1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở tỉnh phú thọ

120 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học của luận văn Được thể hiện qua các nội dung của luận văn là sự cố gắng đóng góp của tác giả về những luận chứng đối với tính tất yếu khách quan của chủ trương cổ phần ho

Trang 1

ĐỖ QUỐC HOÀN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ

Ở TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

THÁI NGUYÊN – 2013

Trang 2

ĐỖ QUỐC HOÀN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ

Ở TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Ngưới hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Vũ Huy Từ

THÁI NGUYÊN – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân tôi với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn khoa học

Những thông tin, số liệu, dữ liệu đưa ra trong luận văn được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ về nguồn gốc Những số liệu thu thập và tổng hợp của cá nhân đảm bảo tính khách quan và trung thực

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Tác giả luận văn

Đỗ Quốc Hoàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp, tôi luôn nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến nhiệt tình của Quý thầy cô trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái nguyên và của các cơ quan, ban ngành có liên quan

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến GS.TSKH Vũ Huy Từ người đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái nguyên, Ban Chủ nhiệm Viện Sau đại học và quý thầy cô đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời càm ơn chân thành đến Ban Đổi mới, phát triển doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ, UBND thành phố Việt Trì, Cục Thuế tỉnh Phú Thọ, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ và các doanh nghiệp, công ty cổ phần trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình phỏng vấn, điều tra và thu thập tài liệu, số liệu cần thiết để phục vụ cho nghiên cứu và viết luận văn của mình

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Cao đẳng kinh tế - Kỹ thuật Phú Thọ, cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện về thời gian, động viên về mặt tinh thần và chia sẻ kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế này

Xin trân trong cảm ơn !

Thái nguyên, ngày tháng năm 2013

Tác giả luận văn

Đỗ Quốc Hoàn

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục các bảng viii

Danh mục các biểu đồ ix

MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3

1.5 Bố cục của luận văn 3

Chương 1: DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ 4

1.1 Doanh nghiệp, quá trình phát triển và đổi mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước, thành tựu và hạn chế của hệ thống này 4

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước và hệ thống DNNN 4

1.1.2 Quá trình phát triển, đổi mới, cơ cấu lại hệ thống DNNN 5

1.1.3 Vai trò lịch sử to lớn của hệ thống DNNN trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước 7

1.1.4 Những hạn chế, nhược điểm của DNNN và nguyên nhân 8

1.2 CHP DNNN là cơ sở xuất hiện loại hình doanh nghiệp mới – CTCP 14

1.2.1 Khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 14

1.2.2 So sánh các đặc trưng công ty cổ phần và doanh nghiệp nhà nước theo mô hình trước cổ phần hoá 17

1.2.3 Các mặt lợi thế của CTCP sau CPH có thể tận dụng để nâng cao hiệu quả kinh tế, SXKD của công ty 18

Trang 6

1.2.4 Một số vấn đề đặt ra sau CPH các DNNN 20

1.2.5 Giải pháp phát triển DNNN sau CPH 24

1.3 Kinh nghiệm cổ phần hoá của các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra ở Việt nam 26

1.3.1 Cổ phần hóa DNNN ở Trung Quốc 26

1.3.2 Cổ phần hoá ở Malayxia 29

1.3.3 Cổ phần hoá ở Italia 30

1.3.4 Bài học kinh nghiệm về giải pháp phát triển DNNN sau CPH ở Việt nam 31

1.4 Chủ trương của đảng và Nhà nước về xúc tiến cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hiện nay và vận dụng chủ trương đó ở tỉnh Phú thọ 32

1.4.1 Chủ chương của Đảng và Nhà nước 32

1.4.2 Vận dụng chủ trương của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá DNNN ở tỉnh Phú thọ 32

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu 35

2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 35

2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 35

2.2.3 Phương pháp tổng hợp số liệu 36

2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 37

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38

2.3.1 Nhóm chỉ tiêu nghiên cứu mặt lượng 38

2.3.2 Nhóm chỉ tiêu nghiên cứu mặt chất 38

2.3.3 Nhóm chỉ tiêu phân tích về các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả CPH DNNN 38 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ Ở TỈNH PHÚ THỌ 39

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 39

3.1.1 Vị trí địa lý 39

3.1.2 Khí hậu 39

Trang 7

3.1.3 Dân số và lao động 40 3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 40 3.1.5 Cơ sở hạ tầng 41 3.2 Kết quả thực hiện cổ phần hoá DNNN ở tỉnh Phú thọ, nguyên nhân và tồn tại 43 3.2.1 Kết quả thực hiện CPH DNNN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

3.2.2 Những ưu điểm, tồn tại 45 3.3 Thực trạng về tình hình phát triển của các DNNN sau CPH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 50 3.3.1 Những chuyển động tích cực trong quá trình SXKD của DNNN sau CPH 50 3.3.2 Về hoạt động của bộ máy quản lý của các DNNN đã CPH ở tỉnh Phú Thọ 53 3.3.3 Tình hình về phát triển nguồn nhân lực của các DNNN đã CPH ở tỉnh Phú Thọ 56 3.3.4 Tình hình về huy động, phát triển và sử dụng các loại vốn của các DNNN đã CPH ở tỉnh Phú Thọ 57 3.3.5 Tình hình sản xuất kinh doanh của các DNNN sau CPH 60 3.3.6 Tình hình về phân phối lợi nhuận 63 3.4 Những giải pháp cơ bản mà các DNNN sau cổ phần hoá trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp mình 65 3.4.1 Những giải pháp cơ bản 65 3.4.2 Một số nhận xét về các giải pháp mà các DNNN đã cổ phần hoá ở tỉnh Phú Thọ thực hiện 67

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ Ở TỈNH PHÚ THỌ 70

4.1 Những quan điểm định hướng 70 4.2 Một số giải pháp nhằm phát triển DNNN sau CPH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 76 4.2.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến chủ trương đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả SXKD của các DNNN, tiếp tục phát triển đa dạng hoá các hình thức sở hữu của các DNNN sau CPH 76

Trang 8

4.2.2 Giải quyết tồn tại, tháo gỡ các vướng mắc sau chuyển đổi, đổi mới công tác quản trị điều hành DN, nâng cao hiệu quả tổ chức bộ máy quản lý của các DNNN

sau CPH 78

4.2.3 Đầu tư chiều sâu đổi mới thiết bị nâng cao năng lực, vận dụng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến vận dụng vào SXKD 79

4.2.4 Huy động vốn đầu tư SXKD, phát triển các nguồn vốn, nâng cao hiệu quả trong việc huy động và sử dụng vốn của các DNNN sau CPH 81

4.2.5 Xây dựng và rà soát, xây dựng tốt các chiến lược KD của các DNNN sau CPH, thực thi các giải pháp về thị trường, nâng cao sự khác biệt trong sản phẩm, khả năng cạnh tranh trong DN 83

4.2.6 Hỗ trợ đào tạo nguồn lực, xây dựng và phát triển đội ngũ lao động của các DNNN sau CPH 86

4.2.7 Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát của Nhà nước 88

4.2.8 Giải quyết tốt về phân phối lợi nhuận của các DNNN sau CPH 89

4.3 Kiến nghị 90

4.3.1 Đối với Nhà nước 91

4.3.2 Đối với Tỉnh và các cấp, các ngành của Tỉnh 93

4.3.3.Đối với Ban đổi mới, phát triển DN tỉnh 93

4.3.4 Đối với DNNN sau CPH chuyển thành CTCP 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 100

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Biến động sở hữu vốn của các DNNN sau CPH 43

Bảng 3.2 Cơ cấu DNNN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 45

Bảng 3.3 Tình hình lao động của DNNN sau CPH trên địa bàntỉnh Phú Thọ 47

Bảng 3.4 Hiệu quả SXKD của một số DNNN sau cổ phần hóa 52

Bảng 3.5 Đặc điểm về lao động của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá được điều tra 56

Bảng 3.6 Mức độ huy động vốn của các DNNN sau CPH 58

Bảng 3.7 Kết quả SXKD của các DNNN sau CPH 62

Bảng 3.8 So sánh tỷ suất lợi nhuận của một số DNNN sau CPH 64

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tình hình phát triển của DNNN sau CPH 51 Biểu đồ 3.2 Biến động cán bộ quản lý các DNNN sau CPH 55 Biểu đồ 3.3 Tình hình tiếp cận nguồn vốn của các DNNN sau CPH 60

Trang 12

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế nước ta đã và đang từng bước vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật Mặc dù cơ chế quản lý kinh tế đã có sự thay đổi căn bản, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan lieu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước hơn 20 năm nay nhưng tình trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa được cải thiện căn bản, nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn lâm vào tình trạng làm ăn thua lỗ Trước tình hình đó, nhu cầu tái cơ cấu sắp xếp lại kinh tế nhà nước và hệ thống doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế trở thành hết sức cấp bách Một trong những giải pháp chiến lược để giải quyết vấn đề này là tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Chủ trương cổ phần hoá đã được đề ra từ khá lâu với mục tiêu huy động vốn toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh thay đổi cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Sau cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn cả nước cũng như tỉnh Phú Thọ đã gặp phải không ít khó khăn, không phải doanh nghiệp nhà nước nào khi

đã cổ phần hoá thì hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả cao cả về kinh

tế lẫn về xã hội Có những doanh nghiệp gặp vấn đề về công nghệ, về vốn, có những doanh nghiệp gặp vấn đề về lao động, cũng có những doanh nghiệp gặp vấn

đề trong sản xuất hay chiếm lĩnh thị trường Đặc biệt là các doanh nghiệp ở các địa phương có vị trí không thuận lợi về địa lý, thông tin thị trường và các nguồn lực khác Những vấn đề tuy mới phát sinh nhưng nếu không giải quyết sẽ ảnh hưởng không chỉ đến việc phát huy tính ưu việt của chính sách cổ phần hoá, hạn chế vai trò tác dụng của các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá mà còn ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước còn đang tiếp diễn

Để có thể thúc đẩy mạnh mẽ cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước làm cho các doanh nghiệp này thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình thực sự

có hiệu quả, góp phần phát huy tính ưu việt của chính sách cổ phần hoá tôi đã lựa

Trang 13

chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà

nước sau cổ phần hoá ở tỉnh Phú Thọ”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước sau

cổ phẩn hoá ở tỉnh Phú thọ Từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản

xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở tỉnh Phú

thọ trong giai đoạn hiện nay

- Đề suất các giải pháp phát nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các

doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở tỉnh Phú thọ

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề kinh tế, tổ chức của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, nhằm từ đó đưa ra các giải pháp phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của hệ thống doanh nghiệp này

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Trên cơ sở phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, các mối quan

hệ tác động đến quá trình phát triển của các DNNN sau CPH và đề xuất các giải pháp dựa trên một số quan điểm mang tính chất định hướng phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Về không gian: Đề tài đi sâu nghiên cứu phân tích, đánh giá tình hình phát triển của hệ thống doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Về thời gian: Thời gian thu thập số liệu nghiên cứu, đánh giá tình hình hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở các năm trước và sau cổ phần hoá, khảo sát thực tế năm 2012 và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống doanh nghiệp này trong các năm tiếp theo

Trang 14

1.4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Được thể hiện qua các nội dung của luận văn là sự cố gắng đóng góp của tác giả về những luận chứng đối với tính tất yếu khách quan của chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và những đề xuất về hệ thống quan điểm và giải pháp

có thể đóng góp một phần nhất định cho việc thiết kế và thực thi cơ chế chính sách hướng vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở tỉnh Phú Thọ

1.5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương

Chương 1: Doanh nghiệp nhà nước và hiệu quả sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở tỉnh Phú Thọ

Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở tỉnh Phú Thọ

Trang 15

Chương 1 DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤN KINH DOANH

CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ

1.1 Doanh nghiệp, quá trình phát triển và đổi mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước, thành tựu và hạn chế của hệ thống này

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước và hệ thống DNNN

Có nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở các nước khác nhau trên thế giới Đó là do cách tiếp cận khác nhau về khoa học hoặc để

thực hiện các số liệu thống kê với mục đích khác nhau

Từ năm 1995, Nhà nước ta đã ban hành luật doanh nghiệp nhà nước với nhiều quan điểm mới về loại hình DNNN Luật DNNN năm 1995 định nghĩa DNNN như sau: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao DNNN có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm

vi số vốn do doanh nghiệp quản lý DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam”

Khái niệm DNNN theo luật DNNN năm 1995 và các văn bản hướng dẫn có một số điểm mới phản ánh những thay đổi trong chính sách và cơ cấu kinh tế ở nước ta

DNNN do Nhà nước đầu tư, thành lập và quản lý Nhà nước sở hữu 100% doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp chỉ là người đại diện cho DNNN, do chủ

sở hữu là Nhà nước cử ra chứ không phải là chủ sở hữu DNNN

DNNN được phân thành DNNN hoạt động kinh doanh và DNNN hoạt động công ích DNNN có tư cách pháp nhân

Đây là khía cạnh pháp lý quan trọng thể hiện tư cách chủ thể của DNNN trong tất cả các quan hệ pháp lý

Theo quy định của luật DNNN năm 2003 thì khái niệm về DNNN được phát triển tương đối sâu trong định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở

Trang 16

hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, CTCP, công ty trách nhiệm hữu hạn”

Định nghĩa trên đã thể hiện những quan điểm mới, những thay đổi cơ bản trong chính sách của Nhà nước ta với thành phần kinh tế Nhà nước và với các thành phần kinh tế khác

Luật DNNN năm 2003 đã đa dạng hoá các DNNN trên tiêu chí quyền chi phối Chính sự đa dạng về hình thức tồn tại của DNNN sẽ làm sinh động thành phần kinh tế công, làm cho nó thích ứng hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Quá trình phát triển, đổi mới, cơ cấu lại hệ thống DNNN

Ở nước ta, quá trình đổi mới DNNN gắn liền với đổi mới kinh tế nói chung và đổi mới doanh nghiệp nhà nước luôn là khâu trung tâm của đổi mới kinh tế Đổi mới DNNN bao gồm hai mặt: mặt thứ nhất gồm đổi mới cơ chế quản lý đối với DNNN (quan hệ quản lý nhà nước – DN, mức độ, hình thức phân quyền, giao quyền tự chủ cho DN trên các mặt như kế hoạch, tài chính, thị trường, đầu tư sử dụng lao động…) Mặt thứ hai liên quan đến sắp xếp tổ chức lại các DNNN (sáp nhập, chia, tách, CPH, đa dạng hoá sở hữu, thành lập tổng công ty….) Trong các đợt, giai đoạn, thời kỳ khác nhau của quá trình đổi mới, do các yếu tố khách quan và chủ quan quy định, việc đổi mới DNNN được tiến hành đồng thời kết hợp hai mặt nêu trên hoặc chỉ thiên về mặt nào đó

Từ năm 1986, DNNN ở Việt Nam mới thực sự được coi như một đối tượng đổi mới Những bước tổ chức sắp xếp, phát triển DNNN trước năm 1986 về cơ bản chỉ là biện pháp có tính chất hành chính tiến hành từ bên ngoài DN trong việc bố trí, sắp xếp, phân bổ, phân cấp quản lý DNNN giữa các bộ, các địa phương và các liên hiệp xí nghiệp Do đó chúng chỉ được coi là những biện pháp cải tiến quản lý trong khuôn khổ mô hình kinh tế cũ Đó là mô hình kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, thu

đủ, chi đủ, không phân biệt “ Nhà nước” và DNNN Giai đoạn đổi mới bắt đầu từ năm 1986 gắn liền với đổi mới quan điểm về quản lý nền kinh tế

Các biện pháp đổi mới giai đoạn này chủ yếu tập trung vào tháo gỡ những vướng mắc, rào cản vô lý của cơ chế cũ, do đó có tác động như cởi trói, giải phóng

Trang 17

năng lực sản xuất của các DNNN và cùng với các biện pháp khoán trong nông nghiệp, cải cách phân phối lưu thông đã có tác dụng thúc đẩy sản xuất nói chung nhằm vào mục tiêu đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, tụt dốc Đối với các DNNN, việc cho phép các đơn vị tự bố trí các nguồn lực sản xuất theo kế hoạch ba phần đã có ý nghĩa rất quan trọng trong pháp huy sang tạo của cơ sở, đã từng bước đưa một số yếu tố thị trường vào cơ chế quản lý doanh nghiệp Tuy nhiên, các biện pháp giai đoạn này vẫn còn mang nặng dấu ấn cơ chế cũ, nửa vời, chắp vá

Đại hội VI của Đảng năm 1986 đánh dấu bước ngoặc cơ bản trong định hướng mở ra một giai đoạn mới trong quá trình đổi mới, quản lý nền kinh tế và DNNN Đại hội chỉ rõ: “ phải đổi mới cơ chế quản lý, bảo đảm cho các đơn vị kinh

tế quốc doanh có quyền tự chủ, thực sự chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, lập lại trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế Sắp xếp lại sản xuất, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả Trên cơ sở đó, ổn định và từng bước nâng cao tiền lương thực tế của công nhân, viên chức, tăng tích luỹ cho xí nghiệp và nhà nước” Đổi mới DNNN trong giai đoạn này tiến hành trong bối cảnh đổi mới toàn diện cơ chế kinh tế và nền kinh tế được tái cơ cấu theo mô hình đa sở hữu, nhiều thành phần kinh tế Điều này tạo ra động lực to lớn cho sự đổi mới cũng như sự phát triển nền kinh tế nước ta

Trong giai đoạn này các DNNN chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh bắt đầu áp dụng dần dần nguyên tắc thị trường, chuyển từ kế hoạch hoá trực tiếp sang

kế hoạch hoá gián tiếp, từ chỗ DNNN được giao 9 chỉ tiêu pháp lệnh dần dần chỉ còn giao 1 chỉ tiêu nộp NSNN, xoá bỏ bao cấp từ ngân sách nhà nước, bãi bỏ chế độ

2 giá, hạch toán kinh doanh theo giá thị trường

Nhìn chung, các DNNN giai đoạn này đã từng bước đổi mới Một bộ phận doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, ngược lại một bộ phận khác không thích nghi được với thị trường, thua lỗ triền miên, trở thành gáng nặng cho ngân sách nhà nước Về tổng thể khu vực DNNN vẫn giữ vai trò nòng cốt kinh tế của mình, chiếm trên dưới 35% GDP và 60% tổng số nộp ngân sách nhà nước của các DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Trang 18

Từ năm 1991 sau Đại hội VII của đảng đã chủ trương tập trung lực lượng củng cố và pháp triển cơ sở kinh tế quốc doanh trọng điểm, những cơ sở làm ăn có hiệu quả và có ý nghĩa đối với nền kinh tế, cho thuê, chuyển hình thức sở hữu hoặc giải thể các cơ sở thua lỗ kéo dài và không có khả năng vươn lên Sắp xếp lại liên hiệp xí nghiệp, tổng công ty nhà nước phù hợp với yêu cầu SXKD trong cơ chế thị trường Sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức quản lý, kinh doanh có hiệu quả, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai trò nòng cốt và chức năng của một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước

Quán triệt Nghị quyết Đại hội VIII (1996) Nhà nước đã ban hành hàng loạt chính sách nhằm tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường và sắp xếp DNNN theo hướng đó Trong giai đoạn này một loạt chủ trương đổi mới DNNN ban hành trong giai đoạn này, đáng lưu ý là: Quyết định 315/HĐBT (1990), Nghị định 388/HĐBT (1991)…

Từ năm sau năm 2000 đến nay (2012) chủ trương cổ phần hoá DNNN đã được triển khai mạnh mẽ hơn, thu được những kết quả đáng khích lệ Do kết quả sắp xếp, đổi mới tổng số DNNN 100% vốn nhà nước giảm đáng kể từ hơn 12000

Lực lượng DNNN hàng năm đóng góp khoảng 40% trong cơ cấu GDP của nước ta, chiếm giữ khoảng 70% vốn và tài sản cố định của nền kinh tế DNNN đang

là lực lượng chủ yếu trong sản xuất công nghiệp xây dựng, trong hoạt động KD xuất nhập khẩu, trong lĩnh vực dịch vụ, tài chính ngân hàng, tín dụng Nhìn chung lực

Trang 19

lượng DNNN đang là lực lượng then chốt trong ngành kinh tế quan trọng của đất nước, cá biệt có một số ngành có vị trí độc quyền kinh doanh Từ năm 1995 hàng năm DNNN đóng góp từ 26-28% nguồn thu thuế trong nước, nếu tính cả các khoản thu thuế và phí được thu thông qua DNNN thì đóng góp khoảng 60% các nguồn thu thuế và phí được thu thông qua DNNN DNNN đang sử dụng khoảng 15% lực lượng lao động trong các ngành phi nông nghiệp Mức tăng trưởng hàng năm của DNNN xấp xỉ mức tăng trưởng chung của nền kinh tế

Tóm lại : nếu chỉ xét về quy mô tài sản và về đóng góp vào GDP và tốc độ

tăng trưởng chung của nền kinh tế, nguồn thu ngân sách nhà nước thì DNNN vẫn có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế nước ta DNNN có một số vai trò chính sau đây:

- DNNN tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách phát triển kinh tế xã hội và tích luỹ cho nền kinh tế đất nước

- DNNN là lực lượng vật chất quan trọng phải chi phối được sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế khác nhờ đó Nhà nước có thể định hướng và điều tiết nền kinh tế

- DNNN có vai trò thúc đẩy và tạo công ăn việc làm cho người lao động, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phân phối lại thu nhập, giảm đói nghèo, giảm chênh lệch giàu nghèo, giáo dục văn hoá giữa các vùng dân tộc

- DNNN đi tiên phong trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, góp phần phổ biến, trang bị khoa học, công nghệ mới; đào tạo cán bộ, công nhân và đảm bảo cơ sở hạ tầng, cơ sở năng lượng cho tất cả các thành phần kinh tế

- DNNN có vai trò to lớn trong thu hút vốn viện trợ và vốn đầu tư nước ngoài cho nền kinh tế

- Cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng mà khu vực tư nhân không thể tự làm

- Tăng cường và củng cố quyền làm chủ của đất nước, an ninh quốc phòng

1.1.4 Những hạn chế, nhược điểm của DNNN và nguyên nhân

1.1.4.1 Những hạn chế, nhược điểm của DNNN

a Về hiệu quả KD

Mặc dù đã được đầu tư và ưu đãi nhiều từ phía Nhà nước, đựơc giao sử dụng các nguồn tài nguyên quý giá của đất nước, sau nhiều lần sắp xếp tổ chức lại và đổi

Trang 20

mới cơ chế, nhưng các DNNN vẫn chưa chứng tỏ được tính hiệu quả của mình so với khu vực kinh doanh, chưa đáp ứng được mong muốn của Đảng và Nhà nước, chưa tương xứng với tiềm lực và ưu đãi do Nhà nước dành cho

Một DNNN KD có hiệu quả theo chúng tôi phải đạt được tiêu chuẩn: bảo toàn và phát triển được vốn, phải trích đủ khấu hao tài sản cố định; lương bình quân phải bằng hoặc vượt mức bình quân của DN cùng ngành nghề trên địa bàn; trả đầy

đủ các khoản nợ đến hạn, nộp đủ các khoản thuế theo luật định; có lãi, nộp đủ tiền

sử dụng vốn và lập các quỹ DN Nhưng theo số liệu năm 1997 của Bộ tài chính, trong tổng số 5.429 DNNN thì số kinh doanh có hiệu quả chỉ chiếm 40,44% Số liệu này thống nhất với số liệu của Ban đổi mới DN trung ương tháng 2/2000: số DN có lãi thực sự chiếm 40%, số DN bị thua lỗ chiếm 20%, số DN còn lại nằm trong tình trạng không ổn định, khi lỗ, khi lãi và lãi cũng không lớn Về tốc độ tăng trưởng bình quân của DNNN: sau một thời gian dài đạt liên tục tăng 13%/năm, đến năm

1998 và đầu năm 1999 tốc độ tăng còn 8-9% Hiệu quả sử dụng vốn giảm, năm

1995, một đồng vốn tạo ra được 3.46 đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận; đến năm 1998 các con số tương ứng chỉ còn 2,9 và 0,14; năm 1998 trong ngành công nghiệp, một đồng vốn chỉ làm ra được 0,024 đồng lợi nhuận; số DN bị lỗ trong ngành thương mại, dịch vụ, du lịch, khách sạn chiếm tới 41% Công nợ trong DNNN hiện quá lớn: nợ phải thu chiếm tới 60% và nợ phải trả bằng 124% vốn nhà nước trong DN, trong đó tỷ lệ quá hạn hoặc khó đòi chiếm tỷ lệ lớn Số này đặc biệt nhiều trong các DNNN do địa phương quản lý Do tình hình tài chính như vậy, Nhà nước vẫn phải thường xuyên dành quyền hỗ trợ cho DNNN: trong 3 năm 1997 –

1999 ngân sách nhà nước đã đầu tư trực tiếp cho DN gần 8.000 tỷ đồng trong đó có 6.482 tỷ đồng bổ sung cho DN Ngoài ra Nhà nước còn miễn giảm thuế 2.288 tỷ đồng, xoá nợ 1.088 tỷ đồng, khoanh nợ 3.392 tỷ đồng, giãn nợ 540 tỷ đồng, cho vay vốn tín dụng ưu đãi 8.685 tỷ đồng Nhưng đáng chú ý là việc hỗ trợ này không mang lại hiệu quả tương ứng, số nộp vào ngân sách nhà nước ít hơn phần nhà nước

hỗ trợ cho DN Tình trạng không hiệu quả của DNNN trong điều kiện nước ta hiện nay có nguy cơ đe doạ tính an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính bởi vì các DNNN

là các khách hàng vay chủ yếu của 4 ngân hàng thương mại quốc doanh (chiếm 57 –

Trang 21

60% vay vốn nội tệ, trên 90% vay ngoại tệ tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc doanh)

Trong việc đánh giá nhược điểm lớn nhất này của DNNN có ý kiến cho rằng hiệu quả thấp là do hệ thống DNNN còn phải làm chức năng xã hội, dù biết lỗ cũng phải làm Sự thật thì hàng loạt doanh nghiệp lớn của các tổng công ty, tập đoàn kinh

tế nhà nước trong hoạt động KD thuần tuý được ưu ái nhiều về điều kiện vốn, cán

bộ, sử dụng tài nguyên rẻ mà không phải làm một nhiệm vụ xã hội nào cũng thua lỗ khá lớn, lâm vào tình trạng phá sản hay thực chất đã mất khả năng thanh toán Nếu không có bàn tay nâng đỡ của Nhà nước thì những DNNN này đã phá sản từ lâu rồi

Rõ ràng nhược điểm này là không thể biện bạch được, nó đe doạ sự tồn tại lâu dài với quy mô lớn và phạm vi hoạt động rộng rãi như hiện nay của hệ thống DN này

b Về khả năng cạnh tranh

Các DNNN yếu kém về khả năng cạnh tranh Có nhiều ngành, sản phẩm của DNNN đang được bảo hộ tuyệt đối hoặc bảo hộ qua hàng rào thuế quan, trợ cấp (qua ưu đãi tín dụng và bù lỗ, miễn thuế…) nhưng các DNNN vẫn chưa chứng tỏ khả năng cạnh tranh của mình, thậm chí nhiều DN lại cố gắng luận chứng để Nhà nước tăng cường các biện pháp bảo hộ mạnh hơn đặc biệt là ưu tiên được chỉ định thực hiện các công trình xây dựng vốn nhà nước và các đơn hàng lợi nhuận cao để duy trì việc làm và thị phần và duy trì luôn cả tình trạng làm ăn hiệu quả thấp thậm chí rất thấp của mình Theo một số số liệu nghiên cứu hiện nay của Bộ kế hoạch và đầu tư, năm 2000 cho thấy các mặt hàng như thép, xi măng, phân bón, kính xây dựng… đều được bảo hộ bằng công cụ thuế quan và phi thuế quan dẫn tới giá cả thị trường Việt nam cao hơn giá quốc tế 10-50% tuỳ mặt hàng Khả năng cạnh tranh kém của các DNNN thể hiện ngay trên thị trường nội địa: ở những ngành có khả năng sinh lợi, thị phần của các DNNN có xu hướng giảm sút nhường chỗ cho khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực dân doanh… Khả năng cạnh tranh kém của các DNNN trong điều kiện Việt nam đang từng bước thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế có nguy cơ dẫn tới tình đất nước sẽ phải chịu chi phí lớn trong tương lai để trợ cấp, duy trì các DNNN Khả năng cạnh tranh ngay trên thị trường nộ địa thấp được duy trì hàng chục năm bằng cơ chế biến độc quyền nhà nước thành độc

Trang 22

quyền công ty (trong các ngành điện, xăng dầu, xi măng và nhiều ngành khác) Điều này làm cho hiệu quả hoạt động của DNNN thấp

c Cơ cấu DNNN bất hợp lý

Cơ cấu ngành, vùng, quy mô bất hợp lý tồn tại nhiều năm vẫn chưa chuyển dịch theo hướng hợp lý lấy hiệu quả SXKD là tiêu chuẩn hàng đầu và sắp xếp bằng các biện pháp cơ chế kinh tế chứ không phải cơ chế hành chính áp đặt Trước hết tỷ trọng DNNN xét về số lượng ở khu vực nông nghiệp (25%) và thương mại, dịch vụ (40%) là quá lớn trong khi một cơ cấu hợp lý đòi hỏi DNNN, có mặt các ngành quan trọng đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo Cơ cấu cấp quản lý cũng bất hợp lý ở chỗ tỷ trọng DN thuộc điạ phương quản lý quá cao (trên 60% số lượng)

Về quy mô, tính đến 1/9/1999 số doanh nghiệp có quy mô vốn chủ sở hữu dưới 5 tỷ đồng chiếm 65%, trong đó gần 3/4 là DN địa phương, còn có 1314 DN (23%) có vốn dưới 1 tỷ đồng Số DN có vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 21% Nhược điểm này nói lên tình trạng manh mún phát triển tràn lan là nhược điểm đã kéo dài không dưới 3 thập kỷ Với cơ cấu bất hợp lý nêu trên DNNN khó có thể thực hiện đầy đủ các chức năng và kỳ vọng về vai trò cần co trong nền kinh tê

1.1.4.2 Những nguyên nhân việc sản xuất kinh doanh kém hiệu quả của DNNN

a Đầu tư sai

Do mang nặng tư duy kinh tế cũ, lạc hậu, lôi thôi mà trong xây dựng mới và cải tạo các DNNN đều không tính đến sự biến động của thị trường thậm chí bất chấp thị trường, sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch chứ không phải theo nhu cầu của người mua trong khuôn khổ sức mua của thị trường Đầu tư sai bắt nguồn từ những quyết định từ thời bao cấp mà ví dụ khá điển hình là các DN cơ lớn do trung ương đầu tư như công ty Gang thép Thái nguyên, công ty Dâu tơ tằm Lâm Đồng, một số

mỏ và nhà máy hoá chất… Sau nhiều năm đổi mới theo cơ chế thị trường việc đầu

tư sai vẫn diễn ra Sự quản lý của Nhà nước không đủ hiệu lực để ngăn chặn tình trạng đầu tư không đến yếu tố thị trường, không cân đối với nguyên liệu, cũng không tính tới giá thành Có những ngành hoặc địa phương vẫn muốn tranh thủ càng nhiều vốn nhà nước càng tốt để xây dựng cho được những DN không thật cần thiết của ngành mình, địa phương mình, có khi vì mục đích ngoài kinh tế Ngay gần

Trang 23

đây một loạt chủ trương lập các DN kinh doanh cơ sở hạ tầng đã được quy hoạch và đầu tư hàng trăn tỷ đồng rồi trở thành các quy hoạch treo, các khu công nghiệp bỏ trống… Đây cũng là minh chứng cho nhược điểm đầu tư sai do bất chấp thị trường Tình trạng đầu tư sai, không tính đến thị trường một phần bắt nguồn từ công tác quy hoạch Trong khá nhiều trường hợp, quy hoạch thường xuất phát từ ý muốn chủ quan, nói là tập chung mũi nhọn, nhưng rồi ngành nào cũng đầu tư, địa phương nào cũng muốn tự túc, tự cấp có đủ “ cơ cấu kinh tế” theo hướng “ công nghiệp hoá hiện đại hoá”, bỏ qua những nguyên tắc cơ bản của công tác này Chủ chương đầu tư sai ngay từ đầu, công việc xây dựng lại giao cho một ban quản lý dự án kém năng lực

và không có trách nhiệm, gây ra chất lượng xây dựng thấp, vốn đầu tư thất thoát không nhỏ

b Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu

Phần lớn các DNNN được trang bị máy móc thiết bị từ nhiều nguồn khác nhau, có những thiết bị lạc hậu, già cỗi, sản xuất từ năm 50,60 Theo điều tra của viện bảo hộ lao động giữa năm 1999 thì trên 70% đã khấu hao hết, gần 50% đã được tân trang; theo báo cáo của bộ khoa học công nghệ và môi trường thì công nghê của ta lạc hậu so với thế giới từ 10-20 năm; mức độ hao mòn hữu hình từ 30-50%

c Doanh nghiệp không được tự chủ về tài chính

Có thể coi đây là trở ngại rất quan trọng khiến DN không thể tự chủ KD Đại diện chủ sở hữu của tài sản nhà nước tại DN là ai cho đến nay vẫn không rõ, gây ra nhiều lúng túng, khó khăn trong việc sử dụng tài sản Cơ quan chức năng quản lý tài sản của DNNN về cơ bản vẫn đang thực hiện quyền quản lý theo kiểu cũ Cơ chế tài chính và hạch toán của DNNN bị ràng buộc vô lý trói trặt từ nhiều năm mà vẫn không được sửa đổi Nhiều DN cho rằng từ nghị định 59/CP đến nghị định 27/1999

về quản lý tài chính DNNN, sự đổi mới không nhiều, vẫn những ràng buộc về các khoản chi phí, những bất hợp lý đã rõ như khoản thu về sử dụng vốn trong đó kể cả những tài sản do DN tự đầu tư từ nguồn tích luỹ hoặc vay ngân hàng để xây dựng, nay đều bị coi là tài sản của nhà nứơc và buộc doanh nghiệp chịu thuê vốn DN muốn khấu hao nhanh cũng không được, phải theo khung thời gian khấu hao Cũng cần tính đến quyền tự chủ tuy vẫn hạn hẹp nhưng không ít người quản lý và các

Trang 24

công ty lớn của nhà nước như tổng công ty, tập đoàn kinh tế đã vung tay sử dụng vốn, lợi dụng quyền tự chủ và kiểm soát lỏng lẻo của Nhà nước đưa khối lượng lớn vốn đầu tư vào hoạt động tài chính kinh doanh dịch vụ không phải ngành nghề được Nhà nước cấp vốn để kinh doanh, kết quả là thua lỗ mất cả vốn Nhà nước cấp

d Số lao động dư thừa đang rất lớn

Theo báo cáo của Ban đổi mới DN trung ương tháng 2/2011 đưa ra con số là 4% tổng số lao động dư thừa Có một số địa phương, ngành số lao động dôi dư khá lớn như: Hải Dương 33%, Nam Định 27%, Nghệ An 16%, Hải Phòng 15%, Thanh hoá 10%, tổng công ty thép 12% Tình trạng này đã có từ rất lâu nhưng phải hoạt động theo cơ chế thị trường đặc biệt trong cơn suy thoái toàn cầu hiện nay vấn đề này càng nghiêm trọng hơn Khả năng khắc phục nhược điểm này còn rất khó khăn

e Không được chủ động về nhân sự và tiền lương

Cho đến nay DNNN vẫn không chủ động trong việc sắp xếp lại số lao động, giảm bớt người không phù hợp, tuyển thợ mới, vì Nhà nước chưa đủ các chính sách phù hợp để giải quyết công ăn việc làm và đời sống của số lao động dư thừa mà họ

đã cho cơ quan quyền lực Nhà nứơc tuyển dụng và hứa hẹn biên chế suất đời cho

họ Chế độ tiền lương, các thang lương, bậc lương trong DNNN còn nhiều bất hợp

lý giữa khu vực kinh doanh với khu vực hành chính sự nghiệp, giữa DN các ngành nghề khác nhau và ngay trong nội bộ DN

f Tổ chức quản lý không phù hợp

Mặc dù đã có chủ trương xoá bỏ cơ chế cơ quan chủ quản cấp trên nhưng hiện đang có nhiều cấp, nhiều ngành trực tiếp can thiệp công việc KD hàng ngày của DN Tình trạng phân cấp trên dưới, ngang dọc chưa rõ ràng đã gây tình trạng

DN chịu nhiều cấp, nhiều ngành càng ra sức “tăng cường quản lý”, công tác thanh tra, kiểm tra chồng chéo, gây phiền hà cho doanh nghiệp hoạt động Đặc biệt là cơ chế “bộ chủ quản” “cấp chủ quản”, đang gây nhiều khó khăn cho DN Việc phân chia “quốc doanh trung ương”, “quốc doanh địa phương” đã tạo ra nhiều bất hợp lý, phân biệt đối xử, ảnh hưởng đến KD của mỗi DN Mấy năm gần đây, nhiều DNNN

đã được sắp xếp lại trong cơ cấu tổng công ty, thế nhưng có những tổng công ty được tổ chức theo lối hành chính, bằng số cộng đơn thuần không dựa trên tính tất

Trang 25

yếu về kinh tế, đã không mang lại kết quả mong muốn; không những thế một số tổng công ty trở thành vật cản đối với công ty thành viên trong kinh doanh, thực tế

là các công ty này chịu thêm một tầng nấc “ chủ quản” mới, mà “quản” là gò ép, ràng buộc nhiều hơn là hỗ trợ DN giúp tự chủ tốt hơn, năng động hơn

1.2 CHP DNNN là cơ sở xuất hiện loại hình doanh nghiệp mới – CTCP

1.2.1 Khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Ở nước ta trước thời kỳ đổi mới, khu vực DNNN giữ vai trò đặc biệt Nó được thống nhất với nền kinh tế XHCN, do đó nó có sứ mệnh là đưa nền kinh tế đến chủ nghĩa xã hội Thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế đã làm thay đổi sâu sắc vai trò của khu vực DNNN, góp phần thực hiện sự tăng trưởng và ổn định kinh tế Tuy nhiên, kinh tế nhà nước trong quá trình phát triển của nó đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa phát triển tối đa hiệu năng của mình đối với sự phát triển kinh tế, làm cho nền kinh tế rơi vào sự trì trệ

Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN để đảm bảo kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một nội dung quan trọng trong đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, Nhà nước ta Trong sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN thì CPH DNNN là một chủ trương lớn, một giải pháp quan trọng tạo ra sự chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN ở Việt Nam Việc sắp xếp, đổi mới DNNN đã thực sự trở thành một chủ trương của Đảng và Nhà nước ta, trở thành một nội dung quyết định của toàn bộ công cuộc đổi mới và góp phần quan trọng trong sự thành công của công cuộc đổi mới Cổ phần hóa DNNN hay nói cách khác là chuyển DNNN thành công ty cổ phần là một biện pháp chuyển doanh nghiệp từ sở hữu nhà nước sang hình thức sở hữu nhiều thành phần, trong đó có tồn tại một phần sở hữu Nhà nước hoặc có thể không tồn tại và sở hữu các thành phần kinh tế khác (tức là sở hữu của các cổ đông) nhằm thu hút rộng rãi nguồn vốn của

xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Xét về mặt hình thức, CPH là việc nhà nước giữ nguyên vốn hiện có trong doanh nghiệp nhưng phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn hoặc bán một phần hay

Trang 26

toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp cho các đối tượng là tổ chức hoặc tư nhân trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ quản lý và công nhân của doanh nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán

Điều 4 nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ đã nêu cụ thể các hình thức CPH công ty nhà nước gồm có:

1 Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ

2 Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ

3 Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ

Về bản chất, CPH chính là phương thức thực hiện xã hội hóa sở hữu, chuyển doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của Nhà nước thành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu để tạo ra mô hình doanh nghiệp phát triển không ngừng phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội Sự chuyển hóa này không chỉ thay đổi về tên gọi mà còn là sự thay đổi về bản chất của doanh nghiệp Nhà nước trên ba mặt:

Thứ nhất: chuyển hóa quyền sở hữu: từ sở hữu một chủ - Nhà nước sang đa

sở hữu; hình thành DN có nhiều chủ sở hữu dẫn đến việc thay đổi quyền quản lý điều hành doanh nghiệp; tạo thêm động lực và cơ chế quản lý mới; đảm bảo quyền làm chủ thực sự của những người tham gia góp vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Thứ hai: CPH bước đầu đã tạo động lực mạnh mẽ với cơ chế quản lý năng

động Thay đổi căn bản về tổ chức các quan hệ quản lý nội bộ; Có cơ cấu tổ chức hoạt động chặt chẽ gồm: đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, bộ máy điều hành có sự phân công phân cấp và giám sát lẫn nhau, tạo điều kiên cho việc thực hiện quy chế dân chủ trong DN một cách thực chất hơn và góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ ba: Thay đổi cơ bản về quan hệ quản lý giữa nhà nước và doanh nghiệp

Trước CPH, toàn bộ tài sản của doanh nghiêp thuộc sở hữu Nhà nước Doanh nghiệp không phải là chủ sở hữu mà chỉ là người có quyền quản lý và sử dụng tài sản nhà nước

Trang 27

đã đầu tư để thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao Sau khi Nhà nước bán cổ phiếu cho các cá nhân, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế, những người nắm giữ cổ phiếu sẽ trở thành thành viên của công ty cổ phần, có quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tương ứng với số cổ phần đã mua Do đó, những tài sản trong doanh nghiệp trước đây thuộc sở hữu nhà nước nhưng sau khi CPH sẽ thuộc sở hữu của nhiều thành phần kinh tế, những người mua cổ phiếu Từ chỗ trước đây DNNN bị lệ thuộc chi phối hoàn toàn bởi Nhà nước (vì Nhà nước là chủ sở hữu) chuyển sang quyền tự chủ trong kinh doanh được mở rộng và tính chịu trách nhiệm được đề cao

Điều 1 nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ đã nêu rõ mục tiêu, yêu cầu của việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành CTCP là:

1 Chuyển đổi những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

2 Đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp

Thuật ngữ CPH xuất hiện ở Việt Nam cuối những năm 1980 đầu những năm

1990 gắn với công cuộc cải cách DNNN Cho đến nay, dường như mọi người mặc nhiên sử dụng thuật ngữ CPH, mà chưa để ý nhiều tới việc định nghĩa hay đưa ra một khái niệm đầy đủ cho thuật ngữ này Thực hiện đổi mới toàn diện để phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế được Đại hội Đảng VI (1986) khởi xướng, phương thức mà Chính phủ áp dụng mạnh hiện nay là CPH DNNN Xuất phát điểm của chủ trương này là việc phải làm sao để những DNNN có “chủ thực sự” gắn chặt quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chính phủ chủ trương thực hiện chuyển đổi các doanh nghiệp thuộc

sở hữu 100% của nhà nước sang hình thức CTCP thông qua việc chia nhỏ giá trị của doanh nghiệp thành các phần bằng nhau và bán lại cho các nhà đầu tư dưới hình thức phát hành cổ phiếu…

Xét về mặt pháp lý, CPH DNNN mà doanh nghiệp trước đây thuộc chủ sở hữu 100% vốn của Nhà nước được chuyển sang loại hình doanh nghiệp có nhiều

Trang 28

chủ sở hữu, trong đó Nhà nước có thể là một cổ đông

Như vậy, theo quy định hiện hành, có thể hiểu về bản chất CPH DNNN là quá trình chuyển đổi hình thức tổ chức và hoạt động từ DNNN thuộc sở hữu Nhà nước sang CTCP thuộc sở hữu của các cổ đông thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia mua cổ phiếu CPH DNNN là nhằm huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển sản xuất, thúc đẩy quá trình xử lý và khắc phục những tồn tại hiện thời của DNNN, tạo điều kiện cho những người góp vốn và người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp, phát huy đầy đủ tính tích cực của họ trong sản xuất kinh doanh, tạo môi trường pháp lý cải cách nền hành chính nhà nước, đổi mới cơ chế quản lý và đảm bảo công bằng xã hội

1.2.2 So sánh các đặc trưng công ty cổ phần và doanh nghiệp nhà nước theo mô hình trước cổ phần hoá

CTCP là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại

và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông Trong CTCP, số vốn điều lệ của công

ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần Các cá nhân hay tổ chức

sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông CTCP một loại hình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và nhất là để niêm yết trên thị trường chứng khoán

Theo điều 77 Luật Doanh nghiệp năm 2005 Việt Nam, CTCP được định nghĩa như sau:

CTCP là doanh nghiệp, trong đó:

1 Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

2 Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;

3 Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

4 Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật doanh nghiệp;

5 CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh ;

Trang 29

6 CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn

So với các hình thức tổ chức SXKD khác, CTCP có những ưu việt sau:

Một là, tạo ra khả năng huy động vốn rộng rãi, nhanh chóng, kịp thời với quy

mô lớn cho hoạt động SXKD, đổi mới công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả KD

và sức cạnh tranh của DN

Hai là, vốn có thể được chuyển dịch giữa các nhà đầu tư trong và ngoài

CTCP, tính chất xã hội hoá vốn hoạt động KD rất cao, tạo ra khả năng sử dụng vốn linh hoạt, có hiệu quả

Ba là, mỗi bộ phận và mỗi thành phần đều có lợi ích riêng gắn liền với lợi

ích và mục tiêu của DN, vì vậy tạo động lực bên trong mỗi hoạt động quản lý do sự giàng buộc và giám sát lẫn nhau

Bốn là, người lao động có điều kiện làm chủ DN thực sự, vì vậy họ làm việc

có hiệu quả cao cho DN Khi tham gia công ty cổ phần, người lao động trong công

ty vừa là người lao động vừa là người sở hữu Với ý nghĩa này, người lao động vì lợi ích kinh tế của đồng vốn bỏ ra sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc nâng cao hiệu quả SXKD của DN Người lao động góp vốn cổ phần thực sự làm chủ DN, tự chọn người quản lý sao cho có hiệu quả cao nhất

Năm là, CTCP là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, là kiểu tổ chức

công ty văn minh tiến bộ nhất của nhân loại, bởi lẽ sự ra đời của nó không phải để thôn tính, làm phá sản các DN khác mà biến sự độc quyền của các cá nhân hay một nhóm nhà đầu tư thành quyền lực của một tập thể với nhiều chủ sở hữu góp vốn

1.2.3 Các mặt lợi thế của CTCP sau CPH có thể tận dụng để nâng cao hiệu quả kinh tế, SXKD của công ty

1.2.3.1 Lợi thế về hình thức sở hữu hỗn hợp- chế độ đa sở hữu

CPH đã tạo ra loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu, bao gồm Nhà nước, công nhân viên và cổ đông ngoài DN, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài, đã thay đổi rất căn bản về hình thức và chế độ sở hữu đối với DNNN Nhà nước không còn là chủ sở hữu duy nhất như trước đối với DN; công nhân viên của DN không chỉ là

Trang 30

người lao động đơn thuần như trước mà còn là cổ đông, người chủ góp vốn của mình – cũng chính là người chủ thực sự của DN

1.2.3.2 Lợi thế và quyền tự chủ về chiến lược KD, huy động và sử dụng vốn, về thị trường, chính sách cán bộ và lao động tiền lương, phân phối lợi nhuận

Nhờ CPH mà có sự thay đổi cơ bản trong tổ chức, quản lý và hoạt động của

DN DN được tự chủ KD theo cơ chế thị trường, tự chịu trách nhiệm toàn diện về các hoạt động KD theo pháp luật, hạch toán kinh doanh thực sự Các chi phí gián tiếp và quản lý đã giảm được khoảng 25%, cá biệt có công ty giảm tới 50% so với trước khi CPH Bộ máy quản lý của DN sau CPH đóng vai trò quyết định trong sự thành công hay thất bại của DN Mọi hoạt động của DN như giải quyết các vấn đề nhân sự, ra quyết định quản lý hay KD, xây dựng chiến lược, đầu tư, tiền lương, phân phối lợi nhuận…đều do bộ máy quản lý của DN thực hiện theo pháp luật và yêu cầu của thị trường

1.2.3.3 Lợi thế về chính sách đầu tư, đổi mới, hiện đại hoá công nghệ SX

Khi chuyển sang công ty cổ phần, DN được chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, mua sắm máy móc, thiết bị tân tiến phù hợp với yêu cầu SXKD Việc mua sắm máy móc, công nghệ này được Hội đồng quản trị bàn và quyết định Do đó, có sự tính toán kỹ lưỡng DN cần đổi mới cái gì, mua từ đâu, giá cả như thế nào, hiệu quả công việc đổi mới máy móc, thiết bị sẽ đem lại so với trước có cải thiện hay không, có phù hợp với những điều kiện hiện tại của DN hay không…Quá trình tính toán, quyết định và thủ tục mua sắm máy móc, thiết bị, công nghệ, việc áp dụng quy trình kỹ thuật mới được tiến hành khẩn trương, đáp ứng yêu cầu về thời gian và tiến độ do DN không cần phải trông chờ vào sự phê duyệt của cơ quan nhà nứơc như trước khi CPH

1.2.3.4 Lợi thế về chủ động hội nhập, tham gia thị trường khu vực và thế giới, tìm kiếm đối tác đầu tư, liên doanh liên kết, tham gia thị trường quốc tế, tìm kiếm bạn hàng ở các thị trường xuất khẩu cũng như thị trường nhập khẩu

CPH đã tạo ra mô hình tổ chức KD phù hợp với xu thế kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Tổ chức quản lý kinh doanh theo các CTCP là mô hình DN phổ biến và là xu thế tất yếu của các nền kinh tế thị trường phát triển Mô hình DN này sẽ tạo điều kiện cho các DN nước ta dễ dàng liên kết,

Trang 31

hợp tác sản xuất, KD với các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước cũng như với các nước trong khu vực và thế giới, thuận lợi trong việc nghiên cứu, vận dụng các phương pháp, kinh nghiệm tổ chức quản lý, điều hành, hạch toán KD theo mô hình CTCP của các nước phát triển

1.2.4 Một số vấn đề đặt ra sau CPH các DNNN

1.2.4.1 Vấn đề sở hữu của DNNN sau CPH

Sở hữu là một trong những vấn đề cốt lõi để phân biệt loại hình doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác và để phân biệt giữa cổ phần hoá và tư nhân hoá các DNNN

Rõ ràng, tính chất đa sở hữu của nền kinh tế một mặt là yêu cầu của cổ phần hoá để nhà nước vẫn còn giữ vai trò quản lý đối với doanh nghiệp, để giải quyết những vấn đề mang tính kinh tế xã hội cho những người lao động, vốn là thành viên của các DNNN trước đây Mặt khác, tính đa sở hữu là đặc trưng của loại hình công ty

cổ phần - một loại hình, một sản phẩm của quá trình cổ phần hoá các DNNN Tuy nhiên, xu hướng chuyển nhượng các cổ phần của doanh nghiệp vừa là xu hướng mang tính chủ quan đối với doanh nghiệp (trước hết là bộ máy quản lý doanh nghiệp), vừa là

xu hướng mang tính khách quan do quy luật vận động của thị trường tài chính chi phối; vừa làm cho tính đa sở hữu bị thu hẹp, vừa làm cho tính đa sở hữu được mở rộng Đây

là những xu hướng diễn ra của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá DNNN

Đối với doanh nghiệp - các Công ty cổ phần, nhất là đối với Hội đồng quản trị và Ban giám đốc: phần sở hữu vốn của Nhà nước một mặt là chỗ dựa để các doanh nghiệp sau cổ phần nhận được sự bao cấp của Nhà nước, mặt khác là “vật cản” quá trình tiếp tục đổi mới của doanh nghiệp theo hướng kinh doanh của cơ chế thị trường Trên thực tế, một số doanh nghiệp sau cổ phần hoá đi vào hoạt động đã dẫn đến bị “gia đình hoá”, bị biến thành doanh nghiệp tư nhân là do yếu tố này chi phối Trong cổ phần của doanh nghiệp sau cổ phần hoá, phần sở hữu vốn của các thành viên trong doanh nghiệp và các

cổ đông nhỏ là bộ phận để một số thành viên chuyển nhượng tăng thêm tỷ lệ vốn nhằm nắm giữ quyền chi phối doanh nghiệp

Vì vậy, chuyển nhượng cổ phần là ý muốn chủ quan của doanh nghiệp (thực

chất là của một số thành viên trong bộ máy lãnh đạo của doanh nghiệp) nhằm thoát

Trang 32

khỏi quyền chi phối của Nhà nước, nhằm nắm quyền chi phối kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp làm ăn có lãi Tình trạng đó sẽ dẫn đến quá trình tiếp tục chuyển sở hữu của doanh nghiệp sau khi đã tiến hành cổ phần hoá Nếu nhà nước không nắm giữ phần vốn thuộc sở hữu của mình, cổ phần hoá DNNN sẽ trở thành

tư nhân hoá chúng Những ưu việt của cổ phần hoá các DNNN so với tư nhân hoá không được phát huy Đây là xu hướng dẫn đến tính đa sở hữu của các DNNN sau cổ phần hoá

- các công ty cổ phần bị thu hẹp

Đối với các thành viên khác, việc sở hữu doanh nghiệp thông qua mua cổ phiếu với mục đích thu lợi tức kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả quá trình kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình mua bán cổ phiếu của doanh nghiệp đối với phần cổ phiếu này Vì vậy, việc chuyển quyền sở hữu một phần doanh nghiệp từ người này sang người khác là xu hướng vận động có tính khách quan của nền kinh tế thị trường đối với các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán hoặc tiến hành cổ phần hoá Xu hướng này một mặt làm cho sở hữu của doanh nghiệp đa dạng hơn sau khi cổ phần hoá, đồng thời cũng góp phần làm cho tính đa dạng bị thu hẹp trong trường hợp có người muốn thâu tóm quyền chi phối doanh nghiệp

1.2.4.2 Vấn đề quản trị và điều hành DNNN sau CPH

CTCP là một mô hình có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả cao trong tổ chức sản xuất kinh doanh, khắc phục tình trạng thờ ơ, vô trách nhiệm đối với tài sản Nhà nước tại các xí nghiệp quốc doanh trước đây Cùng với sự phân định

rõ ràng giữa quyền sở hữu tài sản cuối cùng với quyền sở hữu tài sản pháp nhân, sự phân công trách nhiệm trong CTCP cũng rất rõ ràng rành mạch, thông qua chế độ hội đồng quản trị Theo đó hội đồng quản trị có quyền quản lý toàn bộ các hoạt động của công ty theo sự uỷ quyền của đại hội cổ đông song cũng đồng thời chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của công ty trước đại hội cổ đông, khắc phục tình trạng không rõ ràng giữa trách nhiệm của Giám đốc các DNNN với trách nhiệm của

cơ quan chủ quản trước sở hữu là Nhà nước trong các DNNN trước đây

Bên cạnh những ưu việt do sự thay đổi bộ máy quản trị doanh nghiệp, thì những phương thức điều hành và quản trị kinh doanh theo mô hình của công ty cổ

Trang 33

phần ở nước ta hiện nay là tình trạng ít thay đổi của bộ máy dẫn đến những trục trặc trong quá trình quản trị, nhất là mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Tình trạng trên rất dễ xảy ra, bởi vì Nhà nước vẫn còn nắm giữ phần sở hữu doanh nghiệp sau cổ phần hoá với tỷ lệ cổ phiếu nhất định Hơn nữa, quá trình cổ phần hoá lại được triển khai bởi một tổ chức do Nhà nước thành lập và điều hành

Vì vậy, trong thực tế vẫn có nhiều doanh nghiệp nhà nước tìm cách đưa những cán

bộ cũ của DNNN vào Hội đồng quản trị và Ban giám đốc, đây không phải là hiện tượng hiếm Một khảo sát cho thấy: 83% giám đốc cũ của các DNNN sau cổ phần hoá trở thành Chủ tịch Hội đồng quản trị, 76% phó giám đốc thành giám đốc điều hành và 79% kế toán trưởng vẫn giữ nguyên chức vụ cũ Việc thuê giám đốc điều hành là điều còn xa lạ đối với các doanh nghiệp sau cổ phần hoá, nhất là ở Việt Nam

Trường hợp cán bộ có đủ năng lực, nhất là sự năng động, thích nghi với cơ chế mới là điều tốt, chủ yếu là ở các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt, làm ăn có lãi, nhưng rất hiếm Bởi vì phần đông các doanh nghiệp nhà nước làm ăn không hiệu quả, các cán bộ ở các doanh nghiệp loại này đã quá quen với cơ chế bao cấp cũ Sự thích nghi với cơ chế mới sẽ rất khó khăn Trong trường hợp này tư duy, triết lý kinh doanh và trình độ quản lý điều hành của công ty cũng ít được đổi mới theo yêu cầu của doanh nghiệp khi chuyển sang cách thức quản lý kinh doanh mới Tình trạng giám đốc DNNN trở thành Chủ tịch Hội đồng quản trị, trong nhiều trường hợp lấn sân, chồng chéo, nhất là khi quy chế pháp lý nhà nước về vấn đề này vẫn chưa hoàn chỉnh

1.2.4.3 Vấn đề lao động của các DNNN sau CPH

Một trong các vấn đề khó khăn nhất của chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước là xử lý các vấn đề xã hội gắn với đội ngũ cán bộ, công nhân đã gắn bó nhiều năm với doanh nghiệp Về mặt quyền lợi, những cán bộ, công nhân các DNNN đang hưởng chế độ lương và bảo hiểm có nhiều ưu việt hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác, kể cả trường hợp doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Nhiều cán bộ, công nhân đã cao tuổi sẽ không đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi DNNN sang công

ty cổ phần Trong bối cảnh trên, việc lựa chọn hình thức cổ phần hoá thay cho tư nhân hoá các DNNN là nhằm giải quyết những vấn đề của DNNN trong quá trình chuyển đổi chúng Tuy nhiên, những vấn đề được giải quyết của cổ phần hoá nhằm

Trang 34

giải quyết các vấn đề xã hội sẽ tiếp tục nảy sinh nếu không được nghiên cứu và tìm cách giải quyết môt cách kịp thời Trong trường hợp đó, ý nghĩa và những ưu việt của quá trình cổ phần hoá, những ưu việt nhà nước muốn giành cho cán bộ công nhân của DNNN trong quá trình cổ phần hoá sẽ bị mất Cổ phần hoá các DNNN sẽ không khác, thậm chí sẽ không hiệu quả bằng tư nhân hoá chúng Cụ thể:

+ Một là, xu hướng muốn thâu tóm quyền chi phối doanh nghiệp dẫn đến

tình trạng "ép" công nhân bán cổ phiếu ưu đãi của mình cho một số người trong doanh nghiệp Xu hướng trên thường xảy ra trong trường hợp cổ phiếu ưu đãi có mệnh giá thấp do ưu đãi của Nhà nước và do định giá thấp, hoặc trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh có lãi… Việc bán cổ phiếu sẽ làm cho người công nhân mất đi nguồn thu nhập ổn định, mất quyền làm chủ đối với doanh nghiệp với tư cách của người góp vốn, đồng thời sẽ làm cho một số người lại tập trung được cổ phiếu và trở thành lực lượng chi phối công ty, sinh ra sự phân hoá lớn

+ Hai là, bên cạnh một số doanh nghiệp sau cổ phần hoá kinh doanh có hiệu quả, mở rộng quy mô sản xuất, thu hút thêm lao động, lại có không ít doanh nghiệp kinh doanh sa sút, dẫn tới dư thừa lao động, một bộ phận lớn nhân công không có việc làm Trong trường hợp này, nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước, doanh nghiệp sẽ không có điều kiện vật chất để giải quyết các vấn đề mang tính xã hội (trợ cấp, tìm việc mới…) liên quan đến những người bị mất việc Tính ưu việt của cổ phần hoá các DNNN không được phát huy

1.2.4.4 Vấn đề tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể quần chúng trong các DNNN sau CPH

Chuyển sang công ty cổ phần điều kiện hoạt động của các tổ chức Đảng và đoàn thể gặp nhiều khó khăn Đối với tổ chức Đảng, vai trò lãnh đạo có thể bị giảm sút do doanh nghiệp không còn là DNNN

Trong trường hợp lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp là đảng viên, hoạt động của tổ chức Đảng còn có những thuận lợi nhất định Tuy nhiên hoạt động này cũng không thể thuận lợi như còn là DNNN

Trường hợp lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp không phải là đảng viên, hoạt động của tổ chức Đảng sẽ khó khăn và phát huy vai trò lãnh đạo bị hạn chế

Trang 35

Đối với các tổ chức đoàn thể như tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, hoạt động của chúng cũng ở tình trạng tương tự Vì đây là những tổ chức đoàn thể quần chúng hoạt động có tính chất phong trào, không tạo ra sản phẩm vật chất, do đó nó không nằm trong hệ thống tổ chức của công ty cổ phần Thậm chí các tổ chức này hoạt động gần như độc lập với hệ thống tổ chức của công ty Các thành viên lãnh đạo trong các tổ chức này và cả các thành viên của tổ chức, hoạt động chỉ mang tính

tự nguyện Vì vậy có nhiều công ty, sự hoạt động của các tổ chức này hết sức khó khăn cả về tài chính, thời gian, không gian và khó khăn cả về sự khuyến khích động viên của ban lãnh đạo

Tuy nhiên sự hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong các công ty cổ phần

là rất quan trọng, vì nó vừa động viên được tinh thần làm việc, hăng say, vui vẻ, sáng tạo của người lao động, vừa bảo vệ được lợi ích chính đáng của người lao động theo pháp luật, do đó vừa đảm bảo sự hoạt động kinh doanh của công ty có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao

1.2.5 Giải pháp phát triển DNNN sau CPH

1.2.5.1 Về đất đai và quyền sở hữu tài sản

Tài sản của DNNN cần được tính toán đầy đủ vào giá trị doanh nghiệp trước khi CPH Muốn vậy, phải nhanh chóng xử lí tài sản theo phương pháp đấu giá Cách làm này giúp tránh việc các lãnh đạo DNNN tự lập danh mục tài sản không cần dùng, định giá rẻ và sau đó chính mình mua lại những tài sản đó, bán ra ngoài kiếm chênh lệch Phải tính đúng, hạch toán đủ, không nên loại bất cứ bộ phận tài sản nào ra khỏi giá trị doanh nghiệp CPH, kể cả những nhà xưởng đã được chuyển thành nhà ở Cần tiến hành nhanh chóng thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp CPH Các cơ quan có thẩm quyền cần coi đây là một ưu tiên Càng để kéo dài tình trạng này thì càng ảnh hưởng xấu đến CPH

1.2.5.2 Về huy động các nguồn tài chính tín dụng

CPH các DNNN phải hướng tới sự thu hút và tập trung các nguồn vốn xã hội Để huy động nguồn vốn cần phát hành thêm cổ phiếu, mở rộng bán cổ phần cho các chủ sở hữu trong và ngoài doanh nghiệp, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài Trước hết, cần ưu tiên bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp để gắn

Trang 36

kết quyền lợi và trách nhiệm của người lao dộng với doanh nghiệp, đồng thời cho phép khai thác được nguồn vốn nội bộ một cách hiệu quả

1.2.5.3 Chính sách với lao động dôi dư

Nhà nước cần có chính sách kích cầu lao động như hỗ trợ vốn ban đầu cho những người kinh doanh nhỏ, cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển các chương trình tạo công ăn việc làm cho người lao động, xuất khẩu lao động, qua đó giảm sức ép về lao động dư thừa ở doanh nghiệp sau CPH sang khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt chính sách giảm cung về lao động Hình thành và phát triển thị trường nhân lực quản lý và lãnh đạo các doanh nghiệp sau CPH

Để tạo điều kiện cho người lao động có khả năng mua được cổ phần theo giá

ưu đãi, thay vì giảm 40% trên bình quân đấu giá, thì nên cho người lao động được mua với mức 40% giá đấu thầu thành công thấp nhất Chính phủ nên tiếp tục duy trì

và áp dụng phương thức cho người lao động nghèo được mua cổ phần ưu đãi trả chậm có thời hạn, không tính lãi với điều kiện ràng buộc là trong 3 năm không được bán cổ phần được mua theo giá ưu đãi này

1.2.5.4 Về nâng cao trình độ công nghệ

Chương trình “Đổi mới công nghệ quốc gia” là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay Trọng tâm của chương trình là nhằm nâng tỷ lệ doanh nghiệp có bộ phận nghiên cứu và triển khai (R&D) lên mức 5% Muốn vậy, chương trình cần tập trung vào các nội dung ưu đãi như: ưu đãi về thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp cho các hoạt động ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học công nghệ, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ việc thực hiện các hợp đồng nghiên cứu và triển khai, hợp đồng dịch vụ kĩ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết công nghệ Doanh nghiệp cũng được trích 50% thu nhập tăng thêm sau thuế (trong 3 năm) để đầu tư trở lại cho khoa học công nghệ và trích thưởng cho cá nhân, tập thể có thành tích nghiên cứu và áp dụng công nghệ Ngoài ra, những doanh nghiệp tích cực đổi mới công nghệ còn được ưu đãi về tiền sử dụng đất

1.2.5.5 Về quản trị doanh nghiệp

Trang 37

Xác định rõ và thực hiện đúng quyền hạn và trách nhiệm giữa Hội đồng quản trị và Ban giám đốc; Tăng cường đào tạo, nâng cao sự hiểu biết và trình độ quản trị công ty cổ phần của các nhà quản lý; Phát huy vai trò của Đại hội cổ đông trong tổ chức, điều hành công ty cổ phần; Có cơ chế chính sách phù hợp đối với cán bộ quản

lý cũ khi họ không còn nắm giữ những chức vụ cũng như các trường hợp tiếp tục đảm nhiệm các chức vụ mới

Giải quyết những vấn đề tồn tại từ chính khâu xây dựng và thông qua điều lệ, tạo thuận lợi cho tổ chức và điều hành công ty cổ phần; Lựa chọn cơ cấu hội đồng quản trị có tính đại diện cao, uy tín Đảm bảo thể chế dân chủ minh bạch, công khai trong tổ chức điều hành; Kiểm soát được chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập; Định rõ chức năng nhiệm vụ của bộ phận tài chính Trước mắt, cần chủ động vận dụng những luật và quy định hiện có về kế toán tài chính để tạo lập chính sách tài chính công khai, minh bạch đúng quy định pháp lý, nhanh chóng tham gia thị trường chứng khoán nếu đủ điều kiện

1.3 Kinh nghiệm cổ phần hoá của các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra ở Việt nam

1.3.1 Cổ phần hóa DNNN ở Trung Quốc

Qua hơn 20 năm cải cách mở cửa ở Trung Quốc, tình trạng phân bổ các nguồn lực đã có những thay đổi căn bản, tỷ lệ thị trường điều tiết ngày càng tăng, kinh tế phi quốc doanh trong nước phát triển mạnh mẽ, các DNNN đã dần mất vị trí độc quyền trong rất nhiều ngành nghề và tỷ trọng trong lĩnh vực công nghiệp không ngừng giảm xuống

Trên thực tế, CPH ở Trung Quốc được bắt đầu thực hiện vào giữa những năm 1980 với sự ra đời đầu tiên của CTCP hữu hạn Bách hóa Thiên Kiều (Bắc Kinh) Sau đó, trong Văn kiện quan trọng được ban hành tháng 12 năm 1986, Quốc

Vụ viện Trung Quốc đã cho phép các địa phương có thể chọn ra một vài DN lớn và vừa có điều kiện, thuộc sở hữu toàn dân để thực hiện thí điểm CPH Đến cuối năm

1993, Trung Quốc đã có hơn 3000 đơn vị thực hiện thí điểm CPH Tính đến cuối năm 1996, Trung Quốc có hơn 9200 DNNN đã chuyển thành CTCP, hơn 4300 CTCP hữu hạn đăng ký hoạt động theo Luật DN Đến đầu năm 2000, Trung Quốc

Trang 38

+ Bước 1: Từ năm 1978 đến năm 1983, công cuộc cải cách DNNN ở Trung

Quốc chủ yếu tập trung vào thực hiện: cải cách cơ chế quản lý DNNN trên cơ sở giữ nguyên sở hữu nhà nước, vấn đề CPH mới chỉ trên giấy tờ

+ Bước 2: Từ năm 1984 đến năm 1988 song song với việc cải cách cơ chế

quản lý, Chính phủ Trung Quốc đã bước đầu thực hiện việc chuyển đổi sở hữu DNNN Tuy nhiên việc thí điểm CPH DNNN chỉ được tiến hành dưới hình thức thành lập công ty cổ phần mới (cổ đông là Nhà nước, tập thể và một số cá nhân) Đồng thời trong thời gian này Nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần khống chế trong các doanh nghiệp có quy mô lớn và trung bình Do vậy, việc chuyển đổi các DNNN đang hoạt động sang công ty cổ phần còn hạn chế

+ Bước 3: Từ năm 1989 đến năm 1997 trước tình trạng thua lỗ ngày càng gia

tăng của các DNNN, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh CPH DNNN và xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại Tuy nhiên, giai đoạn thử nghiệm CPH vẫn tiếp tục kéo dài Tính đến năm 1993 hơn 3000 doanh nghiệp thí điểm CPH trong cả nước Số công ty có cổ phiếu được mua, bán trên sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến là 196, trong đó 33 công ty đã phát hành loại cổ phiếu B, giá trị cổ phiếu trên thị trường đạt khoảng 400 tỷ nhân dân tệ

Nhìn chung, công tác CPH ở Trung Quốc trong thời gian thí điểm mới chỉ dựa trên cơ sở tự nguyện của các DNNN mà chưa thực sự mở rộng thành một chủ trương, có mục tiêu, chỉ tiêu rõ ràng Nếu so sánh với tổng số khoảng 305.000

Trang 39

DNNN (số liệu năm 1977) thì con số vài nghìn doanh nghiệp được CPH thực

sự chỉ là khiêm tốn (chỉ chiếm gần 1%) Tuy nhiên trong giai đoạn này chương trình CPH ở Trung Quốc cũng đạt được rất nhiều thành công, các doanh nghiệp sau CPH đều hoạt động có hiệu quả, khả năng cạnh tranh trên thị trường trong

và ngoài nước tăng

- Giai đoạn triển khai: Trước thực trạng ì ạch của tiến trình CPH, cộng thêm sức ép từ việc làm ăn thua lỗ của các DNNN Đại hội lần thứ 15 Đảng cộng sản Trung Quốc (tháng 9/1977) đã nhấn mạnh việc đẩy nhanh công tác CPH và xây

dựng doanh nghiệp hiện đại theo công thức "Củng cố doanh nghiệp lớn và giải phóng doanh nghiệp nhỏ" với kế hoạch giảm dần theo 3 cấp:

+ Cấp cao nhất: Những doanh nghiệp thuộc loại này Nhà nước nắm giữ quyền

sở hữu 100% vốn, khoảng 1000 tập đoàn lớn trong các lĩnh vực chiến lược như an ninh, quốc phòng, năng lượng, công nghệ cao

+ Cấp trung gian: Nhà nước là cổ đông tham khảo (có thể là cổ đông chi phối; cũng

có thể là cổ đông thường) đối với doanh nghiệp lớn vừa không có tính chiến lược

+ Cấp thứ ba: Nhà nước tiến hành CPH, tư nhân hóa hàng loạt các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhà nước Trung Quốc không nắm giữ bất kỳ cổ phần nào trong các doanh nghiệp này Như vậy sau Đại hội lần thứ 15 của Đảng cộng sản Trung Quốc thì Chính phủ Trung Quốc đã phát động một cuộc cải cách DNNN quy mô lớn chưa từng có

Hậu quả là việc sa thải hàng loạt công nhân tại các doanh nghiệp đã diễn ra Tại thời điểm đó, Chính phủ Trung Quốc chưa có chính sách hỗ trợ lao động dôi dư, cộng với các vấn đề phúc lợi xã hội của DNNN trước đây bị xoá bỏ đã làm cho sức

ép về lao động thất nghiệp ngày một tăng, đe doạ tới sự ổn định chính trị, tại thời điểm đó người lao động bị sa thải khỏi DNNN khoảng 15 đến 20 triệu người, tình hình trên đã buộc Chính phủ Trung Quốc phải kiềm chế tốc độ CPH

và bán các DNNN Đây là giải pháp tình thế của Chính phủ Trung Quốc nhằm điều hoà chính sách, nhất là chính sách với người lao động và chính sách giá trong CPH và bán DNNN

Trang 40

Tính đến năm 2002 Trung Quốc đã thành lập được hơn 12.000 công ty cổ phần có sở hữu hỗn hợp trong đó Nhà nước nắm giữ khoảng 40%, các pháp nhân nắm giữ khoảng 40%, các cá nhân nắm giữ khoảng 20% vốn điều lệ của công ty cổ phần

Trải qua hơn 20 năm cải cách, mở cửa đến nay tiến trình cải cách DNNN ở Trung Quốc đã trải qua các giai đoạn như: giảm sự can thiệp hành chính, nới quyền, giảm thuế để lại lợi nhuận, mở rộng quyền tự chủ kinh doanh, từng bước phân tách quyền sở hữu với quyền kinh doanh và xây dựng chế độ kinh doanh có hiệu quả

1.3.2 Cổ phần hoá ở Malayxia

Quá trình cổ phần hóa các DNNN ở Malayxia được bắt đầu từ năm 1983 Lý

do và mục tiêu CPH các DNNN của Malayxia có nhiều đểm giống Việt Nam, chủ yếu do sự mở rộng quá mức khu vực kinh tế nhà nước gây ra sự mất cân đối kinh tế

vĩ mô làm cho thâm hụt ngân sách nhà nước lớn

CPH các DNNN ở Malayxia được chia làm 3 bước: 1) Tiến hành thương mại hóa doanh nghiệp; 2) chuyển các DNNN hoạt động theo luật công ty; 3) Xây dựng các DNNN đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định thành những tập đoàn kinh tế mạnh

có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Việc tiến hành CPH, đặc biệt việc phát hành cổ phiếu cũng có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài có công nghệ hiện đại, sản xuất theo hướng xuất khẩu Mức cổ phần tối đa bán cho các nhà đầu tư nước ngoài là 25% với mục đích để các nhà đầu tư nước ngoài không gây ảnh hưởng quá lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp

Kết quả CPH các DNNN ở Malayxia là khá to lớn Việc chuyển một phần các DNNN vào khu vực kinh tế tư nhân đã giảm bớt gánh nặng của nhà nước đối với doanh nghiệp Chuyển sang CTCP 96.000 công nhân, bán cổ phần được 6 tỷ USD, thu hút thêm 35,5 tỷ USD ở 24 CTCP từ các DNNN sau CPH Số tiền nhà nước thu được đã sử dụng cho các hoạt động khác 2 tỷ USD, chuyển giao 374 công

trình cho tư nhân (Trích: Hội thảo về CPH và kinh nghiệm quốc tế - Bộ Tài 2001) Số tiền các doanh nghiệp niêm yếu cổ phiếu trên thị trường chứng khoán sau

chính-cổ phần hóa đã giúp các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, tăng cường năng

Ngày đăng: 06/12/2015, 15:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Tình hình lao động của DNNN sau CPH trên địa bàn - Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở tỉnh phú thọ
Bảng 3.3. Tình hình lao động của DNNN sau CPH trên địa bàn (Trang 58)
Bảng 3.8. So sánh tỷ suất lợi nhuận của một số DNNN sau CPH - Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở tỉnh phú thọ
Bảng 3.8. So sánh tỷ suất lợi nhuận của một số DNNN sau CPH (Trang 75)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w