Giá trị văn hóa vật thể đình Nội (38 trang)
Chương 3: Giá trị văn hóa phi vật thể đình Nội (34 trang)
Trang 10Chương 1 ĐÌNH NỘI TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA XÃ VIỆT LẬP
1.1 TỔNG QUAN VỀ XÃ VIỆT LẬP
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Việt Lập là một vùng đất cổ, có truyền thống lịch sử gắn bó vớivùng đất thuộc miền hạ Yên Thế trong suốt quá trình dựng nước
và giữ nước Với diện tích 1453,29 ha, phía Bắc giáp xã CaoThượng, phía Đông giáp xã Liên Chung, phía Nam giáp xã QuếNham, phía Tây giáp xã Ngọc Lý Gần như giữa xã có tuyếnđường quốc lộ 284 chạy theo hướng Bắc - Nam, chính tuyếnđường này giúp Việt Lập tiếp xúc với bên ngoài Việt Lập cáchtrung tâm tỉnh lỵ 13km, cách trung tâm huyện lỵ 3km [30, tr.15] Việt Lập ảnh hưởng tiểu vùng chuyển tiếp khá tiêu biểu của tỉnh BắcGiang - vùng chuyển tiếp giữa các vùng tự nhiên lớn của cả nước - vùng núi
Trang 11Việt Bắc và Đông Bắc với vùng châu thổ sông Hồng Đồng thời, Việt Lậpchịu ảnh hưởng điều kiện tự nhiên của huyện Tân Yên, dốc thoải theo hướngTây Bắc - Đông Nam huyện với độ cao trung bình 10 - 15m so với mặt nướcbiển, cứ 1km chiều dài địa hình trung bình hạ bớt độ cao 1m Như vậy, so vớicác xã trong huyện, Việt Lập cùng Quế Nham chịu ảnh hưởng của vùng trũng
và chính là chịu ảnh hưởng của con ngòi chảy qua theo hướng Tây Bắc Đông Nam
-Việt Lập có 14 quả đồi lớn nhỏ, quả đồi cao nhất có độ cao 120m.Cùng với địa hình đối thấp, cho phép Việt Lập phát triển kinh tếtổng hợp nông nghiệp và chăn nuôi kể cả nghề cá Phía Tây Nam
xã còn có 1 con đê dài 6km bao bọc Ngoài ra, ở Nguyễn Sơn còn
có mỏ Ba rít, loại khoáng sản phi kim loại với trữ lượng nhỏkhoảng 47.000 tấn Cấu tạo địa chất Việt Lập cũng có thể chophép làm gốm sứ, gạch chịu lửa, cát sỏi xây dựng [30, tr.34].Cách đây vài chục năm, độ che phủ của đồi núi thấp còn lớn, ngày nay do
sự tác động của con người, cảnh quan địa lý, lịch sử của Việt Lập đã thay đổi.Đất đai trồng trọt gần như đã được khai thác gần hết giới hạn, rừng gần nhưkhông còn nữa Hiện trạng này phản ánh trong cơ cấu kinh tế của xã, trong đógiá trị sản lượng nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn theo độ dốc nghiêng của địahình hướng Tây Bắc - Đông Nam, giữa các dải đồi trọc liên tiếp chạy nối đuôinhau giữa các dải đồng bằng hẹp làm cho đất đai của xã ngày càng bị xói mòn
Trong toàn bộ diện tích đất tự nhiên của Việt Lập, diện tích gieotrồng cây hàng năm có 981 ha Trong đó, diện tích cây lương thực835,8 ha, diện tích cây thực phẩm 69,2 ha và diện tích cây côngnghiệp 76 ha Đất đai Việt Lập chủ yếu nằm trong vùng đất đồi,ruộng bậc thang và nhóm đất phù sa cũ bạc màu Đất đai Việt Lập
Trang 12là loại đất hình thành tại chỗ do phong hóa và một phần là loại đấthình thành do phù sa sông ngòi bồi đắp [30, tr.27].
Ngoài con ngòi chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua xã, nước tướicho cây trồng của xã còn có một sông máng dài chừng 4km chảy từ Cao Thượng
về Kim Tràng Hệ thống nông giang sông Thương được đưa vào sử dụng từ năm
1992 Lượng nước phân bổ không đều trong năm, về mùa mưa chiếm 80% tổnglượng nước cả năm
Điều kiện tự nhiên Việt Lập có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệpnhư: trồng cây công nghiệp, cây lượng thực, cây ăn quả, rau màu các loại vàphát triển chăn nuôi để tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm, hàng hóa và phục
vụ đời sống hàng ngày của nhân dân Các hoạt động kinh tế khác như: dịch
vụ, sản xuất vật liệu xây dựng đều có cơ sở của điều kiện tự nhiên đảm bảo,song cần được hoạch định và tổ chức một cách chặt chẽ
Tuy nhiên cũng có những mặt không thuận lợi của điều kiện tự nhiên, vịtrí địa lý không có đường giao thông quan trọng nối liền các trung tâm kinh tếchạy qua, rừng tự nhiên không còn, do đó kéo theo sự thu hẹp và mất hẳnnhiều loại động thực vật “Đất đai ngày càng bị xói mòn, nguồn nước chỉ mới
đủ cung cấp cho 60% diện tích gieo trồng” [30, tr.31]
1.1.2 Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và phát triển xã Việt Lập
Theo các nguồn thư tịch cổ và sự khảo cứu của nhiều học giả được phảnánh trong các công trình biên khảo về lịch sử và địa lý Việt Nam, cho biếthuyện Tân Yên, trong đó có xã Việt Lập chính là một phần đất được tách ra
từ huyện Yên Thế sau này Huyện này có từ thời Lý - Trần với tên là YênViễn với ý nghĩa là vùng đất xa xôi nhưng yên bình của nhà vua, của triềuđình Yên Viễn lúc này thuộc dạo Bắc Giang (sau là lộ Bắc Giang) Trước đó,
“thời Bắc thuộc, Yên Viễn là đất đai thuộc huyện Long Biên, quận Giao Chỉ
Trang 13(sau là Giao Châu), thời Hùng Vương, An Dương Vương là đất của bộ VũNinh - một trong 15 bộ của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc” [30, tr.27].
Thời thuộc Minh, đầu thế kỷ XV, huyện Yên Viễn được đổi thành huyệnThanh Yên, châu Lạng Giang, Phủ Lạng Giang Tên Yên Thế chính thức xuấthiện trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi như sau: huyện Yên Thế có tên
nỏ và vôi tên tẩm thuốc độc dùng vào việc chống giặc Bắc (Trung Quốc).Vôi dùng vào tạo tác Trong lời ẩn án và phần chú của sách này cho biết: Tênhuyện Yên Thế có từ thời Trần (có sách chép là Yên Viễn), thời thuộc Minhđổi là huyện Thanh Yên, thuộc châu Lạng Giang, phủ Lạng Giang, thời Lê lạiđổi là huyện Yên Thế Lúc này, phủ Lạng Giang có 6 huyện, 340 xã
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cho thấy:
phủ Lạng Giang ở miền Thượng du trấn Kinh Bắc, 6 huyện đều nhiều núi,những huyện Phượng Nhỡn, Bảo Lộc, Yên Thế (một phần phía Nam là huyệnTân Yên sau này), Hữu Lũng thì rừng núi liên tiếp nhau, giáp với địa giớihuyện Chí Linh trấn Hải Dương Sông Lục Đầu trở lên quanh co ở khoảng 6huyện Thời Trần, Hưng Đạo Vương thường coi quân ở phủ Lạng Giang, mởdinh khi ở trại Vạn Kiếp, đánh phá quân Nguyên ở đó
Sang thời Nguyễn, đầu thế kỷ XIX, huyện Yên thế thuộc phủ HàBắc, xứ Kinh Bắc (năm Minh Mệnh đổi làm phủ Thiên Phúc)
Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX cho biết, huyện
Yên Thế gồm 8 tổng, 42 xã, lúc này xã Việt Lập thuộc tổng thứ 8với tên gọi là Bảo Lộc Sơn Tổng này gồm có các xã: Bảo LộcSơn gồm các xóm: Bãi Gia, Bò Gian, Can Cát, Cầu Cần, Con Qui,Đồng Cựu, Giới Gia, Làng Am, Làng Đông, Làng Nguyễn, LàngKhoát, Nguộn Ngô, Bãi, Mả Đinh, Mả Ngòi; xã Tưởng Sơn có 2xóm: Trại Đông, Trại Tây; xã Kim Tràng có các xóm: Chu Vàng,Cầu Quận, Kim Tràng, Lò Nội, Ngọc Trai [30, tr.10]
Trang 14Bảng 1: Tên thôn, làng trước và sau cách mạng tháng Tám năm 1945
[Theo sách L ch s ịch sử Đảng bộ xã Việt Lập, tr.16] ử Đảng bộ xã Việt Lập, tr.16] Đảng bộ xã Việt Lập, tr.16]ng b xã Vi t L p, tr.16]ộ xã Việt Lập, tr.16] ệt Lập, tr.16] ập, tr.16]
Tên thôn (làng) hiện nay Tên thôn (làng) trước năm 1945
Sang thời Pháp Thuộc, năm 1886, ngay sau khi Pháp chiếm được tỉnhBắc Ninh, phủ Lạng Thương và thành Tỉnh đạo, chúng lập ngay đạo Yên Thế,tỉnh lỵ đóng ở Nhã Nam Năm 1895, Pháp lập đạo quan binh Yên Thế, nhậpthêm các tổng Hương Vĩ, Hữu Thượng và Ngọc Cục, lúc này Việt Lập cũngnhư huyện Tân Yên thuộc địa phận của Yên Thế
Theo sách Bắc Giang địa chí của Trịnh Như Tấu, đạo quan binh Yên
Thế gồm: vùng chợ Phổng, vùng Bảo Đài, địa hạt ở trung tâm hai vùng ấy,dãy núi trước mắt núi Cai Kinh và 8 tổng trực thuộc, trong đó xã Việt Lậptrực thuộc tổng Mục Sơn
Cuối năm 1899, đạo quan binh Yên Thế bị bãi bỏ, thay thế bằng đại lý NhãNam, bao gồm 11 tổng và thị trấn Bố Hạ Thời điểm này, xã Việt Lập cùng vớicác xã Cao Thượng, Hợp Đức trực thuộc tổng Mục Sơn Cho đến trước cáchmạng tháng Tám, Yên Thế là một trong ba phủ thuộc tỉnh Bắc Giang Theo sách
Trang 15"Bắc Giang địa chí" của Trịnh Như Tấu cho biết, năm 1937, phủ Yên Thế có 10
tổng, trong đó, địa phận xã Việt Lập trực thuộc tổng Mục Sơn
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Yên Thế trở lại đơn vị hành chínhhuyện của tỉnh Bắc Giang, các đơn vị hành chính dưới huyện đã có sự thayđổi: cấp tổng được bãi bỏ, cấp xã được mở rộng, các châu huyện cũng đượcbãi bỏ Đến năm 1957, phần đất phía Nam huyện Yên Thế (tức là vùng YênThế hạ) chính thức được tách ra và thành lập huyện mới mang tên Tân Yên Như vậy, những thay đổi về hành chính của xã Việt Lập và huyện TânYên trong địa hạt của vùng Yên Thế xưa qua các thời kỳ lịch sử cho thấy:
- Địa giới hành chính của Việt Lập - Tân Yên tuy được tách ra và sátnhập lại song vùng này vẫn trực thuộc tổng Mục Sơn trong suốt thời kỳ lịch
sử của vùng đất Yên Thế xưa
- Việt Lập - Tân Yên là một vùng đất có lịch sử lâu đời, là một bộ phậncủa xứ Bắc - Kinh Bắc - Hà Bắc nổi tiếng cổ kính và văn hiến
- Việt Lập trong địa giới huyện Tân Yên là địa vực chủ yếu của huyệnYên Thế thời Lý - Trần, Lê - Nguyễn và thời Pháp thuộc
Đối chiếu các xã hiện nay với đơn vị hành chính tổng cũ trước cáchmạng tháng Tám năm 1945 cho thấy, huyện Tân Yên được cấu tạo bởi phầnlớn đất đai và dân số của huyện Yên Thế cũ Cùng với sự thay đổi về tên gọi,địa vực hành chính huyện, tổng, đơn vị xã, thôn, làng cũng có nhiều thay đổi
về tên gọi và địa vực cũng như vị trí
Về lịch sử của làng Nội Hạc - nơi có ngôi đình tồn tại, Nội Hạc là mộttrong những làng thuộc xã Việt Lập, trong tiến trình lịch sử làng này gắn liềnvới vùng đất Yên Thế hạ (tức huyện Tân Yên ngày nay) Thời Nguyễn, làngNội Hạc chính là hai làng hợp lại, đó là làng Nội và làng Hạc thuộc tổng MụcSơn Đến những năm 50 của thế kỷ XX, hai làng này thuộc hai đội sản xuất
Trang 16khác nhau, đến năm 1980 hai làng sát nhập thành hai đội sản xuất của ViệtLập 1, năm 2001 hai làng này chính thức hợp nhất thành làng Nội Hạc
Về vị trí địa lý của làng: Phía Bắc giáp làng Đầu Cầu, làng Hạ xã CaoThượng; phía Đông giáp làng Trong Giữa (Việt Lập) và làng Hương (xã LiênChung); phía Nam giáp làng Lý, làng Cầu Cần, làng Um Ngò (xã Việt Lập);phía Tây giáp làng Văn Miếu (Việt Lập), làng Cao Thượng (xã Cao Thượng) Làng có đường liên xã chạy từ Liên Chung, Nghè Bẩy - Cao Thượng vàNghè Bẩy - Cầu Cần Làng Nội Hạc cách trung tâm huyện lỵ khoảng 3km,cách tỉnh lỵ Bắc Giang 13km, cách đường quốc lộ 284 khoảng 2km
1.1.3 Thành phần dân cư
Việt lập là vùng đất có bề dày lịch sử, do vị trí địa lý và điều kiện tựnhiên thuận lợi nằm vùng Yên Thế hạ xưa nên cư dân đến định cư từ lâu đời,dân cư chủ yếu là người Kinh và người Tày Thuở xưa, đây là vùng đất hoang
sơ, cây cối xanh tươi um tùm, có nhiều thú dữ nên dân cư còn thưa thớt chủyếu sống bằng nghề săn bắt, hái lượm Căn cứ vào các dấu tích khảo cổ học
và tư liệu lịch sử ghi chép về nơi này còn lưu lại cho đến nay, các nhà nghiêncứu cho rằng từ thời đại kim khí đã xuất hiện cư dân định cư ở đây Một trongnhững di tích và truyền tích còn lại tiêu biểu là về hai vị thần Cao Sơn - QuýMinh thời các vua Hùng
Ở vùng đất này có nhiều dòng họ sinh sống nhưng chỉ có một số nhữngdòng họ gốc như họ Thân, họ Vi được coi là lớp cư dân lâu đời nhất mà hậuduệ của những tộc họ này vẫn còn khá đông đảo ở vùng đất Việt Lập ngàynay Đó là vùng đất cổ xưa của Tân Yên Vốn ban đầu, nhưng tộc họ này lànhững dân tộc thiểu số, trong quá trình lâu dài hàng ngàn năm cùng làm ănsinh sống, rồi hòa nhập huyết thống, hòa nhập văn hóa với người Kinh, họ đãtrở thành người Việt trong cộng đồng cư dân vùng đất này Nhiều người thuộc
Trang 17những tộc họ của các dân tộc thiểu số đã trở thành danh nhân lịch sử, danhnhân văn hóa như: Thân Cảnh Phúc, Thân Nhân Trung, Thân Công Tài… Ngày nay, cư dân Việt Lập sinh sống quần cư khá đông đúc, họ sống tậptrung thành các làng, xóm với các dòng họ lớn như: họ Nguyễn, Phạm, Trần,
La (họ La hiện nay chỉ còn lại 2 gia đình sinh sống tại đây là gia đình ông LaVăn Tu và ông La Văn Tý)
Đối với làng Nội Hạc có khoảng 10 dòng họ, trong đó dòng họ Nguyễnchiếm 60% dân số của làng, họ Ngô Chiếm khoảng 30%, còn lại là các dòng
họ khác như: La, Thân, Trần, Đỗ, Đặng, Lương, Lê “Trong thời kỳ khángchiến chống Pháp và Mỹ có khoảng 60 hộ gia đình với 300 nhân khẩu, hiệnnay làng có 186 hộ gia đình với 786 nhân khẩu, trong đó có 347 người trong
độ tuổi lao động…” [30, tr.10]
Theo thống kê điều tra dân số năm 2010, toàn xã có trên 2000
hộ với gần 10.000 nhân khẩu, bằng 6% dân số của huyện, trong
đó nam giới chiếm gần 5.000 người, nữ giới chiếm trên 5.000người, mật độ trung bình 613 người/km2 Dân cư sinh sống ởViệt Lập chủ yếu là dân tộc Kinh, có một bộ phận nhỏ là ngườidân tộc Tày Mật độ dân số phân bố không đồng đều ở toàn xã
và cao hơn cả là ở các làng Văn Miếu, Nội Hạc, Kim Tràng,mật độ dân số thấp ở một số làng như làng Nguyễn, Đồng Sen.Tốc độ phát triển dân số ở Việt Lập khá cao, trung bình từ 10 nămtrở lại đây là 1,8%/năm Khoảng từ 50 năm trở lại đây dân số tănggấp 4 lần Trong điều kiện là xã nông nghiệp, thu nhập bình quânđầu người thấp thì việc tăng dân số như trên là một khó khăn choviệc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Trong cơ cấu dân
số hiện nay, nữ chiếm trên 47%, cơ cấu tuổi trẻ chiếm tỷ lệ cao,
Trang 18khi mà kinh tế chậm phỏt triển, ngành nghề khụng đỏng kể thỡ đõy
là một thỏch thức cho địa phương [30, tr.11]
1.1.4 Đời sống kinh tế xa và nay
Với đặc điểm tự nhiờn của vùng đất, về phơng diện kinh tế của c dân nơi
đây cùng phát triển khá đa dạng, song chủ đạo vẫn là kinh tế nông nghiệp.+ Nông nghiệp: Theo t liệu lịch sử ghi chép về vùng đất, từ thời Lý,Trần, Lê, tình hình kinh tế nông nghiệp và lâm nghiệp ở vùng đất này pháttriển ổn định Từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, do kiều kiện kinh tế nông - lâm
có bớc phát triển nên đời sống kinh tế ở Việt Lập đợc nâng cao, đáng chú ý làcác công trình văn hóa của cộng đồng ở các làng lần lợt đợc tu bổ và xây dựngkhang trang
Với diện tích hàng ngàn mẫu đất ruộng, các làng chia nhau canh tác vớiphơng thức thô sơ con trâu, cái cày Năng suất lúa thu hoạch khoảng 70- 80kg/sào ở thời điểm này, dân số ở Việt Lập cũng không đông, mỗi giáp chỉ cókhoảng trên 20 xuất đinh… toàn xã tính trung bình có khoảng trên 200 xuất
đinh Nh thế, ruộng đất cấp cho từng xuất đinh cũng khá nhiều khoảng trên
d-ới 2 mẫu/1 xuất đinh Mỗi năm làm hết ruộng cũng đợc chừng vài tạ thóc, tìnhtrạng sở hữu ruộng đất không đều nhau đã dẫn đến phân chia giàu nghèo.Tổng Bảo Lộc Sơn trong đó có xã Bảo Lộc Sơn là xã mạnh, đồng rộng, bằngphẳng ở đây tầng lớp chức sắc nhiều, họ chính là thành phần chi phối chínhruộng đất ở xã Bảo Lộc Sơn còn hầu hết ngời dân là nông dân làm thuê
+ Kinh tế thơng nghiệp: Căn cứ vào bài văn khắc trên bia cây hơng đánăm 1716 tại chùa Thú, nhân dân xã Mục Sơn (nay là xã Việt Lập) lại đứnglên quyên góp tiền xây dựng lại chùa và đúc chuông kỷ niệm Qua nội dung
t liệu khắc trên bia cho thấy thời kỳ này, nơi đây đã xuất hi ện sự giao lubuôn bán của ngời dân trong vùng và giữa các vùng lân cận với nhau Ngờixuôi lên đây là dõn ở các vùng Hiệp Hòa, Bắc Ninh, Hà Tây lên buôn gỗ vàcông đức tiền tu sửa ngôi chùa
Việc sử dụng tiền trong kinh tế đời sống ở Việt Lập trở nên phổ biến.Công việc chi phí cho đình, chùa đều đợc quy ra thành tiền Theo các t liệuthời Lê lúc đó, mỗi quan bằng 60 tiền, mỗi tiền mua đợc 2 thúng gạo (khigiá đắt đỏ), mà trong khi ấy ở Việt Lập có ng ời góp tiền công đức đến 3
Trang 19quan tiền và gần 400 thúng gạo Cũng do việc buôn bán nên nơi này đã hìnhthành chợ phiên của vùng Chợ ở khu làng Nguyễn có thể không to nhng cũng
là nơi trao đổi vật phẩm, hàng hóa của một vùng rộng đất rộng
Vừa làm nông nghiệp vừa buôn bán chợ búa nên ngời dân xã Việt Lập có
điều kiện phát triển kinh tế Những năm cuối thế kỷ XIX mức thuế chung làmột đồng 12 một ngời Lúc này bọn thực dân phong kiến dùng nhiều biệnpháp xảo quyệt để bóc lột nhân dân, chủ yếu là nông dân nh: nâng hạng ruộng
đất, tăng mức thuế và đặt ra một số thứ thuế “Tiền thuế ruộng đất của cả phủYên Thế năm 1937 là 49.876 đồng, năm 1944 là 128.210 đồng so với năm
1940, thuế quốc phòng năm 1944 tăng tới 25 lần Trong thời kỳ từ năm 1938trở đi xã Việt Lập thuộc miền Yên Thế hạ, bọn thực dân phong kiến còn đuanhau chiếm đất lập đồn điền” [36, tr.31] Mỗi địa chủ Pháp chiếm hàng trămmẫu ruộng và thờng do ngời Việt quản lý Tại Việt Lập, phần lớn ruộng đấtnằm trong tay địa chủ ngời Pháp tên là Chesnay Ngoài ra, một số ruộng đất bị
địa chủ ngời Việt chiếm giữ Đó là cha kể đến số ruộng đất nằm trong tay địachủ nhỏ ở các thôn làng Không có ruộng đất, hầu hết ngời dân nghèo trởthành những ngời đi nhận canh nộp tụ, trở thành tá điền cho địa chủ Quanhnăm sống ở cảnh bần hàn, tháng ba ngày tám, phải bỏ nhà, bỏ cửa vào núirừng tìm kiếm thức ăn khi giáp hạt… để sống qua ngày Khi vay mợn cũngphải có cái để trả, ngời còn sức lao động phải gánh vác việc xã hội, đi phu, đilính cho bọn quan Tây, làm bia đỡ đạn cho chúng khi đi chống cớp Nếukhông có giặc thì những ngời làm lính phải vác súng đi bắt khách nhựa ở hai
đờng mòn của hai dãy núi vòng cung xung quanh huyện và sục sạo vào cáclàng bắt rợu lậu… Việc bắt rợu lậu ở trong vùng không phải để tiết kiệm lơngthực, để chống đói mà để cớp đoạt Rợu Phong Ten nếu không bán đợc, chúnggiao cho Lý trởng và giao cho dân phải mua rồi thu vào cùng thuế Ban đầuthuế 1đ20, sau lên 2đ50 Nếu hộ nào thiếu chúng ghép vào tội thiếu thuế là tộihình sự phải phạt nặng, kể cả thu tài sản
Trên cơ sở tổ chức hành chính ở xã nh trên, thực dân Pháp đã nắm xuốngtận cơ sở, chúng lợi dụng tình hình rối ren cho lính, đi phu đốc thu thuế đinh,thuế điền và bắt lính Ngoài ra còn tổ chức bắt rợu lậu và bắt gỗ lậu hay đốtphá rừng Trong việc tham gia vào tổ chức hàng xã, bất cứ ai (nhng phải giàu,
Trang 20phú nông) đều phải có lễ (tiền) lo lót trớc theo mức khoán đinh của quan phủhoặc sự gợi ý của Chánh - Phó tổng, Lý trởng ở vùng này gọi cách đó là
“bán gia tài mua danh phẩm” Không những thế, năm 1940 Phát xít Nhật kéoquân vào nớc ta, nhân dân bị một cổ hai tròng, cùng với nạn cớp bóc, nhândân phải phá lúa trồng đay, trồng thầu dầu phục vụ chiến tranh Ngoài nghĩa
vụ thuế, chúng còn bắt nhân dân ta bán thóc theo đầu tạ cho chúng Lợi dụngtình trạng thóc gạo khan hiếm bọn ngời giàu đua nhau đầu cơ trục lợi Ngờidân lao động ngày càng cơ cực do bị bóc lột đến tận xơng tủy
Hiện nay, ở Việt Lập đời sống kinh tế của ngời dân chủ yếu là làm nôngnghiệp (chiếm trên 98%) làm ruộng lúa nớc hai vụ/năm, năng xuất lúa đạt250kg đến 300kg/sào [30, tr.14] Đời sống kinh tế của ngời dân nơi đây còngặp nhiều khó khăn Ngoài ra, trong lúc nông nhàn, một bộ phận ngời dân đilàm thuê với các nghề khác nhau nh thợ nề, thợ mộc để cải thiện cho cuộcsống của gia đình Bên cạnh đó, có một số hộ gia đình (khoảng trên 20 hộ) do
vị trí ở gần các quả đồi thấp nên đã đợc chính quyền các cấp giao cho việctrồng cây và quản lý đất đồi nên ngoài việc làm ruộng họ đã dành thời gianvào việc trồng và khai thác gỗ cùng các công việc kèm theo tại các quả đồimột cách hợp lý để nâng thêm thu nhập cho gia đình
1.1.5 Truyền thống văn húa
* Truyền thống khoa bảng
Cú thể núi, Việt Lập là một địa phương cú truyền thống hiếu học, tronglịch sử cỏc triều đại nước ta cú nhiều người con địa phương đó vượt khú vươnlờn học hành đỗ đạt, cú những người được bổ nhiệm ở cỏc vị trớ cao của triềuđỡnh phong kiến, dưới đõy là một số những vị quan đỗ đạt thành danh là con
em của địa phương Việt Lập
Ở đời Lý, Trần, nhiều người thuộc họ Giỏp, họ Nguyễn đó lónhđạo hoặc tham gia vào cụng cuộc chống Tống, bảo vệ phũngtuyến Như Nguyệt Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, Việt Lập xuấthiện nhiều nhõn kiệt đú là cỏc quan văn xuất thõn từ khoa bảng,đức độ tài năng đúng gúp nhiều cụng lao cho đất nước phong
Trang 21kiến, nhiều người thành đạt võ nghiệp và ra làm quan, giữ nhiềuchức vụ quan trọng triều đình Lê - Mạc, Lê - Trịnh, thể hiệntruyền thống hiếu học và thượng võ của người Việt Lập trong lịch
sử, có thể nêu ra những người tiêu biểu [30, tr.15-16]:
Giáp Chính Khanh: làm quan tới chức Tiền Trung Nghĩa Thiết kỵ tướngquân triều Lê Cảnh Hưng (tức Lê Hiển Tông 1740 - 1786)
Giáp Đăng Luân: người làng Vườn, làm quan tới chức Tiền đặc, Tiềnphụ quốc Thượng tướng quân (Chánh nhất phẩm của làng tước võ) triều Lê -Mạc (thế kỷ XVI)
Giáp Trung Hòa: Anh Liệt tướng quân, Đô chỉ huy sứ, Tứ lệ chỉ huy,Bảo lĩnh hầu
Giáp Trinh Tường: Đỗ Tiến sỹ thời Lê Uy Mục, Lê triều phụ tá, đặc tiếnphụ quốc, Thượng tướng quân, Bắc quân đô đốc phủ, Tả đô đốc trấn thủ Cai
Kỳ kiêm Thị nội thư tả chi hộ phiên, Thái bảo trí sĩ
Giáp Trinh Phúc: Tiền phong ấm vũ tướng quân đô đốc, phủ đặc tứphong tặng thần vũ tứ vệ quân vụ sử đề đốc, sơn lĩnh hầu
Giáp Phúc Thành: Tiền phong tặng Anh liệt tướng quân, Đô chỉ huy sứ,
Tứ chỉ huy sứ thiên sự, Bảo lĩnh hầu
Giáp Trung Liêm: Lê triều hoằng tín đại phu, Tự trung quân Văn Hàn
Ở chùa Thú ghi những tên người công đức vào chùa (bia viết năm1749), trong đó có các vị quan như:
+ Giáp Đình Trân: Huyện Thừa
+ Giáp Công Khâm: Hoằng tín đại phu
+ Giáp Danh Linh: Hiển cung đại phu
+ Giáp Danh Vương: Hiển cung đại phu
Trang 22Ở cõy hương đỡnh Võn Cầu (Song Võn) trong số những người cụng đức
cú ụng Giỏp Thọ - tri huyện
Ngày nay, ở Việt Lập hội Khuyến học cũng đó được thành lập nhằmđộng viờn, khớch lệ thế hệ trẻ kế thừa truyền thống cha ụng, tiếp tục phấn đấuhọc tập và trở lại quờ hương đưa kiến thức đó học, ở trường cựng địa phương,làm rạng danh quờ hương, đất nước
* Phong tục tập quỏn
+ Lệ làng xưa: Ở vựng Việt Lập cũng như bao làng quờ cổ truyền khỏc
đều cú những tục lễ cổ được cộng đồng quy ước và lập ra để mọi người cựngnhau thực hiện Dưới đõy là một số tục lệ cổ được người dõn trong cỏc làng ởViệt Lập duy trỡ trước cỏch mạng thỏng Tỏm năm 1945:
Lệ vào Đinh: Khi con trai 10 tuổi đều phải làm lễ nhập đinh để vàolàng, họ có nghĩa vụ phải gánh vác việc làng Những gia đình có trai đinh vàolàng phải sắm sửa một con lợn thịt gánh ra đình trình và khao làng Khi đó, họmới đợc chấp nhận là thành viên của làng xã
Lệ mua Nhiêu và T văn: Con trai từ 18 tuổi trở lên đợc phép mua nhiêu.Ngời đã mua nhiêu đều đợc miễn phu phen, tạp dịch, lính tráng Ngời từ 25tuổi trở lên khi đã mua nhiêu có thể mua t văn Ngời mua t văn đợc phép vàohội t văn, đợc đi tế, ra đình dự các tuần tiết và tham gia việc làng… giá củamột lần mua là 25 đồng bạc Đông Dơng (tơng đơng gần 50 gánh thóc vì thóc
có 5 hào một gánh)
Lệ khao vọng: trớc đây, việc khao vọng ở Việt Lập có nhiều lệ khao khácnhau nh: lễ khao lên lão, lễ khao trúng Lý trởng, Chánh tổng, khao đỗ đạt,khao thăng quan, tiến chức Mỗi lễ khao này lại đợc tổ chức theo quy mô,cấp độ khác nhau Đơn cử nh việc lên lão, việc khao làng đợc làm khá đơngiản tùy theo điều kiện kinh tế của từng gia đình, trong khi đó việc khao trúng
Lý trởng, Chánh tổng lại phải tổ chức linh đình và kéo dài thời gian lên tới 2hoặc 3 ngày mới xong
Trang 23+ Về việc cới: Trớc năm 1945, việc dựng vợ, gả chồng đều do cha mẹ
chọn lựa và quyết định nên mới có việc cha mẹ đặt đâu, con cái phải ngồi đó.Khi đến tuổi kết hôn, nhà trai thờng “lấy vợ kén tông”, nhà gái “lấy chồng kéngiống” Họ lựa chọn sao cho hai gia đình đợc môn đăng hộ đối, nghĩa là haibên thông gia phải đăng đối về: tuổi tác, địa vị, kinh tế
Đám cới ngày xa ở Việt Lập đợc chuẩn bị khá cẩn thận, nhà gái tháchcới gồm: tiền mặt, thịt, gạo, rợu, hoa quả, trầu cau Hiện nay, cùng với việcthực hiện nếp sống văn hóa trong việc cới, việc tang và lễ hội, việc cới đã cónhững thay đổi nhất định, cụ thể nh không có việc ăn hỏi rờm rà và tiệc mặn
nh trớc, thời điểm này hai gia đình thờng ghép ăn hỏi vào hôm trớc ngày cới
để tiết kiệm đợc thời gian và kinh tế, thêm vào đó là việc bỏ tục lại mặt giữahai gia đình Việc kết hôn đảm bảo đúng luật hôn nhân và gia đình, dựa trêncơ sở tự nguyện và bình đẳng, không có tình trạng cỡng ép hoặc cản trở từ haiphía gia đình
Hiện nay, làng Nội và làng Lý đó xõy dựng quy ớc về việc xây dựngnếp sống mới trong việc cới và việc tang Dưới đõy là những quy định về việccưới ở hai làng:
1/Nam, Nữ kết hụn phải theo đỳng luật hụn nhõn và gia đỡnh
2/Khi đăng ký kết hụn phải đến UBND xó để đăng ký hoặc xin giấygiới thiệu đăng ký kết hụn nơi khỏc đều phải thực hiện đầy đủ cỏc quy định
do Bộ Tư phỏp quy định và hướng dẫn
3/Gia đỡnh cú cụ dõu, chỳ rể phải làm đơn theo mẫu và làm giấy camđoan khụng vi phạm (nếp sống văn húa) Nộp tiền đặt cược là 200.000 vnđ
4/Chỉ tổ chức hụn lễ khi UBND xó đó cấp giấy đăng ký kết hụn, tổchức tiệc mặn khụng quỏ 1 ngày, mỗi mõm cỗ khụng quỏ 1 lớt rượu, nghiờmcấm tiếp thờm và khụng được mời thuốc lỏ
5/Nghiờm cấm tảo hụn, cưỡng hụn, những trũ mờ tớn trong đỏm cưới.6/Trong phũng cưới trang trớ lịch sự, khụng phụ chương hỡnh thức
Trang 247/Trang phục của cô dâu, chú rể đẹp, giản dị, phù hợp với phong tụccủa địa phương.
8/Không mở băng đĩa nhạc quá 22h đêm và trước 5h sáng hôm sau,không mở các băng hình có nội dung kích động giới trẻ
9/Khi tổ chức xong việc cưới, cần phải có xác nhận của trưởng thôn làgia đình đã chấp hành tốt quy định đặt ra của làng và sẽ nhận lại 200.000 vnđtiền cước trước khi cưới
10/Gia đình tổ chức cưới hỏi cần phải thông báo cho ban tổ chức cướinếp sống văn hóa về thời gian trước 1 ngày để ban tổ chức bố trí và sắp xếpthời gian đến dự và trao giấy kết hôn
+ Tục Lễ giải: Tục này diễn ra khá phổ biến ở nhiều làng xã Tân Yên
trước năm 1945, trong đó có ở các làng của xã Việt Lập, nhưng nó chỉ áp dụngvới những người con trai lấy vợ khác làng Tục lễ giải được tiến hành như sau:Đến ngày hội đình làng vợ (hội đình Nội), người con trai phải sắm lễ gồm:chùm cau, gói chè, bao nến, thẻ hương đặt vào mâm đồng rồi đội mâm lễ tớiđình làng bên vợ Khi đến phải nói với ông cai đám để làm các thủ tục xin vàolàm lễ Ông cai đám nhận lễ đặt lên bàn thờ và cho rung trống để thực hànhnghi lễ, người con trai phải quỳ xuống chiếu, chắp hai tay vái 04 vái và sau đóthì ngồi sang sàn đình để nói chuyện Tục lệ này quy định nếu người con trainào không đến tế lễ thì phải sắm lễ cho người khác mang sang tế giúp Nếuquên hoặc cố tình không sang thì các chức dịch của làng vợ sẽ xóa tên, khôngnhận là rể của làng Như vậy sẽ mang tiếng là người bất nghĩa, bị cộng đồngchê cười Tục lễ giải ở đây nhằm mục đích để các chàng trai lấy vợ khác làng,coi trọng thành hoàng, cũng như dân làng và họ hàng bên vợ, họ không đượcxao nhãng việc lễ nghĩa để dân làng bên vợ phải của trách và xử phạt Saunăm 1945 đến nay thì tục lệ này đã bị bãi bỏ
Trang 25+ Về việc tang: Trong làng có ngời nhắm mắt, gia chủ báo cho lãnh đạo
thôn, trởng thôn có trách nhiệm đi báo cho các tổ chức đoàn thể đến chia buồn
Đồng thời, gia chủ cử ngời đi mời thầy cúng hoặc một ngời cao tuổi trong thônxem giúp giờ nhập quan và giờ đa ma Giờ vào quan thờng đợc bắt đầu từ 1h-2hchiều ngày hôm trớc, để cữu qua một đêm và đến khoảng 7h sáng ngày hôm saubắt đầu tiến hành nghi thức đa tang Theo t liệu hồi cố của các cụ cao niên tronglàng cho biết: Xa kia việc tang ma diễn ra ở các làng của xã Việt Lập diễn ra theonhiều trình tự khá phức tạp Thờng một đám tang phải qua 6 lần tế theo các nghi
thức gồm: Lễ tế thứ nhất: gọi là tế Điện (lễ nhập quan), tế chiều hôm trớc
(khoảng 1h-2h), chuẩn bị nhập quan Chủ tế phát lệnh đánh một hồi trống cái xin
lệ làng cho nhập quan Lễ tế thứ hai: gọi là tế Phát phục (phát khăn tang và đồ
đám đợc tiến hành ngay sau khi làm lễ tế Điện) trởng họ phát quần áo tang, phát
khăn tang cho những ngời họ hàng, thân thích phải chở vong Lễ tế thứ ba: gọi là
lễ tế chuyển Cữu đợc tổ chức vào 12h đêm ngày hôm trớc (24 giờ theo giờ Tây)vào chính giờ chuyển giao ngày cũ và ngày mới Đội tế đọc bài tế chuyển cữucùng kinh niệm Phật và cử ngời vào chuyển Cữu, theo quy định khi chuyển Cữunếu ngời chết là nam giới thì phải quay 7 vòng quanh nhà còn nữ giới thì quay 9
vòng, xong tế các cụ bà ra đọc kinh niệm Phật Lễ tế thứ t: gọi là lễ Thăng D tức
là lễ đa lên kiệu đòn khiêng, để đa linh cữu ra nơi an nghỉ cuối cùng Lễ tế thứ năm: gọi là lễ Tam Kỳ lộ khi đến các ngã ba đờng chủ tế ra hiệu cho đoàn đa ma
dừng lại và tiến hành cúng lễ Mục đích của việc tế là để cho linh hồn siêu thoát
và nhớ đờng về t gia Lễ tế thứ sáu: gọi là tế Hạ huyệt tức là lễ chôn cất ngời quá
cố, đợc tiến hành từ khi hạ quan tài xuống huyệt cho tới khi đắp đợc mồ yên mả
đẹp
Xa kia việc tang ma ở Việt Lập diễn ra theo nhiều trình tự khá phức tạp
và tốn kém hiện nay những nghi thức đó không còn đợc duy trì và thay vào
đó là việc tổ chức lễ tang ma tiết kiệm, đơn giản và gọn nhẹ theo đỳng nộidung tinh thần của quy ước mới của cỏc làng Dưới đõy là nội dung quy ước
về việc tang của làng Nội và làng Lý xó Việt Lập:
1/Gia đỡnh cú người qua đời phải bỏo cho trưởng thụn biết rừ lý do chết,ngày giờ và họ tờn người chết, đồng thời Ban Tư phỏp xó làm thủ tục khai tử
và khụng để người quỏ cố trong nhà quỏ 36h
Trang 262/Chính quyền thôn và gia đình tang chủ tổ chức lễ tang chú đáo vàtrang trọng, tiết kiệm, vệ sinh và bài trừ thủ tục lạc hậu
3/Trưởng thôn điều hành mọi công việc tang lễ, cử đội phủ quan, đàohuyệt, huy động thanh niên từ 18 tuổi trong làng tham gia vào việc chôn cấtngười quá cố Nếu ai từ trối mà không có lý do hợp lý thì sẽ bị nhắc nhở trênloa 3 ngày sau đó
4/Trường hợp người qua đời có liên quan đến quy chế các cấp có thẩmquyền khác, cần thành lập ban tang lễ theo quy định của cấp đó (trường hợp làhội viên CCB)
5/Người qua đời phải được khâm liệm chu đáo và hợp vệ sinh
6/Linh cữu đặt ở nơi trang trọng, thuận tiện cho mọi người đến viếng và
có di ảnh của người quá cố
7/Xóa bỏ mọi hủ tục lạc hậu như: hú hồn, yểm bùa khi khâm niệm nhậpquan, bắc cầu
8/Khi đưa tiễn người quá cố ra nghĩa trang, người tham dự phải nghiêmtúc, trang trọng và không được phép bỏ về ngang đường
9/Không làm cỗ mời khách, không uống rượu, hút thuốc lá trong tang lễ.Khi đưa người quá cố ra nghĩa trang xong, người nhà không được phép lôikéo dân làng đưa ma về nhà ăn uống
+ Tục Kết ước: trước năm 1945, Việt Lập cũng như nhiều làng xã ở Tân
Yên có tục kết ước với nhau Đây là một tục đẹp, liên kết các làng cùng nhau,chia sẻ niềm vui, giao lưu văn hóa, cùng giúp nhau khi gặp khó khăn hoạnnạn Ở đây các làng có thể kết ước với nhiều làng hoặc một làng như: xã NhãNam kết ước với hai xã Dương Lâm và Lý Cốt, xã Cao Thượng kết ước với xãGiản Ngoại, Dương Sơn kết ước với xã Ước Lễ, rồi Ước Lễ lại kết ước vớiPhúc Lễ, Liên Bộ kết ước với Phú Khê Tiểu trong số đó là tục kết ước giữanhân dân xã Việt Lập xưa với dân của xã Cao Lãng
Trang 27Kết ước là việc hai bên nhận nhau là anh em, gọi nhau là "dân xã cả", "dâncha mẹ", "dân anh em" Có nhiều điều ước trai gái hai làng không được lấynhau, không được gây bất hòa, có chuyện gì xảy ra mà biết là người làng kếtước thì phải xin lỗi nhau, đối xử với nhau thân tình, trân trọng, cam kết giúp đỡnhau khi gặp thiên tai, địch họa Hai bên còn cam kết đi lại với nhau vào cácdịp hội, các lễ tiết lớn Thường trước mở hội dân làng mở hội sang mời dânlàng kết ước sang dự Làng được mời cử đại diện là những người cao tuổi, các
vị chức sắc mang lễ vật sang đúng ngày, giờ, được đón tiếp trọng thị Khi ra vềlàng có đám tiễn bạn quãng xa, lúc chia tay thì vòng tay vái chào cung kính.Tình nghĩa giữa các làng kết ước thật sâu đậm, dưới đây là một vài dẫnchứng tiêu biểu:
Thời kỳ giặc Tàu (giặc Cờ Đen) đến cướp phá ở xã Cao Lãng, nhân dânMục Sơn (Việt Lập hiện nay) là làng kết ước đã đem người đến giải vây cho
xã bạn và đã hy sinh mất trên 30 người Còn bọn giặc Tàu thì chết hàng trămtên và đã rút chạy khỏi xã Cao Lãng vào năm 1872
Ngoài ra, còn có làng Tưởng Sơn cũng bị giặc Tàu vây hãm cướp bóc,dân binh làng Cao Thượng - làng kết ước, do Trung Đồng chỉ huy cũng mangquân đến đánh giải vây cho làng Tưởng Sơn Như vậy, tục kết ước đã tạo nênsức mạnh cộng đồng liên làng với mục đích để sản xuất, bảo vệ sản xuất vàchống lại thiên tai lũ lụt Đặc biệt là chống lại giặc ngoại xâm
Trang 28Cho nên chùa có dáng kiến trúc “Nội công ngoại quốc” như kiểu dáng kiếntrúc chùa tổ Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) Vì vậy còn có ca dao:
“Thứ nhất là chùa Đức LaThứ nhì Quảng Phúc, thứ ba chùa Tràng”
Sau khi tịch, sư tăng dựng tháp đặt xá lỵ và tạc tượng tổ đặt là Tổ KhaiSơn Giỗ tổ vào ngày 12 tháng Giêng hàng năm, đó cũng là ngày hội chùa.Qua nhiều lần trùng tu, chùa Kim Tràng vẫn giữ được quy mô kiến trúc cũ Hơn 200 năm qua, chùa lúc nào cũng có sư trụ trì, trong nhà tổ có tượngbảy vị sư tổ Khu vườn tháp có 8 tháp gạch cổ, riêng sư nữ ở đây khi tịchkhông tạc tượng, không xây tháp mà xá lỵ đặt chung
Năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) nhân dân ở đây lại hưng công đúc quảchuông lớn
Qua nhiều lần trùng tu, chùa Kim Tràng cơ bản vẫn giữ được quy môkiến trúc cũ Đầu tiên là 5 gian nhà khách cao rộng, sân lát gạch vuông cổ Ởtam quan trước có gác chuông, nay không còn Qua tam quan vào sân chùatrước có sân khá rộng, được lát gạch vuông mỗi chiều 15 x 19cm Trong sâncây cối tỏa bóng xum xuê, trong đó có cây đại già sống hàng trăm năm Quabậc tam cấp là tới tiền đường 5 gian 2 chái, dài 15m, rộng 7,5m Với kết cấuthượng con chồng hạ kẻ tràng, thượng tứ hạ ngũ với bốn hàng chân vữngchắc, 3 cửa Tự Nối với tiền đường là tòa tam bảo, rộng gần 7m với 4 gian.Qua cửa nách chùa tam bảo là dãy hành lang, mỗi dãy 6 gian, dài 15m rộng4m Sau Phật điện là sân hậu chùa Rồi đến nhà Tổ 5 gian với ngũ hàng chân.Kết cấu khung cột: tiền kẻ hậu bẩy, thượng tứ hạ ngũ, thượng con chồng hạ
kẻ tràng Trên tất cả các con chồng hoành đều trang trí bằng cách chạm lộngkênh bong những con thú như: nghê, rồng, hổ, ở các tư thế khác nhau Trêncác ván gió xà thượng, cốn quận và trụ kẽ…đều trạm lộng những hoạt cảnhsinh động Ngôi nhà tổ vẫn nguyên vẹn kiến trúc của thời khởi dựng chùa
Trang 29Hầu hết tượng Phật ở chùa đều tạc bằng gỗ mít, cổ kính, sơn son thếpbạc phủ hoàn kim toàn bộ, đẹp lộng lẫy Cách bài trí hệ thống tượng ở chùagần giống Phật điện ở chùa Vĩnh Nghiêm Ở toà tiền đường là hai pho tượng
Hộ Pháp cách đó là Đức Thánh Hiền và pho tượng Đức Ông sơn son thếpvàng, ngồi trên ngai Chùa Kim Tràng là ngôi chùa tổ lớn nhất ở vùng TânYên - Yên Thế Chùa được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích kiếntrúc nghệ thuật tháng 1 năm 1991
+ Chùa Thú: ngoài việc thờ Phật còn thờ quan Phán Thú Ông Thú quêlàng Chùa, Bảo Lộc Sơn tên thật là Giáp Văn Thú, học rộng, đỗ cao, làm chứcquan to trong triều Ông quan thời Lê này là người khởi dựng chùa và chùacũng là nơi thờ ông Chùa Thú nay vẫn còn khá nguyên vẹn nằm trên núi caoráo thoáng đãng, hội chùa hàng năm vào ngày 21 tháng Giêng
+ Lăng Phúc Chân Đường: được xây năm 1617 thờ Giáp Đăng Luân(1519 - 1617) vị công thần thời Lê - Mạc Lăng được xếp hạng di tích lịch sửvăn hóa ngày 28 tháng 1 năm 1988
* Lễ hội
+ Hội thi thả Diều: Tiêu biểu nhất trong vùng cũng đã từng diễn ra tạichùa Thú Mùa xuân mở hội, thi hai loại diều: diều loại có sáo và diều loạinhỏ không có sáo Ông Cai đám cầm đầu ban chấm thi và điều hành cuộc thi.Từng nhóm 3 diều vào xới Mỗi diều có một người đâm (phóng) diều và mộtngười ra dây Sau khi Cai đám tuyên bố lý do, pháo nổ dứt, các diều vun vútlao lên trời Loại diều có sáo phải đạt các tiêu chuẩn: diều to, lên cao và lênthẳng, không chao đảo, sáo kêu đều và hay thì được giải theo thứ tự nhất, nhì,
ba Hội thả diều rất đông người đến dự và cổ vũ Vì đó mà có câu ca về hộithi thả diểu ở chùa Thú như sau:
“Tiếng đồn chùa Thú vui thayBên kia Hương Hậu, bên đây Câu Cần
Trang 30Có đường quần ngựa vui xuânThi diều, đốt pháo thôn dân tưng bừng”.
Có thể nói, hội thi thả diều chùa Thú là một sinh hoạt văn hóa mangtính truyền thống, thu hút được sự tham gia đông đảo của cộng đồng cư dântrong vùng và các vùng lân cận Đây là một hoạt động tạo ra sự chú ý và thuhút được những người có sở thích và kinh nghiệm trong việc thi thả diều.Cùng với những lễ hội khác như: hội Hương Hậu, Cầu Cần có đua ngựa, đốtpháo thì lễ hội thả diều ở chùa Thú mang những đặc trưng văn hóa riêng biệt
để tạo nên những nét văn hóa truyền thống của vùng đất này
1.1.6 Truyền thống cách mạng
Sách Lê Quý Dật sử chép một sự kiện trong năm 1887 như sau: “Ngàymồng 1 tháng 12, vua (Lê Chiêu Thống) chạy tới Kinh Bắc, xa giá đến TrấnDoanh, Trấn thủ Nguyễn Cảnh Thước mưu làm phản Thước là dòng dõi côngthần Tấn quốc công ở Đô Lương Thước cáo ốm không ra chầu, cho thủ hạcướp bóc đồ đạc của vua đang dùng, dấu thuyền làm ngăn trở bến sôngXương Giang, Chỉnh đến nhà Thước để thăm bệnh (lấy lời) dụ bảo Thước giả
vờ từ tạ không biết, mới sai con đem 5 chiếc thuyền đón nhà vua qua sông.Khi đến Như Thiết, huyện Yên Dũng có tri huyện là Nguyễn Thảng tuổi trạcsáu mươi, đem dân binh hộ vệ xe vua và tình nguyện giữ thành Xương Gianglàm căn cứ Vua khen ngợi và đặc cách cất nhắc Thảng làm lại khoa cấp sựTrung Vua với binh lực quá ít ỏi, muốn tiến giữ thanh Lạng Sơn, mượn tiếng
có thiên triều giúp đỡ Khi tới Mục Sơn (thuộc huyện Yên Thế) có Lệnh Tuấn
là người Yên Thế, là tay hào phú, được cả phủ Lạng Sơn suy tôn Những kẻtrốn tránh đều dựa vào Tuấn làm nơi ẩn náu Triều đình từ lâu bỏ qua khôngxét hỏi đến, do đó Lệnh Tuấn ngày càng tụ tập kẻ vong mạng đến khi ấy cóchiếu chỉ Cần Vương, Lệnh Tuấn cảm kích vâng lệnh Nhưng Lệnh Tuấnkhông có tài lược, binh lính là quân ô hợp, không có kỷ luật
Trang 31Ngày mồng 4, quân của Nhậm đến, vua sai Chỉnh và Lệnh Tuấn chiaquân chống cự Vua thúc ngựa đi trước, các quan nội thị cưỡi ngựa đeokiếm đi chung quanh, Lệnh Tuấn ra quân đánh, bị thua, hai con chết tạitrận” Theo địa chí Tân Yên thì Dương Đình Tuấn là người quê ở DươngLâm, còn gọi là Tuần Linh, nghe tin Lê Chiêu Thống qua Mục Sơn, định raquân cướp xa giá nhưng đổi ý định là đi phù giá Cần Vương nơi ấy là CầuCần (cầu Cần Vương) lại dẫn vua về ngủ lại ở đình Nội một đêm; hôm saumới chạy đi nơi khác.
Đến thế kỷ XIX, cụ Hoàng Hoa Thám về đình chiêu mộ nghĩa quânđánh Pháp Cụ thường về họp bàn với các cụ: Đốc Tuân (làng Lý), ChanhHoạch (làng Nội), Tổng Lò (Văn Miếu) là những người địa phương cũngtham gia kháng chiến
Khoảng giữa thế kỷ XIX trong vùng có giặc Cờ Đen quân Cờ Đen kéo
về quấy phá tàn sát nhiều làng xã ở Yên Thế Làng Nội cũng bị chúng đánhphá, dân làng chống lại không nổi nhưng cũng hạ được nhiều tên tướng Tàu ởBãi Ngao ngay cạnh đình Dân làng Nội nhiều người bị bắt đi, mất tích…làngxóm tiêu điều xơ xác nhiều năm Ngôi đình không bị tàn phá nhưng đã chứngkiến những sự kiện tàn sát đó trong lịch sử
Đến năm 1945, các cán bộ mặt trận Việt Minh về đình triệu tập cácgiới các ngành ủng hộ phong trào kháng chiến Dưới sự chỉ đạo của đồngchí Hải Oanh, tại Đình Nội có một cuộc họp quan trọng nhằm củng cốphong trào, củng cố các giới Theo đó cùng với Ủy ban giải phóng lâm thời
có Ủy ban Việt Minh do ông Nguyễn Văn Hồ làm chủ nhiệm và có Bí thưcác giới (Thanh niên, Phụ nữ…) hợp thành Các đợt luyện tập quân sựđược tăng cường không chỉ tổ chức cho lực lượng dân quân mà còn tổ chứccho cả các giới trong xã Trong các hoạt động luyện tập, canh gác, tập trậngiả có cả các lão dân quân tham gia Tổ chức trung kiên, thanh niên cứu
Trang 32quốc được mở rộng và thường xuyên được học tập, bồi dưỡng chính trịtheo chương trình của Việt Minh Năm 1947 có quân khu 12 đóng tại đình.Năm 1963 nhân dân ở đây được Đảng, Chính phủ tặng thưởng Huânchương kháng chiến hạng ba.
1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TỒN TẠI CỦA DI TÍCH ĐÌNH NỘI 1.2.1 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của di tích đình Nội
Căn cứ vào dòng niên đại chữ Hán ghi trên câu đầu ở gian giữa tòa Đạiđình của đình Nội: “Tuế thứ Ất Mùi tạo”, tức năm 1775, đời vua Lê HiếnTông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 34 (tức đời Chúa Điện Đô Vương TrịnhCán) Đồng thời, trên các cột của các bộ vì kèo của tòa đại đình có ghi têntuổi của 55 gia đình thuộc các họ: Hoàng, Trần, Phan, La, Nguyễn, Dương,Phạm, Đặng, Thân đã công đức vật liệu để làm đình Đặc biệt, có ghi tên viênquan Thị Nội Giám La Đình Luyện đã cung tiến vật liệu xây dựng đình Bêncạnh đó, căn cứ vào các họa tiết hoa văn gắn trên các bộ vì kiến trúc cho thấychúng mang đặc trưng phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng
Thực tế tại các di tích cho thấy, khi làm xong đình, dân làng khắc bia kỷniệm để ghi chép việc xây đình với mục đích lưu giữ cho muôn đời Song đốivới đình Nội, cộng đồng cư dân khi đó lại không làm thế mà họ căn cứ vàonhững ai đóng góp gì thì cho thợ mộc đục ngay lên gỗ ấy với mục đích để gìngiữ lâu dài Như vậy, đình Nội có một bản lai lịch rõ tới từng chi tiết mà hiếm
có ngôi đình nào có được với tên tuổi của 55 hộ gia đình cung tiến vật liệu vàxây dựng ngôi đình Nội nổi tiếng này [Có thể xem trong phần phụ lục 1 củaluận văn, tr.119]
Theo truyền tích, đình Nội do các hiệp thợ của tỉnh Hà Bắc cũ thi công.Đình được xây dựng ở gò đất cao giữa làng Lý và làng Nội Do đình được dân
ba giáp: Tây, Mỹ, Trong của làng Nội làm nên vì thế mà đình có tên là đình Nội
Trang 33Từ khi xây dựng cho tới nay, đình hầu như không có lần nào chuyển vịtrí mà vẫn ở gò đất cũ Vào khoảng năm 1802, đình Nội được trùng tu nhỏ vàthêm vào đó một số bức chạm gỗ.
Tới đầu thế kỷ XX, khoảng 1904 - 1905, cụ Hoàng Hoa Thám trong thờigian hòa hoãn có qua lại làng Nội chiêu tập nghĩa quân cách mạng bàn bạc với
cụ Đốc Tuận (làng Lý), cụ Chánh Hoạch (làng Nội), cụ Tổng Lò (văn miếu) rồicùng dân tu bổ lại đình và quay lại hướng đình (theo truyền tích) Từ đó đếnnay, đình không theo hướng cũ nữa mà quay về hướng Đông Nam
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, do không được tu bổ nên đìnhsụp đổ nhiều chỗ, phần cuối vồ gẫy sụp, sàn ván bị mất hết, tả hữu vu cũnghầu như không còn, tam quan mất hẳn, các cây cổ thụ quanh đình bị tàn phá.Cảnh quan ban đầu thay đổi hẳn
Tháng 10/1986, được sự đồng ý của UBND xã Việt Lập, qua Ban lãnhđạo Hợp tác xã Việt Lập I, nhân dân làng Nội cùng bà con trong xã quyên góptiền của, mua sắp nguyên vật liệu sửa chữa lại ngôi đình Tổng chi phí tu bổđình 520.620 đồng, trong đó tiền công đức là 2.886 đồng với sự chi phí là364.000 đồng nguyên vật liệu, 217.000 đồng tiền công
Qua đợt tu sửa này, phần hậu cung bị cắt bỏ hẳn, bốn xung quanh đìnhđược xây tường 20 kín đáo Ở gian giữa phía Đông được xây thêm một bứctường để gia cố và ngăn cách phòng làm việc của Ban lãnh đạo Hợp tác xãViệt Lập I Bên trong đình có làm thêm ba gian bếp nhỏ và đào một giếngkhơi Phía Tây còn có một tòa dải vũ ba gian và sau đó là công trình phụ.Trải qua 212 năm, ngôi đình thời Lê với nhiều họa tiết hoa văn có giá trịđiêu khắc nghệ thuật vẫn còn cơ bản Song do quá trình lịch sử thăng trầmnên vẻ đẹp ban đầu của di tích không còn như cũ Cảnh quan đổi khác, đồ thờmất mát, di chuyển
Trang 34Nhưng tuy vậy, đỡnh Nội vẫn giữ nguyờn được giỏ trị cơ bản ban đầucủa nú, đú là sự tồn tại của cỏc mảng hoa văn được chạm khắc trờn cỏc bộphận kiến trỳc Những mảng chạm là điều đỏng quý nhất của ngụi đỡnh này.
1.2.2 Lai lịch vị thần được thờ trong đỡnh Nội
Theo bản dịch thần phả của đình Nội hiện đang đợc lu giữ tại BQL DT &
DT Bắc Giang cho biết những thông tin về hai vị thành hoàng Cao Sơn và QuýMinh đợc phụng thờ tại đình Nội nh sau:
Khi xưa ở Ái Chõu (Thanh Húa ngày nay), cú một gia đỡnh cú hai ụng
bà rất hiền lành Nhưng vỡ nỗi phiền muộn ngoài 30 tuổi chưa cú con Vỡ thếhai vợ chồng bảo nhau đi khắp đền nọ miếu kia để cỳng bỏi Đi đến đõu họcũng làm việc cú ớch và giỳp đỡ những người nghốo
Một hụm đến chõn nỳi Súc Sơn (Vĩnh Phỳc) họ dừng chõn vào một ngụichựa để khấn: Họ xin bỏi vị thành hoàng thiờn ban phỳc cho cú một người connối dừi tụng đường Sau đú bà cú thai và sau 9 thỏng 10 ngày bà đẻ được 2người con trai đặt tờn là Cao Sơn và Quý Minh Hai người con trai khụi ngụtuấn tỳ thụng minh học giỏi, văn vừ song toàn
Thời đó, vua Hùng Duệ Vơng hạ chiếu lệnh cho các châu, huyện, đạo đểtuyển chọn những ngời có tài năng đức độ ra làm quan lãnh binh đánh dẹpgiặc ngoại xâm Hai ông thấy vậy bèn cùng xin về triều ứng tuyển Vua thấyhai ông có tài văn võ hơn ngời, liền tuyển và lệnh cho hai ông giữ chức chỉhuy sứ Tuy đợc đội ơn vua, nhng hai ông không quên cha mẹ - việc tang giathờ cúng đều rất chu đáo tâm thành
Lại nói: Vua Hùng sinh đợc 4 ngời con (hai trai hai gái) Nhng sau đó haingời con trai đều mất Còn hai ngời con gái, vua đã gả, một cho ông Chử Đồng
Tử, một ngời gả cho vị tớng Sơn Thánh họ Nguyễn, tên Tùng và truyền ngôi cho.Cùng khi đó ở đất Ai Lao lại có ngời họ Thục, tên Phán, vốn là dòng dõinhà Hùng, sau khi phân nhánh đợc sang trị vì đất này và đổi họ Nghe tin vuaHùng Duệ Vơng truyền ngôi cho con rể Thục Phán sinh lòng ghen tức, bèn
đem quân sang xâm lợc
Trang 35Vua Duệ Vơng lấy làm lo lắng, liền cho mời Sơn Thánh vào, Cao Sơn Quý Minh đến lĩnh mệnh và phong cho làm tả hữu tớng quân, cho tiên phonglên đờng dẹp giặc Thục ở miền Đông Bắc Hai ông Cao Sơn và Quý Minhvâng mệnh lên đờng, trống dong cờ mở rợp trời Khi tới miền Đông Bắc, lộBắc Giang thì trời đã sẩm tối, nên hai ông đã đóng quân tại đó Thấy vùng đấtnày có nhiều lợi thế cho việc quân cơ, hai ông truyền lệnh cho quân dân thiếtlập luỹ đồn để đánh giặc Một hôm đang ngủ trong bản doanh, hai ông đềumộng thấy có thần dân ở trang khu tới xin trợ giúp cho các ngài Sáng ra hai
-ông làm lễ bái yết và cho khao thởng quân sỹ Dân thôn thấy vậy nô nức hởngứng giúp đỡ Cao Sơn và Quý Minh nói với phụ lão trang khu rằng: Ta vângmệnh thiên tử giúp nớc an dân, đem quân tới đây lập đồn luỹ bố phòng đánhgiặc, lại đợc nhân dân giúp đỡ, thổ thần phù trợ, vậy ta cho vàng bạc để nhândân trang khu lập miếu từ thờ phụng mãi mãi về sau
Quả vậy, sau đó hai ông đã dẹp tan giặc Thục, thiên hạ từ đó đợc thanhbình, quốc gia vô sự Sơn thánh dâng biểu tâu vua rằng: Nay Thục đã bìnhxong, vua cho mời hai danh tớng Cao Sơn và Quý Minh và các tớng sỹ khác
về triều để mở yến tiệc khao thởng, phong tặng những ngời có công lao to lớn.Hai ông tuân lệnh, hồi triều và cũng tâu với vua rằng: Chúng tôi vâng mệnh bệhạ cầm quân lên miền Đông Bắc - đạo Bắc Giang trấn giữ đồn luỹ để dẹp giặc,
đợc thần phù trợ và nhân dân trong vùng hởng ứng, nên đã giành đợc thắng lợitrở về, nay xin báo đáp Vua nghe xong bèn cho y chuẩn Hai ông bái tạ rồi trở
về nơi đóng quân lập đồn luỹ khi trớc
Tới đây, hai ông đợc các cụ và thôn trang đến chúc mừng, các bô lão tâurằng: Từ khi hai ông đóng quân ở đây, dân thôn đợc yên nghiệp làm ăn, ngàymột thịnh vợng, anh khang Nhân dân xin trên mảnh đất này - trớc làm nơi đồntrú, sau làm đền từ thờ cúng tởng nhớ Hai ông ng thuận và bảo với các cụ trongthôn rằng: Dân trang khu có lòng trọng ta để truyền tới muôn đời, nhng khi xâylập miếu từ thờ phụng thì hãy cho linh thần sở tại phối hởng Hai ông ban chodân trang khu vàng, bạc để về sau mở rộng đền từ, ao ruộng giúp cho việc thờcúng Cùng lúc đó có hai đám mây vàng phóng xuống chỗ hai ông, thế rồi hai
ông đã hoá Dân trang khu làm đơn tâu trình lên vua Triều đình liền lệnh chodân trang khu làm lễ tế cúng hai ông Đồng thời phong cho các vị là:
- Phong cho đức Cao Sơn là: Thông minh đại vơng, tặng phong tế thế hộquốc an dân phù vận dơng vũ đức thánh bảo cảnh hiện hữu tôn thần, nguyên tặnghiệu linh đôn tĩnh hùng lợc trác vỹ dực bảo trung hng Thợng đẳng thần
Trang 36- Phong cho đức Quý Minh là: Hiển ứng đại vơng, tặng phong phu ký uydũng, hộ quốc an dân hiến chiêu cảm trật u, tôn thần, tặng thanh lãng cao diện
địch, trấn tĩnh dực bảo trung hng Thợng đẳng thần Chuẩn cho dân trang vùng
Đông Bắc phụng thờ các ngài mãi mãi về sau
Từ đó về sau đều rất linh ứng, cho nên đợc nhiều đời vua phong tặng sắc,dân địa phơng làm lễ thờ cúng và mở hội rớc vào những dịp ngày sinh, ngàyhoá của các ngài
Đối với làng Nội và làng Lý thuộc tổng Mục Sơn xa là vùng đất mà CaoSơn và Quý Minh trong lúc hành quân qua đã dừng chân nghỉ lại Vì thế khihai ông thắng trận trở về và nhất là lúc mất, để tởng nhớ đến công lao của các
ông đối với nớc với địa phơng nên ngời dân đã lập ngôi miếu làm nơi thờ tự vàxin các triều đại phong kiến gia ban sắc phong để rớc về phụng thờ tại địa ph-
ơng
Chương 2 GIÁ TRỊ VĂN HểA VẬT THỂ ĐèNH NỘI
2.1 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC, NGHỆ THUẬT ĐèNH NỘI
2.1.1 Khụng gian cảnh quan
Trước hết, ước vọng của người Việt trụng chờ ở cỏc di tớch là
sự linh thiờng Người dõn thường tin rằng, ở những nơi đú conngười cú thể cầu viện được những “sinh lực của vũ trụ” cho mọimặt của cuộc đời Và, đó tồn tại nhiều lời đồn đại về một di tớchnào đú khi kẻ hành hương vào lễ là cảm thấy khỏe khoắn sảngkhoỏi… [20, tr.161]
Cú thể núi, cốt lừi của tụn giỏo, tớn ngưỡng là niềm tin của con ngườivào một lực lượng siờu nhiờn nào đú đó bảo trợ cho cuộc sống của họ, đú làniềm tin thể hiện sự ngưỡng vọng vào một thế giới linh thiờng thần bớ so vớithế giới trần tục Việc xõy dựng cỏc cụng trỡnh kiến trỳc tụn giỏo, tớn ngưỡngcũng bị chi phối bởi niềm tin thiờng liờng ấy
Trang 37Trên thực tế, các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng được coi lànơi bảo tồn giá trị văn hoá ở mỗi làng xã Đình làng là một loại kiến trúc tínngưỡng, nằm trong loại hình di tích lịch sử văn hóa, đó là nơi gửi gắm niềmtin, niềm tự hào của cả cộng đồng làng xã Vì vậy, trước khi xây dựng côngtrình, cộng đồng rất quan tâm và tuân thủ triệt để theo thuật phong thủy, do đócác bậc tiền nhân rất coi trọng việc chọn lựa thế đất và cảnh quan để xây cấtcông trình: Với thế đất phải là nơi cao ráo, sáng sủa, phía trước rộng rãi,thoáng đãng, xa xa có núi làm tiền án, phía sau phải có thế tựa, hai bên tả hữu
có tay ngai, phía trước cửa đình thường có hồ nước rộng - đó là yếu tố tụ thuỷ
tụ phúc và đem lại may mắn cho cả cộng đồng và cho từng thành viên trong
cộng đồng Đặc biệt là yếu tố Thiêng, đó là điểm hội tụ sinh khí của bốn
phương tám hướng trong trời đất Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự hưngthịnh, phát đạt hay nghèo khó của cộng đồng làng xã nơi di tích tồn tại
Đình làng không chỉ là một công trình kiến trúc công cộng có quy
mô to lớn nhất của làng, mà dần dần nó còn là một công trình kiến trúcmang trong mình các chức năng như: hành chính, tôn giáo và văn hóa.Những chức năng này trải qua các thời kỳ lịch sử đã có biến đổi rõ rệt vàhiện nay đình làng không còn mang trong mình chức năng là trụ sở củahành chính làng xã như xưa
Về vị trí của đình Nội, đây là công trình kiến trúc được làm rất lớn,
cụ thể: ngôi đình nằm ở giữa hai thôn Nội Hạc và thôn Lý thuộc xã ViệtLập, ngôi đình tọa lạc trên một gò đất cao, rộng và bằng phẳng, không gianthoáng đãng Quan niệm dân gian cho rằng, ngôi đình nằm trên lưng conrùa mà đầu rùa hướng về phía cửa đình Đồng thời, ngôi đình đạt được thế
đất “Tiền án - hậu chẩm, tả Thanh Long - hữu Bạch Hổ”, nghĩa là: trước
mặt là cánh đồng rộng được bao bọc bởi dãy núi thấp án ngữ; phía sau códòng kênh nhỏ uốn khúc chảy qua, phía đằng xa có núi sót (thuộc xã Cao
Trang 38Thượng) như thể tạo ra thế tựa lưng cho ngôi đình; phía bên phải của ngôiđình có đầm nước lớn uốn quanh tựa như rồng cuốn thủy và thông dòngnước với con kênh nhỏ; phía bên trái có quả đồi nơi có ngôi chùa hai giáptọa lạc tựa như hổ phục Trước cửa đình có hồ nước nhỏ (theo quan niệmxưa, bất cứ di tích nào cũng cần phải có yếu tố nước và phải ở phía trướccác công trình tôn giáo tín ngưỡng thâm nghiêm và hồ nước được coi làyếu tố vô cùng quan trọng, là một bộ phận cấu thành không thể thiếu đượccủa các di tích, tùy theo từng loại hình di tích mà hồ nước là hình tròn, hình
tự nhiên hoặc hình bán nguyệt ) Cách ngôi đình khoảng 500m là conkênh nhỏ nối với sông Thương dẫn nước vào đồng, kênh này lưu thông vớicác hồ nước quanh ngôi đình, tạo ra sự đối lưu về dòng chảy Theo quanniệm phong thuỷ, nó được xem như là dòng chu chuyển hai yếu tố âm -dương giao hòa, tạo ra ân đức cho dân làng, như quan niệm của người xưa
có âm, có dương thì mới lưỡng toàn, lưỡng hợp
Ngày nay, do quá trình nông thôn đổi mới, cho nên không gian cảnhquan của di tích cũng có ít nhiều đổi thay Để tiện cho việc đi lại của các khudân cư, dân hai làng đã làm một con đường đất mới chạy ngang qua cửa đình.Con đường này hợp với đường bê tông của hai làng tạo thành một hệ thốngđường khép kín giữa hai làng Hai bên vệ đường trước cửa đình có trồng cáccây xanh lâu niên để tạo ra không gian và bóng mát cho di tích Phía trướccửa đình có xây các bậc gạch đi xuống đường liên thôn Con kênh nhỏ dẫnnước trước đây giờ chỉ còn là một hào nước với chức năng tiêu thoát nướccho làng (sở dĩ nó có diện mạo như ngày hôm nay là vì sự biến đổi của thờigian, sự biến động của xã hội, khí hậu… đã làm cho nó bị thu hẹp về chiềurộng cũng như độ sâu) Với sự biến đổi trên, phần nào đã làm ảnh hưởng đếnkhông gian cảnh quan xưa của di tích đình Nội Song, nhìn vào mặt bằng tổngthể đình Nội hiện nay thì các yếu tố về địa thế, không gian và cảnh quan của
di tích vẫn phần nào được đảm bảo
Trang 39Về hướng của di tích, trước đây đình Nội được làm theo hướng TâyNam, nhìn thẳng vào xóm Nội, song dân làng ở đây thấy nội bộ lục đụcđánh giết lẫn nhau nên cụ Hoàng Hoa Thám cùng nhân dân đã tiến hànhxoay lại đình theo hướng Đông Nam Theo quan điểm của nhà nghiên cứuvăn hóa Trần Lâm Biền thì: hướng Đông là nơi của các thần, nhất là vớicác di tích khá cổ khoảng từ thế kỷ XVII trở về trước Hướng này đượcnghĩ là phù hợp với quy luật đối đãi của âm dương (đối đãi khác nhaunhưng phải lệ thuộc vào nhau để tồn tại và phát sinh, phát triển) Quy luậtnày khiến thần ngồi đó được yên ổn, gần dân và ban phúc cho dân không
bỏ dân mà phiêu diêu về miền khác
Như vậy, nó thích hợp với thế của vị thần và thiên nhiên vũ trụ trong tưduy của người dân nông nghiệp cổ truyền Thần đã được đồng nhất với vũ trụ
và thiên nhiên, đó là tư tưởng hoà nhập vào thế giới thần linh của người Việtđược thể rất rõ rệt, bởi có như vậy thì thần mới yên vị và mới đem lại sinh lực
vô biên của tầng trên với thế gian, tạo cho muôn loài sinh sôi Đối với nhậnthức thường nhật thì sự yên vị của thần đã đảm bảo cho vị thần luôn luôn cómặt ở đình để bảo vệ cho dân làng Còn hướng Nam là hướng của trí tuệ (theoPhật giáo đó là hướng của Bát Nhã) nhờ có trí tuệ mới diệt được vô minh tức,ngu rốt và u tối, mà ngu tối là mầm mống của tội ác Do đó, với hướng chếchNam thì người xưa mong muốn rằng, tuy làng được lập bởi những người dânnghèo nhưng phải lấy thiện tâm trên nền tảng trí tuệ làm trọng để xây dựnglàng xã Đồng thời, hướng Nam là hướng của màu đỏ, hướng của nguồn sinhlực vô biên Cho nên, điều đó cũng phản ánh ước vọng của người xưa là cầumong cho sự sinh sôi, phát triển Vì thế trong tín ngưỡng cổ của người Việt cókhá nhiều các công trình kiến trúc được xây dựng theo hướng Nam Do vậy,hướng và kết cấu của đình Nội đã như chứa một ý nghĩa sâu xa về tâm linh
Trang 40gắn với bản sắc dân tộc của cư dân xứ Kinh Bắc xưa - nơi ẩn chứa kho tàng disản văn hóa của người Việt cổ.
Ngoài việc quan tâm đến thế đất và hướng, người xưa còn rất cẩntrọng trong việc bài trí và sắp đặt thiên nhiên cây cỏ với ý nghĩa thanh bình,thanh tịnh làm đẹp cho di tích và cũng tạo ra sự gắn bó hòa quyện khó có thểtách rời với thiên nhiên cây cỏ Hơn thế nữa, cây cối còn là nơi trú ngụ củacác thần linh, nơi neo đậu của những linh hồn tìm đến sự chở che của các vị
thần, nói như nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền thì “Những cây thiêng, cây thế… với vẻ nguyên khai trên con đường mòn tâm tưởng đã như dẫn hồn ai về miền thượng trụ” [18, tr.53] Phía trước đình Nội có cây Xà cừ
cổ thụ hàng trăm năm tuổi tượng trưng cho sự trường tồn của di tích và làmtăng thêm vẻ tôn nghiêm, thiêng liêng của chốn cửa đình Cây cổ thụ nàyđược ví như là nơi để linh hồn của thần về trú ngụ, nó được coi như trụ vũtrụ nối trời và đất lại với nhau Cành của nó như những cánh tay thiên mệnhchứa sinh lực của bầu trời truyền xuống đất mẹ Ngoài ra trong khu di tíchcòn có một số các cây khác như mới được trồng lại trong những năm gầnđây… lại càng làm tăng thêm vẻ đẹp cho không gian của di tích
Như vậy, cộng đồng cư dân xưa kia đã lựa chọn được thế đất đẹp chongôi đình Nội, ở đây hội tụ được các yếu tố vừa hợp địa thế phong thuỷ, vừahợp với quy luật âm dương đối đãi của trục không gian cũng như thời gian Vớithế đất này, ngôi đình - trung tâm văn hóa của cộng đồng hai xóm thuộc xãViệt Lập đã được các thế hệ con cháu nối tiếp nhau chu chỉnh, hoàn thiện dần
và tạo nên một không gian văn hoá đặc sắc vừa mang tính truyền thống lại vừamang tính chất hiện đại ở một miền quê bán sơn địa của xứ Kinh Bắc xưa
2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể
Đối với vùng Bắc Bộ nói chung những ngôi đình sớm nhất hiện cònthường tập trung ở Hà Nội (có Hà Tây cũ), Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ và