1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020

116 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH BÙI THỊ THU THẢO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC SAU ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ CỦA TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020 LUẬN VĂN THẠC S

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÙI THỊ THU THẢO

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC SAU ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ

CỦA TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÙI THỊ THU THẢO

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC SAU ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ

CỦA TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Ngưới hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Vũ Huy Từ

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất cứ một luận văn nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ

rõ nguồn gốc

Phú Thọ, ngày tháng năm 2013

Tác giả Luận văn

Bùi Thị Thu Thảo

Trang 4

Qua đây, tôi cũng xin được cảm ơn tới Lãnh đạo và chuyên viên phòng ĐTN, phòng dạy nghề sở Lao động - TBXH tỉnh Phú Thọ; cán bộ thư viện tỉnh Phú Thọ; CBCNV các doanh nghiệp đóng trên đại bàn tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho đề tài luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Phú Thọ, ngày tháng năm 2013

Tác giả Luận văn

Bùi Thị Thu Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của đề tài 3

6 Bố cục của luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC SAU ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ 4

1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng NNL sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.1.1 Nghề 4

1.1.1.2 Đào tạo nghề 5

1.1.1.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 7

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN 9

1.1.2.1 Yếu tố đầu vào 9

1.1.2.2 Yếu tố thuộc quá trình đào tạo 10

1.1.2.3 Môi trường xã hội 15

1.2.1 Kinh nghiệm của các nước khu vực Châu Á và Đông Nam Á về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực 16

1.2.2 Mô hình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Hacotab (trường cao đẳng nghề Công nghiệp và Kinh tế Hà nội) - mô hình ĐTN tiêu biểu cho mối tương tác giữa trường học và doanh nghiệp 20

Trang 6

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Cơ sở phương pháp luận 23

2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 23

2.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 23

2.2.2.2 Nhóm phương pháp thu thập thông tin 24

2.2.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu 28

2.2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 28

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 28

Chương 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC SAU ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ CỦA TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2010 - 2012 30

3.1 Đặc điểm địa bàn tỉnh Phú Thọ 30

3.1.1 Đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên 30

3.1.2 Đặc điểm kinh tế 31

3.1.3 Dân số và lao động 31

3.2 Thực trạng của chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ 31

3.2.1 Đặc điểm hệ thống ĐTN của tỉnh Phú Thọ 31

3.2.1.1 Về công tác dạy nghề 32

3.2.1.2 Thực trạng hệ thống ĐTN 32

3.2.2 Kết quả ĐTN của tỉnh Phú Thọ trong những năm qua 34

3.2.2.1 Số lượng ĐTN qua các năm 34

3.2.2.2 Phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN 44

3.3 Phân tích, đánh giá 54

3.3.1 Phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ 54

3.3.1.1 Yếu tố đầu vào 54

Trang 7

3.3.1.2 Yếu tố thuộc quá trình đào tạo 56

3.3.1.3 Môi trường xã hội 68

3.3.2 Tồn tại và nguyên nhân hạn chế đến chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề của tỉnh Phú Thọ 68

3.3.2.1 Một số tồn tại chủ yếu 68

3.3.2.2 Nguyên nhân hạn chế đến chất lượng NNL sau đào tạo nghề 69

Chương 4: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ CỦA TỈNH PHÚ THỌ 72

4.1 Mục tiêu, quan điểm phát triển của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2013 - 2020 72

4.2 Quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển dạy nghề của Phú Thọ 73

4.2.1 Quan điểm phát triển 73

4.2.2 Định hướng phát triển 74

4.2.3 Mục tiêu phát triển 75

4.2.4 Quan điểm trong việc nâng cao chất lượng ĐTN của Tỉnh 77

4.3 Một số biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 78

4.3.1 Biện pháp về cơ chế, chính sách 78

4.3.2 Quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp 81

4.3.3 Tăng cường liên kết toàn diện và chặt chẽ của các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp 83

4.3.4 Nâng cao chất lượng đầu vào 88

4.3.5 Nhóm biện pháp về tổ chức quá trình đào tạo 91

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 98

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Cơ sở dạy nghề Doanh nghiệp Đào tạo nghề Hội đồng tư vấn trường ngành Kinh tế xã hội

Lao động, thương binh và xã hộ Nguồn nhân lực

Tiểu ban tư vấn chương trình Trung cấp nghề

Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trung ương

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH

Bảng 3.1: Kết quả phát triển mạng lưới dạy nghề và ĐTN tại tỉnh Phú Thọ

giai đoạn 2010 - 2012 35

Bảng 3.2: Số lượng các cơ sở dạy nghề 36

Bảng 3.3 Cơ sở dạy nghề trong Tỉnh tính đến 2012 phân theo huyện, thành phố 37

Bảng 3.4: Công tác đào tạo trong giai đoạn 2008-2012 38

Bảng 3.5: Tốc độ tăng bình quân quy mô hệ ĐTN 42

Bảng 3.6 Xu hướng học tập của học sinh nghề 45

Bảng 3.7: Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của người được đào tạo 47

Bảng 3.8: Đánh giá của các cơ sở đào tạo về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của người được đào tạo 47

Bảng 3.9: Sự thích ứng công việc của nguồn nhân lực 49

Bảng 3.10: Tổng hợp việc làm và thu nhập của học sinh nghề 51

Bảng 3.11: Đánh giá mức độ liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp 53

Bảng 3.12: Đánh giá về mức độ phù hợp của chương trình đào tạo tại các trường, kết quả điều tra 57

Bảng 3.13: Kinh phí cho ĐTN 66

Bảng 4.1: Nhu cầu đào tạo NNL cho SXCN đến năm 2020 của tỉnh Phú Thọ 76

Bảng 4.2: Quan hệ liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp 83

Hình 3.1 Cơ cấu kết quả ĐTN hàng năm 43

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là mục tiêu hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng

định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có

chất lượng cao và coi đây là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” Kinh nghiệm các nước phát triển cho thấy nguồn nhân lực

được đào tạo là sức mạnh tổng hợp và năng lực cạnh tranh của quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế

Hiện nay nước ta có nguồn lao động dồi dào nhưng lao động qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ thấp; theo số liệu thống kê năm 2012 số lao động qua ĐTN và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 35% trên tổng số lao động đang làm việc, cơ cấu trình độ đào tạo và cơ cấu vùng mất cân đối nghiêm trọng, chưa đáp ứng nhu cầu của sản xuất, những biến động nhanh chóng của khoa học công nghệ và thị trường sức lao động

Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực (NNL) của tỉnh Phú Thọ trong những năm qua cho thấy: hàng năm số lượng lao động tăng lên nhanh nhưng chưa đi đôi với chất lượng Tính đến năm 2012, lao động có chất lượng cao đạt 17,4% Việc đào tạo nguồn nhân lực chưa chú ý tới cơ cấu lao động Hiện nay cơ cấu lao động giữa Đại học - Cao đẳng - Nghề nghiệp là 1 - 0,41 - 0.84 Trong khi đó, ở các nước tiên tiến cơ cấu ngành nghề là 1 - 4 - 10 Công tác đào tạo NNL mất cân đối giữa đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế, khoa học xã hội và nhân văn, chưa quan tâm đến kiến thức phụ trợ, cơ sở vật chất trang thiết bị không đảm bảo thời gian thực hành Chưa có đội ngũ khoa học kỹ thuật, chuyên gia đầu ngành, giáo viên dạy nghề có tay nghề cao Chất lượng nguồn nhân lực hiện nay chưa đáp ứng với yêu cầu CNH - HĐH và hội nhập quốc tế

Để xác định phương hướng, biện pháp nâng cao chất lượng NNL thì việc khảo sát thực trạng cung cấp và sử dụng NNL là rất quan trọng Việc phát triển sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ phải dựa trên các kết quả có tính khoa học, khách quan của công tác khảo sát nguồn nhân lực Trong khi đó, trên phạm vi

Trang 11

quốc gia và tỉnh Phú Thọ, cho đến nay chưa có công trình, đề tài nào nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện về vấn đề này

Xuất phát từ những lý do trên tác giả thực hiện đề tài: “Nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ đến năm 2020”

làm luận văn thạc sĩ nhằm góp phần làm rõ hơn về mặt lý thuyết và đáp ứng yêu cầu thực tế về đổi mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh nhà

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ; đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN của tỉnh Phú Thọ nói riêng, qua đó góp phần phát triển Kinh tế - Xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về NNL, chất lượng NNL;

- Đánh giá đúng thực trạng về chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN của Tỉnh dựa trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực;

- Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại các cơ sở dạy nghề của Tỉnh

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về thực trạng chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại 5

cơ sở dạy nghề, thực trạng về 5 trường ĐTN và nguồn nhân lực lao động tại 20 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Trang 12

- Về thời gian: Tài liệu tổng quan được thu thập từ những tài liệu đã công bố

trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến nay; số liệu điều tra thực trạng về chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề chủ yếu trong 3 năm từ năm

2010 đến năm 2012

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của Tỉnh

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng nguồn nhân lực và đánh giá đúng thực trạng về chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các

cơ sở dạy nghề của Tỉnh, đề tài đã cung cấp cơ sở khoa học, thực tiễn cho việc xây dựng biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN, góp phần thúc đẩy sự phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới

5 Những đóng góp mới của đề tài

- Hệ thống hoá, làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng NNL;

- Phân tích và chỉ rõ được thực trạng quy mô, cơ cấu và chất lượng NNL sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ, qua đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân;

- Đề xuất một số biện pháp mang tính thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh

6 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề;

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;

Chương 3: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010 -2012;

Chương 4: Một số biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại các cơ

sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG

NGUỒN NHÂN LỰC SAU ĐÀO TẠO NGHỀ

TẠI CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ 1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng NNL sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Nghề

Thứ nhất, theo PGS TS Mai Quốc Chánh; PGS TS Trần Xuân Cầu (2008,

tr45) nêu rõ “Nghề là một hình thức phân công lao động, nó được biểu thị bằng

những kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định Những công việc được sắp xếp vào một nghề là những công việc đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp như nhau, thực hiện trên những máy móc, thiết bị, dụng cụ tương ứng như nhau, tạo ra sản phẩm thuộc về cùng một dạng”

Thứ hai, ở một khía cạnh khác, “Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà

trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội”

Thứ ba, theo Th.s Lương Văn Úc (2003, tr77)“Nghề là một dạng xác định

của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định”

Từ các cách hiểu trên cho thấy nghề là một phạm trù của sự phân công lao động xã hội, xã hội phát triển thì ngành nghề cũng thay đổi theo.Và dưới góc độ đào tạo, nghề là toàn bộ các kiến thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm nghề nghiệp và các phẩm chất khác

Mỗi một loại việc làm được chuyên môn hóa trong xã hội đều được coi là một nghề

Trong hệ thống đào tạo có hai dạng: đào tạo lao động kỹ thuật hệ thực hành

và đào tạo lao động chuyên môn, hệ kiến thức hàn lâm

Trang 14

- Lao động kỹ thuật hệ thực hành là lao động đã được đào tạo qua các cấp trình độ nghề kỹ thuật (dạy nghề), trung cấp kỹ thuật, cao đẳng kỹ thuật thực hành, đại học kỹ thuật thực hành, sau đại học kỹ thuật thực hành Hệ thống đào tạo này thực hiện việc đào tạo các chuyên ngành về kỹ thuật, công nghệ, nghiệp vụ nhưng đào tạo nặng hơn về thực hành Lao động này làm các công việc như: kỹ sư công nghệ, kỹ sư kinh tế, kỹ thuật viên, kỹ sư chỉ đạo sản xuất, CNKT…

- Lao động chuyên môn, hệ kiến thức hàn lâm bao gồm chủ yếu là lao động qua đào tạo ở cấp trình độ đại học, sau đại học, đào tạo thuộc hệ đào tạo nặng hơn

về kiến thức hàn lâm, kiến thức lý thuyết và làm các công việc như: nghiên cứu khoa học, phân tích - thống kê kinh tế, giảng viên các trường đại học (thường không bao gồm các giảng viên kỹ thuật hệ thực hành), nhà quản lý, chuyên gia thuộc các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau…

Như vậy có rất nhiều nghề trong xã hội, trong khuôn khổ luận văn chỉ nghiên cứu nghề trong hệ thống nghề được đào tạo tại các cơ sở dạy nghề của địa phương bao gồm CNKT được đào tạo chính quy tại các trường, lớp dạy nghề; nhân viên

nghiệp vụ và phổ cập nghề cho người lao động

1.1.1.2 Đào tạo nghề

Khái niệm đào tạo thường gắn với giáo dục, nhưng hai phạm trù có sự khác nhau rõ rệt

Thứ nhất - Giáo dục, được hiểu là các hoạt động và tác động hướng vào sự

phát triển và rèn luyện năng lực nói chung (bao gồm tri thức, kỹ năng và kỹ sảo…)

và phẩm chất (niềm tin, tư cách, đạo đức…) ở con người để có thể phát triển nhân cách đầy đủ nhất và trở nên có giá trị tích cực đối với xã hội Hay nói cách khác, giáo dục còn là quá trình khơi gợi và kiến tạo các tiềm năng trong mỗi con người, góp phần nâng cao các năng lực và phẩm chất cá nhân của cả thầy và trò theo hướng hoàn thiện hơn, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại

Thứ hai - Đào tạo theo từ điển Tiếng Việt, “đào tạo được hiểu là việc: làm

cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”

Trang 15

- Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2008, tr54) “Đào tạo là quá trình trang bị

kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định”

- Từ góc nhìn của các nhà giáo dục và đào tạo Việt Nam, khái niệm tương đối đầy đủ là: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt

được các kiến thức, kỹ năng và kỹ sảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực

để thực hiện thành công một hoạt động xã hội (nghề nghiệp) cần thiết

Hay nói cách khác, đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống có tính chất chuyên môn hóa để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một loại công việc nhất định

Giáo dục và đào tạo đều có điểm chung là đều hướng vào việc trang bị kiến thức kỹ năng để phát triển năng lực có tính chất phổ thông của người lao động Tuy nhiên, trong giáo dục nhằm vào những năng lực rộng lớn có tính chất phổ thông còn đào tạo lại nhằm vào những năng lực cụ thể để người lao động đảm nhận một loại công việc xác định, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và ĐTN, đào tạo lạo,

Luật dạy nghề ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 đưa ra khái niệm như

sau: “Dạy (đào tạo) nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng

và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” Luật cũng quy định có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề và về hình thức dạy nghề bao gồm cả dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên

Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước

Trang 16

1.1.1.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

* Nguồn nhân lực

Có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực

Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề,

là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống của con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng

Theo GS.Phạm Minh Hạc (2001), nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước, một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó

Từ đó có thể hiểu: Nguồn nhân lực của một tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mối cá nhân thành nguồn lực của tổ chức

* Chất lượng nguồn nhân lực

Theo GS.Trần Xuân Cầu, Giáo trình Kinh tế lao động thì: “chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực Đó là các yếu tố phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc”

Theo TS.Vũ Thị Mai: Chất lượng NNL là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động

* Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Nâng cao chất lượng NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con người lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển

* Tiêu chí và phương pháp đo lường chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN:

- Tiêu chí đo lường chất lượng nguồn nhân lực:

+ Tiêu chí 1, sự phù hợp công việc và ngành học

Tiêu chí này được đánh giá dựa trên việc người học sau khi ra trường có tìm được công việc phù hợp với ngành nghề mình đã được đào tạo trong nhà trường hay

Trang 17

không Việc vận dụng kiến thức được học vào thực tiễn là hết sức quan trọng đối với học viên học nghề “Trăm hay không bằng tay quen”, các kỹ năng thuần thục được đánh giá là khó đối với các học viên mới tốt nghiệp, mà cần phải trải qua một thời gian công tác Do vậy để đo lường tiêu chí này, người ta dựa vào khả năng tìm được công việc phù hợp của học viên sau khi ra trường

+ Tiêu chí 2, quy mô - cơ cấu đào tạo

Mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo định hướng chủ yếu vào việc đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, nhu cầu của người học, xã hội, phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu sử dụng lao động của địa phương, ngành

Một quy mô - cơ cấu đào tạo hợp lý, gắn với chiến lược phát triển toàn diện của địa phương là một yếu tố quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bên cạnh đó cũng giảm được những tổn thất, lãng phí do đào tạo không

cân đối với đòi hỏi của xã hội

+ Tiêu chí 3, kết quả học tập của học sinh nghề

Trong quá trình học nghề, người học được đánh giá kết quả thông qua điểm của bài kiểm tra giữa kỳ Kết thúc khóa đào tạo, người học trải qua kỳ thi kiểm tra dưới hình thức tự luận là chính, bên cạnh đó có một số môn thi theo hình thức trắc nghiệm; nội dung câu hỏi xoay quanh những kiến thức đã được học trong nhà trường

Chất lượng NNL sau đào tạo được đánh giá thông qua tỷ lệ học sinh đạt loại khá giỏi sau khi ra trường Học sinh sau khi hoàn thành khóa học sẽ có bảng điểm được tổng kết trong suốt cả quá trình học tập thông qua các hình thức kiểm tra và thi như trên

Tiêu chí 4, có phẩm chất, thái độ lao động tốt

Tiêu chí này rất quan trọng nhưng không dễ dàng định lượng Học viên học nghề ra trường chủ yếu làm công nhân kỹ thuật, hàng ngày tiếp xúc với máy móc, thiết bị Do vậy, cần phải có thái độ lao động tốt, được trang bị kiến thức về an toàn,

vệ sinh lao động, tác phong làm việc gọn gàng, khoa học Bên cạnh đó không ngừng học hỏi và nâng cao kiến thức chuyên môn, trình độ lành nghề và khả năng sáng tạo trong lao động

Trang 18

Hơn nữa, phẩm chất của người lao động còn được thể hiện qua ý thức, đạo đức, lối sống; chấp hành kỷ luật, quy định tại nơi làm việc; luôn tu dưỡng, rèn luyện

để trở thành công dân có ích cho xã hội

- Phương pháp đo lường chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN:

Phương pháp đo lường chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê thông qua các

cơ sở đào tạo để có số liệu cụ thể từ đó phân tích và đánh giá chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo qua các năm, giai đoạn, thời kỳ

Sử dụng phương pháp thống kê để chỉ ra xu hướng thay đổi của các chỉ tiêu, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu thống kê với nhau, từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá,…

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN

Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các nhà trường, việc phấn đấu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bao giờ cũng được xem là nhiệm

vụ quan trọng nhất trong công tác đào tạo của các cơ sở ĐTN Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng như đã nêu ở trên Tuy nhiên đối với công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề chịu ảnh hưởng của các yếu tố:

1.1.2.1 Yếu tố đầu vào

Một số quốc gia có quan điểm rằng: chất lượng đầu vào của một nhà trường phụ thuộc vào chất lượng và số lượng đầu vào của trường đó Theo quan điểm này, một trường tuyển được học sinh - sinh viên giỏi được xem là có chất lượng cao

Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa dạng, liên tục trong một thời gian dài trong nhà trường Sẽ khó giải thích trường hợp một trường có nguồn lực đầu vào dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đào tạo hạn chế, hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn nhưng đã cung cấp cho học sinh một chương trình đào tạo hiệu quả

Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận vai trò của chất lượng “đầu vào”, đặc biệt là đối với các hệ ĐTN Chất lượng đầu vào là cơ sở, là nền móng vững chắc để đảm bảo chất lượng quá trình đào tạo Chất lượng đầu vào thường được đánh giá thông qua: số lượng thí sinh dự tuyển thực, chỉ tiêu tuyển, chất lượng tuyển (tiêu chí

và chuẩn tuyển), cơ cấu học sinh nhập học theo vùng, miền…

Trang 19

Chất lượng đầu vào là nhân tố nằm trong nhóm yếu tố về người học, có ảnh hưởng lớn đến việc tiếp thu chương trình đào tạo, chất lượng đầu vào sẽ có quyết định đến:

Thứ nhất, đó là năng lực học tập hay khả năng tiếp thu kiến thức của học

sinh Đây là tiêu chí dùng để đánh giá mức độ thông minh của người học Nếu trường tuyển được những sinh viên giỏi thì việc tiếp thu chương trình học của sinh viên sẽ dễ dàng hơn và do đó sinh viên sẽ có kiến thức, kỹ năng tốt hơn sau khi tốt nghiệp Tuy nhiên, tiêu chí này khó có thể lượng hóa Thông thường chúng ta sẽ sử dụng điểm tuyển sinh để đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức của sinh viên

Thứ hai, là mức độ chuyên cần và tâm lý ổn định, yên tâm học tập của sinh

viên Năng lực tiếp thu kiến thức là điều kiện cần để sinh viên có thể học tập tốt Nếu người học có năng lực tốt nhưng tâm lý không ổn định, không chuyên tâm vào học hành thì lượng kiến thức tiếp thu sẽ không nhiều Tuy nhiên tiêu chí này cũng rất khó lượng hóa

Thực tế đào tạo đã chứng minh rằng: học sinh lớp được tuyển từ kết quả thi đại học, cao đẳng điểm cao có sức học tốt hơn, kết quả tốt nghiệp cao hơn và làm việc tốt hơn những học sinh tuyển trực tiếp từ xét tuyển Chính vì vậy "chất lượng đầu vào" ảnh hưởng khá lớn tới "chất lượng đầu ra" của người học

1.1.2.2 Yếu tố thuộc quá trình đào tạo

a Nội dung chương trình:

Nội dung chương trình được thiết kế khi đã có mục tiêu đào tạo Câu hỏi chính được trả lời khi thiết kế nội dung chương trình là: Dạy cái gì? Dạy như thế nào? Chương trình phải phản ánh mục tiêu tương ứng Diễn đạt càng chi tiết càng thuận lợi cho việc biên soạn giáo trình, bài giảng

Chương trình đào tạo được thể hiện thông qua những nội dung sau:

- Thời gian đào tạo

- Kết cấu thời lượng từng nhóm kiến thức (cơ bản, cơ sở, ngành và bổ trợ)

- Thời lượng của từng học phần và kết cấu lý thuyết, thực hành

- Thời gian thực tập về ngành

Trang 20

Chất lượng của nội dung chương trình đào tạo phụ thuộc vào mức độ phù hợp của tất cả những nội dung trên Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo của học sinh các hệ ĐTN thì cần chú trọng một số vấn đề sau:

- Bổ sung, hoàn thiện chương trình đào tạo, đảm bảo mức độ phù hợp cao nhất giữa lý thuyết và thực tiễn

- Tăng cường tỷ trọng thời lượng của các môn ngành

- Tăng tỷ trọng thời lượng thực hành nghiệp vụ ngành

- Hoàn thiện nội dung môn học (chi tiết về nội dung khoa học, yêu cầu các yếu tố đảm bảo thực hiện nội dung, tiêu chí đánh giá và thước đo đánh giá mức độ đạt được của chất lượng kiến thức môn học)

- Đảm bảo tính linh hoạt, thống nhất giữa các môn học

Như vậy, nội dung chương trình là yếu tố cơ bản quyết định chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo Vì vậy việc rà soát, bổ sung và hoàn chỉnh nội dung chương trình là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng hàng đầu của các cơ sở đào tạo

b Đội ngũ giáo viên:

Có chương trình, giáo trình, tài liệu học tập, thiết bị đầy đủ, thời lượng học hợp lý nhưng giáo viên yếu năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức kém thì không thể dạy tốt và sẽ không có chất lượng đào tạo tốt được Vì vậy việc đảm bảo đội ngũ đủ về cả số lượng và chất lượng là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo

- Số lượng giáo viên thể hiện ở tỷ lệ số học sinh trên một giáo viên, đặc biệt

cơ cấu giáo viên hợp lý theo ngành đào tạo, khoa, tổ bộ môn

- Chất lượng giáo viên thể hiện ở đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn

và sư phạm

Điều quan trọng nhất trong đạo đức nghề nghiệp là lấy sự thành đạt của học trò làm niềm vui, vinh dự, là sự thành đạt của mình và luôn biết “giữ mình”

Năng lực dạy học của giáo viên không chỉ được đánh giá thông qua bằng cấp

mà quan trọng hơn là phải nắm vững kiến thức chuyên môn, có phương pháp dạy học tốt, có nhiều kinh nghiệm trong thực tế, hướng dẫn học sinh ứng dụng thực tế

có hiệu quả và cần thường xuyên lắng nghe, khảo sát ý kiến người học

Trang 21

Đối với các cơ sở ĐTN thì yêu cầu về đội ngũ giáo viên càng phải đòi hỏi toàn diện cả về phẩm chất đạo đức và kinh nghiệm thực tiễn mới đáp ứng được yêu cầu về giáo dục, rèn luyện nhân cách và kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh

c Phương pháp dạy học:

Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương tác được điều chỉnh giữa giáo viên và học sinh hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học

Các phương pháp dạy học hiện nay rất đa dạng và được xếp vào nhiều kiểu phân loại khác nhau dựa trên những cơ sở nhất định Những phương pháp dạy học phổ biến thường áp dụng là: diễn giảng, trình diễn, thảo luận nhóm, công não, tự học, bài luyện, nghiên cứu điển hình, đóng vai, tham quan thực tế…Mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm riêng

- Nhóm phương pháp thiên về tính chủ động của giáo viên như diễn giảng, trình diễn có ưu điểm cơ bản là: chủ động tiến trình đào tạo, phù hợp với lớp đông, thiếu phương tiện dạy học, chi phí đào tạo thấp Tuy nhiên lại bộc lộ nhiều nhược điểm: thông tin một chiều, học sinh thụ động, hiệu quả hấp thụ bài giảng thấp, không phù hợp với đào tạo kỹ năng…

- Nhóm những phương pháp dạy học thiên về phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học còn lại có nhiều ưu điểm: học sinh hoạt động nhiều, hứng thú trong học tập, hiệu quả tiếp thu bài giảng cao, rèn luyện tính chủ động trong nghiên cứu, tự đào tạo, phù hợp với rèn luyện kỹ năng…Tuy nhiên cũng có những yêu cầu cao hơn như: đòi hỏi đội ngũ giáo viên có chất lượng cao, tốn thời gian và sức lực chuẩn bị bài giảng, số học sinh mỗi lớp vừa phải (khoảng 30 người), khó kiểm soát được tiến độ dạy học, chi phí cao…

Thực tế, ở tất cả các cơ sở đào tạo thì tùy theo từng học phần và năng lực giáo viên mà sử dụng phương pháp dạy học khác nhau Tuy nhiên, nếu kết hợp hài hòa được các phương pháp dạy học cho từng học phần thì mới phát huy được hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

Đặc biệt, đối với các cơ sở ĐTN thì cần lựa chọn những nội dung cơ bản, cốt lõi để trang bị cho học sinh theo phương pháp dạy học phối hợp giữa thuyết giảng,

Trang 22

trình diễn với bài luyện, nghiên cứu điển hình, tham quan thực tế Điều này yêu cầu giáo viên phải có kinh nghiệm thực tế, xây dựng kế hoạch và chuẩn bị rất kỹ từng nội dung của học phần phụ trách

d Tổ chức quản lí đào tạo:

Công tác tổ chức quản lí đào tạo về bản chất là triển khai thực hiện quản lý đào tạo theo chương trình đào tạo và quy chế đào tạo hiện hành thông qua kế hoạch đào tạo học kỳ, năm học và khóa học đã duyệt

Nguyên tắc chung khi tổ chức quản lý đào tạo là:

- Triển khai đúng chương trình và kế hoạch khóa học đã duyệt;

- Thực hiện đúng quy chế đào tạo hiện hành;

- Không tự điều chỉnh, sửa đổi, vận dụng sai quy định Trong trường hợp cần thiết phải có ý kiến phê duyệt của Ban giám hiệu.;

- Đảm bảo lưu trữ đầy đủ, an toàn, tra cứu nhanh các tài liệu khi cần tìm

Nội dung của tổ chức quản lý đào tạo bao gồm: tổ chức bộ máy, tổ chức dạy học, tổ chức học và tổ chức đánh giá

+ Thực chất của tổ chức dạy học là hàng loạt các công tác liên quan đến giáo viên Từ việc cung cấp kế hoạch đào tạo, chương trình đào tạo theo từng học phần, hình thức đào tạo cho đến việc kiểm tra tiến trình dạy học và đánh giá học sinh của giáo viên mỗi học phần

+ Tổ chức học là những phần việc liên quan đến học sinh như: tổ chức chỉnh huấn đầu khóa; phổ biến đầy đủ quy chế, chương trình học, quyền và nghĩa vụ của học sinh; phân lớp; quản lý học sinh; tổ chức các hoạt động của học sinh…trong cả khóa đào tạo

+ Tổ chức đánh giá bao gồm cả kết quả học tập và kết quả rèn luyện phải được thực hiện thường xuyên và theo đúng quy chế hiện hành Đánh giá kết quả học tập phải được thực hiện theo từng học phần trên cơ sở điểm quá trình và điểm thi Khi tổ chức thi, kiểm tra cần lựa chọn hình thức, nội dung phù hợp nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu đề ra

Việc thực hiện tốt quy trình đào tạo là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo Đặc biệt là công tác kiểm tra quá trình dạy của

Trang 23

giáo viên, quá trình học của học sinh và tổ chức tốt việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh

e Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học:

Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học ngày càng đóng vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Xã hội càng phát triển, lượng thông tin, kiến thức mới càng nhiều, tốc độ tiếp nhận và xử lý thông tin càng nhanh, mức độ phụ thuộc của con người vào máy móc thiết bị ngày càng cao Trong lĩnh vực đào tạo, các thiết bị hỗ trợ giảng dạy ngày càng trở thành những sự trợ giúp không thể thiếu, là công cụ để tiếp nhận, khám phá tri thức như máy tính, mạng internet, máy chiếu, micro,…

Theo cách tiếp nhận thông tin, tại “Hội nghị Paris về giáo dục học đại học trong thế kỷ 21” do UNESCO tổ chức tháng 10/1998, có tổng kết 3 mô hình giáo dục, đào tạo tương ứng với những tác động, yêu cầu khác nhau Cụ thể là:

Mô hình Trung tâm Vai trò người học Công nghệ

Truyền thống Người dạy Thụ động Bảng/TV/Radio

Thông tin Người học Chủ động PC-Personal computer Tri thức Nhóm Thích nghi PC+mạng

Để phát huy vai trò của cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo thì các cơ sở đào tạo cần thực hiện được những vấn đề sau:

- Phải quy hoạch khuôn viên hợp lý;

- Phải có đủ phòng học đạt tiêu chuẩn;

- Trang bị đầy đủ giáo trình, tài liệu tham khảo phong phú;

- Đảm bảo có thư viện, phòng đọc đủ chuẩn;

- Đảm bảo đầy đủ trang thiết bị dạy học như dụng cụ, đèn chiếu, hệ thống âm thanh, ti vi, radio…

- Đảm bảo đủ phòng thực hành, thí nghiệm phù hợp nghiệp vụ ngành;

- Trang bị mạng internet;

- Đảm bảo chỗ ở và khu vui chơi đạt chuẩn…

Trang 24

f Tài chính cho đào tạo:

Tăng cường nguồn lực tài chính trong đào tạo là một trong những nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng đầu ra Vấn đề tài chính bao gồm thu và chi Để nguồn lực tài chính phát huy hiệu quả cao trong đào tạo thì hai quá trình thu và chi đều phải được thực hiện tốt

Các nguồn thu phải thỏa mãn nhu cầu về chi tiêu cho đào tạo về việc mua sắm, sửa đổi nội dung chương trình, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo và nâng cao thu nhập của giáo viên Có như vậy, cơ sở vật chất mới đáp ứng được nhu cầu của giảng dạy và một mức thu nhập thỏa đáng mới thu hút được đội ngũ giáo viên giỏi Đây là những nền tảng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo

Các khoản chi tiêu hợp lý nhằm sử dụng các nguồn lực về tài chính một cách hiệu quả Chi tiêu hợp lý là chi tiêu cho những vấn đề cần thiết nằm trong khả năng chi trả của trường Việc chi tiêu cần ưu tiên cho những vấn đề cấp thiết nhất của việc đào tạo và phải luôn chú ý tính hiệu quả của nó

Thật vậy, ở nhiều cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường nghề thì những yếu tố đang ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo hiện nay là lớp học đông nên hiệu quả giảng dạy và học tập thấp; đội ngũ giáo viên không yên tâm công tác do thu nhập thấp; nội dung chương trình ngành chưa thực sự gắn với thực tiễn; phương pháp giảng dạy không đổi mới được bao nhiêu do thiếu tài liệu và phương tiện dạy học; việc áp dụng công nghệ dạy học mới, các thành quả của công nghệ thông tin vào việc dạy và học thấp; cơ sở vật chất phục vụ học tập không đầy đủ; ít

có cơ hội tiếp xúc với thực tiễn sản xuất, kỹ năng về tin học, ngoại ngữ yếu…

Như vậy, việc lập kế hoạch với quy mô, cơ cấu hợp lý và áp dụng những biện pháp về tài chính đáp ứng được các hoạt động đào tạo nhằm khắc phục những hạn chế nói trên là điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lục sau đào tạo của trường

1.1.2.3 Môi trường xã hội

Các yếu tố của môi trường có quan hệ mật thiết, bổ trợ cho nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của con người Nếu môi trường xã hội tốt thì các nhân tố cấu thành môi trường sẽ bổ trợ cho nhau, con người sống sẽ được hưởng

Trang 25

đầy đủ các quyền: sống, làm việc, cống hiến, hưởng thụ Ngược lại, môi trường sống xấu, các nhân tố cấu thành loại trừ nhau và tác động tiêu cực đến sự sống, làm việc, cống hiến và hưởng thụ của con người

Học sinh với tư cách là con người sống trong xã hội nhất định nên chịu tác động đầy đủ của môi trường xã hội mà họ đang sống và làm việc, cống hiến và hưởng thụ Các tác động của xã hội đến học sinh là rất mạnh mẽ vì họ là những người trẻ tuổi, năng động, nhạy cảm với môi trường xung quanh Chúng ta có thể thấy sự tác động này qua một sô biểu hiện sau đây:

- Sự ổn định về chính trị và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của nước ta trong những năm gần đây, cùng với chính sách mở cửa, hội nhập ngày càng sâu và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới đã tác động không nhỏ đến việc lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên nước ta Tỷ lệ học sinh theo học khối ngành kinh tế-xã hội là rất lớn, trái ngược hẳn với thời kỳ bao cấp trước đây

- Sự bùng nổ của thông tin đang là công cụ hữu hiệu giúp học sinh học tập tốt hơn thông qua việc dễ dàng tìm kiếm, cập nhật thông tin, tiếp cận nhanh chóng với tri thức nhân loại, tăng cường khả năng tự học, đa dạng hóa loại hình học tập, cơ hội học tập; mặt trái của nó là ảnh hưởng của các sản phẩm văn hóa độc hại, bạo lực vừa tốn nhiều thời gian lại vừa tác động xấu đến đạo đức của học sinh và từ đó làm giảm chất lượng học tập

- Xu hướng sống độc lập trên thế giới đã tác động mạnh mẽ đến giới trẻ, nhất

là học sinh Họ ngày càng bớt phụ thuộc vào gia đình trong việc lựa chọn nghề nghiệp, ngành học Sự năng động của họ ngày càng cao đã tác động tích cực đến kết quả rèn luyện và học tập nhờ sự chủ động hơn trong quá trình học và nghiên cứu…

1.2.1 Kinh nghiệm của các nước khu vực Châu Á và Đông Nam Á về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực

Ở Nhật Bản, hầu hết ĐTN đều dựa trên cơ sở ở việc làm tại cơ sở sản xuất,

dịch vụ và tiến hành trong điều kiện thể chế rất mạnh mẽ Người Nhật rất mong muốn suốt đời gắn liền với sự hành nghề của mình với một chủ doanh nghiệp, ngược lại chủ doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm về vấn đề đó Có lẽ vì truyền thống mà chúng ta cảm nhận rằng Nhật Bản vẫn giữ cái thể thức ĐTN chủ

Trang 26

yếu thời kỳ đầu phát triển công nghiệp Người quản đốc đóng vai trò là người thầy quan trọng nhất, còn người học việc phải chấp nhận “tự học” rất nhiều Phương thức đào tạo chủ yếu tại nơi làm việc

Ở Thái Lan, ĐTN chính quy - dựa vào trường (khóa dài hạn) do Bộ Giáo dục

quản lý, không chính quy - dựa vào trung tâm (khóa ngắn hạn) do Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội quản lý Tuy nhiên, sự phát triển ĐTN nói chung và tiêu chuẩn kỹ năng của người lao động nói riêng phải theo hướng phát triển nguồn nhân lực mà Bộ Lao động chịu trách nhiệm về chiến lược và quản lý nghề

Tạ Hàn Quốc, chính sách giáo dục được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của

nền kinh tế Tháng 12-2001, Chính phủ Hàn Quốc công bố Chiến lược quốc gia lần thứ nhất về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005 Tiếp đó, Chiến lược quốc gia lần thứ hai về phát triển nguồn nhân lực thời kỳ 2006-2010 được xây dựng

và thực hiện hiệu quả Nội dung chính của các chiến lược này đề cập tới sự tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, trường đại học và các cơ sở nghiên cứu; nâng cao trình độ sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý kiến thức, kỹ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin cho phát triển nguồn nhân lực; xây dựng và phát triển thị trường tri thức

Tại Trung Quốc, Chính phủ đang hết sức quan tâm đến việc đào tạo và sử

dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có trong nước, nhằm nâng cao chất lượng nguồn

lực này khi chuyển dần sang kinh tế tri thức Năm 2003, Trung Quốc đã đề ra Chiến

lược tăng cường hơn nữa công tác bồi dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả được đề ra trong Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc Nội dung của chiến lược là: lấy nhân tài chấn hưng đất nước, xây dựng đội ngũ đông đảo nhân tài có chất lượng cao; kiên quyết quán triệt phương châm tôn trọng lao động, trí thức, tôn trọng nhân tài và sự sáng tạo, lấy thúc đẩy phát triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tác nhân tài, điều chỉnh đào tạo nhân tài một cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, ra sức đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình thành cơ chế đánh giá và sử dụng nhân tài một cách khoa học

Trang 27

Trong khu vực Đông Nam Á, Xin-ga-po được coi là hình mẫu về phát triển nguồn nhân lực Thực tế đã minh chứng, quốc gia nhỏ bé này đã rất thành công

trong việc xây dựng một đất nước có trình độ dân trí cao và hệ thống giáo dục phát triển hàng đầu châu Á Hệ thống giáo dục của nước này rất linh hoạt và luôn hướng đến khả năng, sở thích cũng như năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy cao nhất tiềm năng của mình Bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học - công nghệ mới vào giảng dạy, chương trình đào tạo của Xin-ga-po luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách, truyền thống văn hóa dân tộc Chủ trương thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, Chính phủ Xin-ga-po miễn xét thị thực cho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí học tập vừa phải, môi trường học tập hiện đại, các ngành nghề đào tạo đa dạng Nhà nước Xin-ga-po chỉ đầu tư vào rất ít trường công lập để có chất lượng mẫu mực, có chính sách tín dụng thích hợp để thu hút đào tạo nhân tài Đối với khối ngoài công lập, Chính phủ tạo điều kiện để phát triển, khuyến khích việc liên thông, liên kết với nước ngoài, mời gọi các đại học quốc tế đặt chi nhánh

Tại Việt Nam, với việc đổi mới nền giáo dục quốc dân trong nhiều năm qua, mặc dù giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định, song nhìn chung, vẫn còn tồn tại nhiều nghịch lý, chưa theo kịp trình độ phát triển của giáo dục thế giới, thậm chí còn nhiều tiêu cực nảy sinh trong hệ thống giáo dục Bước vào năm học mới, bên cạnh niềm vui đưa con, nhìn con đến trường, hân hoan với sự trưởng thành của con cái, là nỗi băn khoăn, lo lắng, của các bậc phụ huynh khi nghĩ đến

những việc phải làm đối với việc học tập của con trong suốt cả năm học

Thực tế cho thấy, học sinh ở bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông học căng thẳng, chịu “tải” nhiều hơn ở bậc học đại học Học sinh và phụ huynh đều lao vào cuộc chạy đua trang bị kiến thức với sự mệt mỏi và cảm giác “vô lý”, nhưng lại không yên tâm để dừng lại Học sinh phải học và nhớ nhiều kiến thức lý thuyết nhưng khi học xong, hoặc không nhớ, hoặc chóng quên, trong khi kiến thức thực tế, cách cư xử trong gia đình, kỹ năng làm việc theo nhóm, cách giao tiếp, hành xử trong cộng đồng , lại được đào tạo, giáo dục không tương xứng

“Chúng ta không thiếu việc làm mà thiếu cử nhân làm được việc” Nhận xét khái quát này cho thấy việc đào tạo học để có nghề và ra làm được nghề có rất

Trang 28

nhiều bất cập Điều này tồn tại đã lâu và được nói đến nhiều nhưng vẫn chưa thể khắc phục Chính vì thế mà hằng năm Việt Nam có khoảng 223.000 sinh viên tốt nghiệp đại học hệ công lập và 22.700 sinh viên tốt nghiệp đại học hệ dân lập (theo

số liệu của Tổng cục Thống kê), nhưng tỷ lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường

bị thất nghiệp là 63% (theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Một hậu quả tiếp theo là, vì phần đông cử nhân ra trường vẫn mơ hồ về định hướng nghề nghiệp, mục tiêu mong muốn đạt tới, hình mẫu lý tưởng trong nghề nghiệp của mình, thiếu kiến thức thực tế và kỹ năng hành nghề, cũng như kỹ năng thuyết trình, làm việc nhóm làm cho nhiều nhà tuyển dụng thấy việc tuyển các cử nhân vào các vị trí làm việc rất khó khăn

Một vấn đề nữa là, việc đào tạo ở bậc học đại học chưa thực sự gắn chặt với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, việc lựa chọn nghề nghiệp theo học mang nhiều cảm nhận chủ quan Dự báo quốc gia về nhu cầu lao động trong tương lai chưa có, vì thế dẫn tới tình trạng mất cân đối trong ĐTN, và tiếp theo sẽ là thừa cung lao động trong một số nghề và thiếu lao động trong nhiều nghề khác - những nghề mà hiện nay rất ít học sinh nộp hồ sơ dự học, nhưng lại rất cần thiết đối với sự phát triển của đất nước

Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm của thế giới có thể thấy rằng, việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta có

ý nghĩa hết sức quan trọng và cũng là yêu cầu bức thiết hiện nay

Thứ nhất, Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu rõ: Phải đổi mới căn bản và toàn

diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Để hiện thực hóa chủ trương,

quan điểm của Đảng, cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế Đây không chỉ là trách nhiệm của các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách, mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mỗi cá nhân “Bản thân người học phải tự thay đổi chính mình Cần xác định mục

Trang 29

tiêu và định hướng nghề nghiệp cụ thể, lâu dài ”, từ đó tập trung tích lũy và xây dựng kho kiến thức, kỹ năng cần thiết cho bản thân

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy rõ, coi trọng và quyết tâm thực thi chính sách giáo dục - đào tạo phù hợp là nhân tố quyết định tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển nhanh và bền vững

Thứ hai, song song với việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài,

phát triển nguồn nhân lực cần đi đôi với xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị của

con người trong thời đại hiện nay như trách nhiệm công dân, tinh thần học tập, trau dồi tri thức; có ý thức và năng lực làm chủ bản thân, làm chủ xã hội; sống có nghĩa tình, có văn hóa, có lý tưởng Đây cũng là những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, rất cần được tiếp tục phát huy trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là đối với thế hệ trẻ

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nâng cao chất lượng chăm

sóc sức khỏe người dân, bảo đảm an sinh xã hội Đại hội XI đã đề cập tới việc cụ thể hóa những hoạt động của lĩnh vực này nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh gay gắt và yêu cầu cường độ lao động cao./

1.2.2 Mô hình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Hacotab (trường cao đẳng nghề Công nghiệp và Kinh tế Hà nội) - mô hình ĐTN tiêu biểu cho mối tương tác giữa trường học và doanh nghiệp

Nâng cao chất lượng của người học tại trường được thực hiện thông qua việc

áp dụng mô hình đào tạo tiên tiến tại Hacotab Đó là:

Mô hình đào tạo đa ngành nghề:

Mô hình đào tạo tại Hacotab được xem như là mô hình tiêu biểu nhất cho đào tạo đa ngành nghề Tiên phong trong chất lượng đào tạo ở hai lĩnh vực then chốt là công nghệ và kinh tế, Hacotab mong muốn xây dựng một chương trình chuẩn đem lại lợi ích thiết thực cho người theo học Các sinh viên ở đây sau khi ra trường sẽ hội tụ đầy đủ những kỹ năng cần thiết đồng thời sẽ có những kinh nghiệm thực tiễn tại các doanh nghiệp thông qua các cơ hội thực tập ngay từ năm thứ nhất

Trang 30

Bên cạnh đó, yếu tố ngoại ngữ cũng sẽ là một thế mạnh Với tiêu chí đào tạo nguồn lao động bậc trung chất lượng cao, Hacotab cam kết cho ra đời những người thợ có

đủ trình độ, tay nghề và hoàn toàn có thể thích ứng được với môi trường làm việc quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay

Sự bắt tay hợp tác giữa trường học và doanh nghiệp:

Có một thực trạng chung trong vấn đề đào tạo không chỉ ở các trường nghề

mà ngay chính tại các cơ sở đào tạo đại học chính quy ở nước ta đó là lý thuyết không đi đôi với thực tiễn, trường học còn xa rời doanh nghiệp Đó chính là nguyên nhân dẫn đến số lượng sinh viên sau khi ra trường không tìm được việc làm hoặc việc làm không phù hợp ngày càng gia tăng Đối với các trường nghề, “học không

đi đôi với hành” tất yếu dẫn đến những tầng lớp thợ thuyền trình độ yếu kém không đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp Chính vì thế biện pháp tại Hacotab là

sự hợp tác chặt chẽ giữa trường học và doanh nghiệp Có thể nói, mô hình đào tạo ở Hacotab là sự kế thừa của mô hình ĐTN tiên tiến tại các quốc gia lớn như Pháp, Na

Uy, Đức…- mô hình đào tạo “trường học trong doanh nghiệp”

Do có sự tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, sinh viên khi theo học

sẽ có điều kiện tham gia thực tập ngay từ những năm thứ nhất Quá trình đào tạo kiến thức chuyên môn được chia làm ba phần Phần một do các giáo viên có trình

độ chuyên môn cao đứng ra giảng dạy, phần hai do các chuyên gia đến từ doanh nghiệp đứng lớp Và sau cùng, sinh viên được đào tạo thực tế ngay tại doanh nghiệp thông qua các đợt thực tập kéo dài trong cả ba năm học Sinh viên sẽ được hưởng lương trong quá trình thực tập tại doanh nghiệp

Mở rộng cơ hội cho sinh viên

Cũng giống như đào tạo đa ngành, mô hình đào tạo liên kết được xem là xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Nếu như trước kia, đào tạo liên kết vốn bị xem nhẹ và không được quan tâm đúng mức thì hiện nay, các chương trình liên kết ngày càng gặt hái được những thành công đáng kể trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực quốc gia Với Hacotab, đào tạo liên kết cũng chính là cơ hội rộng

Trang 31

lớn cho sinh viên của trường có thể tiếp cận được với những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới

Các sinh viên khi theo học tại Hacotab hoàn toàn có cơ hội để chuyển tiếp lên các chương trình đào tạo Đại học và sau đại học của các trường đối tác đồng thời tham gia các chương trình thực tập hưởng lương tại nước ngoài

Như vậy có thể nói mô hình đào tạo tại Hacotab chính là lời giải đáp cho câu hỏi về mô hình ĐTN tại Việt Nam hiện nay, chất lượng đào tạo vẫn là vấn đề còn nhiều tranh cãi dù biết bao lần sửa đổi, cam kết đào tạo Với những gì Hacotab đang quyết tâm theo đuổi, chúng ta hoàn toàn có thể hi vọng vào một sự thay đổi 4 sự nghiệp giáo dục của nước nhà

Trang 32

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận văn, tôi đã đưa ra một số các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo?

- Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN?

- Thực trạng về chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ?

- Nguyên nhân cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN của tỉnh Phú Thọ?

- Những biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Cơ sở phương pháp luận

Đề tài đã lấy quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm

cơ sở phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cho phép nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong trạng thái vận động, phát triển trong mối quan hệ biện chứng với các sự vật, hiện tượng khác và luôn đặt trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử nhất định để xem xét, đánh giá…, tránh được nhìn nhận sự vật chủ quan, siêu hình, phi lịch sử

2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Mục đích của việc nghiên cứu tài liệu:

+ Nghiên cứu những đề tài có liên quan của các tác giả trong quá khứ để tìm

ra những luận cứ đã làm trong quá khứ từ đó tránh được sự trùng lặp trong đề tài nghiên cứu mới

+ Sử dụng một số tài liệu trong giáo trình, tạp chí, ấm phẩm, thông tin đại chúng hay các số liệu lưu trữ, số liệu thống kê tại các doanh nghiệp, các cơ sở dạy nghề để làm rõ một số luận điểm về cơ sở lý luận

Trang 33

- Phân tích các nguồn tài liệu:

Số liệu sau khi thu thập được ở các doanh nghiệp, các cơ sở dạy nghề sẽ được phân tích, đánh giá trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá Cụ thể các phương pháp phân tích thông tin như sau:

về vấn đề nghiên cứu Từ đó đưa ra kết luận có căn cứ khoa học cho các biện pháp, đồng thời đưa ra những biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ

+ Phương pháp loại trừ:

Phương pháp loại trừ khá phổ biến khi xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích Theo phương pháp này, để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại bằng cách đặt đối tượng phân tích vào các trường hợp giả định khác nhau để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.2.2 Nhóm phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng trong nghiên cứu này là kỹ thuật thảo luận và phỏng vấn sâu

Tiến hành bằng cách thảo luận trực tiếp với 10 nhà quản lý tại các doanh nghiệp may công nghiệp, các doanh nghiệp sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh Phú Thọ;

10 cán bộ quản lý và 20 học sinh - sinh viên đang theo học và đã tốt nghiệp tại các trường nghề để tìm hiểu chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN từ đó phát hiện ra các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các trường dạy nghề

Trang 34

Để hoạt động nghiên cứu này diễn ra theo đúng mục đích thảo luận của tác giả thì tác giả có xây dựng trước đề cương thảo luận; mục đích của thảo luận nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực (đã qua ĐTN tại các trường dạy nghề), tính thích ứng của người học sau khi ra trường làm việc tại các doanh nghiệp từ đó xác định các biến quan sát đo lường các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN, trên cơ sở đó hiệu chỉnh, bổ sung các biến quan sát và phát triển thang đo các yếu tố này Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để tác giả phát triển thang đo nháp sử dụng cho giai đoạn phỏng vấn sâu

Tiến hành phỏng vấn sâu với 5 nhà quản lý doanh nghiệp - nơi sử dụng nhiều lao động đã qua ĐTN và 5 cán bộ quản lý ở các cơ sở dạy nghề lớn của tỉnh với mục đích đánh giá nội dung và hình thức của các phát biểu (các câu hỏi) trong thang

đo nháp để hoàn chỉnh thành thang đo chính thức phục vụ cho nghiên cứu thông tin bằng bảng hỏi Mục đích của phỏng vấn sâu nhằm phát hiện những yếu tố tác động tới chất lượng nguồn nhân lực sau ĐTN, từ đó hiệu chỉnh thang đo cho phù hợp với

cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cũng như phù hợp với nhu cầu của thị trường về chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo

Cụ thể trong phương pháp phỏng vấn chuyên sâu thực hiện hai lần Lần thứ nhất với đối tượng là giám đốc, phó giám đốc doanh nghiệp sử dụng số lượng lớn lao động đã qua ĐTN; trưởng phòng đào tạo tại cơ sở dạy nghề lớn của tỉnh bằng bài thảo luận lần thứ nhất, kỹ thuật mô tả, phân loại và kết nối để hình thành thang

đo sơ bộ Phỏng vấn chuyên sâu lần hai vẫn trên các đối tượng là nhà quản lý của doanh nghiệp và cán bộ quản lý của các cơ sở dạy nghề của tỉnh bằng bài thảo luận

đã được chỉnh sửa lần hai cho phù hợp với mục đích và tình hình nghiên cứu nhằm hoàn thiện thang đo chính thức và đưa vào nghiên cứu chính thức

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

+ Chọn mẫu nghiên cứu:

Mẫu nghiên cứu được chọn theo 4 địa bàn nghiên cứu là: Thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Lâm Thao, huyện Phù Ninh Đây là các địa bàn tập trung các

Trang 35

cơ sở ĐTN lớn và các doanh nghiệp công nghiệp sử dụng với số lượng lớn lực lượng lao động đã qua ĐTN ở các trường dạy nghề của tỉnh Để nâng cao tính đại diện và chất lượng trả lời bảng hỏi, đối tượng được khảo sát là các nhà quản lý doanh nghiệp (giám đốc, trưởng phòng, quản đốc, trưởng ca); cán bộ quản lý ở các trường dạy nghề (trưởng phòng, trưởng khoa); học sinh - sinh viên đang theo học và

đã tốt nghiệp tại các cơ sở ĐTN của tỉnh

Điều tra, khảo sát bằng phiếu về thực trạng ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ với các đối tượng: cán bộ quản lý, giáo viên, về các lĩnh vực: yếu tố đầu vào của người học, nội dung chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, phương pháp dạy học, tổ chức quản lí đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết

bị dạy học, kinh phí đào tạo; học sinh - sinh viên về các lĩnh vực: kết quả học tập, lý

do chọn nghề, mức độ phù hợp với nghề nghiệp, các yếu tố tác động đến quá trình học tập

Điều tra, khảo sát bằng phiếu về thực trạng nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp với các đối tượng: cán bộ quản lý doanh nghiệp về các lĩnh vực: cơ cấu ngành nghề của doanh nghiệp, trình độ nguồn nhân lực so với yêu cầu của doan nghiệp, nâng cao nguồn nhân lực của doanh nghiệp hiện tại và ®ến năm 2020; các đối tượng là công nhân trong các doanh nghiệp về các lĩnh vực: trình độ chuyên môn khi vào doanh nghiệp làm việc, mức độ phù hợp của chương trình đào tạo trước đây với công việc hiện tại tại doanh nghiệp, nguyên nhân chính lựa chọn công việc hiện tại, những chú ý của các cơ sở đào tạo để người học sau khi ra trường đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp

Trên cơ sở đó để phục vụ quá trình nghiên cứu, tác giả thu thập dữ liệu với kích cỡ của các nhóm mẫu khảo sát gồm: 20 cơ sở đào tạo với hoạt động điều tra:

235 cán bộ quản lí, giáo viên, 660 học sinh - sinh viên và 10 doanh nghiệp với hoạt động điều tra: 530 cán bộ quản lý, công nhân trong doanh nghiệp trên địa bàn nghiên cứu với các điểm nghiên cứu như sau:

Trang 36

Trường Cao đẳng 3x66 =198 (1 cán bộ quản lý, 15 giáo viên, 50 học sinh /1 cơ sở) Trường TC, TT dạy nghề (17x

41 = 697) (1cán bộ quản lý, 10 giáo viên, 30 học sinh/1 cơ sở)

Doanh nghiệp lớn:

5 x 90=450 (1 cán bộ quản lý và 89 công nhân /doanh nghiệp)

Doanh nghiệp vừa:

5 x 16= 80 (1 cán bộ quản lý và 15 công nhân /doanh nghiệp)

+ Thiết kế thu thập dữ liệu: thảo luận với nhóm chuyên gia để đặt câu hỏi

phỏng vấn, phỏng vấn thử đối với các đối tượng, điều chỉnh bảng câu hỏi và tiến hành phỏng vấn Trong phiếu phỏng vấn chính thức áp dụng cho đối tượng người quản lý, giáo viên tại các cơ sở dạy nghề: có 06 mục câu hỏi; đối tượng là những người đang học và đã tốt nghiệp tại các trường dạy nghề của tỉnh Phú Thọ: 14 mục câu hỏi; đối tượng cán bộ quản lý ở doanh nghiệp: có 9 mục câu hỏi để phát biểu

Trang 37

cho thang đo yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo tại cơ sở dạy nghề

+ Cách thức khảo sát: Qua kênh phỏng vấn trực tiếp với các cán bộ quản lý, giáo viên ở các trường dạy nghề; cán bộ quản lý và công nhân trong các doanh nghiệp; phần trả lời được thu trực tiếp sau khi đã hướng dẫn cách hiểu và trả lời

2.2.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu

Căn cứ vào các đề tài nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu trước đây để phát huy tính kế thừa và sử dụng các số liệu đã có để làm căn cứ cho quá trình nghiên cứu

Sử dụng số liệu đã có của Sở Lao động - TB&XH tỉnh Phú Thọ, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ, cục Thống kê tỉnh Phú Thọ và các trường, trung tâm dạy nghề của tỉnh Phú Thọ, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ để tiến hành phân tính, đánh giá và dự báo

2.2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu

Đề tài đã sử dụng các số liệu về kết quả đào tạo nguồn nhân lực, cơ cấu ngành nghề đào tạo qua các năm 2008 - 2012; mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của người được đào tạo; sự thích ứng công việc của nguồn nhân lực sau khi ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của Tỉnh để đánh giá chất lượng nguồn nhân sau ĐTN

Các số liệu định tính trên được xử lý dưới dạng các biểu đồ và bảng biểu, chúng cho phép hình dung một cách trực quan các mối liên hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo đồng thời cho phép tính toán được các quan hệ định lượng giữa chúng

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

- Sự phù hợp công việc và ngành học:

Tiêu chí này được đánh giá dựa trên việc người học sau khi ra trường có tìm được công việc phù hợp với ngành nghề mình đã được đào tạo trong nhà trường hay không Do vậy để đo lường tiêu chí này, người ta dựa vào khả năng tìm được công việc phù hợp của học viên sau khi ra trường

- Quy mô và cơ cấu đào tạo :

Chỉ tiêu này cho biết về quy mô đào tạo nghề ở các cơ sở dạy nghề và cơ cấu đào tạo giữa các ngành nghề nhất định

Trang 38

Trong việc xác định quy mô đào tạo sẽ chỉ ra quy mô đào tạo giữa các hệ đào tạo giữa các năm, tốc độ tăng bình quân giữa các năm về cơ sở đào tạo, số lượng đào tạo

Cách tính tốc độ tăng bình quân quy mô đào tạo nghề:

1 1

t t

y n y

a

Trong đó: a: tốc độ tăng bình quôn quy mô đào tạo nghề

n: Số năm đào tạo

yt: Số lao động đào tạo năm t

yt-1: Số lao động đào tạo năm t-1

- Chỉ tiêu đánh giá trình độ của giáo viên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn tại các cơ

sở đào tạo của tỉnh;

- Chỉ tiêu đánh giá chất lượng người học tại các cơ sở đào tạo (kết quả học tập)

- Chỉ tiêu đánh giá chất lượng người được đào tạo sau khi tốt nghiệp tại nơi làm việc (mức độ đáp ứng, việc làm thu nhập)

Trang 39

Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC

SAU ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ

CỦA TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2010 - 2012

3.1 Đặc điểm địa bàn tỉnh Phú Thọ

3.1.1 Đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên

Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông - Bắc) Phía Đông giáp Hà Tây, phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Tây giáp Sơn La, phía Tây Bắc giáp Yên Bái, phía Nam giáp Hoà Bình, phía Bắc giáp Tuyên Quang Với vị trí “ngã ba sông” cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ cách Hà Nội 80 km, cách sân bay Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Thanh Thuỷ hơn 200 km, cách Hải Phòng 170 km và cảng Cái Lân 200 km

Phú Thọ nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông từ các tỉnh thuộc Tây - Đông - Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác Là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hoá - khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc

Quốc lộ 2 qua Phú Thọ đi Tuyên Quang, Hà Giang sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 70 đi Yên Bái, Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 32 qua Phú Thọ đi Yên Bái, Sơn La, cùng với các tỉnh bạn trong cả nước và quốc tế

Phú Thọ có 12 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Đa, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn và Yên Lập Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh; 274 đơn vị hành chính cấp xã gồm 14 phường, 10 thị trấn

và 250 xã, trong đó có 214 xã miền núi, 7 xã vùng cao và 50 xã đặc biệt khó khăn

Trong triển vọng, Phú Thọ sẽ phải trở thành trọng điểm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương mại, giải quyết việc làm để giảm áp lực cho các thành phố lớn và trở thành một trong các đô thị lớn trong vùng

Trang 40

+ Nông, lâm, thuỷ sản: 448,8 nghìn người, chiếm 64,11% trong tổng số người trong ngành kinh tế

+ Công nghiệp, xây dựng: 131,5 nghìn người, chiếm 18,78% trong tổng số người trong các ngành kinh tế

+ Dịch vụ: 119,7 nghìn người, chiếm 17,1% trong tổng số người trong các ngành kinh tế

Số lao động trong độ tuổi có khả năng lao động đang đi học là 118,1 nghìn người Trong đó học phổ thông là 62,3 nghìn người, học chuyên môn nghiệp vụ, nghề nghiệp là 55,8 nghìn người

Số lao động trong độ tuổi làm nội trợ và chưa có việc làm là 45,9 nghìn người Trong đó nội trợ 18,2 nghìn người, không có nhu cầu việc làm là 12,4 nghìn người Con người Phú Thọ cần cù chịu khó, dễ hoà đồng và tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ngày càng tăng lên theo hằng năm Đây là một lợi thế cho các nhà đầu tư vào Phú Thọ

3.2 Thực trạng của chất lƣợng nguồn nhân lực sau ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Phú Thọ

3.2.1 Đặc điểm hệ thống ĐTN của tỉnh Phú Thọ

Trong những năm gần đây, công tác dạy nghề luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và xã hội đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao chất lượng lao động,

Ngày đăng: 06/12/2015, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội (2010), Xây dựng cơ chế, chính sách, mô hình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong ĐTN cho người lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế, chính sách, mô hình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong ĐTN cho người lao động
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội
Năm: 2010
2. PGS. TS Trần Xuân Cầu và PGS. TS Mai Quốc Chánh (2008), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực
Tác giả: PGS. TS Trần Xuân Cầu và PGS. TS Mai Quốc Chánh
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2008
3. Chính phủ (2009), Nghị quyết về đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
4. Sở Lao động - Thương binh & Xã hội tỉnh Phú Thọ (2012), Niên giám thống kê 2012, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2012
Tác giả: Sở Lao động - Thương binh & Xã hội tỉnh Phú Thọ
Năm: 2012
5. Sở Lao động - Thương binh & Xã hội tỉnh Phú Thọ (2012, Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2013 - 2020, Phú Thọ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2013 - 2020
6. PGS. TS Nguyễn Tiệp (2005), Giáo trình Nguồn nhân lực, NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nguồn nhân lực
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Tiệp
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2005
7. Tổng cục Thống kê (2012), Hệ thống các chỉ tiêu thống kê quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các chỉ tiêu thống kê quốc gia
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2012
8. ThS. Lương Văn Úc (2003), Giáo trình Tâm lý học lao động, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học lao động
Tác giả: ThS. Lương Văn Úc
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2003
10. TS. Trần Văn Xuyên (2008), Các biện pháp chủ yếu nâng cao chất lượng ĐTN tiếp cận trình độ khu vực Đông Nam Á, Hà nội.Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp chủ yếu nâng cao chất lượng ĐTN tiếp cận trình độ khu vực Đông Nam Á
Tác giả: TS. Trần Văn Xuyên
Năm: 2008
9. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ (2012), Quy hoạch dạy nghề tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2013 - 2015 và định hướng phát triển đến năm 2020, Phú Thọ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 : Kết quả phát triển mạng lưới dạy nghề và ĐTN tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010 - 2012 - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.1 Kết quả phát triển mạng lưới dạy nghề và ĐTN tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010 - 2012 (Trang 44)
Bảng 3.2 : Số lƣợng các cơ sở dạy nghề - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.2 Số lƣợng các cơ sở dạy nghề (Trang 45)
Bảng 3.3. Cơ sở dạy nghề trong Tỉnh tính đến 2012 phân theo huyện, thành phố - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.3. Cơ sở dạy nghề trong Tỉnh tính đến 2012 phân theo huyện, thành phố (Trang 46)
Bảng 3.4: Công tác đào tạo trong giai đoạn 2008-2012 - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.4 Công tác đào tạo trong giai đoạn 2008-2012 (Trang 47)
Bảng 3.5: Tốc độ tăng bình quân quy mô hệ ĐTN - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.5 Tốc độ tăng bình quân quy mô hệ ĐTN (Trang 51)
Hình 3.1. Cơ cấu kết quả ĐTN hàng năm - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Hình 3.1. Cơ cấu kết quả ĐTN hàng năm (Trang 52)
Bảng 3.6. Xu hướng học tập của học sinh nghề - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.6. Xu hướng học tập của học sinh nghề (Trang 54)
Bảng 3.7: Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.7 Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của (Trang 56)
Bảng 3.8: Đánh giá của các cơ sở đào tạo về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.8 Đánh giá của các cơ sở đào tạo về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc (Trang 56)
Bảng 3.9: Sự thích ứng công việc của nguồn nhân lực - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.9 Sự thích ứng công việc của nguồn nhân lực (Trang 58)
Bảng 3.11: Đánh giá mức độ liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.11 Đánh giá mức độ liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp (Trang 62)
Bảng 3.12 : Đánh giá về mức độ phù hợp của chương trình đào tạo - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.12 Đánh giá về mức độ phù hợp của chương trình đào tạo (Trang 66)
Bảng 3.13: Kinh phí cho ĐTN - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 3.13 Kinh phí cho ĐTN (Trang 75)
Bảng 4.1: Nhu cầu đào tạo NNL cho SXCN đến năm 2020 của tỉnh Phú Thọ - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 4.1 Nhu cầu đào tạo NNL cho SXCN đến năm 2020 của tỉnh Phú Thọ (Trang 85)
Bảng 4.2: Quan hệ liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh phú thọ đến năm 2020
Bảng 4.2 Quan hệ liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm