Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động ở Công ty đầu tư phát triển điện lực và hạ tầng – PIDI
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, nâng cao chất lượng lao động là vấn đề được quan tâm từ trướcđến nay trên phạm vi nền kinh tế, ngành và doanh nghiệp Trong môi trườngcạnh tranh và điều kiện các nguồn lực khan hiếm thì vấn đề này còn đáng đượcquan tâm hơn nữa
Đối với doanh nghiệp thì nâng cao chất lượng lao động trong điều kiệnhội nhập kinh tế quốc tế nhằm mục đích nâng cao năng lực và khả năng cạngtranh của đơn vị khi tham gia vào các hoạt động trên thị trường, nâng cao uytín và tạo thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường Điều này là rất quantrọng đối với những công ty hoạt động trong các lĩnh vực mới của thị trường:
tư vấn, thiết kế, thi công các công trình về điện…,các hoạt động này cần nguồnvốn tương đối lớn do có chu kỳ đầu tư dài Công ty đầu tư phát triển điện lực
và hạ tầng – PIDI là một trong những công ty có đặc điểm như vậy Vì vậy, đểtồn tại và phát triển trên thị trường đòi hỏi Công ty phải có đội ngũ CBCNV cóchất lượng đáp ứng với các yêu cầu của thị trường
Qua thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty trong giai đoạn thực tập cùngvới những kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học tập, em muốn tìm
hiểu sâu hơn về vấn đề: “Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động ở Công ty
đầu tư phát triển điện lực và hạ tầng – PIDI”
Trang 2Chương III.Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ lao động ở Công tyđầu tư phát triển điện lực và hạ tầng – PIDI
Em xin cảm ơn thầy giáo Th.S Bùi Đức Tuân và các anh chị, cô chú ởCông ty đầu tư phát triển điện lực và hạ tầng – PIDI đã chỉ bảo, hướng dẫn,giúp đỡ và tạo điều kiện để em hoàn thành bài viết này
Trang 3CHƯƠNG I VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG TRONG
DOANH NGHIỆP
I Đội ngũ lao động trong doanh nghiệp
1 Khái niệm đội ngũ
Đội ngũ là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức như đội ngũCBCNV, đội ngũ cán bộ khoa học, đội ngũ nghệ sỹ….Khái niệm đội ngũ đượcxuất phát từ thuật ngữ quân sự, đó là tổ chức gồm nhiều người tập hợp thànhmột lực lượng hoàn chỉnh Như vậy, đội ngũ có thể được hiểu là tập hợp một
số người có cùng chức năng, nhiệm vụ và nghề nghiệp
Các quan niệm về đội ngũ tuy có khác nhau nhưng đều thống nhất ở chỗ:đội ngũ là tập hợp một số người thành một lực lượng, thực hiện một hay một sốchức năng, nhiệm vụ nhất định để đem về kết quả cụ thể nào đó
Trong doanh nghiệp, đội ngũ bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũlao động sản xuất kinh doanh
2 Đội ngũ lao động trong doanh nghiệp
2.1 Đội ngũ cán bộ quản lý trong doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm độ ngũ cán bộ quản lý trong doanh nghiệp
Có nhiều cách hiểu khác nhau về cán bộ quản lý:
Theo từ điển Anh Việt, cán bộ quản lý là người điều hành hoạt động củacác tổ chức kinh doanh theo một phương pháp nhằm thực hiện những chínhsách và mục tiêu kinh doanh đề ra
Trang 4”Người thuộc về bộ máy điều hành doanh nghiệp là lao động gián tiếp,laođộng quản lý”1 Quan điểm này đã đồng nhất lao động gián tiếp và lao độngquản lý.
“Lao động quản lý được hiểu là tất cả những lao động hoạt động trong bộmáy quản lý và tham gia vào việc thực hiện các chức năng quản lý”2 Trên cơ sởnày thì cán bộ quản lý bao gồm giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng, phóphòng trong bộ máy quản lý của công ty
“Cán bộ quản lý là những người thực hiện chức năng quản lý nhằm đảmbảo cho tổ chức đạt được những mục đích đặt ra với kết quả và hiệu quả cao”3
Để có cách hiểu thống nhất,trong bài viết này được hiểu theo cách giảithích:” Cán bộ quản lý là người nắm giữ một chức vụ trong bộ máy quản lý tạidoanh nghiệp hoặc các đơn vị trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh trên thịtrường”4.Vậy cán bộ quản lý là người có chức vụ từ trưởng phòng hoặc phụtrách bộ phận đến giám đốc
Cán bộ quản lý là những người hoạt động trong bộ máy quản lý, thực hiệnnhững chức năng và nhiệm vụ nhất định trong các quá trình quản lý của doanhnghiệp trên cơ sở quyền hạn nhất định Cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh lànhững người trực tiếp làm công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinhdoanh tại doanh nghiệp
Từ những khái niệm trên có thể rút ra khái niệm chung về đội ngũ cán bộquản lý: Đội ngũ cán bộ quản lý là một lực lượng cán bộ thực hiện chức năngquản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh và thực hiện chức năng quản lý nóichung Trong doanh nghiệp, đội ngũ cán bộ quản lý được gắn kết với nhaubằng hệ thống các mục đích, mục tiêu chung là quản lý tốt đảm bảo cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả nhất, có cùng nhiệm
Trang 5vụ quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng chịu sự ràng buộc bởi các quytắc quản lý hành chính của Nhà nước, nội quy, quy chế hoạt động của doanhnghiệp.
2.1.2 Đặc điểm lao động và vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý trong doanhnghiệp trong xu thế cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.2.1 Đặc điểm lao động của đội ngũ cán bộ quản lý trong doanh nghiệpNgoài những đặc điểm chung của lao động, đội ngũ cán bộ quản lý doanhnghiệp trước xu thế toàn cầu hoá kinh tế còn có một số đặc điểm riêng sau:-Cán bộ quản lý có chức năng và nhiệm vụ chủ yếu là quản lý, điều hànhhoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, làm cho hoạt động sản xuấtdiễn ra liên tục, không bị gián đoạn
-Đối tượng tác động của cán bộ quản lý là người gắn liền với hoạt độngsản xuất kinh doanh Sự tác động của cán bộ quản lý vào những người nàynhằm phát huy nội lực ẩn chứa bên trong mỗi con người, phát huy khả năngsáng tạo mỗi cá nhân, tập thể bằng các chủ trương, định hướng, tổ chức hoạtđộng, kiểm tra, đánh giá Người quản lý tác động vào quá trình sản xuất kinhdoanh thông qua người lao động
-Hoạt động của cán bộ quản lý là hoạt động trí óc Cán bộ quản lý luônphải suy nghĩ, sáng tạo, tìm tòi và nghiên cứu các tình huống để đưa ra nhữngquyết định chính xác và kịp thời Các hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng,luôn biến đổi không ngừng theo không gian và thời gian, điều này đòi hỏingười cán bộ quản lý phải hết sức linh hoạt dựa trên năng lực, kinh nghiệm củabản thân, nhạy cảm với sự biến đổi của thực tiễn, dám nghĩ, dám làm, có bảnlĩnh vững vàng, sẵn sàng đương đầu với khó khăn thử thách, dũng cảm nhìnnhận và sửa chữa sai lầm Do vậy, người cán bộ quản lý sản xuất kinh doanhphải được đào tạo một cách cơ bản và phải được tôi luyện trong hoạt động thựctiễn
Trang 62.1.2.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cán bộ quản
lý giữ vai trò hết sức quan trọng, là một trong những nhân tố cơ bản quyết định
sự thành công hay thất bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Trong quá trình này, các nhà quản lý thường xuyên thực hiện 3 vai trò:vai trò liên kết, vai trò thông tin và vai trò ra quyết định
-Vai trò liên kết bao gồm những công việc liên quan trực tiếp với nhữngngười khác Người quản lý đại diện cho đơn vị, công ty mình trong các cuộcgặp mặt chính thức với đơn vị bạn, đối tác…(vai trò người đại diện); đưa ra cácchủ trương, chính sách nhằm tạo ra và duy trì động lực cho người lao độngnhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức, doanh nghiệp (vai trò người lanhđạo); đảm bảo mối liên hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa các bộ phận, phòngban trong công ty (vai trò người liên lạc)
-Vai trò thông tin bao gồm sự trao đổi thông tin với người khác Ngườiquản lý tìm kiếm thông tin phản hồi cần thiết cho quản lý (vai trò người giámsát), chia sẻ thông tin với những người trong đơn vị, doanh nghiệp (vai tròngười truyền tin), chia sẻ thông tin với những người bên ngoài đơn vị (vai tròngười phát ngôn)
-Vai trò ra quyết định bao hàm việc ra quyết định để tác động lên conngười Nhà quản lý tìm kiếm cơ hội, thông tin để xác định vấn đề cần giảiquyết (vai trò người ra quyết định), chỉ đạo việc thực hiện quyết định (vai tròngười điều hành), phân bổ nguồn lực để thực hiện các mục tiêu khác nhau (vaitrò người đảm bào nguồn lực) và tiến hành đàm phán với đối tác (vai trò ngườiđàm phán)
Những vai trò trên giúp các nhà quản lý thực hiện có hiệu quả chức năng
và nhiệm vụ của mình Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vaitrò của người quản lý càng được thể hiện rõ nét
Trang 72.2 Đội ngũ lao động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
2.2.1 Khái niệm
Lao động sản xuất – kinh doanh là lực lượng tham gia trực tiếp và giántiếp vào quá trình sản xuất ra sản phẩm cho doanh nghiệp, lao động sản xuấtkinh doanh trong doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động sản xuất kinhdoanh trong doanh nghiệp
Đội ngũ lao động sản xuất kinh doanh là lực lượng thực hiện nhiệm vụsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.2.2 Phân loại
Lao động sản xuất kinh doanh bao gồm lao động sản xuất chính và laođộng sản xuất phụ
Lao động sản xuất chính là những người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm
của doanh nghiệp Đội ngũ công nhân này tập trung chủ yếu tại các phânxưởng sản xuất.Là đội ngũ đặc biệt quan trọng vì họ quyết định trực tiếp đến sốlượng và chất lượng sản phẩm
Lao động sản xuất phụ là những người không trực tiếp sản xuất ra sản
phẩm nhưng những công việc của họ giúp cho lao động sản xuất chính hoànthành tốt nhiệm vụ Đây là đội ngũ lao động không thể thiếu được của doanhnghiệp, công việc của họ góp phần đẩy nhanh tiến độ sản xuất và nâng cao chấtlượng sản phẩm
2.2.3 Đặc điểm đội ngũ lao động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đội ngũ lao động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp mang đặc điểmcủa đội ngũ lao động nói chung và có những đặc điểm riêng:
-Lao động sản xuất kinh doanh có chức năng nhiệm vụ thực hiện các côngviệc liên quan trực tiếp và gián tiếp đến các hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
Trang 8-Hoạt động của lao động sản xuất kinh doanh đa phần là hoạt động chântay.
II Chất lượng đội ngũ lao động và các yếu tố ảnh hưởng
1 Chất lượng đội ngũ lao động
1.1 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
1.1.1 Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trong doanh nghiệp
Chất lượng của đội ngũ quản lý trong doanh nghiệp được thể hiện ở đức
và tài Đức và tài là hai tiêu chuẩn cơ bản nhất của người cán bộ quản lý Chấtlượng của đội ngũ cán bộ quản lý trước hết được thể hiện cụ thể qua kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phải có đạo đức trong nghềnghiệp cũng như trong cuộc sống, biết gắn kết lợi ích tập thể và lợi ích cá nhânmột cách hài hòa, am hiểu và tuân thủ pháp luật của Nhà nước trong quá trìnhđiều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trong doanh nghiệp
Để đánh giá được chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trong doanh nghiệptrước hết cần xây dựng được tiêu chí để đánh giá Chất lượng đội ngũ cán bộquản lý trong doanh nghiệp được thể hiện thông qua các tiêu chí: trình độchuyên môn, năng lực công tác, thái độ làm việc, phẩm chất đạo đức, tiềmnăng phát triển và các yêu cầu cần thiết khác mà người cán bộ quản lý cần có
để quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cóhiệu quả
Các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ quản lý trong doanh nghiệp gồm
3 nhóm chủ yếu:
-Trình độ bao gồm trình độ chuyên môn và trình độ quản lý
-Kết quả thực hiện công việc
-Phẩm chất đạo đức
Trang 91.1.2.1 Trình độ của cán bộ quản lý
Trình độ của cán bộ quản lý được thể hiện ở sự hiểu biết về các lĩnh vực
tự nhiên, kinh tế, xã hội…và được trang bị kiến thức ở mức độ nhất định Tức
là vừa có kiến thức cơ bản, vừa có chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức về quản
lý Như vậy, cán bộ quản lý phải đượng đào tạo và trang bị kiến thức tổng hợpcủa nhiều lĩnh vực Trong nền kinh tế thị trường, phải đối đầu với những thửthách trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi cán bộ quản lý phải cókiến thức chuyên môn giỏi, nghiệp vụ sâu về lĩnh vực được giao; phải có kiếnthức về kinh tế thị trường, kinh tế quốc tế, có kiến thức về thong lệ quốc tếtrong các hoạt động kinh tế, có hiểu biết về phong tục tập quán của nước bảnđịa - nước có quan hệ hợp tác kinh tế; phải có kiến thức về khoa học quản lýhiện đại,vận dụng xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp ở mọi cấpquản lý, hoạt động tuân thủ theo quy luật vận động của nền kinh tế thị trường;cần nắm chắc các đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và pháp luật của Nhànước
1.1.2.2 Kết quả thực hiện công việc của cán bộ quản lý
Khi có trình độ chuyên môn cũng như trình độ kiến thức nhất định, ngườiquản lý cần phải thể hiện năng lực làm việc hay khả năng thực thi nhiệm vụ.Khả năng thực thi nhiệm vụ là khả năng biến kiến thức, kinh nghiệm thànhhoạt động chỉ đạo cụ thể, bao gồm kỹ năng về chuyên môn và kỹ năng về tổchức quản lý
Kỹ năng về chuyên môn
Trong quá trính quản lý, người quản lý cần phải có khả năng chuyến hóanhững kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cũng như kinh nghiệm vào quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh, đưa ra những quyết định quản lý kịp thời, chínhxác và giải pháp cụ thể cho từng tình huống Kỹ năng chuyên môn bao gồm
Trang 10Cán bộ quản lý phải có năng lực hoạch định chiến lược sản xuất kinhdoanh và tổ chức thực hiện nhằm đạt được kết quả một cách tối ưu nhất.Cán bộquản lý phải có năng lực thực tế, phân tích các tình huống, giải quyết kịp thời,nhanh nhất các vấn đề phát sinh trong quát trình điều hành hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp.
Cán bộ quản lý cần biết sử dụng đúng khả năng chuyên môn của cán bộcấp dưới, biết lắng nghe, tổng hợp, phân tích và sử dụng ý kiến đóng góp cũngnhư phản hồi của cán bộ cấp dưới để vận dụng vào quá trình sản xuất kinhdoanh của đơn vị, tổ chức
Có khả năng và kinh nghiệm thức tế, kịp thời nắm bắt được biến động củathị trường, nắm rõ nhu cầu của thị trường cũng như nhu cầu và khả năng sửdụng các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất của khách hàng để có quyết địnhsản xuất kinh doanh đúng, sử dụng hiệu quả các nguồn lực một cách tối ưu,không gây ra sự lãng phí
Có khả năng huy động sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý cấp chứcnăng,các đơn vị bạn
Trang 11Phản ứng nhanh nhạy, quyết đoán trong công việc, dám nghĩ, dám làm,dám chịu trách nhiệm Có khả năng chớp thời cơ và khả năng dự báo và biếtdùng đúng tiềm lực vào thời điểm và bộ phận thích hợp.
1.1.2.3 Phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý
Người cán bộ quản lý phải có đạo đực, lối sống và tác phong làm việckhoa học, dân chủ, cần kiệm, liêm chính chí công vô tư, không tham nhũng, có
ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với người laođộng, có khả năng tập hợp và đoàn kết nội bộ
Người cán bộ quản lý thực hiện tốt đường lối của Đảng, chủ trương, chínhsách và pháp luật của Nhà nước
Cán bộ quản lý phải có sức khoẻ tốt để đảm đương các nhiệm vụ đượcgiao Đây là cơ sở để đưa ra các quyết định đúng đắn trong quá trình quản lý.Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh,hội nhập kinh tế quốc tế,người cán bộ quản
lý làm việc với cường độ cao, thời gian làm việc kéo dài, do vậy nếu không cósức khoẻ thì không duy trì được sức làm việc, không đưa ra được quyết địnhđúng đắn và kịp thời
Người cán bộ quản lý cần phải có kinh nghiệm trong quản lý và cóchuyên môn công việc được giao trách nhiệm quản lý
1.2 Chất lượng đội ngũ lao động sản xuất kinh doanh
1.2.1 Khái niệm
Chất lượng đội ngũ lao động sản xuất – kinh doanh thể hiện thông quatrình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khoẻ để tiến hành và hoàn thành công việcđúng thời gian, tiến độ Người lao động ngoài năng lực chuyên môn kỹ thuậtcòn cần phải có sức khoẻ tốt để tham gia vào các quá trình sản xuất – kinhdoanh cũng như tham gia vào các hoạt động thể dục, thể thao, văn nghệ… ởđơn vị
Trang 121.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ lao động sản xuất – kinh doanh
Để đánh giá chất lượng đội ngũ lao động sản xuất – kinh doanh, ta cầnphải xây dựng các tiêu chí đánh giá Chất lượng đội ngũ lao động sản xuất –kinh doanh được thể hiện qua các tiêu chí: trình độ chuyên môn kỹ thuật, sứckhoẻ và kết quả thực hiện công việc
-Trình độ chuyên môn kỹ thuật:
Người lao động sản xuất – kinh doanh phải có trình độ chuyên môn, kỹnăng và tay nghề ở cấp độ nhất định Họ phải có kiến thức về lĩnh vực mìnhtham gia lao động sản xuất, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo trong côngviệc, có tinh thần năng say học tập nâng cao tay nghề
-Sức khoẻ của người lao động:
Sức khoẻ là vốn quý của con người, là tài sản vô giá của con người.Người lao động phải đảm bảo sức khoẻ tốt để hoàn thành công việc được giao.Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp hoặcgián tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung cao vàocông việc
-Kết quả thực hiện công việc:
Chất lượng của đội ngũ lao động sản xuất – kinh doanh còn được đánhgiá qua kết quả thực hiện công việc Người lao động thực hiện và hoàn thànhcông việc đúng tiến độ dược giao, không làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiệncông việc của người khác cũng như không làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
Trang 132 Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng đội ngũ lao động
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
2.1.1 Yếu tố về đào tạo và phát triển
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý nhằm nâng cao năng lực và phẩm chấtcủa cán bộ quản lý, tạo cho họ khả năng thích ứng được với những yêu cầungày càng cao của công việc, đảm bảo cho cán bộ quản lý có đủ năng lực trình
độ và phẩm chất đạo đức để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý để phát triển cán bộ cần đượcthực hiện theo trình tự:
+Đào tạo trước khi được tuyển chọn vào làm việc trong bộ máy của doanhnghiệp: đào tạo tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp;+Đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian làm việc tại bộ máy quản lý ở doanhnghiệp;
+Đào tạo bổ sung trước khi giao nhiệm vụ mới;
+Đào tạo chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ sau khi đã nhận nhiệm vụ.Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X của Đảng Cộngsản Việt Nam đều coi trọng việc tạo nguồn cán bộ từ thế hệ trẻ đã qua đào tạo
từ các trường đại học, cao đẳng Cần tin tưởng và mạnh dạn giao việc cho họ
để họ có kinh nghiệm thực tế, đồng thời phát hiện những khiếm khuyết của họ
để tiếp tục bồi dưỡng
Đào tạo cán bộ là công việc thường xuyên nhằm đảm bảo cung ứng kịpthời đội ngũ cán bộ quản lý đầy đủ cả về số lượng và chất lượng trong hiện tại
và tương lai Đào tạo cán bộ quản lý có các hình thức:
-Đào tạo tại chỗ là hình thức giao việc, giao nhiệm vụ tại đơn vị, ngườicán bộ làm công tác quản lý phải được rèn luyện trong môi trường thực tế, lấykết quả công việc làm thước đo để đánh giá kết quả đào tạo
Trang 14-Cử đi đảo tạo tại các trung tâm là hình thức đào tạo tập trung tại cáctrường, các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp và uy tín.
-Đào tạo ngắn hạn là hình thức đào tạo trong một thời gian ngắn, trongthời gian hai năm nhằm cập nhập kiến thức mới Đối tượng đạo tạo là những cánhân đã có khả năng làm cán bộ quản lý nhưng còn cần bổ sung thêm kiếnthức, kịp thời bổ sung cho đội ngũ cán bộ đang thiếu hụt
-Đào tạo dài hạn là hình thức đào tạo một cách bài bản, chính quy nhằm
bổ sung đội ngũ cán bộ cho tương lai, thời gian đào tạo từ 2 – 5 năm, với cáchình thức học tập trung dài hạn hoặc tại chức, du học Đối tượng đoà tạo lànhững cán bộ trẻ có năng lực, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt tại đơn vị.-Đào tạo lại là hình thức đào tạo đối với cán bộ quản lý có trình độ nhưngsau một thời gian phải quay lại trường lớp để cập nhập, bổ sung thêm kiếnthức
2.1.2 Yếu tố về tuyển dụng và lựa chọn cán bộ quản lý
Lựa chọn và tuyển dụng đội ngũ cán bộ quản lý là công việc tìm kiếmnhững người có đủ phẩm chất và năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định để
bố trí, sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng trong doanh nghiệp
Việc lựa chọn và tuyển dụng những người có đức, có tài để giao trọngtrách là rất quan trọng, tuân theo những quy định, quy trình khách quan, khoahọc
Vai trò của cán bộ quản lý đặt ra đòi hỏi cao nên việc lựa chọn và tuyểndụng nhân tài phải coi trọng cả đức và tài, lấy đức làm gốc Tuy nhiên phải tìmhiểu đúng vị trí và mối quan hệ giữa đức và tài, tránh tuyệt đối hoá từng mặtriêng biệt
Để lựa chọn và tuyển dụng cán bộ quản lý có kết quả tốt cần phải trả lờitốt các câu hỏi: Công việc đòi hỏi làm gì? Phải thực hiện như thế nào? Kiếnthức và kỹ năng cần thiết là gì?
Trang 15Lựa chọn và tuyển dụng cán bộ quản lý phải đảm bảo các yêu cầu:
-Phải dựa vào các tiêu chuẩn cán bộ quản lý, cụ thể hoá tiêu chuẩn cán bộcho từng chức danh về trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức, độ tuổi, sức khoẻ,kinh nghiệm
-Phải thành lập hội đồng lựa chọn và tuyển dụng cán bộ để tổ chức lựachọn cán bộ chính xác, đúng người, đúng việc Hội đồng tuyển chọn bao gồmnhững người vừa có đức vừa có tài vừa có tâm
-Lựa chọn và tuyển dụng cán bộ phải bình đẳng, công khai
Việc tổ chức lựa chọn và tuyển dụng cán bộ quản lý cho doanh nghiệpphụ thuộc vào công tác quy hoạch cán bộ Do vậy, doanh nghiệp cần phải gắnquá trình quản lý cán bộ với các mục tiêu chiến lược SXKD
Cán bộ quản lý được lựa chọn từ bên trong doanh nghiệp và bên ngoàidoanh nghiệp
-Lựa chọn cán bộ từ bên trong doanh nghiệp: là nguồn chính, đầu tiên, có
ý nghĩa hết sức quan trọng, với các hình thức đề bạt, thăng chức, bổ nhiệmhoặc luân chuyển cán bộ
Ưu diểm của lựa chọn cán bộ quản lý từ nguồn nhân lực bên trong doanhnghiệp:
+Tạo ra sự động viên, đáp ứng với nhu cầu và động cơ phát triển của độngũ CBCNV trong doanh nghiệp
+Tạo cho CBCNV nhận thức được đầy đủ quyền lợi lâu dài của mình khilàm việc cho doanh nghiệp, không gây ra những xáo trộn lớn trong doanhnghiệp
+Doanh nghiệp lựa chọn được những người đúng với năng lực, phẩm chấtđạo đức tốt
Trang 16+Cán bộ được tuyển chọn dễ dàng hoà nhập với nhiệm vụ mới, hiểu được
ý tưởng của lãnh đạo, được sự giúp đỡ của đồng nghiệp để hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao
Hạn chế của việc lựa chọn cán bộ quản lý từ nguồn nhân lực bên trongdoanh nghiệp:
+Cán bộ được lựa chọn đễ đi vào “lối mòn, đường cũ”, mất đi tính sángtạo khó tạo ra phong cách và không khí làm việc mới
+Dễ tạo ra sự hình thành các nhóm, dễ có sự tập trung quyền lực
Do có những ưu điểm và hạn chế như vậy nên việc lựa chọn cán bộ quản
lý từ nguồn nhân lực trong doanh nghiệp phải dựa trên nguyên tắc công bằng,công khai trong việc đánh giá thành tích của CBCNV trong doanh nghiệp.Việc lựa chọn và sử dụng cán bộ quản lý từ bên trong doanh nghiệp nhằmtạo ra cơ hội bình đẳng trong việc làm, cơ hội phát triển sự nghiệp cho CBCNVtrong doanh nghiệp
Bộ phận nhân sự trong doanh nghiệp phải có khả năng phát hiện nhân tàitại chỗ để bồi dưỡng cán bộ Nếu trong nội bộ doanh nghiệp không đảm bảochất lượng và số lượng thì doanh nghiệp cần tuyển chọn cán bộ quản lý từ bênngoài
-Tuyển chọn cán bộ quản lý từ bên ngoài doanh nghiệp
Khi CBCNV trong doanh nghiệp không thể đảm đương được trách nhiệmkhi được lãnh đạo doanh nghiệp giao nhiệm vụ, hoặc doanh nghiệp có nhu cầulàm mới đội ngũ cán bộ, làm mới phương thức điều hành hoạt động sản xuấtkinh doanh, khi đó doanh nghiệp sẽ tuyển chọn cán bộ quản lý đáp ứng đượcyêu cầu từ bên ngoài doanh nghiệp
Ưu điểm của phương pháp:
+Tạo được không khí làm việc mới, đổi mới được lề lối làm việc cũ, khắcphục tình trạng trì trệ trong doanh nghiệp
Trang 17+Tạo ra bước đột phá trong hoạt động sản xuất linh doanh của doanhnghiệp khi người được tuyển chọn có tài thực sự.
Hạn chế của tuyển chọn cán bộ quản lý từ bên ngoài doanh nghiệp:
+Mất thời gian để tìm hiểu phong cách làm việc của nhân viên dướiquyền, mất thời gian hòa nhập với đồng nghiệp mới, mất thời gian nắm bắt ýtưởng của lãnh đạo
+Có thể không được sự ủng hộ, đồng tình của đồng nghiệp
+Doanh nghiệp cần có thời gian để đánh giá hiệu quả làm việc của ngườiđược tuyển chọn vào chức danh quản lý, đánh giá sự trung thành với doanhnghiệp, đánh giá năng lực trong công việc
Việc tuyển chọn cán bộ quản lý từ bên ngoài là cần thiết và tương đốiquan trọng, nhất là trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế hiệnnay.Người được tuyển chọn là người có tài thực sự, có kinh nghiệm trong quản
lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Sau một thời gian điều hànhhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mang lại hiệu quả cao, đượcCBCNV trong doanh nghiệp hỗ trợ, khâm phục và quý trọng
2.1.3 Yếu tố về tiền công,chế độ đãi ngộ, khen thưởng và kỷ luật
-Về tiền lương, tiền công
Đây là vấn đề nhạy cảm và có sức mạnh lớn trong việc thu hút cán bộquản lý có năng lực, có trình độ chuyên môn,có kỹ năng,có kinh nghiệm thực
Trang 18lễ, tết, nghỉ mát, chế độ về hiếu hỉ…Làm tốt công tác này tạo động lực chotoàn thể CBCNV trong doanh nghiệp cống hiến nhiều hơn.
-Khen thưởng và kỷ luật
Khen thưởng kịp thời, kỷ luật nghiêm minh là yếu tố tác động đến chấtlượng đội ngũ lao động nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý nói riêng Côngtác khen thưởng và động viên kịp thời CBCNV trong doanh nghiệp khi họ đạtđược thành tích có tác dụng động viên, tạo cho người lao động làm việc hăngsay, gắn bó với doanh nghiệp, do vậy mà hiệu quả công việc cao hơn
Doanh nghiệp cần kỷ luật nghiêm minh đối với trường hợp CBCNV mắckhuyết điểm Việc thi hành kỷ luật có ý nghĩa răn đe, giáo dục không chỉ có ýnghĩa với bản thân người đó mà còn có ý nghĩa giáo dục chung cho toàn bộCBCNV trong doanh nghiệp Tuy nhiên, việc thi hành kỷ luật phải đúng người,đúng việc, tránh tình trạng việc mượn hình thức kỷ luật để vùi dập cán bộ.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng đội ngũ lao động sản xuất – kinh doanh2.2.1 Yếu tố đào tạo lao động sản xuất - kinh doanh
Đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật: là hoạt động cung cấp những kiếnthức, kỹ năng và rèn luyện những phẩm chất mới cho người lao động, sự kếthợp và tương tác các yếu tố này tạo nên năng lực chuyên môn - kỹ thuật củangười lao động để họ đảm nhận được các công việc nhất định
Kiến thức: là những thông tin mà người lao động có được và lưu trữ trong
bộ não, cách thức họ tổ chức, sử dụng các thông tin này
Kỹ năng: là năng lực cần thiết để thực hiện kết quả, là kết quả của đào tạo
và kinh nghiệm của từng cá nhân Kỹ năng phụ thuộc vào kiến thức bởi vìtrước khi thực hiện các công việc cụ thể thì cá nhân đó phải biết mình cần phảilàm những việc gì và làm việc đó như thế nào, thời gian bao lâu, điều kiện làmviệc như thế nào Kỹ năng là việc thực hiện các công việc ở mức độ thuần thụctrên nền tảng kiến thức có được
Trang 19Phẩm chất lao động mới: đó là tập hợp các phẩm chất người lao độngđược rèn luyện trong quá trình đào tạo để phù hợp với các quy trình lao độnghiện đại, chẳng hạn như tác phong công nghiệp, tính kỷ luật, năng động, sángtạo…
Lao động kỹ thuật: theo đề án nghiên cứu tổng thể về giáo dục – đào tạo
và nguồn nhân lực Việt Nam (VIE/89/2002) do UNESCO, UNDP và bộ Giáodục – Đào tạo đưa ra thì lao động kỹ thuật ở nghĩa rộng bao gồm toàn bộnhững người lao động đã qua đào tạo chuyên môn - kỹ thuật được cấp bằnghoặc chứng chỉ Cụ thể bao gồm các loại lao động đã qua đào tạo có bằng hoặcchứng chỉ như sau:
+Trên đại học
+Đại học và cao đẳng
+Trung học chuyên nghiệp
+Công nhân kỹ thuật
Nhưng những năm gần đây, trong quá trình cấu trúc lại hệ thống đào tạonhân lực, khái niệm lao động kỹ thuật do các nhà chuyên môn xác định lại ởphạm vi hẹp hơn Theo đó, lao động kỹ thuật bao gồm những người được cóbằng hoặc chứng chỉ các cấp trình độ công nhân kỹ thuật, trung học chuyênnghiệp, cao đẳng, đại học, trên đại học nhưng được đào tạo thiên về kỹ năngthực hành, sau ra trường có thể thực hiện các công việc phức tạp với công nghệkhác nhau phù hợp với ngành, nghề được đào tạo
Các hình thức đào tạo công nhân kỹ thuật
Đào tạo công nhân kỹ thuật được thực hiện dưới các hình thức sau:
-Đào tạo ở các trường dạy nghề
Các trường dạy nghề của Nhà nước do các Bộ, Tổng công ty và các tỉnhquản lý Các trường dạy nghề có bộ máy quản lý, đội ngũ giáo viên và cơ sở
Trang 20vật chất kỹ thuật cho thực hiện đào tạo nghề Để nâng cao chất lượng đào tạo,các trường đảm bảo các yêu cầu sau:
+Phải có kế hoạch, chương trình đào tạo được Tổng cục dạy nghề thuộc
Bộ Lao Động – Thương Binh và Xã Hội duyệt Chương trình đào tạo gồm 2phần: lý thuyết và thực hành tuỳ theo cấp trình độ đào tạo mà chương trìnhđược thiết kế phù hợp để đảm bảo được mục tiêu và tiêu chuẩn của cấp bậcnghề đào tạo
Kế hoạch giảng dạy trong các trường công nhân kỹ thuật thường đượcchia thành 2 giai đoạn: giai đoạn học cơ bản và giai đoạn học các kiến thứcchuyên môn Trong giai đoạn cơ bản, nghề được đào tạo theo diện rộng, trang
bị cho người học kiến thức, kỹ thuật tổng hợp và chung nhất Trong giai đoạntiếp theo người học được đào tạo các kiến thức chuyên môn và rèn luyện kỹnăng, kỹ xảo để nắm vững nghề
+Phải có đội ngũ giáo viên dạy nghề có kỹ năng chuyên môn - kỹ thuật và
kỹ năng sư phạm
+Phải được trang bị máy móc, thiết bị, dụng cụ phục vụ cho công tácgiảng dạy và học tập Những nơi có điều kiện có thể có các xưởng thực hànhnghiên cứu, sản xuất vừa phục vụ cho giảng dạy vừa sản xuất ra sản phẩm cho
xã hội
+Các tài liệu giảng dạy và sách giáo khoa phải được biên soạn thống nhấttheo chương trình chuẩn của Nhà nước quy định cho các trường, các nghề.Đào tạo theo hình thức này có ưu điểm:
+Học viên được học tập một cách có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, có
sự cập nhật nhanh các thành tựu tiến bộ Khoa học – Công nghệ sản xuất, thànhtựu của công nghệ dạy nghề vì các trường loại này có cơ sở vật chất kỹ thuậtđầy đủ hơn, môi trường hợp tác với thế giới trong lĩnh vực đào tạo nghề rộng
mở hơn
Trang 21+Đào tạo toàn diện hơn cả về lý thuyết và thực hành giúp học viên nắmvững các kiến thức cơ bản và kỹ năng thực hành.
Tuy nhiên, đào tạo theo hình thức này đòi hỏi phải có cơ sở vật chất tươngđối đầy đủ, đội ngũ cán bộ giáo viên chuẩn nên chi phí đào tạo khá lớn, thờigian đào tạo dài
-Đào tạo dưới hình thức các lớp cạnh doanh nghiệp
Các lớp đào tạo nghề cạnh doanh nghiệp thường do các doanh nghiệp tự
tổ chức, thực hiện Mở các lớp đào tạo nghề cạnh doanh nghiệp nhằm đáp ứngnhu cầu công nhân kỹ thuật lâu dài của doanh nghiệp
Hình thức đào tạo này thường đòi hỏi phải có đầu tư cơ sở vật chất kỹthuật riêng, không cần bộ máy chuyên trách mà dựa vào điều kiện sẵn có củadoanh nghiệp Phần lý thuyết do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật thực hiện Phầnthực hành được tiến hành tại doanh nghiệp do các kỹ sư hay công nhân lànhnghề hướng dẫn
Ưu điểm của hình thức đào tạo này:
+Học viên được học lý thuyết tương đối có hệ thống và được trực tiếptham gia lao động sản xuất tại doanh nghiệp (gắn học với thực hành)
+Bộ máy quản lý gọn,chi phí đào tạo không cao
Tuy nhiên hình thức đào tạo này chỉ có thể thực hiện ở những doanhnghiệp tương đối lớn
-Đào tạo tại nơi làm việc
Đặc điểm của hình thức đào tạo này:
+Đây là hình thức đào tạo kèm cặp trực tiếp, đào tạo thiên về thực hànhngay trong quá trình sản xuất do doanh nghiệp tổ chức
+Công nhân dạy nghề được chọn từ trong doanh nghiệp, có trình độ vănhoá, trình độ nghề nghiệp và phương pháp sư phạm nhất định
Trang 22+Công nhân học nghề vừa được người huấn luyện hướng dẫn về lý thuyết
và thực hành vừa trực tiếp tham gia vào công việc sản xuất kinh doanh
+Hình thức đào tạo này ít tốn kém, công nhân học nghề nắm bắt đượccông việc nhanh Trong thời gian đào tạo có thể sản xuất ra sản phẩm cho xãhội
Hình thức đào tạo này có nhược điểm:
+Việc trang bị kiến thức lý thuyết thiếu tính hệ thống
+Người dạy nghề không chuyên trách nên thiếu kinh nghiệm, việc học lýthuyết sẽ khó khăn
+Học vên ít tiếp cận được toàn diện các thành tựu kỹ thuật liên quan đếnnghề nghiệp trong nước và thế giới
-Đào tạo công nhân kỹ thuật tại các trung tâm dạy nghề
Đây là loại hình đào tạo nghề ngắn hạn, phần lớn dưới 1 năm, đối tượngchủ yếu là đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên và người lao động
Hình thức đào tạo này có ưu điểm:
+Thu hút được đông đảo người học vì các thủ tục học thường dễ dàng,thời gian hợp lý
+Các trung tâm đào tạo nghề thường gắn với giới thiệu việc làm nên hỗtrợ được cho người lao động trong tìm việc làm
+Khả năng thích ứng nhanh với nhu cầu của thị trường, nhu cầu ngườihọc
+Chi phí đầu tư đào tạo không lớn
Tuy nhiên, hạn chế của hình thức đào tạo này là quy mô nhỏ, kiến thức lýthuyết ở mức độ thấp, thiếu đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, thiếu trang thiết
bị máy móc, phương tiện hiện đại cho thực hành nghề, đào tạo đa số là côngnhân bán lành nghề
Trang 232.2.2 Yếu tố tiền công, chế độ đãi ngộ, khen thưởng và kỷ luật
Toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp trả cho nhân viên do công việc làmcủa họ, là động lực chủ yếu kích thích nhân viên làm việc tốt Tiền lương là thunhập chủ yếu giúp cho nhân viên làm thuê duy trì và nâng cao mức sống cho
họ và gia đình họ và họ có thể hoà đồng với trình độ văn minh trong xã hội Ởmột mức độ nhất định, tiền lương là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị uytín của một người lao động đối với gia đình, doanh nghiệp và xã hội Tiềnlương còn thể hiện chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp đối với người laođộng Nhân viên luôn tự hào đối với mức lương của mình; khi nhân viên cảmthấy việc trả lương không xứng đáng với việc làm của họ, họ sẽ không hănghái, tích cực làm việc Hệ thống tiền lương giữ vai trò đặc biệt quan trọng trongchính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với nhân viên Tiền lươngđược hiểu là số tiền mà chủ sử dụng lao động trả cho người lao động tương ứngvới số lượng và chất lượng lao động tiêu hao trong quá trình làm việc
Hiểu theo nghĩa rộng, tiền lương không chỉ bao hàm các yếu tố tài chính
mà còn có cả các yếu tố phi tài chính
Phần tài chính bao gồm tài chính trực tiếp và gián tiếp
+ Tài chính trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền thưởng, tiền hoa hồng
+ Tài chính gián tiếp bao gồm bảo hiểm, chế độ phúc lợi…
Phần phi tài chính chứa đựng các lợi ích mang lại cho người lao động từbản thân công việc và môi trường làm việc như sức hấp dẫn của công việc, sựvui vẻ, mức độ tích luỹ kiến thức, tự học hỏi, sự ghi nhận của xã hội…
Trang 24Hình 1.1: Hình thức và kết cấu của tiền lương.
(Nguồn: Nguyên lý quản lý: Thành công bắt đầu từ đây)
Ngoài tiền lương thì tiền thưởng cũng tác động đến CBCNV trong doanhnghiệp, làm cho thu nhập của họ tăng lên, nâng cao hiệu suất công việc, cảithiện chất lượng công việc Do vậy người lao động sẽ chú trọng đến nâng caotay nghề, trình độ chuyên môn kỹ thuật để có thể nâng cao năng suất lao động,hiệu suất công việc, có như vậy thì nhận được khoản tiền thưởng tương đối lớn.Ngoài hai yếu tố này ra thì chế độ đãi ngộ khiến cho người lao động gắn
bó với doanh nghiệp hơn, cống hiến cho sự phát triển của doanh nghiệp hơnđồng thời cũng thu hút được lao động có trình độ
- An ninh xã hội
-Nhiệm vụ thích thú -Phấn đấu, học hỏi, trách nhiệm
- Được ghi nhận -Thăng tiến
-Chính sách hợp lý -Kiểm tra khéo léo
-Tinh thần đồng đội -Điều kiện, môi trường làm việc…
Trang 25III Sự cần thiết nâng cao chất lượng đội ngũ lao động trong doanh nghiệp
1 Đối với lao động quản lý
Hội nhập kinh tế quốc tế vừa mở ra cơ hội và ẩn chứa nhiều thách thứcđối với các doanh nghiệp Việt Nam.Việc ra nhập thành công tổ chức thươngmại quốc tế - WTO là cơ hội lớn để các doanh nghiệp vươn ra thị trường thếgiới, có cơ hội tiếp thu những phương tiện kỹ thuật sản xuất tiên tiến, hiện đại.Tuy nhiên, sự cạnh tranh thiếu bình đẳng, sự ràng buộc bởi các luật chơi quốc
tế cùng với những thách thức luôn rình rập, nếu không giải quyết hữu hiệu,không có những người đầu tàu sáng suốt thì chúng ta sẽ chịu không ít nhữngthua thiệt và bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển Muốn doanh nghiệp phát triển vàkhông bị thua thiệt khi tham gia vào các thị trường thế giới thì phải có bộ máyquản lý, bộ máy lãnh đạo doanh nghiệp phải là người có kiến thức về kinh tếthị trường, là người có khả năng nhìn xa trông rộng, là người dám nghĩ, dámlàm, có lập trường vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp và có phẩm chất tốt
2 Đối với lao động sản xuất – kinh doanh
Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để các doanh nghiệp tham gia vào thịtrường thế giới, tuy nhiên đây cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp Khi
mở của thị trường trong nước các công ty nước ngoài thâm nhập vào thị trườngnội địa cạnh tranh với các công ty trong nước Các công ty nước ngoài có độingũ lao động chất lượng cao và họ có chính sách thu hút người tài về phía họ.Điều này đã tác động không tốt đến các công ty trong nước hoạt động cùnglĩnh vực Do vậy các công ty trong nước bằng các biện pháp khác nhau để nângcao chất lượng lao động nhằm cạnh tranh với các công ty nước ngoài
Trang 26CHƯƠNG II THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG Ở CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN ĐIỆN LỰC VÀ HẠ TẦNG - PIDI
I Tổng quan về Công ty đầu tư phát triển điện lực và hà tầng - PIDI
1 Giới thiệu chung về công ty
Công ty đầu tư phát triển điện lực và hạ tầng – PIDI được thành lập từtháng 7/1997,là doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộc Tổng công ty ứng dụngcông nghệ và du lịch (NEWTATCO) Sau gần 10 năm trưởng thành và pháttriển, hiện nay Công ty đã khẳng định được vị trí của mình trên thih trường vàkhông ngừng mở rộng quy mô và lĩnh vực hoạt động
Công ty hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực tư vấn, thiết kế, thi công cáccông trình về điện và sản xuất các thiết bị về điện
-Công ty đầu tư phát triển điện lực và hạ tầng hoạt động trong lĩnh vựcthiết kế, thi công các công trình điện, đường dây cao thế, các công trình viễnthông nội bộ; đại tu các thiết bị, công trình điện, cơ điện, máy động lực và viễnthông; tư vấn cho khách hàng trong và ngoài nước về ngành điện lực và viễnthông; sản xuất sửa chữa, cung ứng các thiết bị vật tư thuộc ngành điện lực vàviễn thông; ứng dụng công nghệ mới vào lĩnh vực kiểm định, kiểm tra kỹ thuậtcác công tình và thử nghiệm các thiết bị điện
-Đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển kinh doanh nhà, đầu tư xây dựng cácnhà máy phát điện vừa và nhỏ; thi công xây lắp các công trình công nghiệp,dân dụng, kỹ thuật hạ tầng đô thị; lắp đặt các trang thiết bị công nghệ cơ điện,điện lạnh, cầu thang máy thiết bị thông tin, cấp thoát nước; triển khai các côngnghệ xử lý môi trường; tư vấn các lĩnh vực: lập dự án đầu tư cho khách hàngtrong và ngoài nước, khảo sát xây dựng
Trang 27-Sản xuất, truyền tải và phân phối điện, sản xuất thiết bị phân phối điện,sản xuất cáp điện và dây điện có bọc cách điện.
-Các dịch vụ về kiến trúc, xây dựng, tư vấn công trình xây dựng (khôngbao gồm dịch vụ thiết kế công trình)
Bảng 2.1: Các lĩnh vực hoạt động của Công ty
1 Tư vấn, thiết kế các công trình điện, cơ điện,
viễn thông nội bộ
Từ 1997 đến nay
4 Xây lắp các công trình công nghiệp và dân dụng Từ 2001 đến nay
5 Kinh doanh thiết bị, vật tư ngành điện Từ 1997 đến nay
7 Đầu tư cơ sở hạ tầng và kinh doanh nhà Từ 2002 đến nay
(Nguồn: Công ty đầu tư phát triển điện lực và hạ tầng – PIDI)
Công ty đã khai thác và sử dụng các nguồn lực về vốn, lao động, tài sản…một cách có hiệu quả Đồng thời Công ty cũng mở rộng quan hệ với các đơn vịbạn, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, đã tạo được lòng tin đối vớikhách hàng Bên cạnh đó Công ty không ngừng hoàn thiện và nâng cao chấtlượng đội ngũ nhân viên, phương tiện, trang bị kỹ thuật phục vụ sản xuất, kếtquả đạt được là lợi nhuận của Công ty không ngừng tăng lên hàng năm điều đó
đã đảm bảo đời sống cho CBCNV trong Công ty và giúp Công ty phục vụ tái
Trang 28sản xuất Qua đó cho thấy sự phát triển mạnh mẽ, vượt bậc của Công ty trongthời gian qua và giúp Công ty khẳng định được vị thế, đứng vững trên thịtrường.
2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
Công ty đầu tư phát triển điện lực và hạ tầng – PIDI hoạt động chủ yếutrên lĩnh vực tư vấn, thiết kế, thi công các công trình về điện, nên có chức năng
và nhiệm vụ củ yếu sau:
-Tổ chức thực hiện thi công xây lắp, tư vấn, thiết kế các công trình điện vàcông trình viễn thông nội bộ
-Ứng dụng công nghệ mới vào phát triển sản xuất thuộc lĩnh vực điện lực
và viễn thông
-Thực hiện các chế độ và quy trình về quản lý vốn, tài sản, các nghĩa vụ
về thuế, các khoản nộp theo quy định của pháp luật
-Thực hiện chế độ báo cáo thống kê, kế toán theo quy định của cơ quancấp trên và đại diện của chủ sở hữu
-Thực hiện các quy định của nhà nước về bảo vệ môi trường, an ninh quốcphòng và an toàn lao động
Trang 293 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, cùng với sự biến đổi khôngngừng của thị trường, công ty đầu tư phát triển điện lực và hạ tầng đã tổ chức
bộ áy quản lý, điều hành gọn nhẹ, phù hợp:
Sơ đồ tổ chức của công ty có ưu điểm :
-Chỉ rõ cấp trên và cấp dưới trực tuyến
-Các hoạt động của tổ chức được lãnh đạo theo chiều dọc và chiều ngang:+Chiều dọc: hệ thống tài chính và kế hoạch của công ty được ban hành từ công
ty đến xí nghiệp, trung tâm và các đội sản xuất
+Chiều ngang: mối liên hệ giữa phòng kế hoạch, vật tư và tài chính: kế hoạchđược phát ra thì phòng vật tư chuẩn bị vật tư và phòng tài chính chuẩn bị tàichính
Phòng kế hoạch kiểm tra tiến độ và theo dõi dự án thực hiện.-Khả năng chuyên môn hoá cao nhờ sự phân chia nhiệm vụ rõ ràng
-Thuận lợi trong việc đào tạo bồi dưỡng giáo dục cũng như kế thừa kinhnghiệm của các cá nhân khác nhất là những lao động giỏi, có kinh nghiệm Tuy nhiên, tổ chức theo kiểu này vô hình chung tạo ra cái nhìn hạn hẹpcho cán bộ quản lý; quyền lực và trách nhiệm nhiều khi chồng chéo dẫn đếnđẩy việc cho người khác; dễ có nguy cơ tập trung hoá quyền lực
Trang 30Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty
(Nguồn: Công ty đầu tư phát triển điện lực và hạ tầng – PIDI)
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
P TỔ CHỨC – HÀNH CHÍNH P KẾ HOẠCH - ĐẦU TƯ
PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN PHÒNG KINH DOANH - VẬT TƯ
VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN TẠI
XN XÂY LẮP VÀ BẢO TRÌ
CƠ ĐIỆN - PIDI
XN XÂY DỰNG - PIDI
CÁC ĐỘI SẢN XUẤT TRỰC THUỘC XÍ NGHIỆP
XN ĐẦU
TƯ VÀ XÂY LẮP ĐIỆN LỰC - PIDI
Trang 31*Ban giám đốc bao gồm 1 giám đốc và 1 phó giám đốc
-Giám đốc là người có quyền hạn cao nhất trong việc điều hành hoạt độngchung của Công ty, chịu trách nhiệm trước Tổng công ty về sử dụng có hiệuquả các nguồn lực mà Tổng công ty giao cho, đồng thời chịu trách nhiệm trướcpháp luật về toàn bộ hoạt động kinh doanh của Công ty
-Phó giám đốc là người được giám đốc phân công điều hành một số lĩnhvực hoạt động của Công ty, chịu trách nhiệm trước giám đốc, Công ty và trướcpháp luật về các nhiệm vụ được giám đốc phân công:
+Trực tiếp điều hành các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty+Phê duyệt quyết toán
+Thực hiện một số nhiệm vụ khác khi được giám đốc uỷ quyền
*Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
-Phòng tổ chức hành chính
Đây là nơi bao quát mọi hoạt động của doanh nghiệp, có nhiệm vụ làmtham mưu cho giám đốc về tổ chức cán bộ, lao động, tiền lương, tiền thưởng,đào tạo mạng lưới quản lý công tác thanh tra, bảo vệ, khen thưởng, kỷ luật,quản lý hành chính, văn thư, lưu trữ, bảo vệ cơ quan
Tổ chức nơi làm việc cho CBCNV, quản lý con dấu của Công ty và sổsách hành chính của Công ty
Tổ chức thực hiện công tác bảo mật về hoạt động của Công ty theo quyđịnh của Công ty và pháp luật
Ngoài ra, bộ phận này còn có chức năng đón tiếp khách, tổ chức các cuộchọp theo yêu cầu của ban giám đốc hay của tập thể CBCNV trong Công ty.-Phòng tài chính - kế toán
Phụ trách mọi hoạt động tài chính - kế toán của Công ty, là bộ phận thammưu cho giám đốc về quản lý và chỉ đạo công tác tài chính - kế toán, thống kê
Trang 32theo chế độ hiện hành của Nhà nước và của Tổng công ty Cụ thể phòng tàichính - kế toán có nhiệm vụ sau:
Về lĩnh vực tài chính:
+Tham mưu giúp giám đốc thực hiện quyền quản lý, sử dụng tài sản,nguồn vốn do Tổng công ty giao; giúp giám đốc đảm bảo điều tiết vốn trongkinh doanh
+Tiến hành phân tích tình hình tài chính của Công ty nhằm hoạch địnhchiến lược và lựa chọn phương án tối ưu về mặt tài chính cho Công ty
+Kết hợp với các phòng ban nhằm nắm vững tiến độ khối lượng thi côngcác công trình, theo dõi khấu hao máy móc, trang thiết bị, lập kế hoạch thựchiện nghĩa vụ với Nhà nước, BHXH, BHYT cho CBCNV trong Công ty theoquy định hiện hành của Nhà nước
-Phòng kinh doanh vật tư
Có nhiệm vụ điều hành các hoạt động mua, bán vật tư, XNK hàng hoá,
mở rộng phạm vi kinh doanh, tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, cungcấp vật tư thiết bị trong nội bộ Công ty và bán trực tiếp cho khách hàng
-Phòng kế hoạch - đầu tư
Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh tương đối chính xác,làm cơ sở để toàn Công ty thực hiện kịp thời, chỉ đạo công tác điều hành sản
Trang 33xuất kinh doanh và là tham mưu đắc lực cho ban giám đốc trong tổ chức, triểnkhai thực hiện các kế hoạc đề ra.
+Giới thiệu, quảng bá về Công ty với khách hàng, thường xuyên nâng cao
uy tín, hình ảnh của Công ty; giới thiệu năng lực và thông tin cần thiết về Công
ty để tham gia dự thầu
+Tham mưu giúp giám đốc quan hệ với đơn vị bạn, hình thành các hợpđồng liên doanh; nắm bắt những thông tin về dự án đầu tư báo cáo lên giámđốc để có kế hoạch dự thầu
+Nắm bắt tình hình biến động của thị trường xây dựng, xây lắp trong từngthời kỳ, đưa ra những chiến lược kinh doanh ngắn hạn và dài hạn
-Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh
+Tìm kiếm, thúc đẩy việc mở rộng thị trường của Công ty ở phía Nam.+Xúc tiến xây dựng các dự án hợp tác kinh tế của Công ty ở phía Nam.+Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện cá hợp đồng đã ký của Công ty khitriển khai tại phía Nam
-Các bộ phận sản xuất kinh doanh
+Các xí nghiệp hoạt đông một cách độc lập trong lĩnh vực tư vấn thiết kếđiện, tư vấn xây dựng, sửa chữa và xây lắp điện, điện lực và cơ điện
+Tại các xí nghiệp thành viên có mô hình tổ chức bộ máy quản lý và điềuhành sản xuất kinh doanh tương tự như các phòng ban của Công ty nhưng sốlượng CBCNV ít hơn, bộ máy quản lý đơn giản hơn Riêng với các công trìnhđược tổ chức thành các tiểu ban nhỏ có chức năng và nhiệm vụ giống cácphòng ban thu nhỏ của Công ty
+Các đội sản xuất trực thuộc xí nghiệp trực thuộc các xí nghiệp, do các xínghiệp trực tiếp quản lý
Trang 344 Kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của Công ty
Bảng 2.2:Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Trang 35(Nguồn: Công ty đầu tư phát triển điện lực và hạ tầng – PIDI)
Qua bảng thống kê kết quả kinh doanh qua 3 năm từ 2004 – 2006 ta thấykết quả hoạt động kinh doanh của Công ty tăng dần qua các năm, năm sau caohơn năm trước Năm 2004, lợi nhuận sau thuế của Công ty là 770.050.612đồng, đến năm 2005 là 976.232.940 đồng, tăng 206.182.328 đồng so với 2004;năm 2006 lợi nhuận sau thuế là 1.123.707.370 đồng, tăng 147.474.430 đồng sovới 2005 và tăng 353.656.758 đồng so với 2004 Lợi nhuận khác mà Công ty
Trang 36thu về năm 2006 là 48.118.120 đồng, trong khi đó năm 2004 và 2005 do chiphí khác lớn hơn thu nhập khác nên phần này ở Công ty bị âm.
Công ty có được kết quả kinh doanh như vậy là do:
+Chủ quan: do hạn chế về vốn, công ty phải vay ngân hàng nên hiệu quảkinh doanh còn thấp, tính chủ động trong sản xuất kinh doanh chưa cao; độingũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, cán bộ chỉ huy thi công có kinh nghiệmcòn thiếu; các trang thiết bị thi công còn thiếu, phải thuê ngoài thiếu tính chủđộng
Mặc dù gặp những khó khăn như vậy, nhưng với nỗ lực của toàn thể CBCNVcông ty đã hoàn thành kế hoạch của Tổng công ty giao
Trang 37II Thực trạng chất lượng đội ngũ lao động ở Công ty Đầu tư phát triển điện lực và hạ tầng – PIDI
1 Tình hình về lao động và chất lượng lao động ở Công ty
Do đặc tính của ngành nghề kinh doanh, điều kiện kinh doanh và sản xuấtmang tính cơ động cao, đặc biệt là môi trường thi côngDo vậy lực lượng laođộng của công ty có sự biến động khá lớn Số lao động của công ty dao động ởkhoảng 300 người, có sự dao động theo từng thời điểm
Ta có bảng thống kê số lượng cán bộ công nhân viên qua các năm:
Bảng 2.3: Số lượng CBCNV của Công ty qua các năm
Chỉ tiêu
04/03(%)
So sánh05/04(%)
(%) SL CC(%) SL CC(%)A.Theo thời