1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá diễn biến môi trường nước dưới đất Đồng Nai

89 404 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Diễn Biến Môi Trường Nước Dưới Đất Đồng Nai
Thể loại báo cáo
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trình bày về đánh giá diễn biến môi trường nước dưới đất Đồng Nai

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN BỘ KHOA HỌC BỘ GIÁO DỤC

PHU LUC

NHIEM VU KHOA HOC DANH GIA DIEN BIEN MOI TRUONG

KHU VUC TRONG DIEM PHAT TRIEN KINH TE XA HOI CUA HAI

VUNG TAM GIAC PHiA BAC VA PHIA NAM

Trang 2

Trong công tác qui hoạch phát triển kinh tế cho từng địa phương, từng vùng lãnh thé, năm rõ về tiềm năng các nguồn nước cùng chất lượng nước để có thẻ định

hướng qui hoạch khai thác lâu dài phục vụ phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sống là một việc không thể thiếu Do đó báo cáo “Đánh giá tiềm năng nước dưới

đất tỉnh Đồng Nai” nhằm tạo lập cơ sở dữ liệu cho mục tiêu trên Báo cáo được

thành lập trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về địa chất, địa chất thuỷ văn do Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT Miền Nam thực hiện cũng như các công trình nghiên cứu của các cơ quan khác trên địa bản tỉnh

1- KHÁI QUAT VE TINH DONG NAI

1.1 Vị trí địa lý:

Tỉnh Đồng Nai là một tỉnh nằm ở phía cực Nam của miền Đông Nam Bộ và

tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh Phía Bắc giáp huyện Bù Đăng của tỉnh Bình

Phước, phía Đông Bắc giáp Lâm Đồng, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây Bắc giáp huyện Đồng Phú và Tân Uyên của tỉnh Bình Dương, phía Tây và Tây Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh Phía Nam và Đông Nam giáp Bà Rịa-Vũng Tàu Giới hạn tỉnh trong toạ độ địa lý như sau:

- Vĩ độ Bắc: 10° 30° 23” dén 11° 35’ 09”

- Kinh độ Đông: 106° 44' 14” dén 107° 35? 37”

1.2 Đặc điểm địa hình

Một cách tông quát có thê thấy tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng

và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng Bắc Nam Có thể phân biệt các dạng địa hình chính như sau:

Trang 3

+ Địa hình đồng bằng

Có thể chia địa hình đồng bằng thành hai dạng chính như sau:

- Các bậc thềm sông có độ cao từ 5 đến 10m hoặc, có nơi chỉ cao từ 2 đến

5m đọc theo các sông và tạo thành từng dải hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến vài km Đất trên địa hình này chủ yếu là các aluvi hiện đại

- Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển: là những vùng đất trũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với độ cao dao động từ 0,3 đến 2m, có chỗ thấp hơn mực

nước biên, thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch chẳng chit, có rừng ngập mặn che phủ Vật liệu không đồng nhất, có nhiều sét và vật chất hữu cơ lắng đọng

+ Dạng địa hình đồi lượn sóng

Cao độ từ 20 đến 200m Bao gồm các đổi bazan, chạy theo hướng Bắc Nam

Bè mặt địa hình rất bằng phẳng, thoải, độ dốc từ 3°-8° Loại địa hình này chiếm

diện tích rất lớn so với các dạng địa hình khác bao trùm hầu hết các khối bazan, phù sa cổ Đất phân bố trên địa hình này gồm nhóm đất đỏ, vàng và đất xám

+ Dạng địa hình núi thấp

Bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độ

cao thay đổi từ 200- 800m Địa hình này phân bố chủ yếu ở phía Bắc của tỉnh

thuộc ranh giới giữa huyện Tân Phú với tĩnh Lâm Đồng và một vài nút sót ở huyện

Trang 4

Định Quán, Xuân Lộc (xem hình HI) Tất cả các núi này đều có độ đốc cao (20°-

30°), đá gốc lộ thiên thành cụm với các đá chủ yếu là granít, phiến sét

Hình H17 - Các dạng địa hình tỉnh Đông Nai

Trang 5

f.3 Đặc điểm mạng thủy văn

Tỉnh Đồng Nai có mật độ sông suối khoảng 0,5km/km”, song phân bố không đều Phần lớn sông suối tập trung ở phía Bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng

Tây Nam (xem hình H2) Tổng lượng nước dồi đào 16,82x10°m”/năm trong đó

mùa mưa chiêm 80%, mua khé 20%

Trang 6

Hình H18 - Mạng sông suối tỉnh Đông Nai

a Sông Đông Nai

Sông Đồng Nai chảy vào tỉnh Đồng Nai ở bậc địa hình thứ 3 và là vùng trung lưu của sông Đoạn từ ranh giới Đồng Nai-Lâm Đồng đến cửa Sông Bé Tân Uyên sông chảy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam Địa hình lưu vực đoạn trung lưu

239

Trang 7

từ 100-300m, đoạn từ Tà Lài đến Trị An có nhiều thác gềnh Đoạn sau Trị An sông

chảy êm đềm, lòng sông mở rộng và sâu Các phụ lưu lớn của sông Đồng Nai có sông La Ngà, Sông Bé

Sông La Ngà đỗ vào hồ Trị An một lượng nước khoảng 4,5x10°m’/nam,

chiém 1/3 tổng lượng nước hồ, môdun dòng chảy năm 35V/s/km’

c Sông Lá Buông

Bắt nguồn từ phía Tây cao nguyên Xuân Lộc, chây theo hướng từ Đông sang Tây, độ dốc lưu vực đạt 0,0035 Độ dài sông tính theo nhánh dài nhất khoảng 40km, sông có lượng nước dỗi đào so với các sông nhỏ trong tỉnh với tổng lượng nước trung bình 0,23x10° m'/năm, môdun dong chảy năm 27,61/s/km?

d Sông Ray

Lưu vực sông chiếm gần 1/3 diện tích phía Nam của tỉnh Sông bắt nguồn từ phía Nam, Đông Nam cao nguyên Xuân Lộc, đỗ thẳng ra biển, chảy theo hướng Bắc Nam, độ dốc lưu vực khá lớn (0,004), do vậy nếu không có đập chặn giữ thì

Trang 8

_ nước sông sẽ tập trung nhanh ra biển, trong mùa khô thường cạn kiệt nước Tổng lượng nước của sông khá lớn 0,634x10°m”/năm trong đó mùa mưa chiếm 79% Sông Ray nếu được sử dụng hợp lý có thể giải quyết vấn đề khô cạn cho vùng Đông Nam của tỉnh

e Sông Xoài và sông Thị Vải

Đây là hai sông thuộc vùng phía Tây Nam của tỉnh, bắt nguồn từ cao nguyên Xuân Lộc và đỗ thăng ra biên

Sông Thị Vải ở phía thượng lưu gồm các suối nhỏ và đốc, phần hạ lưu (phía

dưới quốc lộ 51 đi Vũng Tàu) nước sông bị mặn, lònr sông mở rộng

Sông Xoài có 2 nhánh chính là Châu Pha và Suối Dun, các suối ngắn và hẹp

Diện tích lưu vực 184km”, tổng lượng nước trung bình 0,1015x10°m?/nim, médun

dong chay năm 17,5l⁄s/km”, Sông Xoài có ý nghĩa to lớn đối với vùng sản xuất nông nghiệp huyện Châu Thành và cấp nước ngọt cho Vũng Tàu Hạ lưu sông Xoài là vùng nước mặn Độ mặn có thể đạt tới độ mặn của nước biển

L4 Đặc điễm khí hậu

a Lượng mưa

Đồng Nai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, một năm

có hai mùa rõ rệt, mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 1]

hoặc tháng 12 Thời gian còn lại là thuộc vào mùa khô Tuy nhiên ranh giới giữa hai mùa không hoàn toàn đồng nhất trên toàn tỉnh mà có thể sớm muộn chênh nhau chừng 20 ngày

Trang 9

Quy luật chung cho thấy vùng ven biển mùa ‘mua thường đến muộn so với miền núi ven cao nguyên và ngược lại kết thúc mùa mưa sớm hơn Từ năm 1998-

2003, lượng mưa trung bình năm tại các trạm từ 1.790mm đến 2.903mm, lớn nhất tới hơn 3.000mm Tùy theo độ cao địa hình từng nơi và khoảng cách so với bờ biển mà lượng mưa có thê thay đổi từ 1.310 đến 3.308mm (xem hình H3)

b Độ bốc hơi

Tài liệu bốc hơi trung bình năm từ năm 1999 đến 2002 tại các tram khí

tượng thủy văn:

Trang 10

Trong mùa khô lượng bốc hơi rất cao, chiếm khoảng 64-67% tổng lượng bốc

hơi cả năm làm giảm đáng kể mực nước đưới đất Ngược lại lượng bốc hơi vào

mùa mưa thấp, chiếm khoảng 33 đến 36% tổng lượng bốc hơi cả năm

243

Trang 11

Lượng bốc hơi cao nhất tại các trạm quan trắc đều rơi vào các tháng 2, 3, 4

còn thấp nhất là vào tháng 7, 8, 9

c Độ Ẩm

Độ am trung binh ttr 82-87% vào mùa mưa, từ 66-80% vào mùa khô Tại các

trạm giá trị độ âm trung bình từ 1999-2002 cho số liệu như sau:

Trang 12

Phú, Thống Nhất, Vĩnh Cửu và Xuân Lộc Thành phố Biên Hoà là trung tâm kinh

tế, chính tri và xã hội của tỉnh Dân số tỉnh 1.999.400 người, mật độ là 339

người/km” phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở thành phố Biên Hoà có mật độ là 3.088 người/km” Dân số thành thị 612.497 người chiếm 30,6%, dân số

nông thôn 1.387.167 người chiếm 69,4%

b- Kinh tế:

Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển địch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại

hóa Tỷ trọng ngành công nghiệp chiếm 33,4%, ngành nông nghiệp chiếm 32,1%

và ngành dịch vụ chiếm 30,7% Như vậy cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp- nông nghiệp-.¡ch vụ

- Công nghiệp:

Sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao trong những năm qua, bình quân mỗi năm tăng 30,2% Cùng với sự biến đổi theo thành phần kinh tế, cơ cấu ngành công nghiệp có sự chuyển biến tích cực Công nghiệp chế biến có vị trí quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn (85,7% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp)

-Nông-lâm-thúy sản:

Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Thế mạnh nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai chủ yếu là cây công nghiệp dài ngày như cao

su, cà phê, điều, cây ăn trái và cây lương thực Các họat động dịch vụ kỹ thuật

được chú trọng, đầu tư phát triển đáp ứng như cầu về giống, vật nuôi, cây trồng

Ngành chăn nuôi cũng phát triển mạnh, tổng đàn heo, gia cầm đều tăng nhanh Bò sữa được chú trọng và phát triển mạnh ở Long Thành Về lâm nghiệp,

Trang 13

°

trước đây tiềm năng về rừng của tỉnh rất lớn, có nhiều loại gỗ quí và hiểm, thú rừng và các nguồn lâm sản khác Đến nay rừng đã bị giảm sút nhiều về diện tích, trữ lượng và độ che phủ

- Các ngành dịch vụ:

Các ngành dịch vụ như thương mại, du lịch, vận tải, bưu điện và hoạt động

tài chính, ngân hàng, đang dần 6n định và ngày càng phát triển vững chắc đáp ứng tốt hơn nhu cầu chỉ tiêu và phát triển kinh tế trên địa bàn

IL- BAC DIEM DIA CHAT THUY VAN: -

A - Đặc điểm địa chất

Theo tài liệu bản đồ địa chất nhóm tờ Đông thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ

1:50.000, trong câu trúc địa chất tình Đồng Nai có mặt các trầm tích Kainozoi, các

đá trầm tích lục nguyén-bién, tram tich xen phun trao Mesozoi va phun trao bazan

Kainozoi

1 Dia tang:

1.1 Giới Mesozoi

Trang 14

Các thành tạo chỉ lộ ra trên diện hẹp ở núi Bửu Long gồm các đá cuội kết tuf

đa khoáng màu xám xanh, tuf đacit màu xám sáng, phiến sét màu xám đen xen bột

kết, cát kết Các đá của hệ tầng có thế nằm thoải, cắm về phía Đông Bắc và Bắc

Bề dày của hệ tầng > 200m

1.12 Hệ Jura thống hạ Hệ tang Draylinh (J;dl):

Các trầm tích chứa vôi thuộc Điệp Draylinh 16 ra chủ yếu ở phía Tây Bắc từ hỗồ Trị An đến Bắc Hồ Nai và rải rác dọc Sông Buông Đặc điểm thạch học gồm

các trằmï tích hạt thô xen hạt mịn chứa vôi không đều được chia làm 2 tập Các

thành tạo Jura bị uốn nếp mạnh, thế nằm gần đốc đứng ở cửa sông Bé Bề dày

>500m

1.1.3 Hé Jura, thong trung Hé tang La Nga (Join):

Trầm tích hệ tầng La Ngà lộ ra rải rác trên diện khá rống ở nhiễu nơi: phía

Đông và Bắc Xuân Lộc, phía Đông Vĩnh Cửu, Định Quán Phần còn lại chỉ gặp

trong các lỗ khoan sâu trên vùng phủ Đệ tứ và bazan

Thành phần thạch học gồm chủ yếu là phiến sét màu xám đen phân lớp mỏng đôi chỗ xen bột kết và cát kết Trong cát kết, sét kết phát triển khe nứt theo phương 70 đến 80° Chúng bị các đá xâm nhập, phun trào Creta xuyên cắt

Bề đày chưa xác định được

1.1.4 Hệ Ju ra, thong thuong- hé Kreta Diép Long Binh (J; K Ib):

Cac thanh tao phun trao xen tram tích của Điệp Long Bình chỉ lộ ra rt it tai khu đồi phía Tây ấp Bình Sơn Từ Biên Hoà đi Long Thành chỉ gặp trong các lỗ

Trang 15

khoan sâu Thành phần thạch học gồm các đá phun trào đacit, riolít, andezit màu xám xanh lục đến xám đen xen kẹp các tập mỏng cát kết, bột kết và sét vôi màu

rời, gắn kết yếu có khối lượng lớn, đứng thứ hai sau bazan

Tài nguyên nước dưới đất (NDĐ) có tiềm năng lớn, tập trung chủ yếu trong các thành tạo Kainozoi Vì vậy các thành tạo Kainozoi được nghiên cứu địa chất nói chung khá chỉ tiết Đặc biệt là được khoan rất nhiều, chủ yếu là khoan sâu (trên dưới 100m) Nhờ có nhiều lỗ khoan, tập trung vào các vùng như Biên Hòa, Định Quán, Gia Kiệm, Thống Nhất, Long Thành, Nhơn Trạch nên đã cho phép phân chia địa tầng khá chỉ tiết (thạch địa tầng)

1.2.1- Hệ Neogen, thống Mioxen, phụ thống thượng Hệ tang Dai Nga

(BN;*an)

Dién phan bé réng 250-300km’, tap trung ở Bắc-Tây Bắc LT Vĩnh An (2 tờ

bản đồ LT Vĩnh An và ấp 2-Phú Lập) Đây là các bazan ở vùng bazan Đắc Nông, Bình Phước kéo dài xuống, phủ lên các thành tạo Jura trong khu vực huyện Tân Phú-Vĩnh Cửu (rừng cẩm Cát Tiên-xã DakLua) và xã Phú Ngọc

Trang 16

Địa hình cấu thành từ đá bazan ở các vùng nêu trên có độ cao thay đổi tuyệt đối từ 200m đến hơn 320m là chủ yếu Các đá bazan phổ biến kiểu phun trào chảy _

tràn Hầu như không gặp kiểu vụn kết núi lửa hoặc kiểu xen kẽ trầm tích

Đá có dạng khối, đặc sít hoặc lỗ rỗng, hạnh nhân xen kế nhau theo kiểu lop | phủ nằm ngang Trên bề mặt đá bazan của hệ tầng thường gặp phô biến tầng đất

đỏ, có bề dày lớn từ 5-15m; có nơi có chứa bauxit laterit dày 0,5-2m; hoặc gặp

bazan phong hóa “bóc vỏ” khá cứng chắc

1.2.2 - Hệ Neogen, thống Pliocen, phụ thông thượng Hệ tầng Bà Miêu

Trong phạm vi tỉnh, diện lộ trầm tích hệ tầng này hạn chế Còn diện tích bị phủ được phát hiện qua các lỗ khoan thì phân bố rải rác, nhưng tập trung nhiều ở Long Thành-Thành Tuy Hạ

Phía Tây Bắc lộ rải rác ở Biên Hòa đến Phước Tân Còn các nơi khác không

lộ ra, như ở khu công nghiệp Biên Hòa l, các vùng Long Thành, Nhơn Trạch và

vùng Hồ Nai, Xuân Lộc gặp chủ yếu trong các lỗ khoan: Thành phần thạch học chủ yếu là các trầm tích hạt mịn đến trung, ít hơn là các trầm tích hạt thô Có nơi

chúng được chia ra 2 phần Phần đưới là trầm tích hạt thô, ít hạt mịn Phần trên là

trầm tích hạt mịn gồm sét, sét bột hay bột cát mịn

Tại vùng Thành Tuy Hạ, một loạt các lỗ khoan thăm đò tỉ mỉ NDĐ đã cùng

gặp trầm tích Neogen Các đặc điểm của hệ tầng Bà Miêu ở đây như sau:

Trầm tích tạo thành một dải, tầng địa chất khá dn định theo diện phân bố ngang từ phía Bắc xuống phía Nam, bị vát nhọn dần theo chiều từ Tây Nam lên

Đông Bắc Chiều dày lớn nhất của hệ tầng ở phía Tây Nam (gần rạch Ông Kéo) đạt

Trang 17

tới 88m (LK7N) và mỏng dần còn 12,8m (LK11N) Bề mặt địa hình, mái của tram tích đã bị xâm thực lỗi lõm nhẹ

Trầm tích có thế nằm ngang là chủ yếu, ít nơi có góc dốc 10-15° hoặc biến vị yếu Gần bề mặt của hệ tầng thường gặp vỏ phong hóa laterit, dày 0,5-3m Trầm tích có chứa di tích hóa thạch

Tại vùng Long Thành (các lỗ khoan TV1, TV2, TV3, TV4 và TV21) mặt cắt được chia 2 phần:

+ Phần dưới: Chủ yếu trầm tích hạt thô (cuội, sạn, sỏi, cát), có chứa bột sét

vàng, nâu vàng, xám trắng Chiều dày 5-15m

+ Phần trên chủ yếu là trầm tích hạt mịn sét, sét bột phân lớp mỏng ít cát, cuội, sạn Có nơi chủ yếu là sét, sét bột phân lớp dày dạng khối (TV2) Chiều dày 5-10m

Chúng có quan hệ trên bị phủ bởi hệ tầng Trảng Bom (Q,'), cé noi bị phủ

bởi hệ tầng Thủ Đức (Q¡?3); hoặc bazan (Q;x7) Hệ tầng phủ bất chỉnh hợp lên các thành tạo có tuổi cỗ hơn như phủ lên Jura trung Kết hợp tuổi của di tích bào tử phần hoa, di tích thực vật, việc xếp tuổi N,? hé tang Ba Miéu là hợp lý

1.2.3 - Hệ Neogen, thong Pliocen - Hệ Đệ tứ, thống Pleistocen hạ Hệ tang Tuc Trung (BN2-O))

Hệ tầng gồm chủ yếu là các đá bazan, diện phân bố rộng tập trung ở phía

Đông hồ Trị An, bắt đầu từ xã La Ngà qua xã Túc Trưng, Bình Hòa đến Suối Nho- suối Tam Bung khoảng 60km” Tại vùng Long Khánh và Xuân Lộc đến xã Sông

Ray diện lộ rộng khoảng 450-500km” Tại Định Quán, bazan Túc Trưng phân bố ở

Trang 18

Nam xã Suối Nho, thung lũng Suối Cao, xã Xuân Bắc rộng khoảng 50km’, Téng

cộng diện phân bế từ 600-650km? Các đá bazan Túc Trưng có những đặc điểm cơ

bản sau:

- Thành phân chủ yếu là bazan tholeit

- Tạo thành lớp phủ rộng nằm ngang (kiểu phun trào bazan chảy tràn), địa

hình phân bó đã bị chia cắt

- Không có đá tuf, vụn kết núi lửa và các lớp kẹp là trầm tích Tùy theo mỗi vùng, đá bazan có một số đặc điểm khác nhau ngoài sự giống nhau về đặc điểm cơ bản

Chiều dày đá bazan từ 30,5 đến 45,0m (712D, 718Đ) Lớp bazan phong hóa

hoàn toàn thành đất đỏ, bazan phong hóa đở dang dày 6 đến 17m (712D, 718D) Phần chưa phong hóa gồm bazan đặc sít và bazan lễ rỗng Tại vùng Túc Trưng các

đá bazan nằm phủ trực tiếp lên các đá tuổi Mesozoi (trầm tích Jura bị phong hóa)

Từ vùng Bắc Xuân Lộc về phía Tây Bắc tới Túc Trưng chiều dày đá bazan

hệ tầng Túc Trưng giảm dần từ >76m đến hơn chục mét Quan hệ trên của bazan Tuc Trung là sự chuyển tiếp lên bazan hệ tầng Xuân Lộc (BQ,xj

1.2.4- Hệ Đệ Tú, thông Pleistocen hạ Hệ tầng Trảng Bom (Q'tb)

Xuất xứ của hệ tầng này được bắt đầu từ việc khảo sát và mô tả vết lộ tại

Suối Đá, xã Tràng Bom, huyện Thống Nhất (1987) Lớp trên là cát, bột, sét kaolin

màu vàng Lớp đưới là cát hạt thô, sét kaolin xen thấu kính cuội sỏi thạch anh tròn

cạnh Chiều dày tông cộng gần 3m

Trang 19

Trên điện tích tỉnh Đồng Nai và vùng lân cận như Bình Dương, kết quả đo

vẽ đồ 1/50.000 cũng như kết quả khoan nghiên cứu ĐCTV-ĐCCT cho thấy thành tạo Q¡ phát triển tập trung ở các vùng Long Thành, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, Xuân Lộc và một vài nơi khác nhưng thường bị phủ dưới các thành tạo trẻ hơn Q\

Hệ tầng có một số đặc điểm chung như sau: Trầm tích Hệ tầng Trảng Bom thường phân bố ở địa hình cao 50-70m có dạng lượn sóng thoải xen đồi thoải và bị

phân cắt không đều (Hồ Nai, Trảng Bom, Bình Sơn, quanh khu Hát Dịch) Trầm

tích có độ hạt thay đổi thất thường, chủ yếu là cát chứa sạn sỏi, có nơi là cát, sdi,

cuội gắn kết yếu bằng bột sét ~ ~

Trên bình đồ diện tích Q¡' hình thành mét dai tir ga xe lita Hé Nai qua xã

Trảng Bom hướng từ Tây sang Đông, tiếp tục từ Trảng Bom kéo dài liên tục qua

Đồi 61 xuống sông Nhạn đến Câm Đường Đây là diện lộ lớn nhất, ngoài các vết lộ

tự nhiên còn có một số công trình khoan bắt gặp

Tại xã Trảng Bom, theo tài liệu loạt lỗ khoan (từ K1 đến K5 và K13, K14), trằm tích có đặc điểm như sau (từ dưới lên trên có):

- Tầng đáy các lỗ khoan là trầm tích Jura: sét bột kết, cát kết ở các độ sâu khác nhau từ 31m, 33m và 41m Tiếp lên trên là các lớp của hệ tầng Trảng Bom

+ Lớp 1: Chủ yếu là cát bột màu xám vàng, bở rời (có chứa nước), phân bố ở

độ sâu từ 41m lên tới độ sâu 31m

+ Lớp 2: Cát mịn, mịn-trung lẫn ít sạn (chứa nước tốt) Chiều dày từ 4m đến 10m (K1, K2), 12m (K3), 15m (K4) vụ 23m (K5)

Trang 20

+ Lớp 3: Sét chứa sạn sỏi laterit (K3, K2, K4, K5) Chiều dày thay đổi từ 2m

(K5, K1) đến trên dưới 10m ¬

+ Lớp 4: Cát bột màu vàng Đây là lớp trên cùng, chiều day từ 3-6m

Như vậy tại vùng Trảng Bom, hệ tầng có chiều dày khoảng 40m Trầm tích

hạt mịn đến trung là chủ yếu Chúng nằm phủ trực tiếp lên đá Jura Nằm phủ trực

tiếp lên chúng là đá bazan

Tóm lại trầm tích hệ tầng Trảng Bom có thành phan tram tích thuận lợi dé

chứa nước Chiều dày từ vài mét đến hơn 30 mét Các đặc điểm địa chất nói chung của hệ tầng này khá đặc trưng trong phạm vi tỉnh Đồng Nai

1.2.5 - Hệ Đệ Tú, thong Pleistocen Hé tang Xudn Léc (BO xl)

Diện tich phan bé da bazan Xuan Léc (Q\x/) kha rộng, từ nửa phía đông của huyện Thống Nhất theo quốc lộ 20 tới phía Đông xã Gia Kiệm và vùng Đông Bắc _

thị trấn Xuân Lộc Tiếp tục từ thị trấn Xuân Lộc về đến phía Nam và Đông Nam

tới Sông Ray tiếp sang Bà Rịa-Vũng Tàu Tổng diện tích lộ khoảng 450km”

Trên bình đồ chung, đá bazan Xuân Lộc cấu tạo nên địa hình có đặc trưng của bình nguyên, trên đó rải rác nhô lên các “nón”, các “chóp cụt” Kiểu địa hình

khá bằng phẳng bề mặt là đặc trưng bởi bazan chảy tràn, lớp phủ ngang rộng và

thoáng Bề mặt địa hình khá bằng, ứng với độ cao tuyệt đối thường gặp từ 100- 130m Nơi nào có dạng “mu rùa” cao hơn, khoảng trên dưới 150m như ở Đông Nam thị trấn Xuân Lộc

Trên diện tích đá bazan Xuân Lộc, có nhiều lỗ khoan sâu nghiên cứu ĐCTV

Dựa vào tài liệu các lỗ khoan đặc biệt là các lỗ khoan sâu cho thấy: Chiều dày toàn

Trang 21

tầng bazan Xuân Lộc tại vùng Xuân Lộc từ 49,5m (LK763) đến 105m (LK745)

Lớp bazan phong hóa ở trên cùng dày hơn 1m đến 4-5m (LK736) gồm đất đỏ (bột, sét) ít mảnh đá bazan

Thành phần Bazan gồm Bazanit-Bazanolivin kiềm, Bazan thường màu xám, xám đen Cấu tạo khối đặc sít xen lỗ hông Theo các dấu hiệu vỏ phong hoá và đặc

điểm thạch học, bazan Xuân Lộc có thê được hình thành qua 4 pha ứng với 4 giai

đoạn phun trào

- Pha 1: Bazan tướng phun trào, chảy tràn, bề day 20m đến 30m

- Pha 2: Bazan t:ớng phun trào, chảy tràn xen ít phụt nỗ, bề dày 30-40m

- Pha 3: Bazan tướng phun trào, chảy tràn xen phụt nô, bề dày 40-50m

- Pha 4: Bazan tướng phụt nỗ là chủ yếu xen ít phun trào và chảy tràn, bề

dày 40m đến 60m

Quan hệ địa tầng của bazan Xuân Lộc, chúng phủ trực tiếp lên các thành tạo

có tuổi cổ hơn: Neogen, Q,tb, Jz va Hệ tang Tuc Trung (N2-Q,12)

1.2.6 - Hé Dé Tit, théng Pleistocen, phu théng trung-thuong Hé tang Thi

Trang 22

Trên phạm vi tỉnh Đồng Nai, hệ tầng Thủ Đức được phát hiện trên diện rộng

ở các vùng phía Tây Nam (dọc 2 bên quốc lộ TP Hồ Chí Minh đi Vũng Tàu), bắt đầu từ bờ Nam sông Đồng Nai (giáp Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) đi qua TP Biên

Hòa tới Long Thành, Nhơn Trạch Chiều rộng của dải trầm tích trung bình từ 5-

10km

Trầm tích phân bố ở bề mặt địa hình cao trong khoảng 25-45m Thành phần

gồm 2 phần Phần dưới tỉ lệ trầm tích hạt mịn cao, phần trên xen kẽ hạt thô và mịn,

biến đổi nhanh Trằm tích có nguồn gốc sông là chính, cấu tạo nên bậc thêm tích tụ-xâm thực cao Chiều dày tầng chứa nước thay đổi từ vài mét tới 50 mét

Chúng phủ trên bề mặt _á bazan bị phong hóa của hệ tầng Xuân Lộc Ph,a

trên chúng bị phủ dưới trầm tích Holocen

1.2.7 - Hé Dé Ti, thong Pleistocen Hé tang Séc Lu (Q;sl)

Toàn bộ vùng núi Sóc Lu được cấu thành từ một loại đá phun trào có nhiều đặc điểm địa chất, thạch học hiện chưa phát hiện được ở các nơi khác Chỉ ở Sóc

Lu mới có Diện tích phân bố khoảng 10km”, phủ kín vùng núi Sóc Lu (cao

408,3) nằm gần phía Tây cạnh quốc lộ 20 Sau đây là một số đặc điểm của phun

trào Sóc Lu

Dạng nằm của đá ở Sóc Lu: các đá cấu tạo nên vòm dạng nón cụt, trên bình

đồ đường kính khoảng 3km (gần tròn) Bề mặt đỉnh khá bằng, mức độ lộ đá gốc tốt, vỏ phong hóa rất mỏng hoặc không có Tại vùng núi này có nhiều lô đá đã và đang được khai thác để làm VLXD

Nhìn bên ngoài thấy phun trào Sóc Lu có dạng khối đá đồng nhất có màu

xám sáng, xám tro Đã có nhiều lễ khoan thăm dò, có lỗ khoan sâu 90m vẫn chưa

Trang 23

_ khoan qua loại phun trào Sóc Lu Có hai loại đá chủ yếu là loại giàu thủy tinh và giàu vi thủy tỉnh, thuộc trachy-andesit, tephriphonolit

Quan hệ địa chất: Theo các kết quả nghiên cứu đã đạt được thì đá phun trào Sóc Lu nằm phủ trên đá bazan Xuân Lộc và bị bazan Cây Gáo phủ lên trên Tại moong khai thác đá phun trào Sóc Lu, có 1 mẫu được xác định tuổi đã đạt giá trị 0,5 triệu năm Như vậy tuổi của phun trào Sóc Lu xếp vào Q\ (Pleistocen .) là hợp

1.2.8 - Hệ Đệ Tú, thông Pleistocen Hệ tầng Cây Gáo (Q;cg)

Điện tích phân bố đá bazan Cây Gáo chỉ tập trung ở vùng Cây Gáo và Trị

An, rộng khoảng 180km” từ xã Sông Thao qua Bàu Hàm (Tây núi Sóc Lu) đến xã Cay Gao lên xã Thanh Binh

Tiếp xúc với bazan Cây Gáo ở phía Đông là bazan Xuân Lộc và bazan Sóc

Lu bị bazan Cây Gáo phủ lên trên Phía Nam là bazan Xuân Lộc, về phía Tây bazan Cây Gáo phủ lên trầm tích Jura Kết quả đo vẽ bản đồ địa chất đã phân chia bazan vùng Cây Gáo thành 1 phan vị riêng, được đặt tên là “bazan Cay Gao”

Chúng có dạng lớp phủ tràn tạo địa hình có bề mặt khá bằng, ít bị chia cắt, bề mặt

hơi nghiêng từ Đông sang Tây Độ cao địa hình phân bố bazan Cây Gáo từ 100

xuống 50m

Đặc điểm thạch học: Đá tương đối đồng nhất, cầu tạo lỗ hồng, cầu tạo bọt

Đá giàu thủy tỉnh, màu xám đen, xám tro, rat it ban tinh

Téng chiéu day bazan 14 83,0m

1.2.9- Hệ Đệ Tú, Thống Pleistocen Hệ tầng Phước Tân (8Q¡p0

Trang 24

r _Bazan Phước Tân được nghiên cứu và tên gọi hệ tầng Phước Tân từ năm

1987 (bản đồ địa chất tỉnh Đồng Nai), sau này gọi tên là tầng bazan Phước Tân

(tuổi Q¡?)

Trên diện tích tỉnh Đồng Nai, bazan Phước Tân có mặt tại 2 nơi: Tại vùng Phước Tân, bazan phân bố thành một dải hẹp khoảng 1km, dài khoảng 17km từ xã Đồi 61 xuôi Sông Lá Buông tới Phước Tân-núi Phước Kha

Dai thứ 2 chúng phân bố ở thị trân Định Quán và lan tràn lên phía Bắc theo quốc lộ 20 và bị chặn lại ở chân đèo Chuối xã Phú Trung Từ thị trấn Tân Phú bazan thuộc kiểu Phước Tân kéo dài liên tục theo các rãnh xâm thực cỗ trên bề mặt

đá trầm Jư.a đi qua xã Núi Tượng vượt sông Đồng Nai (đoạn sông thuộc huyện Tân Phú) lên rừng Cát Tiên (Nam Cát Tiên) thuộc địa phận xã Daklua

Tổng diện tích phân bố bazan Phước Tân khoảng hơn 350km”

Bazan Phước Tân có đặc điểm chung là kiểu phun trào chảy tràn dọc theo các thung lũng cô Thành phần khá đồng nhất, chỉ gồm đá bazan lỗ rồng, ít bazan đặc sit Trong mặt cắt không có xen kẹp đá trầm tích hoặc tuf, vụn kết núi lửa

1.2.10 - Hé Dé Tu, thong Pleistocen, phu théng thuong Hé tang Cu Chi

(Q¿ce)

Trong phạm vi tỉnh Đồng Nai, hệ tầng Củ Chỉ lộ ở các vùng Biên Hòa, Long

Thành, từ phía Bắc TP Biên Hòa đến vùng Vĩnh Thanh-Phước Khánh gần rạch

Ông Keo Hệ tầng có một số đặc điểm chung:

Phân bố trên địa hình có độ cao từ 5-15m nằm dưới mức cao của hệ tầng

Thủ Đức, thường tạo thềm II gối lên thềm III của hệ tầng Thủ Đức, có nơi tạo nên

Trang 25

dải viền quanh hoặc như một đám nhỏ rộng vài km”, hoặc một dải hẹp viền theo

diện lộ trầm tích Neogen Các kiểu trên thường gặp ở phía Tây Nam dọc quốc lộ

51 về phía Nam Nhơn Trạch

Thành phần trầm tích tương đối giống với trầm tích hệ tầng Thủ Đức Chủ

yếu là cát, sét, bột, màu xám trắng, xám vàng, loang lỗ nâu vàng ở phần đáy là cát,

cuội nhỏ Trong hệ tầng có sét kaolin Tram tich có nguồn gốc sông phô biến.Về

phía Vũng Tàu tram tích có nguồn gốc sông-biển

1.2.11- Hệ Đệ Tử, thống Holocen, phụ thống hạ-trung (Q;?7)

Trên phạm vi tỉnh Đồng Nai, trầm tích Holocen hạ-trung phát triển hạn chế, tập trung chủ yếu ở vùng ven phía Tây của tỉnh, tức là dọc theo phần hạ lưu của bờ

trái sông Đồng Nai Về phía Bắc, Đông Bắc của hồ Trị An, trầm tích này có mặt

cũng hạn chế hơn Vị trí phân bố các trầm tích thường là các thềm tích tụ (thềm I) của sông, suối lớn, thềm cao 2-4m hoặc 5m Trầm tích gồm cát bột sét có nơi chứa

cuội, sạn, sỏi ở phần đáy Trong phạm vi tính trầm tích có nguồn gốc lục địa (sông,

suối) là chủ yếu

1.2.12- Hệ Đệ Tú, thống Holocen, phụ thống trưng-thượng (Qzˆ”)

Diện phân bố trầm tích Holocen trung-thượng rất hạn chế nhỏ hẹp chưa đến

1km” hoặc một vai km’, tap trung chủ yếu ở ria Tay-Tay Nam tinh tạo thành một

dải song song với sông Đồng Nai, các nơi khác rất ít gặp Trầm tích có nguồn gốc song, séng-bién, đầm lầy, trong đó nguồn gốc biển-đầm lầy (mbQ;??) nhiều hon

1.2.13 - Hé Dé Tit, thống Holocen, phụ thống thượng (Q:`)

Trang 26

Trầm tích Q¿” có mặt hầu như ở tất cả mạng sông suối như dọc sông Đồng

Nai Thành phần trầm tích chủ yếu là cát pha bột sét ít sạn sỏi, cuội

Phía Nam và Đông Nam tiếp giáp với Bà Rịa-Vũng Tàu, trầm tích theo lòng

sông, các rạch chủ yếu là cát, sét và xác, mùn hữu cơ Trên vùng đồi núi, trầm tích

lòng sông suối chủ yếu là cuội, tảng, sỏi, sạn và cát bột sét (ít hơn) Trên vùng đá bazan trầm tích lòng sông có lượng sạn sỏi, cát là laterit vụn cuội sỏi đá bazan, bột

sét và mùn hữu cơ

Chiều dày trầm tích khoảng 2-3m

1.2.14- Hệ Đệ Tú, thống Hcocen không phân chia (Q2)

+ Suén tich (deluvi) (dQ)

Thanh tạo deluvi phân bố rải rác chủ yếu ở vùng đổi phía Bắc tỉnh (vùng đá

trầm tích Jura), tạo thành dải hẹp nằm đọc chân sườn đồi, núi, trong các thung lũng

kín giữa đổi núi như ở Bắc xã Núi Tượng, Đông Bắc xã Phú An, xã Nam Cát Tiên Thành phần trầm tích chủ yếu là sét bột lẫn các vụn của đá gốc lăn xuống Đây là

sản phẩm của đá trầm tích Jura tạo nên Chúng nằm phủ lên đá trầm tích Jura các

hệ tầng Mã Đà, Trà Mỹ) Chiều dày từ 1,5-4,0m

Trang 27

+ Tàn tích (eluvi) (eQ) :

Trong pham vi tinh Đồng Nai, thành tạo đá gốc đã bị phong hóa tại chỗ rất

phát triển Ngoại trừ các thành tao Trias hệ tầng Bửu Long (chưa có tài liệu) thì tất

cả các đá có tudi Jura, Creta và bazan đều có lớp tàn tích (vỏ phong hóa) dày từ vài

chục cm đến một vải mét và thậm chí một vài chục mét Vị trí mặt cắt hiện tại của

tàn tích có thể nằm trên bề mặt đá gốc cứng hoặc bị chôn vùi đưới sâu, nông, từ vài

mét đến chục mét, vài chục mét

Diện tích phân bố các đá magma xâm nhập trong phạm-vi tỉnh Đồng Nai tổng cộng khoảng 150km”, nằm rải rác ở phía Tây và Tây Bắc (huyện Vĩnh Cửu, ở phía Đông Bắc (huyện Định Quán ~ 100km”) và phía Đông Nam (vùng núi Mây

Tào khoảng 7km”, vùng núi Chứa Chan khoảng 18km”) Các đá phân dị thay đổi

thành phần theo dãy liên tục từ bazơ đến trung tính và axit, đá axit kiềm

Theo các kết quả nghiên cứu, trong tỉnh Đồng Nai có các phức hệ đá magma xâm nhập như sau

2.1- Phúc hệ Định Quản

Các khối đá lộ như “hòn chồng” ở thị trấn Định Quán và xung quanh thị tran

là địa chỉ được nhiều nhà địa chất trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu, khảo sát từ lâu Đó cũng là lý do để đặt tên cho phức hệ Ở vùng thị trần Định Quán, có mặt cả 3 pha xâm nhập chính và pha đá mạch

Pha l1: có diorit, diorit thach anh, diorit pyroxen-biotit, ít gabro diorit chứa 2

pyroxen Da cấu tạo khối, hạt nhỏ đến hạt trung, có chễ bị ép có dạng định hướng

Trang 28

Pha 2: chiếm khối lượng chủ yếu trong thành phần khối ở Định Quán, gồm

đá tonalit, granodiorit Đá hạt trung, thường có chứa các thể đá pha 1 (đá sẫm mau)

Pha 3: Khối lượng ít hơn pha 2 (ở Định Quán) Là những khối nhỏ, thể nhỏ

hoặc mạch xuyên cắt các đá pha | va 2 Da chinh của pha 3 là granit biotit, granit sáng màu hạt nhỏ đến trung, không đều

Nói chung các đá phức hệ Định Quán xuyên cắt đá trầm tích Tura sớm-giữa

tạo các đới ngoài bị sừng hóa, biến đổi, trong đó có các mạch thạch anh có khoáng

2.2 - Phúc hệ ankoet (G/K›aR)

Trong phạm vi tỉnh Đồng Nai, các đá xâm nhập phức hệ ankroet phân bố chủ yếu ở núi Chứa Chan, núi Le Khối núi Chứa Chan, diện phân bố gần trọn núi,

rộng khoảng gần 20km” Khối Núi Le khoảng 6km? ”

Thành phần gồm granit có các khoáng vật (%) có plagioclas (24-33), felspat kali (29-39), thạch anh (27-38) Khoáng vật thứ yếu có biotit (1-3%), muscovit (0-

3), khoáng vật phụ có quặng, apatit, epidot

2.3 - Loạt các đá mạch

Pha đá mạch phức hệ Phan Rang là các thể xuyên cắt xâm nhập phức hệ

Ankroet tại sườn Tây Nam núi Chứa Chan Thành phần chính là granit aplit

3 Các hệ thống đứt gãy

Trang 29

Trong khuôn khô của diện tích tỉnh Đồng Nai, đặc điểm đứt gãy kiến tạo đã được mô tả trong các báo cáo địa chất của các công trình tỉ lệ 1/500.000, 1/200.000

va 1/50.000

Các hệ thống đứt gãy được phân ra 2 loại đứt gãy: Loại đứt gãy chính và loại đứt gãy phụ Dưới đây là một số đặc điểm của hai loại đứt gãy

a Đặc điểm các đứt gãy chính

Hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc-Đông Nam

Đây là 2 đứt gãy của đới đứt gãy Vàm Cỏ Đông-sông Sài Gòn Hai đứt gãy cùng phương nằm cách nhau 10km Đứt gãy Fi(trùng với thung lũng sông Sài Gòn) đi qua tỉnh Đồng Nai, đoạn từ xã Đại Phước qua Vĩnh Thanh rồi đi dọc thung

lũng sông Tranh Đứt gãy F2 đi qua tỉnh Đồng Nai dài 33km trong đó có >10km thuộc phía Bình Dương Đới đứt gãy tạo nên địa hình dạng bậc hiện nay thấp dần theo hướng từ Đông Bắc đến Tây Nam

Đứt gãy sông Sài Gòn cũng có những biểu hiện rõ nét trên bản đồ dị thường trọng lực Bouger và dị thường ATa Độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy khoảng 20km Mặt đứt gãy cắm về phía Tây Nam, đốc 40-509

Cặp đứt gãy F3 và F4 Cùng hướng Tây Bắc-Đông Nam, kéo dài qua tỉnh

Đồng Nai từ xã Tân An và đập Trị Án xuống vùng Bàu Cạn và xã Xuân Đường,

chiều dài mỗi đứt gãy khoảng gần 50km Hai đứt gãy cách nhau từ 7-10km Cặp đứt gãy F5, F6 cùng phương TB-ĐN song song với nhau, cách nhau trung bình

khoảng 10km, đi qua Đồng Nai từ vị trí cắt qua sông ở vùng Tân An, Trị An đi qua

trung tâm hồ Trị An về phía Đông Nam

Trang 30

Nói chung, trong phạm vì tỉnh Đồng Nai, hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc-

Đông Nam phát triển mạnh mẽ có thể hơn các hệ thống khác Hệ thống đứt gãy có

quy mô lớn phân chia các đới kiến tạo khu vực

Tóm lại, lãnh thô tỉnh Đồng Nai hoạt động đứt gãy kiến tạo khá mạnh mẽ

trong đó có các hệ thống tầm cỡ khu vực, độ đài đạt vài trăm km, tạo đới đứt gãy

rộng vài chục km

b Đặc điểm các đứt gãy phụ

Trên bình đồ cấu trúc vùng phía Bắc hồ Trị An hệ thống đứt gãy kinh tuyến

phát triển mạnh hơn cả Theo mặt cắt vuông góc với hệ thống này trong cự ly 1- 2km lại gặp một đứt gãy Hầu như phương kéo dài của các đứt gãy đều trùng với phương cấu trúc của đá Thế nằm của các đá ở hai bên đứt gãy thường dốc 50-70-

80° Các đá bị uốn nếp rất mạnh

Các đứt gãy theo phương Đông Bắc-Tây Nam, Tây Bắc-Đông Nam thường

có mật độ thưa hơn, phát triển yếu hơn

B - Đặc điểm địa chất thủy văn

Dựa vào báo cáo kết quả lập bản đồ Địa chất thủy văn-địa chất công trình

vùng Biên Hoà-Long Thành tỷ lệ 1:50.000 năm 1992 và các công trình khoan khai thác trên địa bàn tỉnh cho thấy trên diện tích tỉnh Đồng Nai có các phân vị địa chất thủy văn như sau:

Nước lỗ hồng:

- Tầng chứa nước Holocen (Q;)

Trang 31

- Tang chứa nước Pleistocen (Q\)

- Tầng chứa nước Pliocen (N;)

Nước khe nứt:

- Phức hệ chứa nước khe nứt - lỗ hổng các đá phun trào bazan (§)

- Đới chứa nước khe nứt các đá trầm tích, trầm tích xen phun trào Mesozoi (Mz)

- Đới chứa nước khe nứt các thành tạo magma phun trào và xâm nhập

Dưới đây là đặc điểm địa chất thủy văn của từng phân vị địa tầng địa chất thủy văn nêu trên

B.1 Nước lỗ hỗng

1 Tang chứa nước lỗ hồng cdc trầm tích Holocen (Q›)

Bao gồm các phân vị địa tầng địa chất:

- Trầm tích nguồn gốc sông

- Trầm tích nguồn gốc bién dam lay

- Các loại sản phẩm phong hoá của đá gốc như tàn tích, sườn tích và lũ tích

Các thành tạo của tầng chiếm khoảng 10% diện tích tỉnh, lộ ra ở phần đồng

bằng thấp bãi bồi doc theo sông Đồng Nai, rìa chân thêm bậc II và III, đọc theo các

thung lũng hẹp hay trên các cấp địa hình khác nhau 20m đến 200m Nhìn chung

các phân vị đều có bề đày mỏng, thường từ 2 đến 5m, cá biệt có nơi tới 8m

Trang 32

_ Thành phần thạch học gồm chủ yếu hạt mịn: Sét, bột, bùn sét hay cát pha

sét Thành phần hạt thô ở dạng lớp mỏng xen kẹp hay thấu kính, không hình thành một lớp chứa nước nào rõ rệt Nước trong các phân vị địa tầng trên có quan hệ thủy lực với nhau và với nước mặt nên ý nghĩa cung cấp nước rất hạn chế Các kết quả

múc nước thí nghiệm tại các giếng đào cho lưu lượng Q=0,11⁄s-0,31⁄s mực nước hạ

thấp từ 3m-7m hay cạn giếng

Về đặc điểm động thái, khu vực phía Tây Nam do phân bố ở phần thấp của

địa hình, thế nằm nông lại bị phân cắt bởi hệ thống sông suối nên nó bị ảnh hưởng bởi các yếu tổ thủy triều, ven sông Nguồn bỏ cập là từ nước mưa và nước mặt nên động thái nước dưới đất dao động theo mùa Miễn thoát là các sông suối

Chất lượng nước của tầng Holocen có 2 loại chính sau: Khu vực phía Tây Nam, từ Long Hòa sang tới sông Thị Vải nước từ lợ đến mặn, tổng độ khoáng hoá

từ 1g/1-30g/1 Độ pH=6,5-8,5 Phần điện tích còn lại nước từ nhạt đến siêu nhạt

Tổng độ khoáng hoá M=0,05g/1—0,5g/1 Nước có tinh asit, pH=5,5-6,5

Tóm lại tầng chứa nước Holocen đa nguồn gốc có diện phân bố rộng nhưng

bề dày mỏng, nghèo nước Những nơi có nước nhạt như trong các trầm tích nguồn

gốc sông, các loại sườn tích, lũ tích và tàn tích, nước chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt

Và tưới tiêu cho các hộ gia đình riêng lẻ

2 Tầng chứa nước lỗ hồngcác tram tích Pleistocen (Q;)

Bao gồm các phân vị địa tầng địa chất sau:

- Trầm tích Hé tang Trang Bom (Q,'tb)

- Tram tích Hệ tầng Thủ Đức (Q¡2?/đ)

Trang 33

- Trầm tích Hệ tầng Củ Chỉ (Q;ˆec)

Các trầm tích trên phân bố không liên tục, bề dày thay đổi lớn, giữa chúng

không có các lớp đóng vai trò cách nước hoàn chỉnh nên nước trong các trầm tích này có quan hệ thủy lực với nhau Ngoài ra còn thấy chúng có cùng nguồn cung cấp, hướng vận động và các thành phần hoá học giống nhau nên được xếp gộp chung vào một tầng

Các trầm tích Pleistocen trong phạm vi tỉnh Đồng Nai có điện phân bố rộng,

chủ yếu ở phía Tây Nam với diện lộ khoảng 679km”, tạo nên các bậc thêm khác

nhau Các trầm tích này phủ trực tiếp lên tầng Pliocen ở Long Thănh và lên các đá M_sozoi ở Long Bình, Hồ Nai và Biên Hòa Bề dày ừ vài mét đến 10-15m Thành phần đất đá gồm lớp hạt mịn phân bố không liên tục: Sét, cát mịn dày từ Im đến 5m Lớp hạt thô có bề dày từ 2m đến 26m, trung bình thường từ 12m

Các kết quả thí nghiệm tại Bắc Biên Hoà, Tân Hạnh trong cát trung, thô với

bề dày khoảng 15m cho lưu lượng Q=9,61⁄2-211/s Bắc Long Thành, Tây Nam Vĩnh Cửu và Nam Hế Nai, lớp cát trung thô có bề day 8m-13m cho tỷ lưu lượng q=0,4-1,71/sm Như vậy các khu vực giàu nước của tầng Pleistocen là Bắc Biên Hoà và Tân Hạnh Khu vực chứa nước trung bình gồm Tây Nam Vĩnh Cửu, Bắc Long Thành và Nam Hồ Nai Các khu vực còn lại có độ chứa nước từ trung bình đến nghèo

Nguồn cung cấp cho tầng Pleistocen là nước mưa ngắm trực tiếp, những khu vực dọc sông Đồng Nai, nước mặt bổ cập qua các cửa số thủy lực Động thái nước dưới đất của tầng thay đổi theo mùa, theo tài liệu quan trắc Quốc gia động thái nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cho thấy nước dưới đất có quan hệ chặt chẽ với lượng mưa, nhìn chung ở những vùng chưa bị khai thác nhiều, tài liệu quan

Trang 34

trắc nhiễu năm cho thấy mực nước có xu hướng tăng (do lượng mưa các năm gần

đây tăng lên), xem hình H20

Chất lượng nước tầng Pleistocen rất tốt, nước từ nhạt đến siêu nhạt Tổng độ

khoáng hoá M=0,04g/1-0,5g/1, thường gặp từ 0,06-0,1g/1 pH=5-6,5

Tóm lại đây là tầng chứa nước có ý nghĩa kinh tế đối với các địa phương ở

Đồng Nai Nhiều giếng hiện đang khai thác từ tầng này

3 Tầng chứa nước lỗ hồng các trầm tích Pliocen (N;)

Tang chứa nước Pliocen hệ tầng Bà Miêu phân bố liên tục từ Long Bình trải

rộng trên toàn bộ diện tích phía Tây Nam tỉnh đến Long Thành và Nhơn Trạch

Diện tích khoản 1.120km” Bê dày trung bình tại Bắc Long Thành 15-20m tăng dần

về phía Đại Phước đạt tới 80m-100m

Thành phần thạch học gồm 2 phần: Trên là sét bột, sét pha cát mịn có bề dày thay đôi từ vài mét đến 10m phân bố không liên tục Lớp sét nảy nhiều nơi bị bao

Trang 35

mòn tạo nên các các cửa sô thủy lực Dưới là lớp chứa nước gôm các tập cát màu _ nâu vàng chứa sạn sỏi có bề dày tới 70m- 80m như tại Tây Nam Thành Tuy Hạ

Đây là tầng khá giàu nước, các lỗ khoan cho tỷ lưu lượng q=0,2U/sm đến

>2l/sm, thường từ 0,5l/sm đến 1,6l/sm Quan trắc những mạch lộ thuộc khu vực

Tuy Hạ huyện Nhơn Trạch cho lưu lượng từ 5 đến 101⁄s, có nguồn lộ đạt đến hàng chục I/s như nguồn lộ Q038030 thuộc đề án quan trắc Quốc gia động thái NDĐ

(Qmax=32,681/s) Hệ số dẫn nước Km=300m”/ngày-700m”/ngày

Nước tầng Pliocen từ nhạt đến siêu nhạt chiếm ưu thế Tổng độ khoáng hoá

=0,5g/1-1,0g/1 Phần lớn M= 0,05-0,1g/1

Đặc điển động thái

Theo tài liệu quan trắc động thái nước dưới đất của mạng quan trắc Quốc gia

trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nhiều năm (1991-2002) cho thấy nước dưới đất trong

tầng Plhiocen có quan hệ khá mật thiết với lượng mưa, mực nước dao động theo mùa và lệch pha với lượng mưa, mực nước đạt cực đại vào các tháng 10, 11 sau đó

giảm dần và đạt giá trị cực tiểu vào tháng 6,7 năm sau Biên độ đao động mực nước trong năm khoảng 5 đến 6m, quan trắc nhiều năm cho thấy hầu hết mực nước

ồn định, tuy nhiên tại vùng Tuy Hạ, từ khi khu công nghiệp Tuy Hạ hoạt động mạnh thì mực nước đã có dấu hiệu của sự suy giảm (xem hình H5), cần phải giám

sát chặt trẽ sự biến động của mực nước dưới đất tại khu vực này

Về chât lượng nước, quan trắc nhiêu năm cho thây các ion trong nước it có

sự biến đổi theo thời gian (xem hình H21)

Trang 36

HÌNH H8 - ĐỒ THỊ MỰC NƯỚC CÔNG TRÌNH 039340 (N;) NHƠN TRẠCH - ĐỒNG NAI

HÌNH H6 - ĐỒ THE HAM LUONG ION BIEN Để: THEO THỜI GIAN

CÔNG TRÌNH Q039340 0 (N;) - NHƠN TRẠCH ĐỒNG NAI

=

0.36 6.80 5.49 0.56

Đây là tầng chứa nước rất có ý nghĩa kinh tế ở tỉnh Đồng Nai Rất nhiều khu

công nghiệp và khu dân cư khai thác nước trong tầng này

B.2 Nước khe nứt

1 Phức hệ chứa nước khe nứt các đá phun trào bazan ()

Đá phun trào bazan ở Đồng Nai là một thể chứa nước quan trọng, chúng bao phủ tới gần 50% diện tích lãnh thổ và phân bố chủ yếu ở phần Đông Bắc Bazan ở

269

Trang 37

t

đây chủ yếu mang tướng phun trào Cao độ bề mặt phân bố của chúng từ 100-

200m trên mực nước biển Những đỉnh núi lửa đã tắt còn có cao độ trên 400m Cao

nguyên Xuân Lộc là nơi tập trung chính của bazan kể trên, bề dây lớn nhất tới 200m đa số từ 50-150m

Cấu thành các thành tạo phun trào bazan gồm :

- Bazan Hé tang Dai Nga (BN,°dn)

- Bazan Hệ tầng Túc Trung (BN;-Q;#)

- Bazan Xuân Lộc (BQ¡xj)

- Bazan Hé tang Cay Gao (BQicg)

- Bazan Hệ tầng Phước Tân (BQ;?)

Trong số các loại phun trào Bazan trên thì phun trào bazan Xuân Lộc chiếm

diện tích ưu thế, tiếp đến là bazan hệ tầng Túc Trung và Phước Tân Còn bazan hệ

tầng Cây Gáo và Sóc Lu không có ý nghĩa nhiều Các đá bazan trên địa bàn tỉnh thường nằm trực tiếp trên các thành tạo bở rời có tuổi già hơn hoặc trên nền đá Mezozoi (đá xâm nhập, đá lục nguyên Jura) Thế dòng chảy của dung nham đều theo các đải trũng của các thành tạo này

Các kết quả nghiên cứu địa tầng các lỗ khoan trong các loại bazan kể trên đều cho thấy: lớp trên cùng là bazan phong hoá hoàn toàn thành bột, sét màu nâu

đỏ có bề dày rất thay đổi từ vài mét đến 20-30m Dưới là các lớp bazan dic sit xen

bazan 16 héng, các lỗ hỗổng có đường kính từ vài mm đến 2,3cm Các lỗ hỗng thường không thông nhau

Trang 38

Bazan đặc sít có màu xám xanh đến xám đen, cấu tạo khối, rắn chắc và ít nứt

nẻ Bazan lỗ hỗng có màu xám nâu đến xám sáng, nứt nẻ có khả năng chứa nước tot Bé dày bazan lỗ hồng có khả năng chứa nước từ 10m đến 45m và phân bố ở các độ sâu khác nhau, tuỳ thuộc vào địa hình nơi phân bố Xen trong các lớp bazan đặc sit và lỗ hồng nhiều khi cũng gặp các lớp bazan phong hoá hoàn toàn, đây là biểu hiện gián đoạn của các pha phun trào

Nguồn cung cấp cho đá bazan thuần túy là nước mưa, lớp bazan phong hoá trên bề mặt tiếp nhận nước mưa và chuyển xuống dưới sâu hơn qua các đới khe nứt Bazan đặc sít vừa có thể cách nước (một cách tương đối) vừa có thé truyền dẫn nước được là do chúng ít nhiều cũng bị nứt nẻ Bazan càng nằm ở sâu thì nguồn cung cập sẽ hạn chê hơn

Vùng thoát của phức hệ chứa nước này gồm có các thể chứa nước nằm dưới

nó Song vùng thoát quan trọng vẫn là các dòng mặt và các phân vị chứa nước tiếp giáp với nó nhưng có cao độ thấp hơn (thuộc phần rìa cao nguyên bazan) Ria cao nguyên cũng chính là vùng thoát chung của cả nước ngầm và nước áp lực trong

phức hệ chứa nước này

Kết quả khảo sát các giếng đào vào lớp phong hoá của bazan cho thấy lưu

lượng phổ biến từ 0,04-0,081⁄s, cá biệt có giếng tới 1,21⁄ vào mùa khô Những nguồn lộ từ lớp phong hoá bề mặt thường có lưu lượng từ 0,1-0,251⁄s đôi khi đến

1,81⁄s (quan trắc mạch lộ Q080070-thị xã Xuân lộc, huyện Long Khánh-Đề án

quan trắc Quốc gia động thái NDĐ)

Các lỗ khoan tiến hành bơm hút nước bazan Xuân Lộc với lưu lượng hết sức

khác nhau từ dưới 0,11⁄s đến 10-121⁄s với mực nước tối đa trên dưới 40m Hệ số thấm dao động mạnh từ 0,03m/ngày đến gần 14m/ngày

Trang 39

Loại hình hoá học Bicacbonat-clorur natri-calci

- Chất lượng nước trong lớp phong hoá chưa triệt để là siêu nhạt với độ khoáng hoá 0,03g/1 và thuộc loại Clorur-bicacbonat natri Một số mẫu khác cho

- nước có độ khoáng hoá 0,06g/1 với thành phần hoá học Bicacbonat-clorur natri-

calci Độ pH phô biến là 5,2-8,4

-Chất lượng nước trong đá bazan lỗ hồng, với bề dầy lớn như đã biết, nước chứa trong bazan mang đặc điểm phân đới thủy hoá thuận, tức nhìn chung độ khoáng hóa tăng dần theo chiều sâu Đặc điểm phân đới thủy hoá của nước trong

bazan nhìn chung có liên hệ chặt chẽ với địa tầng và tuân theo các quy luật sau:

Những khu vực không có sự tách biêt rõ rệt gữa các pha phun trao sớm và

giữa (như Gia Kiệm-Gia Tân, Tân Phú-Phương Lâm) bên dưới lớp phong hoá, nước trong bazan thuộc loại nhạt với độ khoáng hoá 0,1 -0,3g/1

Khu vực cao nguyên Xuân Lộc, Bắc Xuyên Mộc với ranh giới rõ rệt giữa hai pha phun trào đầu tiên, nước trong bazan pha giữa phổ biến có độ khoáng hoá 0,1-

0,3g/1, trong pha sớm nước có độ khoáng hoá phô biến 0,3-0,6g/1

Phần rìa cao nguyên nơi hai pha phun trào gần như có quan hệ trực tiếp thủy lực, nước trong chúng có độ khoáng hoá 0,-0,3g/1

Trang 40

Khu vực Gia Kiệm-Gia Tân (Bắc núi Sóc Lu) có thể gặp bức tranh đa dạng

hơn với -độ khoáng hoá tăng dần từ 0,1-0,3g/1 Loại hình hoá học nước là

Bicarbonat magnhe và Bicarbonat magne-natri Khi độ khoáng hoá đạt 0,3-0,5g/1

nước phô biên thuộc Bicarbonat natri-magne

Nước trong bazan ở khu vực Tân Phú-Phương Lâm mang cùng những đặc điểm trong mỗi liên hệ độ khoáng hoá thành phần hoá học như khu vực Gia Kiệm- Gia Tân

Hầu hết các mẫu nước trong bazan đều thuộc loại mềm hoặc hơi cứng, có độ

pH tir 6,8-7,0-9,5 Đặc biệt gần như chúng không bị nhiễm bản các hợp chất nitơ, - tuy hàm lưcng ion sắt đôi khi vượt quá 0,3mg/l Các chất anoniac và hiếm khí

nitorat xuất hiện trong các mẫu nước lấy từ độ sâu không lớn chắc chắn đo còn bị

ảnh hưởng của nước ngầm Tuy vậy hàm lượng các hợp chất nitơ nếu có cũng rất thấp, phổ biến nhất là amoniac với hàm lượng không quá 0,1mgil

Xét theo tiêu chuẩn, có thể thấy nước trong bazan là nước sạch, đảm bảo các

tiêu chuẩn vệ sinh chủ yếu Tuy vậy chỉ số vì trùng có rải rác trong các mẫu 727p, 718p, cho thấy nước trong bazan pha giữa vẫn cần qua sử lý khi ăn uống, nhất là nước lây từ độ sâu không lớn (dưới 50-70m)

Đặc điểm động thái:

Nước ngầm trong vỏ phong hoá bazan có động thái liên quan chặt chẽ đến chế độ mưa và đặc điểm địa hình Mực nước ngầm sâu nhất vào mùa khô trên 20- 25m quan sát thấy tại các đỉnh phân thủy của cao nguyên Xuân Lộc Những nơi khác chúng có độ sâu không quá 5-10m vùng sườn và chân cao nguyên gia trị giảm dẫn, không vượt quá 5-7m

Ngày đăng: 24/04/2013, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w