Tuy nhiên, hầu hết đều nêu một cách rất chung chung khái quát về tôn giáo của dân tộc Chăm, chưa đi sâu tìm hiểu các nghi lễ, tín ngưỡng, giáo lí trong đời sống xã hội và đề ra các giải
Trang 1KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
HUỲNH THỊ HIẾU
DÂN TỘC CHĂM XÃ CHÂU PHONG, THỊ XÃ TÂN CHÂU,
TỈNH AN GIANG HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khóa học: 2007 – 2011
An Giang 2011
Trang 2KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
HUỲNH THỊ HIẾU
DÂN TỘC CHĂM XÃ CHÂU PHONG, THỊ XÃ TÂN CHÂU,
TỈNH AN GIANG HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khóa học: 2007 – 2011 Ngành học: Sư phạm Giáo dục chính trị
GVHD: CHAU SÓC KHĂNG
An Giang 2011
Trang 3Trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ của:
Ban Giám hiệu trường Đại học An Giang
Ban chủ nhiệm khoa Lý luận - chính trị
Thầy Chau Sóc Khăng đã tận tình hướng dẫn về chuyên môn, tạo mọi điều kiện thuận lợi và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho em hoàn thành luận văn này
Quý thầy cô đã giảng dạy em trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học
An Giang
Ba mẹ kính yêu đã có công sinh thành, dưỡng dục, dành cả cuộc đời chăm sóc, nuôi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho con hoàn thành luận văn này
Các bạn lớp DH8CT trường Đại học An Giang
Xin cám ơn với tấm lòng trân trọng!
Long Xuyên, ngày 15 tháng 05 năm 2011 Huỳnh Thị Hiếu
Trang 4
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của khoá luận 3
6 Kết cấu của khoá luận 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1: Tôn giáo và tôn giáo của dân tộc Chăm trong nền tôn giáo Việt Nam 5
1.1Cơ sở lí luận về tôn giáo 5
1.1.1 Khái niệm tôn giáo 5
1.1.2 Bản chất, nguồn gốc, tính chất của tôn giáo 7
1.1.2.1 Bản chất của tôn giáo 7
1.1.2.2 Nguồn gốc của tôn giáo 8
1.1.2.3 Tính chất của tôn giáo 12
1 1.3 Kết cấu, chức năng của tôn giáo 13
1.1.3.1 Kết cấu của tôn giáo 13
1.1.3.2 Chức năng của tôn giáo 17
1.1.4 Vấn đề tôn giáo trong xã hội chủ nghĩa 18
1.1.4.1 Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong xã hội chủ nghĩa 18
1.1.4.2 Các nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo 20
1.2 Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam 21
1.2.1 Đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 21
1.2.2 Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay 22
Chương 2: Tôn giáo trong đời sống xã hội của dân tộc Chăm 25
2.1 Khái quát về địa lí, tình hình kinh tế xã hội 25
2.2 Tôn giáo trong đời sống xã hội của dân tộc Chăm 27
2.2.1 Niềm tin tôn giáo của dân tộc Chăm 27
Trang 52.2.2.1 Giáo lý của dân tộc Chăm 29
2.2.2.2 Quan điểm về thế giới bên kia 32
2.2.3 Các hành vi của tôn giáo 36
2.2.3.1 Sự thờ cúng 36
2.2.3.2 Các nghi lễ 37
2.2.4 Tổ chức tôn giáo 42
2.2.4.1 Giáo hội của dân tộc Chăm 42
2.2.4.2 Mối quan hệ 43
2.3 Thực trạng của tôn giáo dân tộc Chăm trong đời sống xã hội 43
2.3.1 Một số thành tựu của tôn giáo dân tộc Chăm trong đời sống xã hội 43
2.3.2 Một số hạn chế của tôn giáo dân tộc Chăm trong đời sống xã hội .45
2.4 Một số giải pháp trong công tác tôn giáo 47
2.4.1 Phương hướng chung của công tác tôn giáo 47
2.4.2 Một số giải pháp giữ gìn và phát huy tôn giáo của dân tộc Chăm 49
2.4.2.1 Đối với tín đồ của dân tộc Chăm 49
2.4.2.2 Đối với Uỷ ban nhân dân xã Châu Phong 49
2.4.2.3 Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang 50
PHẦN KẾT LUẬN 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo khác nhau Có tôn giáo du nhập vào nước ta từ những thế kỷ đầu công nguyên, có tôn giáo mới ra đời ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Trong đó có 6 tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo với khoảng 20 triệu tín đồ Riêng Hồi giáo
du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ XV tới nay có khoảng 90.000 tín đồ
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hàng chục vạn thanh niên có đạo đã tham gia chiến đấu và nhiều người đã anh dũng hy sinh
vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhiều tín đồ đã nhận thức đúng chính sách, luật pháp của nhà nước, làm tốt cả
“ việc đạo” và “ việc đời” Tình hình kinh tế, an ninh chính trị và trật tự xã hội
ở nhiều vùng tôn giáo khá ổn định Việt Nam được thế giới nhận định là một trong những nước có chính trị ổn định nhất, góp phần tạo nên vẻ đẹp cho dân tộc Việt Nam phải kể đến sự đóng góp tích cực của tôn giáo đồng bào dân tộc
Chăm
Dân tộc Chăm là một trong 54 dân tộc anh em sinh sống trên đất nước Việt Nam Dân tộc Chăm phần lớn tâp trung sinh sống chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và một phần ở các tỉnh Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh Ở An Giang dân tộc Chăm tập trung sinh sống nhiều nhất là xã Châu Phong, Thị xã Tân Châu và xã Đa Phước, huyện An Phú, đã trãi qua nhiều biến động trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nhưng trong đời sống kinh tế,
xã hội của dân tộc Chăm vẫn giữ được nét riêng và đặc thù của mình Những năm gần đây, sinh hoạt tôn giáo của dân tộc Chăm có phần phát triển, thánh thất được tu sửa và tôn tạo, xây cất lại, đào tạo các chức sắc… Số người tham gia các hoạt động tôn giáo gia tăng Những hoạt động lễ hội gần gũi với tôn giáo càng nhiều, mang nhiều màu sắc khác nhau
Người Chăm có tín ngưỡng, tôn giáo rất phong phú Tín ngưỡng của người Chăm có từ xa xưa và mang dấu ấn của thời nguyên thủy - Đó là sự tin tưởng của người Chăm vào sự tồn tại của một thế giới siêu nhân, nơi các thần linh ngự trị và cũng chính là nơi tồn tại của ma quỷ và linh hồn của những vật thể ở thế giới trần tục sau khi chết Người Chăm luôn tin rằng tất cả các vật thể cũng như mọi người đều có linh hồn và linh hồn thì tồn tại vĩnh viễn dù con người có chết đi và các vật thể đã bị hư hại Những linh hồn cùng với ma quỷ
và thần linh luôn có những tác động, chi phối, ảnh hưởng đến thế giới hiện
Trang 7Đối với dân tộc Chăm, tôn giáo là một tác nhân quan trọng chi phối mạnh mẽ hầu hết các lĩnh vực văn hoá, kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán Tôn giáo không chỉ làm biến đổi đặc trưng văn hoá tộc người mà còn là nguyên nhân gây nên quá trình phân ly và hoà hợp tộc người Từ sự thống nhất ban đầu, tôn giáo đã phân hoá dân tộc Chăm thành ba cộng đồng với ba đặc trưng văn hoá khác nhau được qui định bởi thế giới quan của từng tôn giáo Đó là cộng đồng người Chăm Bàlamôn, cộng đồng người Chăm Bà Ni
và cộng đồng người Chăm Islam Vì thế, ở các nhóm tôn giáo của dân tộc Chăm, bản sắc văn hoá dân tộc chịu sự chi phối mạnh mẽ của các tôn giáo
Tôn giáo Chăm xã Châu Phong theo đạo Hồi giáo dòng Islam, gốc đạo Hồi ở Malaysia Người Chăm ở Châu Phong không xây tháp như tổ tiên của
họ ở miền Trung, mà chỉ xây thánh đường để tế lễ Người Chăm theo đạo Hồi nên đời sống tâm linh của họ gắn liền với các thánh đường Tất cả thánh đường đều có biểu tượng mặt trời và vầng trăng khuyết, cửa và nóc hình vòm, màu chủ đạo là màu trắng Mỗi làng đều có thánh đường riêng, làng lớn có một thánh đường lớn và các tiểu thánh đường để người dân thuận tiện đi cúng
lễ
Trong nhiều năm qua tôn giáo của dân tộc Chăm đã được nhiều tác giả nghiên cứu đến Tuy nhiên, hầu hết đều nêu một cách rất chung chung khái quát về tôn giáo của dân tộc Chăm, chưa đi sâu tìm hiểu các nghi lễ, tín ngưỡng, giáo lí trong đời sống xã hội và đề ra các giải pháp để giữ gìn và phát
huy tôn giáo của dân tộc Chăm ở một địa phương cụ thể
Trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước, vấn đề đặt ra là làm thế nào để giừ gìn và phát huy những tôn giáo trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc Chăm ở An Giang Đây được coi là vấn đề đáng quan tâm hiện
nay
Mảng đề tài về tôn giáo là lĩnh vực mà tôi rất tâm đắc, nhất là tôn giáo của dân tộc Chăm vì từ nhỏ tôi sinh ra và lớn lên tại làng Chăm, tôi muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào quá trình xây dựng quê hương An Giang nói riêng, sự nghiệp xây dựng đất nước nói chung ngày càng
giàu đẹp, đặc biệt là trên lĩnh vực tôn giáo
Chính vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài cho khóa luận của mình là:
“TÌM HIỂU VỀ TÔN GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI CỦA DÂN TỘC CHĂM XÃ CHÂU PHONG, THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG HIỆN NAY.”
Trang 82 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu tôn giáo trong đời sống xã hội của dân tộc Chăm xã Châu
Phong,Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang hiện nay
Đề xuất một số giải pháp trong việc giữ gìn và phát huy tôn giáo của dân tộc Chăm xã Châu Phong,Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong thời gian
sắp tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu tôn giáo trong đời sống xã hội của dân tộc Chăm xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang hiện nay
Nghiên cứu các yếu tố cấu thành của tôn giáo trong đời sống xã hội của dân tộc Chăm trong nền tôn giáo của dân tộc Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Nghiên cứu tôn giáo trong đời sống xã hội của dân tộc Chăm xã Châu
Phong, Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu tôn giáo truyền thống trong đời sống xã hội của dân tộc Chăm xã Châu Phong, Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang như: giáo lý, giáo hội, quan điểm về thế giới bên kia, nghi lễ, thờ cúng, niềm tin tôn giáo…
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử của tôn giáo, triết học của tôn giáo, xã hội học tôn giáo, kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp khách quan, khảo sát thực tiễn
Sự tiếp cận triết học vào tôn giáo đóng vai trò thế giới gian, phương pháp luận khoa học cho tôn giáo học
Sự tiếp cận xã hội học vào tôn giáo nhằm vạch ra vị trí của tôn giáo và vai trò của tôn giáo, vạch ra cấu trúc các tổ chức tôn giáo, cả sự tác động của
tôn giáo vào nhận thức và hành vi cá nhân
5 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần bổ sung thêm tôn giáo của dân tộc Chăm nói riêng
và dân tộc Việt Nam nói chung
Đề ra một số giải pháp để giữ gìn và phát huy tôn giáo trong đời sống
xã hội của dân tộc Chăm xã Châu Phong,Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang hiện
nay
Trang 9Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể làm nguồn tư liệu cho việc
tham khảo, giảng dạy học tâp về tôn giáo của dân tộc Chăm ở An Giang
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Khóa luận gồm có hai chương
Chương 1: Tôn giáo và tôn giáo của dân tộc Chăm trong nền tôn giáo Việt Nam
1.1 Cơ sở lí luận về tôn giáo
1.2 Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Chương 2: Tôn giáo trong đời sống xã hội của dân tộc Chăm xã Châu Phong, Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang hiện nay
2.1 Khái quát về địa lí, tình hình tế - xã hội của dân tộc Chăm xã Châu Phong, Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang hiện nay
2.2 Tôn giáo trong đời sống xã hội của dân tộc Chăm xã Châu Phong, Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang hiện nay
2.3 Thực trạng của tôn giáo dân tộc Chăm trong đời sống xã hội
2.4 Một số giải pháp trong công tác tôn giáo nhằm giữ gìn và phát huy tôn giáo trong đời sống xã hội của dân tộc Chăm xã Châu Phong, Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang hiện nay
Trang 10
đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới “Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ
“religion” (Tiếng Anh) và“religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên [10, tr 25] Vào đầu công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên lúc này khái niệm “religion” chỉ mới là riêng của đạo Kitô Bởi lẽ, đương thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành
- tách ra từ Công giáo – trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu,
“religion” mới trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa Với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tông giáo” đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVIII vào sau đó du nhập vào Trung Hoa Tuy nhiên, ở Trung Hoa, vào thế kỷ XIII, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa hoàn toàn khác: nó nhằm chỉ đạo Phật (Giáo: đó là lời thuyết giảng của Đức Phật, Tông: lời của các đệ tử Đức Phật) Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX và được đăng trên các báo, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo” [17, tr 4] Như vậy, thuật ngữ tôn giáo ban đầu được sử dụng ở châu Âu nhằm chỉ một tôn giáo sau đó thuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo
Trang 11Một số thuật ngữ tương đồng với tôn giáo
Tôn giáo là một từ phương Tây Trước khi du nhập vào Việt Nam, tại Việt Nam cũng có những từ tương đồng với nó Đó là:
Đạo: từ này xuất xứ từ Trung Hoa, tuy nhiên “đạo” không hẳn đồng
nghĩa với tôn giáo vì bản thân từ đạo cũng có thể có ý nghĩa phi tôn giáo
“Đạo” có thể hiểu là con đường, học thuyết Mặt khác, “đạo” cũng có thể hiểu
là cách ứng xử làm người: đạo vợ chồng, đạo cha con, đạo thầy trò… Vì vậy khi sử dụng từ “đạo” với ý nghĩa tôn giáo thường phải đặt tên tôn giáo đó sau
“đạo” Ví dụ: đạo Phật, đạo Kitô…[17, tr 4]
Giáo: từ này có ý nghĩa tôn giáo khi nó đứng sau tên một tôn giáo cụ
thể Chẳng hạn: Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo… “Giáo” ở đây là giáo hóa, dạy bảo theo đạo lý của tôn giáo Tuy nhiên “giáo” ở đây cũng có thể được hiểu với nghĩa phi tôn giáo là lời dạy của thầy dạy học Cần chú ý rằng người
ta không sử dụng từ “giáo” đối với tôn giáo mới phát sinh như Cao đài, Hòa Hảo… [17, tr 5]
Thờ: đây có lẽ là từ thuần Việt cổ nhất Thờ có ý bao hàm một hành
động biểu thị sự sùng kính một đấng siêu linh: thần thánh, tổ tiên… đồng thời
có ý nghĩa như cách ứng xử với bề trên cho phải đạo như thờ vua, thờ cha mẹ, thờ thầy hay một người nào đó mà mình mang ơn… Thờ thường đi đôi với cúng, cúng cũng có nhiều nghĩa: vừa mang tính tôn giáo, vừa mang tính thế tục Cúng theo ý nghĩa tôn giáo có thể hiểu là tế, là tiến dâng, là cung phụng,
là vật hiến tế… Ở Việt Nam, cúng có nghĩa là dâng lễ vật cho các đấng siêu linh, cho người đã khuất nhưng cúng với ý nghĩa trần tục cũng có nghĩa là đóng góp cho việc công ích, việc từ thiện… Tuy nhiên, từ ghép “thờ cúng” chỉ dành riêng cho các hành vi và nội dung tôn giáo Đối với người Việt, tôn giáo theo thuật ngữ thuần Việt là thờ hay thờ cúng hoặc theo các từ gốc Hán đã trở thành phổ biến là đạo, là giáo Còn thuật ngữ tôn giáo trong sinh hoạt đời thường ít dùng [17, tr 5]
Diễn biến của những định nghĩa về bản chất tôn giáo
Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiều Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo: Các nhà thần học cho rằng: “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh
và con người” Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên” Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là
sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo” Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài
Trang 12của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”.[4, tr 682] Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …” [17, tr 6]
Để có khái niệm đầy đủ về tôn giáo cần phải chú ý: Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn
đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình
Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình
do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để mà yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải Như vậy, Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin
đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau
1.1.2 Bản chất, nguồn gốc, tính chất của tôn giáo
1.1.2.1 Bản chất của tôn giáo
Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu đời và con người mặc nhiên chấp nhận nó
Việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp Khi câu hỏi này được đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỉ XIX
Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử C Mác đã khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người” [2, tr 569] Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là
một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin tác động
Trang 13lên các cá nhân, các cộng đồng Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung
ấy được thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ…
Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới thực và hư, của hai tính thiêng và tục và giữa chúng không có sự tách bạch
Trong tác phẩm “chống Đuyrinh” F Ăngghen đã có một nhận xét làm cho chúng ta thấy rõ bản chất của tôn giáo như sau: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người – của những năng lực bên ngoài chi phối cuộc sống của họ, chỉ là sự phản ứng trong
đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.”[3, tr 437]
1.1.2.2 Nguồn gốc của tôn giáo
Vấn đề nguồn gốc của tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tôn giáo học macxít và của toàn bộ chủ nghĩa vô thần nói chung Nhờ vạch ra được nguyên nhân xuất hiện và tồn tại của hiện tượng nào đó mà sự giải thích nó mới mang tính khoa học Đối với hiện tượng tôn giáo cũng vậy
V I Lênin đã gọi toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện tất yếu là làm nảy sinh niềm tin tôn giáo là những nguồn gốc của tôn giáo Nguồn gốc đó bao gồm:
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với con người Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên: Tôn giáo học macxít cho rằng sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với
tự nhiên là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo Như chúng ta đã biết, mối quan hệ của con người với tự nhiên thực hiện thông qua những phương tiện
và công cụ lao động mà con người có Những công cụ và phương tiện càng kém phát triển bao nhiêu thì con người càng yếu đuối trước giới tự nhiên bấy nhiêu và những lực lượng tự nhiên càng thống trị con người mạnh bấy nhiêu
Sự bất lực của con người nguyên thủy trong cuộc đấu tranh với tự nhiên là
do sự hạn chế, sự yếu kém của các phương diện tác động thực tế của họ vào thế giới xung quanh Khi không đủ phương tiện, công cụ để đảm bảo kết quả, mong muốn trong lao động người nguyên thủy đã làm tìm đến phương
Trang 14tiện tưởng tượng hư ảo, nghĩa là tìm đến tôn giáo F Ăngghen nhấn mạnh rằng tôn giáo trong xã hội nguyên thủy xuất hiện do kết quả phát triển thấp của trình độ lực lượng sản xuất Trình độ thấp của sự phát triển sản xuất đã làm cho con người không có khả năng nắm được một cách thực tiễn các lực lượng tự nhiên Thế giới bao quanh người nguyên thủy đã trở thành cái thù địch, bí hiểm, hùng hậu đối với họ Chúng ta cần thấy rằng, sự thống trị của
tự nhiên đối với con người không phải được quyết định bởi những thuộc tính
và quy luật của giới tự nhiên, mà quyết định định bởi mối tính chất mối quan
hệ của con người với tự nhiên, nghĩa là bởi sự phát triển kém của lực lượng sản xuất xã hội, mà trước hết là công cụ lao động Như vậy không phải bản thân giới tự nhiên sinh ra tôn giáo, mà là mối quan hệ đặc thù của con người với tự nhiên, do trình độ sản xuất quyết định Đây là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo Nhờ hoàn thiện những phương tiện lao động và toàn bộ hệ thống sản xuất vật chất mà con người ngày càng nắm được lực lượng tự nhiên nhiều hơn, càng ít phụ thuộc một cách mù quáng vào nó, do đó dần dần khắc phục được một trong những nguồn gốc quan trọng của tôn giáo Mối quan hệ giữa người với người: Nguồn gốc xã hội của tôn giáo còn bao gồm cả phạm vi các mối quan hệ giữa con người với nhau, nghĩa là bao gồm các mối quan hệ xã hội, trong đó có hai yếu tố giữ vai trò quyết định là tính
tự phát của sự phát triển xã hội và ách áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người
Trong tất cả các hình thái kinh tế - xã hội trước hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, những mối quan hệ xã hội đã phát triển một cách tự phát Những quy luật phát triển của xã hội biểu hiện như là những lực lượng
mù quáng, trói buộc con người và ảnh hưởng quyết định đến số phận của họ Những lực lượng đó trong ý thức con người được thần thánh hóa và mang hình thức của những lực lượng siêu nhiên Đây là một trong những nguồn gốc
xã hội chủ yếu của tôn giáo
Khi nêu lên đặc trưng của những nguồn gốc xã hội của tôn giáo trong
xã hội tư bản, V I Lênin viết: “ Sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản –
mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó – là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”,
“ngẫu nhiên”, làm cho họ phải phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm và dồn họ vào cảnh chết đói, đó là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại mà người duy vật phải chú ý đến trước hết và trên
Trang 15hết, nếu người ấy không muốn cứ mãi mãi là một người duy vật sơ đẳng” [17, tr 11] Trong các xã hôi đối kháng có giai cấp, sự áp bức giai cấp, chế độ bóc lột là một nhân tố quan trọng làm nảy sinh tôn giáo V I Lênin không những làm sáng tỏ hơn nữa nguồn gốc xã hội của tôn giáo vốn đã được
C Mác và F Ănghen đề cập tới, mà còn nói đến nguồn gốc nhận thức luận của tôn giáo Ông đã chỉ cho chúng ta thấy rõ, khả năng xuất hiện tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm nằm ngay trong phép biện chứng của quá trình nhận thức
Do quán triệt quan điểm cách mạng của C.Mác và F Ănghen, V.I.Lênin thường nhấn mạnh: “Phải gắn liền cuộc đấu tranh chống tôn giáo với thực tiễn
cụ thể của phong trào giai cấp nhằm tiêu diệt nguồn gốc xã hội của tôn giáo” [24, tr 51]
Người nô lệ, người nông nô, người vô sản mất tự do không phải chỉ là
sự tác động của lực lượng xã hội mù quáng mà họ không thể kiểm soát được,
mà còn bị bần cùng cả về mặt kinh tế, bị áp bức cả về mặt chính trị, bị tước được những phương tiện và khả năng phát triển tinh thần Quần chúng không thể tìm ra lối thoát hiện thực khỏi sự kìm kẹp và áp bức trên trái đất, nhưng họ
đã tìm ra lối thoát đó ở trên trời, ở thế giới bên kia Ở đây chúng ta cần lưu ý hai điểm Một là, sự bất lực của quần chúng bị bóc lột mang tính chất tương đối chứ không phải tuyệt đối, các giai cấp bị áp bức không bao giờ ngừng cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp mình và giải phóng xã hội, bởi vậy nếu ách áp bức đã nuôi dưỡng tôn giáo thì cuộc đấu tranh giai cấp là yếu tố giúp họ giải thoát khỏi tôn giáo Hai là, không nên đồng nhất “nguồn gốc xã hội” và
“nguồn gốc giai cấp” của tôn giáo Nguồn gốc giai cấp chỉ là một bộ phận trong nguồn gốc xã hội của nó Tôn giáo xuất hiện từ lâu trước khi xã hội có giai cấp và sẽ còn tồn tại một thời gian sau khi giai cấp bị xóa bỏ
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Để hiểu rõ bản chất hình thức phản ánh tôn giáo cần phải hiểu quá trình hiện thực mà sức mạnh thế gian đã trở thành sức mạnh siêu thế gian như thế nào trong ý thức của con người Trước đây người ta thường cho rằng, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo bắt nguồn từ sự không hiểu biết của con người về các hiện tượng xảy ra ở thế giới xung quanh họ Kiểu giải thích làm đơn giản hóa các vấn đề, nó chưa thể giải thích rõ ràng cơ chế phức tạp của quá trình tạo ra các quan niệm tôn giáo Để giải thích nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cần phải làm rõ lịch sử nhận thức và các đặc điểm của quá trình nhận thức dẫn đến việc hình thành quan niệm tôn giáo
Trước hết lịch sử nhận thức của con người là một quá trình từ thấp đến cao, trong đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận thức tự nhiên cảm tính Ở giai
Trang 16đoạn nhận thức này, con người chưa thể sáng tạo ra tôn giáo, bởi vì tôn giáo với tư cách là ý thức, là niềm tin bao giờ cũng gắn với cái siêu nhiên, thần thánh, mà nhận thức trực quan cảm tính thì chưa thể tạo ra cái siêu nhân thần thánh được Như vậy, tôn giáo chỉ có thể ra đời khi con người đã đạt tới một trình độ nhận thức nhất định Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên kia… là sản phẩm của những biểu tượng, sự trừu tượng hóa, sự khái quát hóa dưới dạng hư ảo Nói như vậy có nghĩa là tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một trình độ nhận thức nhất định, đồng thời nó phải gắn với sự tự ý của con người về bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới bên kia Khi chưa biết tự ý thức, con người cũng nhận thức được sự bất lực của mình trước sức mạnh của thế giới bên ngoài, do đó con người chưa có nhu cầu sáng tạo ra tôn giáo để bù đắp cho sự bất lực ấy
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của quá trình nhận thức Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẩn, nó là sự thống nhất một cách biện chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan Những hình thức phản ánh thế giới hiện thực càng đa dạng, phong phú bao nhiêu thì con người càng có khả năng nhận thức thế giới xung quanh sâu sắc và đầy đủ bấy nhiêu Nhưng mỗi một hình thức mới có sự phản ánh không những tạo những khả năng mới để nhận thức thế giới sâu sắc hơn mà còn tạo ra khả năng “xa rời” hiện thực phản ánh sai lầm nó Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm chính là tuyệt đối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến nó thành cái không còn nội dung kháchquan, không còn cơ sở “thế gian”, nghĩa là cái siêu nhân thần thánh
Ở đây một vấn đề được đặt ra: nếu bản thân quá trình nhận thức tạo ra khả năng xuất hiện các quan niệm sai lầm duy tâm và tôn giáo thì phải chăng chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo tồn tại vĩnh viễn? Không phải như vậy Bởi vì: Một là, những hệ thống duy tâm và tôn giáo chỉ tồn tại khi nào còn nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của nó; Hai là, trong điều kiện của chủ nghĩa
xã hội, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo sẽ dần dần mất đi khi con người ngày càng được trang bị đầy đủ thế giới quan duy vật khoa học
Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của ỵếu tố tâm lý đến sự ra đời của tôn giáo Họ đã đưa ra luận điểm “sự sợ hãi sinh ra thần thánh”
Các nhà duy vật cận đại đã phát triển tư tưởng của các duy vật cổ đại – đặc biệt là L.Phơbách – và cho rằng nguồn gốc đó không chỉ bao gồm những tình cảm tiêu cực (sự lệ thuộc, sợ hãi, không thoả mãn, đau khổ, cô đơn…) mà
Trang 17cả những tình cảm tích cực ( niềm vui, sự thoả mãn, tình yêu, sự kính trọng…) Không chỉ tình cảm, mà cà những điều mong muốn, ước vọng, nhu cầu khắc phục những tình cảm tiêu cực, muốn được đền bù hư ảo [17, tr 14]
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac – Lênin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm lý của tôn giáo khác về nguyên tắc so với các duy vật trước đó Nếu như các duy vật trước Mác gắn nguyên nhân xuất hiện tôn giáo với sự sợ hãi truớc lực lượng tự nhiên thì chủ nghĩa Mác lần đầu tiên vạch được nguồn gốc xã hội của sự sợ hãi đó
1.1.2.3 Tính chất của tôn giáo
Tính lịch sử của tôn giáo
Con nguời sáng tạo ra tôn giáo Mặc dù tôn giáo còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là một phạm trù lịch sử Tôn giáo không phải xuất hiện cùng với
sự xuất hiện của con người Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu tượng của con nguời đạt tới một mức độ nhất định Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử Trong từng thời kỳ của lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đó Thời đại thay đổi, tôn giáo cũng có
sự thay đổi, điều chỉnh theo
Đến một giai đoạn lịch sử, khi những nguồn gốc sản sinh ra tôn giáo bị loại bỏ, khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức đuợc bản chất các hiện tuợng tự nhiên và xã hội thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi con nguời C.Mác đã nói: Tôn giáo sẽ mất đi khi mà “con người không chỉ mưu sự, mà lại còn làm cho thành sự nữa, thì chỉ khi đó, cái sức mạnh xa
lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo mới sẽ mất đi, và cũng với nó bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, và khi
đó sẽ không có gì để phản ánh nưã” [8, tr 221] Đương nhiên, để đi đến trình
độ đó sẽ còn là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người
Tính quần chúng của tôn giáo
Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện ở số lượng tín đồ các tôn giáo Hiện nay tín đồ của các tôn giáo chiếm lấy tỉ lệ khá cao trong dân số thế giới (nếu chỉ tính các tôn giáo lớn , đã có tới từ 1/3 đến 1/2 dân số thế giới chịu ảnh hưởng của tôn giáo) Mặt khác, tính quần chúng của tôn giáo còn thể hiện ở chỗ các tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hoá, tinh thần của một số bộ phận quần chúng nhân dân lao động Dù tôn giáo hướng con người niềm tin vào hạnh phúc hư ảo của thế giới bên kia, song nó luôn luôn phản ánh khát vọng của những người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái…Bởi vì, tôn
Trang 18giáo thường có tính nhân văn, nhân đạo và hướng thiện Vì vậy, còn nhiều người ở trong các tầng lớp khác nhau của xã hội tin theo
Tính chính trị của tôn giáo
Trong xã hội không có giai cấp, tôn giáo chưa mang tính chính trị Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự khác biệt về lợi ích, các giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình
Những cuộc chiến tranh tôn giáo trong lịch sử và hiện tại, như các thập
tự chinh thời trung cổ ở châu Âu hay xung đột tôn giáo ở bán đảo Ban Căng, ở Pakixtan, Ấn Độ, Angiêri, Bắc Ailen, Bắc Capcadơ (thuộc Nga)… đều xuất phát từ những ý đồ của những thế lực khác nhau trong xã hội, lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục tiêu chính trị của mình Trong nội bộ các tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa các dòng, hệ, phái… nhiều khi cũng mang tính chính trị Trong cuộc đấu tranh ý thức hệ, thì tôn giáo thường là một phần của đấu tranh giai cấp
Ngày nay, tôn giáo đang có chiều hướng phát triển, đa dạng, phức tạp không chỉ thể hiện tính tự phát trong nhân dân, mỗi địa phương, mỗi quốc gia… mà còn có tổ chức ngày càng chặt chẽ, rộng lớn ngoài phạm vi địa phương, quốc gia – đó là nhiều tổ chức quốc tế của các tôn giáo với vai trò, thế lực không nhỏ trên toàn cầu và với những trang thiết bị hiện đại tác động không chỉ trong lĩnh vực tư tưởng, tâm lý… mà cả trong chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Vì vậy, cần nhận rõ rằng: đa số quần chúng tín đồ đến với tôn giáo nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần; song, trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các thế lực chính trị - xã hội lợi dụng cho thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ
1.1.3 Kết cấu, chức năng của tôn giáo
1.1.3.1 Kết cấu của tôn giáo
Có nhiều quan niệm khác nhau về những yếu tố cấu thành nên một tôn giáo Tuy nhiên, về cơ bản mỗi một tôn giáo bao giờ cũng bao gồm một hệ thống niềm tin, được hình thành do những tình cảm thông qua những hành vi tôn giáo biểu hiện rất khác nhau được quy định bởi một nội dung mang tính siêu thực nhằm tập hợp những thành viên trong một cộng đồng có tính xã hội,
hỗ trợ cho nhau một cách vững chắc, làm cho tín đồ một tôn giáo tin tưởng và thực hành, quên đi những những điều mà người ngoài coi là phi lý mà lại cho
đó là siêu lý để trở thành một tín đồ trung thành, tức là đặt cả cuộc đời vào niềm tin tôn giáo mà mình theo
Trang 19Các yếu tố cấu thành nên một tôn giáo
Tín ngưỡng hay niềm tin tôn giáo
Ở nước ta, trong thực tế thuật ngữ “tín ngưỡng” dùng để chỉ niềm tin tôn giáo Các nhà nghiên cứu đều cơ bản nhất trí với nhau rằng yếu tố quyết định của một tôn giáo là đức tin hay niềm tin Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac – Lênin thì các hình thái tôn giáo ra đời từ thuở sơ khai cho đến nay đều được gọi thống nhất là tôn giáo Niềm tin tôn giáo là một dạng nhận thức đặc biệt, dựa trên trực giác, tạo cho con người một niềm tin có tính thiêng liêng, giúp người ta có thể nhận thức được những sự vật mà người thường không thấy được, cho ta một sức mạnh đặc biệt mang tính “thăng hoa” để tác động đến cuộc sống trần tục Đó là điều kiện để con người đến với tôn giáo Không có niềm tin này con người không thể đến được với đạo Để có được niềm tin đó, người theo đạo cần phải có một sự hiểu biết nhất định về giáo lý, tuân thủ những hành vi, phép tắc tôn giáo theo cách của mình Niềm tin tôn giáo có phần độc lập với việc am hiểu nội dung tôn giáo Trong thực tế có những người không thực hành nghi thức tôn giáo có khi lại hiểu giáo lý nhiều hơn người thực hành nghi lễ tôn giáo đều đặn Do đó không phải cứ có nhận thức giáo lý một cách vững chắc là có được niềm tin sâu sắc H Rousseau rất
có lý khi ông cho rằng: “Chính cái mơ mơ hồ lại tạo dựng cho niềm tin tôn giáo, làm cho tôn giáo tồn tại.” [10, tr 96] Mặc dù nội dung tôn giáo có thể không thay đổi nhưng niềm tin tôn giáo có thể thay đổi trong từng cá nhân, từng cộng đồng Đối với con người, niềm tin tôn giáo thay đổi theo tuổi tác, theo sức khoẻ hoặc theo những thăng trầm của cuộc sống Con người tạo ra thần thánh không chỉ để tin, không chỉ vì cảm nhận sự bất lực, kém cỏi của bản thân mà còn xuất phát từ nhu cầu muốn được bất tử trong một thế giới vĩnh hằng Vì vậy không nên nhầm lẫn hoặc đánh đồng giữa tôn giáo với những ý thức hệ, những chủ nghĩa, những lý tưởng trong cuộc sống đời thường
Nội dung tôn giáo
Nói đến nội dung tôn giáo là đề cập đến giáo lý, kinh sách của các tôn giáo Đó là lời kể lại bằng truyền miệng, những bí tích, tiểu sử của những bậc sáng lập trong đó thực có, hư có, liên quan đến những thần linh: thiên thần, nhiên thần, nhân thần, những linh tinh của các con vật, ma quỷ, những đối tượng đã thuộc về thế giới bên kia nhưng lại có liên quan đến một cộng đồng, một cá nhân của thế giới trần tục và được các tín đồ coi là có thực
Nói đến nội dung tôn giáo còn là sự đề cập đến những ước nguyện, một mục đích mang tính tuyệt đối, vĩnh cửu cho cộng đồng, cho cá nhân, điều mà
Trang 20người trần dù có cố gắng đến mấy thì cũng không thể với tới được: đó là một thế giới cực lạc, sự bất tử của con người hay là để tránh qua một tai nạn hoặc những niềm an ủi cho vơi bớt những nỗi khổ đau của cuộc sống trần gian
Nội dung của tôn giáo bao hàm các vấn đề là huyền thoại và triết lý đó
là một hình thức ra đời từ thuở nguyên sơ, là những lý giải của con người, có thể sai hoặc đúng về một hiện tượng tự nhiên hay xã hội mà bản thân con người không thể hiểu và trong đó có những cái khác lạ, không giống bình thường nhưng lại có tác động đến họ Qua một dịp tình cờ, ngẫu nhiên thì họ coi những thế lực đó như một thực thể vô hình chi phối tốt hoặc xấu đến họ từ
đó dẫn đến một huyền thoại mang tính tôn giáo Nếu nội dung các tôn giáo sơ khai với chủ yếu là các huyền thoại nhằm lý giải những nhu cầu của xã hội –
bộ lạc thì đến xã hội có giai cấp, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, cùng với sự cần thiết tạo dựng những nhà nước, những quốc gia, sau nữa là các đế chế, nội dung các tôn giáo được định hình không chỉ dừng lại ở các huyền thoại mà còn là những triết lý rút ra trong đời sống thường ngày Đó là các triết lý có hoặc không có tác giả, sau đó các nhà thần học, các triết gia bổ sung
và hệ thống lại mới xây dựng nên được giáo lý Giáo lý là hình thức hoàn thiện hơn rất nhiều so với huyền thoại
Những yếu tố cấu thành nên nội dung của tôn giáo cho dù ở hình thức
sơ khai hay đã phát triển đều không nhằm ngoài mục đích tạo dựng nên một thế giới bên kia đối lập với thế giới trần tục Thế giới được tạo dựng này nhằm thỏa mãn một câu hỏi mà nếu không viện đến tôn giáo thì không ai có thể trả lời được: sau cái chết là gì? Câu hỏi này đã làm bừng lên một tia hi vọng muốn kéo dài cuộc sống quá ngắn ngủi, đầy khổ đau và không toại nguyện để đến với một cuộc sống cực lạc, vĩnh cửu của thế giới bên kia và điều đó đồng nghĩa với việc không bị rơi xuống địa ngục, vào tay quỷ dữ bị hành hạ, đau đớn… tùy theo quan niệm của từng tôn giáo Vì lẽ đó, thế giới bên kia với những sức mạnh của thần linh hướng con người đến một cuộc sống tự thân lương thiện Mọi tội ác của con người gây ra ở trần gian sẽ bị phán xử khi bước qua thế giới ấy [17, tr 40,41]
Các hành vi tôn giáo
Bất kỳ tôn giáo nào muốn tồn tại phải có những hành vi thờ cúng và hành vi này liên quan đến niềm tin, giáo lý và được thực hiện bởi các chức sắc, những người làm nghi lễ tôn giáo chuyên nghiệp hoặc tự thực hiện dưới
sự chỉ dẫn của một nguyên lý và nội dung nhất định
Hành vi thờ cúng có thể được thực hiện bằng tự cá nhân hoặc dưới hình thức cộng đồng Những hành vi tôn giáo đó thường được gọi là nghi lễ
Trang 21hay lễ thức Nghi lễ là mối quan hệ của các thực thể ở thế giới bên kia với cuộc sống trần gian của của cộng đồng và cá nhân, nó làm cho nội dung giáo
lý tôn giáo trở nên sống động, phổ quát qua thực hành hành vi tôn giáo
Nghi lễ có tầm quan trọng rất lớn đối với các tín đồ Nếu huyền thoại hay giáo lý thu hút con người ta bằng lời thì nghi lễ làm phong phú thêm lời nói bằng những hành vi tạo ra một trường tôn giáo – một ngôn ngữ hành động – cuốn hút con người ta không chỉ một lần mà nhiều lần, được lặp di lặp lại, nhằm tạo nên một tập quán ăn sâu vào tâm thức tôn giáo của các thành viên trong cộng đồng – một cộng đồng thống nhất và sống động
Đối với các tôn giáo, việc thực hiện nghi lễ có tác dụng dẫn con người đến với các đối tượng mà họ thờ cúng, ngược với nội dung tôn giáo là dẫn thế giới siêu linh đến với con người Yêu cầu của nghi lễ là nhằm thỏa mãn một yêu cầu phi trần tục và giúp họ có một đảm bảo an toàn trong cuộc sống đạo cũng như đời Những biểu hiện cụ thể của nghi lễ được thể hiện qua những hành vi khác nhau Đó là, cầu nguyện, cầu xin hay khấn lễ, những sự kiêng cữ,
lễ hội
Tổ chức tôn giáo
Mỗi tôn giáo mang tính xã hội đều tạo nên một cộng đồng, đó là một cộng đồng có chung một nhu cầu tôn giáo Sự tồn tại của cộng đồng tất yếu dẫn đến một tổ chức Tổ chức tôn giáo là một tập hợp người có thứ bậc nội bộ, theo chức năng, ít hay nhiều dựa vào quyền uy, định ra một tập hợp quy chế
và chuẩn mực nội bộ được hợp thức hoá nhằm duy trì, phát triển và truyền bá
giáo lý, tổ chức nghi lễ đảm bảo sự sống còn của bản thân tôn giáo
Giữa tổ chức tôn giáo và cộng đồng xã hội có mối quan hệ khăng khít nhưng trong những điều kiện xã hội khac nhau thì mối quan hệ ấy là khác
nhau Tổ chức tôn giáo thường có liên quan đến cộng đồng bằng mối quan hệ
đan xen, quyện chặt với cộng đồng và các tổ chức điều hành xã hội Trong xã hội này, giữa cá nhân và cộng đồng dường như có sự hòa tan vào nhau: cá nhân là cộng đồng, cộng đồng là cá nhân Lúc này tuy có sự phân biệt rành rẽ hai thế giới trần tục và siêu linh nhưng con người thường đắm mình vào cả hai
thế giới ấy nên rất khó phân biệt Các tổ chức tôn giáo thể hiện rất khác nhau
Một tổ chức tôn giáo có người sáng lập, có thể hữu danh, có thể vô danh hoặc được gán cho một cái tên nào đó Những nội dung, nghi lễ dẫn đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng ban đầu phải do một người đưa ra, người đời sau làm
phong phú thêm và có thể thích nghi được với thời đại
Có những tôn giáo tổ chức của nó rất chặt chẽ và có hệ thống, tiêu biểu
là Kitô giáo mà đến nay là Công giáo (sau hai lần phân rẽ thành Chính thống
Trang 22và Tin lành) Giáo hội được coi như là một nhà nước vừa là một tổ chức bộ máy điều hành từ trên xuống các địa phận, các cơ sở, vừa là một cộng đồng tôn giáo Trong khi đó với đạo Phật, tổ chức của nó gọi là Tăng già, tổ chức không chặt chẽ bằng, quần chúng tín đồ của đạo Phật sống ngoài đời, có nhiều người không đứng trong tổ chức, có người xuất gia nhưng có người lại tu tại
thuần đạo mà còn vì mục đích ngoài đời
1.1.3.2 Chức năng của tôn giáo
Chủ nghĩa Mac – Lênin cho rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó
có nguồn gốc từ những sự hạn chế của các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và đối với nhau Sự bất lực trước những sức mạnh tự nhiên cũng như xã hội đa nảy sinh nhu cầu đền bù cho những hạn chế đó Vì vậy tôn giáo có
nhiều chức năng xã hội Đó là:
Chức năng đền bù hư ảo
Luận điểm nổi tiếng của C Mác: “ Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” đã làm nổi bậc chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo [2, tr 581] Giống như thuốc phiện, tôn giáo đã tạo ra các vẻ bề ngoài của “sự giảm nhẹ” tạm thời những nổi đau khổ của con người, an ủi cho những sự mất mát, thiếu hụt của con người trong cuộc sống Chức năng đền bù hư ảo không chỉ là chức năng chủ yếu, đặc thù mà còn là chức năng phổ biến của tôn giáo Ở đâu có tôn giáo
ở đó có chức năng đền bù hư ảo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó không chỉ thực hiện một chức năng mà gồm một hệ thống chức năng xã hội Mặc dù là chức năng chủ yếu nhưng chức năng đền bù hư ảo không thể tách rời các chức năng khác của tôn giáo
Chức năng thế giới quan
Khi phản ánh một cách hư ảo hiện thực, tôn giáo có tham vọng tạo ra một bức tranh của mình về thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người dưới một hình thức phi hiện thực Bức tranh tôn giáo ấy bao gồm hai bộ phận: thế giới thần thánh và thế giới trần tục và trên cơ sở đó mà tôn giáo giải thích các vấn đề của tự nhiên cũng như xã hội Sự lý giải của tôn giáo về thế
Trang 23giới nhằm hướng con người tới cái siêu nhiên, thần thánh, do đó nó đã xem nhẹ đời sống hiện thực Quan niệm này có thể tác động tiêu cực đến ý thức giáo dân, đến thái độ của họ đối với xung quanh
Chức năng điều chỉnh
Tôn giáo đã tạo ra một hệ thống các chuẩn mực, những giá trị nhằm điều chỉnh hành vi của những con người có đạo Những hành vi được điều chỉnh ở đây không chỉ là những hành vi trong thờ cúng mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội của giáo dân Vì vậy, hệ thống chuẩn mực, giá trị trong lý thuyết đạo đức và xã hội mà tôn giáo tạo ra
đã ảnh hưởng quan trọng đến mọi hoạt động của con người Tất nhiên ở đây chúng ta cần phải chú ý rằng những chuẩn mực, giá trị tôn giáo đã bị tước bỏ khá nhiều những đặc trưng khách quan và phụ thuộc vào những giá trị siêu nhiên, hư ảo
Chức năng giao tiếp
Chức năng giao tiếp của tôn giáo thể hiện khả năng liên hệ giữa những người có chung một tín ngưỡng Sự liên hệ được thực hiện chủ yếu trong hoạt động thờ cúng, sự giao tiếp với thánh thần được coi là sự giao tiếp tối cao Ngoài mối liên hệ giao tiếp trong quá trình thờ cúng, giữa các giáo dân còn có
sự giao tiếp ngoài tôn giáo như liên hệ kinh tế, liên hệ cuộc sống hàng ngày, liên hệ trong gia đình… Những mối liên hệ ngoài tôn giáo có thể lại củng cố, tăng cường các mối liên hệ tôn giáo của họ
Chức năng liên kết
Trong các xã hội trước đây, tôn giáo với tư cách là bộ phận tất yếu trong cấu trúc thượng tầng đã đóng vai trò quan trọng của nhân tố liên kết xã hội, nghĩa là nhân tố làm ổn định những trật tự xã hội đang tồn tại, dựa tên những hệ thống giá trị và chuẩn mực chung của xã hội Tuy nhiên không nên quan niệm một cách sai lầm rằng tôn giáo bao giờ cũng là nhân tố liên kết xã hội chủ yếu, bảo đảm sự thống nhất của xã hội Sự thống nhất của xã hội trước hết được bảo đảm bởi hệ thống sản xuất vật chất xã hội chứ không phải bằng cộng đồng tín ngưỡng Hơn nữa trong những điều kiện xã hội nhất định, tôn giáo có thể biểu hiện như là ngọn cờ tư tưởng của sự chống đối lại xã hội, chống lại chế độ phản tiến bộ đương thời
1.1.4 Vấn đề tôn giáo trong xã hội chủ nghĩa 1.1.4.1 Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong xã hội chủ nghĩa
Các tôn giáo vẫn còn tồn tại lâu dài trong các nước Xã Hội Chủ Nghĩa
là do các nguyên nhân chủ yếu sau đây :
Trang 24Nguyên nhân nhận thức
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong chế độ xã hội chủ nghĩa trình độ dân trí của nhân dân chưa thật cao; nhiều hiện tượng tự nhiên và
xã hội đến nay khoa hoc chưa giải thích được
Hiện nay, nhân loại đã đạt được những thành tựu to lớn về khoa học và công nghệ, với những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin, sinh học, vật liệu mới … đã giúp con người có thêm những khả năng để nhận thức xã hội và
làm chủ tự nhiên Song thế giới khách quan là vô cùng, vô tận, tồn tại đa dạng
và phong phú, nhận thức của con người là một quá trình và có giới hạn, thế giới còn nhiều vấn đề mà hiện tại khoa học chưa thể làm rõ Những sức mạnh
tự phát của tự nhiên, xã hội đôi khi rất nghiêm trọng còn tác động và chi phối đời sống con người Do vậy, tâm lý sợ hãi, trông chờ, nhờ cậy và tin tưởng vào Thần, Thánh, Phật chưa thể gạt bỏ khỏi ý thức của con người trong xã hội, trong đó có nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa
Nguyên nhân tâm lý
Tôn giáo đã tồn tại lâu đời trong lịch sử loài người, ăn sâu vào trong
tiềm thức của nhiều người dân Trong mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý
thức xã hội, thì ý thức xã hội bảo thủ hơn so với tồn tại xã hội, trong đó tôn giáo lại là một trong những hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất Tín ngưỡng, tôn giáo đã in sâu vào đời sống tinh thần, ảnh hưởng khá sâu đậm đến nếp
nghĩ, lối sống của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệ đến mức trở thành
một kiểu sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu của cuộc sống Cho nên,
dù có thể có những biến đổi lớn lao về kinh tế, chính trị, xã hội thì tín ngưỡng, tôn giáo cũng không thay đổi ngay theo tiến độ của những biến đổi kinh tế, xã hội mà nó phản ánh
Nguyên nhân chính trị - xã hội
Trong các nguyên tắc tôn giáo có những điểm còn phù hợp với chủ nghĩa xã hội, với đường lối chính sách của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là mặt giá trị đạo đức, văn hóa của tôn giáo, đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Dưới chủ nghĩa xã hội, tôn giáo cũng có khả năng tự biến đổi để thích nghi theo xu hướng “đồng hành với dân tộc” sống “tốt đời, đẹp đạo”, “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” Nhà nước không ngừng nâng cao địa vị, tính tích cực xã hội của những người có đạo bằng cách tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động thực tiễn Trên cơ sở
đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa làm cho người có đạo hiểu rằng, niềm tin tôn giáo chân chính không đối lập với chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa, và
Trang 25chủ nghĩa xã hội đang hiện thực hoá lý tưởng của chủ nghĩa nhân đạo trong cuộc sống của mỗi người dân
Cuộc đấu tranh giai cấp vẫn đang diễn ra dưới nhiều hình thức vô cùng phức tạp; trong đó, các thế lực chính trị vẫn lợi dụng tôn giáo để phục vụ cho
mưu đồ chính trị của mình Mặt khác, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung
đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, bạo loạn, lật đổ còn xảy ra ở nhiều nơi Nỗi lo sợ về chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo cùng với những mối đe dọa khác là điều kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại
Nguyên nhân kinh tế
Trong chủ nghĩa xã hội, nhất là giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ còn nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với những lợi ích khác nhau của các giai tầng xã hội, sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội vẫn là một thực tế; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
chưa cao, thì con người càng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi Điều đó đã làm cho con người có tâm lý thụ động, nhờ cậy, cầu mong vào những lực lượng siêu nhiên
Nguyên nhân về văn hoá
Sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo có khả năng đáp ứng ở một mức độ nào
đó nhu cầu văn hoá tinh thần và có ý nghĩa nhất định về giáo dục ý thức cộng đồng, đạo đức, phong cách, lối sống Vì vậy, việc kế thừa, bảo tồn và phát huy văn hoá của nhân loại, trong đó có đạo đức tôn giáo là cần thiết Mặt khác, tín ngưỡng, tôn giáo có liên quan đến tình cảm, tư tưởng của một bộ phận dân cư,
và do đó sự tồn tại của tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội như một hiện tượng xã hội khách quan
1.1.4.2 Các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mac – Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo
Tín ngưỡng, tôn giáo là những vấn đề nhạy cảm và phức tạp Do đó,
những vấn đề nảy sinh từ tôn giáo cần phải được xem xét hết sức thận trọng,
cụ thể và chuẩn xác có tính nguyên tắc, với những phương thức linh hoạt theo
quan điểm chủ nghĩa Mac-Lênin
Giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cần dựa trên những quan điểm sau:
Một là, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời
sống xã hội phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
Đó là yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Hai là, khi tín ngưỡng tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, thì nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tôn trọng và
Trang 26bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của công dân Công dân có tôn giáo hay không có tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau Cần phát huy những nhân tố tích cực của tôn giáo, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân
Ba là, thực hiện đoàn kết giữa những người có tôn giáo với những
người không có tôn giáo, đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết những người theo tôn giáo với những người không theo tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước Nghiêm cấm mọi hành vi chia rẽ vì lý do tín ngưỡng tôn giáo
Bốn là, phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Mặt tư tưởng thể hiện sự tín ngưỡng trong tôn giáo Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hôi, khắc phục mặt này là việc làm thường xuyên, lâu dài Mặt chính trị là sự lợi dụng tôn giáo của những phần tử phản động nhằm chống lại sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Đấu tranh loại bỏ mặt chính trị phản động trong lĩnh vực tôn giáo là nhiệm vụ thường xuyên, vừa phải khẩn trương, kiên quyết, vừa phải thận trọng
và có sách lược phù hợp với thực tế
Năm là, phải có quan điểm lịch sử khi giải quyết vấn đề tôn giáo
Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò và sự tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã hội cũng khác nhau Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực, các vấn đề của xã hội luôn có sự khác biệt Do đó, cần phải có quan điểm lịch sử - cụ thể khi xem xét, đánh giá
và giải quyết những vấn đề có liên quan tôn giáo Người mácxít phải biết chú
ý đến toàn bộ tình hình cụ thể - đó là điều mà V.I Lênin đã từng nhắc nhở khi giải quyết vấn đề tôn giáo Nhà nước xã hội chủ nghĩa cần phải có quan điểm
và phương thức ứng xử phù hợp với từng trường hợp cụ thể khi giải quyết các vấn đề tôn giáo
1.2 Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam và chính sách tôn giáo của Đảng
và Nhà nước ta hiện nay
1.2.1 Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Một là, Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo khác nhau Hiện nay, ở nước ta có 6 tôn giáo lớn đã được Nhà nước thừa nhận về tổ chức là: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài, Hoà Hảo với khoảng 20 triệu tín
đồ [8, tr 230] Ngoài ra còn hàng chục triệu người khác vẫn giữ tín ngướng dân gian, truyền thống và cả tín ngưỡng nguyên thuỷ Tín ngướng, tôn giáo ở nước ta chủ yếu ở cấp độ tâm lý tôn giáo Nhiều tín đồ tôn giáo tuy khá sùng
Trang 27đạo, nhưng hiểu giáo lý rất ít, gia nhập đạo phần nhiều do lan truyền tâm lý, hoặc do vận động, lôi kéo; ý thức tôn giáo ở phần lớn tín đồ không thật sâu sắc
Hai là, các tôn giáo, tín ngưỡng dung hợp, đan xen và hoà đồng, không
có kỳ thị, tranh chấp và xung đột tôn giáo Các tín ngưỡng truyền thống và tàn
dư tôn giáo nguyên thuỷ in dấu ấn khá sâu đậm vào đời sống tinh thần của người Việt Nam, theo suốt chiều dài lịch sử, đó là cái nền tâm linh để dễ dàng đón nhận sự du nhập của các tôn giáo khác Sự khoan dung, lòng độ lượng, nhân ái của dân tộc Việt Nam, cùng với yêu cầu phải đoàn kết toàn dân để bảo
vệ nền độc lập, thống nhất lãnh thổ, nên người Việt Nam tiếp nhận các tôn giáo khác nhau một cách tự nhiên, miễn là nó không trái với lợi ích dân tộc – quốc gia và truyền thống văn hoá, tín ngưỡng cổ truyền Sự phân bố tôn giáo ở nước ta có đặc điểm nổi bật là giáo dân của các tôn giáo thường sinh sống thành từng cộng đồng quy mô nhỏ, các cộng đồng tôn giáo khác nhau có thể sống xen kẽ nhau Ở nhiều nơi, trong một làng, xã cũng có các nhóm tín đồ của các tôn giáo khác nhau sống đan xen, hoà hợp nhau, hoặc xen kẽ với những người không theo tôn giáo nào
Ba là, các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong xã hội Việt Nam đều
du nhập từ bên ngoài, ít nhiều đều có sự biến đổi và mang dấu ấn Việt Nam Các tôn giáo từ bên ngoài vào Việt Nam vừa theo cách du nhập tự nhiên qua giao lưu kinh tế, văn hoá như: Phật giáo, Hồi giáo; vừa có sự áp đặt song hành với quá trình xâm lược của các đế quốc trong lịch sử như: Công giáo, Tin lành Quá trình giao du, gặp gỡ các tôn giáo vừa thâm nhập, bổ sung, vừa cải biến lẫn nhau, khiến cho mỗi tôn giáo đều có sự biến đổi phù hợp với đặc điểm địa lý, lịch sử và văn hoá Việt Nam
Bốn là, sự pha trộn phức tạp giữa ý thức tôn giáo với tín ngưỡng truyền thống và tình cảm, phong tục tập quán và nhân dân Tín ngưỡng truyền thống dân gian mà nổi bật nhất là phong tục thờ cúng tổ tiên, đã dung hợp với các tôn giáo, góp phần tạo nên đặc điểm tình cảm, tâm hồn, tính cách người Việt Nam Tuy vậy, sự pha trộn phức tạp giữa ý thức tôn giáo với tín ngưỡng cổ truyền và tình cảm, phong tục tập quán đã ăn sâu vào đời sống tinh thần người Việt Nam, làm cho một bộ phận không nhỏ quần chúng lao động rất dễ dàng tiếp nhận tình cảm, ý thức tôn giáo mới
1.2.2 Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta hiện nay
Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức
Trang 28mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Để thực hiện phương hướng trên, các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cấp, các ngành cần thống nhất nhận thức về các quan điểm và chính sách sau đây:
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật, bình đẳng trước pháp luật
Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn
dân tộc Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào
theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây
rối, xâm phạm an ninh quốc gia
Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa
vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [13]
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung,
trong đó có đồng bào tôn giáo
Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn
Trang 29giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành
công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng [13]
Vấn đề theo đạo và truyền đạo
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo
đúng quy định của pháp luật [13]
Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức
truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật