Năm 1999, Hiến pháp sửa đổi Điều 5 đã quy định rằng: “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thực hiện quản lý theo pháp luật và xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.” Yêu cầu cải cách
Trang 2Trang | 1
MỤC LỤC
Trang
Lời giới thiệu
Báo cáo về Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa
Trang 34.1 Vai trò và vị trí
4.2 Tổ chức 4.3 Mô hình
4.11 Bồi thẩm viên/Hội thẩm nhân dân
4.12 Phân định ranh giới khu vực
4.13 Tính độc lập xét xử
4.14 Kháng cáo và giải quyết kháng cáo
4.15 Xác định vị trí
4.16 Quản lý tư pháp
4.17 Kiểm tra và giám sát
4.18 Các nhân viên khác của tòa án
Kết luận
5.1 Các loại thi hành án
5.2 Tổ chức 5.3 Mô hình
Trang 46.1 Tổ chức 6.2 Các quy định của Nhà nước
6.3 Luật sư
6.4 Đào tạo luật sư
6.5 Kỷ luật luật sư
6.6 Giải quyết tranh chấp
Kết luận
7.1 Sáng kiến 7.2 Trách nhiệm 7.3 Thiết kế
7.4 Lấy ý kiến tham gia
8.1 Các điểm mạnh và điểm yếu
8.2 Những thách thức và vấn đề gây tranh cãi
8.3 Những cải cách hiện tại
8.4 Những vấn đề cần tiếp tục cải cách
Báo cáo về Indonesia
Trang 54.5 Mối liên hệ với các cơ quan khác
4.6 Đào tạo và Bồi dưỡng pháp luật
4.7 Vấn đề nghề nghiệp
4.8 Đảm bảo nhiệm kỳ
4.9 Diễn giải Tư pháp
Trang 64.10 Quá trình xét xử của Tòa án
4.17 Giám sát và Trách nhiệm giải trình
4.18 Các viên chức khác trong Tòa án
6.3 Các luật sư
6.4 Đào tạo và Bồi dưỡng Luật sư
6.5 Kỷ luật Luật sư
6.6 Giải quyết tranh chấp
Kết luận
7.1 Đề xuất
Trang 77.2 Trách nhiệm về cải cách
7.3 Thiết kế
7.4 Rà soát
7.5 Thực hiện 7.6 Đánh giá
7.7 Khắc phục 7.8 Giám sát
Kết luận
8.1 Điểm mạnh và điểm yếu
8.2 Thách thức và tranh luận
8.3 Các cải cách hiện nay
8.4 Các vấn đề cải cách trong tương lai
Trang 8Kết luận
3.1 Tổ chức 3.2 Mô hình
Trang 95 Thi hành án hình sự, dân sự
5.1 Các loại thi hành án
5.2 Tổ chức 5.3 Mô hình
6.3 Luật sư
6.4 Giáo dục và đào tạo luật sư
6.5 Kỷ luật luật sư
6.6 Giải quyết tranh chấp
Kết luận
7.1 Sáng kiến cải cách
7.2 Trách nhiệm 7.3 Xây dựng mô hình
7.4 Xem xét
7.5 Thực hiện 7.6 Đánh giá
Trang 108.2 Thách thức và những vấn đề đặt ra
8.3 Các cải cách hiện tại
8.4 Những vấn đề đặt ra cho cải cách trong tương
lai
Báo cáo về Hàn Quốc
Trang 114 Hệ thống tòa án
4.1 Vai trò và vị trí
4.2 Tổ chức 4.3 Mô hình
5.4 Nhiệm vụ và chức năng
5.5 Quan hệ
5.6 Quy trình
5.7 Các cơ chế
Trang 12Kết luận
6.1 Tổ chức 6.2 Quy định của nhà nước
6.3 Luật sư
6.4 Giáo dục và đào tạo luật sư
6.5 Kỷ luật luật sư
6.6 Giải quyết tranh chấp
Kết luận
7.1 Đề xuất 7.2 Trách nhiệm 7.3 Thiết kế
7.4 Xem xét kiến nghị
7.5 Thực hiện 7.6 Đánh giá
7.7 Giải quyết vấn đề đặt ra
7.8 Giám sát
Kết luận
8.1 Các điểm mạnh và điểm yếu
8.2 Những thách thức và vấn đề gây tranh cãi
8.3 Các cải cách hiện tại
8.4 Những vấn đề đặt ra cho cải cách trong tương
lai
Tài liệu trực tuyến về pháp luật Hàn Quốc
Báo cáo về Liên bang Nga
Trang 134.4 Chức năng và nhiệm vụ
4.5 Quan hệ
4.6 Đào tạo và bồi dưỡng Thẩm phán
Trang 144.7 Các vấn đề về nghề nghiệp
4.8 Điều kiện bảo đảm nhiệm kỳ làm việc
4.9 Giải thích pháp luật thông qua hoạt động xét
xử
4.10 Xét xử
4.11 Bồi thẩm viên và Hội thẩm viên
4.12 Phân định ranh giới khu vực
5.4 Chức năng và nhiệm vụ
5.5 Quan hệ
5.6 Thủ tục 5.7 Cơ chế
Kết luận
6.1 Tổ chức 6.2 Quy định của Nhà nước
6.3 Luật sư
6.4 Đào tạo và bồi dưỡng Luật sư
6.5 Chế độ kỷ luật đối với Luật sư
6.6 Giải quyết tranh chấp
Trang 15Kết luận
7.1 Khởi xướng 7.2 Trách nhiệm 7.3 Đề cương 7.4 Tham gia ý kiến
7.5 Thực hiện 7.6 Đánh giá
Trang 17Báo cáo về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
từ thời kỳ hình thành và lớn mạnh của ĐCSTQ, nắm quyền lãnh đạo và hoạch định chính sách của Trung Quốc cho đến khi Đặng Tiểu Bình qua đời vào năm 1997 Cho đến năm 1911, Trung Quốc vẫn còn là một đế chế được các triều đại kế tiếp nhau trị vì với sự trợ giúp của bộ máy quan liêu khắp cả nước gồm những người được bổ nhiệm sau khi đỗ đạt tại các kỳ thi do triều đình tổ chức Triều đại cuối cùng trị vì Trung Quốc là nhà Thanh, có nguồn gốc từ Mãn Châu và về mặt dân tộc không phải là người Hán Trung Hoa (nhóm dân tộc lớn nhất ở Trung Quốc) Nhà Thanh lên ngôi từ năm 1644 kế tiếp triều đại nhà Minh Nhà Thanh về cơ bản kế tục hệ thống chính quyền trước đó với một số thay đổi nhằm thể chế hóa luật lệ Mãn Châu Nhà Thanh suy yếu dần trong suốt thế kỷ 19 do nhiều yếu tố kết hợp như cai trị yếu kém, sự hiện diện và ưu thế ngày càng gia tăng của các thế lực phương Tây (vốn có vũ khí và thế lực mà quân quyền nhà Thanh không thể kháng cự lại nổi), các cuộc khởi nghĩa trong nước và thất bại trong việc
thích nghi và hiện đại hóa phù hợp với tình hình mới
Nước Cộng hòa Trung Hoa ra đời năm 1912 với vị Tổng thống đầu tiên là Viên Thế Khải Tuy nhiên, chính quyền mới này không thể làm chủ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc Không lâu sau đó Trung Quốc bị chia thành một số lãnh địa do các võ tướng cai quản Mặc dù Tưởng Giới
Trang 18Thạch - lên cầm quyền từ những năm 1920 – đã giành được lãnh thổ trong cuộc chiến tranh chống lại các võ tướng nhưng chính quyền của ông bị suy yếu do sự lớn mạnh của ĐCSTQ cũng như cuộc xâm lăng của người Nhật ĐCSTQ giành chiến thắng trong cuộc nội chiến sau khi kết thúc Đại chiến Thế giới lần thứ II với sự thất bại của người Nhật Nước CHND Trung Hoa thành công trong việc thống nhất Trung Quốc (trừ Đài Loan - nơi trở thành cứ điểm của chính quyền Cộng hòa Trung Hoa, Hong Kong - khi đó vẫn thuộc quyền quản lý của Vương quốc Anh, và Macao - do người Bồ Đào Nha quản lý) Năm 1997, Hong Kong được trao trả cho Trung Quốc theo cơ chế chính quyền được biết đến là “một quốc gia, hai chế độ”, theo đó Hong Kong được trao quy chế tự trị khá lớn về các mặt chính trị, kinh tế và tư pháp Macao được trao lại cho Trung Quốc năm 1999 theo một trật tự tương tự
Đảng CSTQ bắt tay vào việc xây dựng lại Trung Quốc, ban đầu trên cơ sở mô hình Xô viết và sau đó trên cơ sở các học thuyết tư tưởng và kinh tế do Đảng đề ra nhằm bảo đảm sự phù hợp với điều kiện hoàn cảnh Trung Quốc Từ năm 1949, Đảng CSTQ - mặc dù có đôi lần bị chia rẽ do bất đồng quan điểm nội bộ và đấu tranh phe phái - đã luôn duy trì được địa vị thống trị của mình trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và hành chính Sự lãnh đạo của Đảng CSTQ đã được đánh dấu bằng nhiều sự kiện lịch sử quan trọng có liên quan đến sự phát triển của hệ thống pháp luật và tư pháp Cuộc vận động chống phái hữu
trong những năm 1957 -1958 do ông Mao phát động như một cách để loại trừ tình trạng bất đồng quan điểm nội bộ, dẫn đến kết cục có khoảng 300.000 trí thức và những người có tư tưởng đổi mới (kể cả nhiều thẩm phán và luật sư) bị trừng phạt hoặc đi đày ở vùng nông thôn Gần như cùng thời gian đó, chính quyền Trung Quốc bất hòa với phía Liên Xô - nước đã cung cấp nguồn viện trợ lớn dưới hình thức trang thiết bị, chuyên gia tư vấn và kỹ thuật - dẫn đến việc Liên Xô chấm dứt viện trợ và rút toàn bộ chuyên gia vào năm 1960 Thời gian cuối những năm 1950 cũng chứng kiến sự khởi đầu của cái gọi là “Đại nhảy vọt” - chính sách đẩy mạnh tập thể hóa, bố trí lại các ngành công nghiệp và khuyến khích sự tự cung tự cấp - mà hậu quả là đã gây ra nạn đói trên khắp nước Trung Quốc vào đầu những năm 1960 Năm 1966, bắt đầu cuộc “Cách mạng Văn hóa”, kéo dài cho đến 1976 Trong thời gian đó, dưới danh nghĩa chỉnh đốn tư tưởng chính trị, nhiều nhà trí thức, doanh nhân và những người khác đã bị thanh trừng, tịch thu tài sản hay đày về vùng nông thôn Sự tàn phá của Cách mạng Văn hóa
khiến cho nhiều trường phổ thông và đại học phải đóng cửa, hoạt động sản xuất và công nghiệp bị đình trệ, dẫn đến thiệt hại lớn về kinh
Trang 19tế, hệ thống pháp luật bị phá hủy và làm gia tăng sự cô lập của
Trung Quốc trên trường quốc tế
Sau khi Mao Trạch Đông qua đời, Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền lãnh đạo và áp dụng phương thức tiếp cận thực dụng hơn đối với các vấn đề kinh tế Thực hiện chính sách “Mở cửa” được Đặng Tiểu Bình khởi xướng năm 1979, Trung Quốc khuyến khích đầu tư nước ngoài nhằm khởi động lại nền kinh tế, mở lại trường đại học, sửa đổi Hiến pháp
và bắt đầu quá trình tái lập hệ thống pháp luật và tư pháp toàn
diện Luật Hình sự là một trong những đạo luật đầu tiên được ban hành như một phần của chính sách này Sau giai đoạn mở cửa và phát triển mạnh mẽ, Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001 Trung Quốc cũng trở thành thành viên của khá nhiều điều ước quốc tế, bao gồm cả các công ước về nhân quyền Những điều ước này đã có tác động nhất định lên sự phát triển của hệ thống pháp luật ở Trung Quốc (Xin xem Spence, 1990; Chen Jianfu, 2008;
Trung Quốc Đến năm 1979, nền kinh tế lâm vào tình trạng đình trệ Chính sách “Mở cửa” và các chính sách sau đó đã đem lại lợi ích cho nông dân bằng cách áp dụng chính sách nông nghiệp thoáng hơn, khuyến khích đầu tư nước ngoài, hợp nhất và cơ cấu lại khu vực công nghiệp thuộc sở hữu nhà nước tuy quy mô to lớn nhưng kém hiệu quả Trung Quốc cũng cho phép và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân phát triển cũng như áp dụng các biện pháp tăng cường tính hiệu quả của nền kinh
tế như tự do hóa hệ thống lao động bằng cách từng bước bãi bỏ chế độ tuyển dụng suốt đời, bãi bỏ hạn chế chuyển dịch lao động, đưa vào áp dụng hệ thống hợp đồng lao động, thiết lập thị trường chứng khoán và từng bước công nhận quyền sở hữu tư nhân Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1982 (bản Hiến pháp thứ tư kể từ khi nước CHND Trung Hoa được thành lập) tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ còn “ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội trong thời gian dài sắp tới” Vì lẽ đó, mọi chính sách chính thống phải thể hiện nhất quán rằng Trung Quốc cần phải được xem như là một “nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (XHCN)” (hơn
Trang 20là nền kinh tế thị trường cộng sản chủ nghĩa) và pháp luật cũng như các chính sách phải nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hỗ trợ và tăng cường nền kinh tế thị trường XHCN Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu, ví
dụ, đối phó với các hoạt động chống bán phá giá đối với hàng hóa Trung Quốc ở nước ngoài, chính quyền Trung Quốc tích cực vận động hành lang để được đối xử như một nền kinh tế thị trường đầy đủ Lấy
ví dụ, như là món quà của chính quyền Úc trao cho Trung Quốc khi bắt đầu các cuộc đàm phán về thỏa thuận thương mại tự do với Trung Quốc năm 2004, Úc đã thừa nhận Trung Quốc là nền kinh tế thị trường cho mục đích áp dụng pháp luật của Úc
Mặc dù nội hàm của khái niệm nền kinh tế thị trường XHCN chưa hoàn toàn rõ và trên nhiều phương diện, nền kinh tế Trung Quốc đã hoạt động như một nền kinh tế thị trường nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì một khu vực kinh tế thuộc sở hữu nhà nước có quy mô lớn Thêm nữa, các cơ quan chính quyền và tổ chức ĐCSTQ ở tất cả các cấp vẫn đóng một vai trò tích cực trong hoạt động kinh tế chứ không chỉ giới hạn ở vai trò truyền thống của chính quyền về lập kế hoạch, điều chỉnh và quản lý các khu vực kinh doanh Các cấp chính quyền Trung Quốc và cá nhân các đảng viên, công chức tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh doanh, không chỉ thông qua các doanh nghiệp thuộc
sở hữu nhà nước, nơi mà chính quyền ở mọi cấp đóng vai trò chủ đầu
tư, mà còn thông qua mối quan hệ khăng khít với các công ty và doanh nghiệp địa phương hoặc, trong một số trường hợp, còn có các khoản đầu tư riêng vào các cơ sở đó
Chính sách hiện hành của Nhà nước Trung Quốc là duy trì sự hiện diện rộng khắp của Nhà nước trong nền kinh tế, dưới hình thức các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước tại các cấp chính quyền khác nhau
(Thông báo của Văn phòng Quốc vụ viện truyền đạt ý kiến của Uỷ ban quản lý và giám sát tài sản nhà nước của Trung Quốc (SASAC) hướng dẫn về tăng cường sắp xếp tài sản thuộc sở hữu nhà nước và cơ cấu lại các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, 2006) Căn cứ vào chính
sách “Các trụ cột chính” của nền kinh tế này, khu vực nhà nước tiếp tục nắm giữ đa số lợi ích trong một số lĩnh vực quan trọng đối với Nhà nước, chẳng hạn như viễn thông và sắt thép, cũng như sẽ tiếp tục hiện diện mạnh mẽ trong một số lĩnh vực khác Đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực này bị hạn chế và sự tham gia của tư nhân Trung Quốc vào những lĩnh vực do khu vực nhà nước kiểm soát cũng bị hạn chế Chính quyền Trung Quốc ban hành kế hoạch 5 năm liên quan đến hoạt động kinh tế, ban hành và thực thi các chính sách định hướng
Trang 21nền kinh tế của đất nước liên quan đến các lĩnh vực như phát triển các công ty công nghệ cao, khuyến khích các loại hàng hóa bản địa v.v Nhà nước cũng duy trì chính sách quản lý giá đối với một số mặt hàng trọng yếu như dầu lửa (một lĩnh vực mà ở đó các công ty thuộc
sở hữu nhà nước thống trị thị trường Trung Quốc) Tuy nhiên, Chính phủ bị ràng buộc bởi các cam kết của mình khi gia nhập WTO liên quan đến vấn đề áp dụng trợ cấp và ưu đãi cho hàng hóa trong nước cũng như không ngớt chịu áp lực từ các chính phủ nước ngoài, đặc biệt là Hoa Kỳ, liên quan đến việc quản lý, điều hành kinh tế trong phạm vi ảnh hưởng tới thương mại quốc tế, đầu tư nước ngoài cũng như hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc (Xem Spence, 1990; Chen Jianfu, 2008; Cotterell, 1988; DFAT website, 2010)
1.3 Hệ thống chính trị
Quyền lãnh đạo và thẩm quyền
Theo Hiến pháp, nước CHND Trung Hoa là “Nhà nước XHCN dưới nền chuyên chính dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo trên cơ
sở liên minh công nông” (Điều 1) Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Điều 57) Quốc hội bao gồm các đại biểu là những người, theo quy định của Hiến pháp, được bầu từ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các khu tự trị của Trung Quốc (Điều 59) Chủ tịch nước CHND Trung Hoa (hiện là ông Hồ Cẩm Đào) do Quốc hội bầu ra nhưng theo Hiến pháp không được trao nhiều quyền hạn độc lập Cơ quan hành pháp tối cao theo Hiến pháp là Quốc vụ viện (Chính phủ) do Thủ tướng đứng đầu (hiện là ông Ôn Gia Bảo) (Điều 85) Tương tự, từng tỉnh, khu vực và thành phố ở Trung Quốc có Hội đồng nhân dân (HĐND) Tuy nhiên, Trung Quốc không phải là một liên bang mà là một quốc gia đơn nhất Trung Quốc thực hiện chế độ “dân chủ tập trung” theo Hiến pháp, theo đó quyền lực được tập trung ở trung ương và các cơ quan chính quyền địa phương được cơ quan cấp cao hơn giao quyền (mặc dù trong thực tiễn điều này cũng có nghĩa là chính quyền địa phương cũng có quyền tự chủ đáng kể) (Chen Jianfu, 2008, tr 125)
Đảng CSTQ không có vai trò lớn trong Hiến pháp Đảng chỉ được
đề cập trong Lời nói đầu khi nói đến “vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản” Tuy nhiên, mọi người đều thống nhất rằng Đảng CSTQ là lực
lượng lãnh đạo Trung Quốc và các đại hội của Đảng Cộng sản, được tổ chức 5 năm một lần, sẽ ra quyết định về những vấn đề chính sách quan trọng và chính họ là mới là những nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo của Trung Quốc Hệ thống chức vụ song song trong Đảng và chính
Trang 22quyền có nghĩa là công chức nói chung nắm giữ cả hai vị trí trong các cơ quan Đảng và chính quyền Ví dụ, Ông Hồ Cẩm Đào là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Tất cả các nhà lãnh đạo quan trọng trong chính quyền Trung Quốc, bao gồm cả Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình, Thủ tướng Ôn Gia Bảo và nhiều người khác đều giữ các chức vụ cao trong Đảng Cộng sản Chẳng hạn, ông Chu Vĩnh Khang là thành viên của Bộ Chính trị và Quốc vụ viện, đồng thời cũng là thành viên của Nhóm lãnh đạo hàng đầu của Đảng trong Quốc vụ viện, Phó bí thư Ủy ban các vấn đề pháp lý và chính trị (Ủy ban Chính pháp), nguyên Bộ trưởng Bộ Công an (thông tin từ trang tin của Đảng Cộng sản Trung Quốc) Ông Vương Thắng Tuấn, Chánh án Tòa án tối cao là thành viên của Ủy ban Trung ương ĐCSTQ, đồng thời là bí thư Ban Chính pháp; Tào Kiến Minh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng là một thành viên của Ủy ban trung ương Đảng và của Ủy ban Chính pháp (trang thông tin điện tử Chinapeace) Thành viên của một số cơ quan trọng yếu như Ủy ban Quân sự Trung ương (có hai cơ quan có tên như vậy - một là cơ quan chính phủ, được thành lập theo Hiếp pháp, và một là cơ quan thuộc Đảng CSTQ) trùng nhau hoàn toàn Đảng CSTQ còn kiểm soát bộ máy chính quyền thông qua việc bổ nhiệm đảng viên vào các chức vụ quan trọng trong chính quyền và cả ở những cơ quan khác Những phân tích trong Báo cáo này sẽ cho thấy Đảng CSTQ có vai trò quan trọng trong cả quá trình lập pháp, cải cách tư pháp và, trong một số
trường hợp, hoạt động tư pháp thường nhật tại Trung Quốc
Việc bầu cử đại biểu vào Quốc hội và HĐND cấp tỉnh bị kiểm soát chặt chẽ Các đảng khác không phải là ĐCSTQ có đại diện trong Ủy ban
Tư vấn Nhân dân Trung Quốc nhưng không có ảnh hưởng hoặc ít tham gia vào quá trình hoạch định chính sách Đã có một số cuộc thử nghiệm bầu cử dân chủ ở cấp thôn bản hay cấp “cơ sở” nhưng thử nghiệm này chưa được áp dụng cho các cuộc bầu cử rộng hơn đối với các chức vụ cao hơn
Mục tiêu, mục đích và định hướng phát triển của khu vực tư pháp
Hệ thống tư pháp hiện hành của Trung Quốc được hình thành chủ yếu từ khi bắt đầu quá trình cải cách từ năm 1978 cho đến 1979 Từ thời điểm này cho thấy một sự phát triển hết sức nhanh chóng và toàn diện, với việc hình thành một hệ thống pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng cũng như việc thực hiện và cải cách hệ thống tư pháp, từ điều tra, truy tố đến xét xử Cùng với hệ thống tòa án, hệ thống pháp lý và xã hội khuyến khích việc áp dụng các hệ thống giải quyết tranh chấp thay thế như trọng tài và hòa giải cũng
Trang 23như hệ thống khiếu nại ngoài tư pháp (hay còn gọi là “đơn thư và kiểm tra”) để công dân Trung Quốc có thể khiếu nại các hoạt động của các cơ quan hành chính Cách thức hoạt động của hệ thống này sẽ được giới thiệu chi tiết hơn tại các phần sau trong Báo cáo này
Trong lịch sử, pháp luật Trung quốc dưới triều Thanh chủ yếu mang đặc tính hình sự Việc quy định tội phạm và hình phạt chủ yếu dựa trên các khái niệm pháp lý và nguyên lý của Đạo Khổng Cuối
triều Thanh, để cập nhật hệ thống pháp luật và đối phó với việc bất tuân phục triều đình của các thế lực nước ngoài xâm chiếm Trung
Quốc, nhiều nỗ lực đã được triều đình nhà Thanh thực hiện nhằm mục tiêu sửa đổi pháp luật hình sự cũng như xây dựng và thực hiện một hệ thống luật thương mại vừa có thể chấp nhận ở Trung Quốc, vừa được các thế lực nước ngoài đồng tình, đồng thời cho phép Trung Quốc hòa nhập hoàn toàn vào thế giới (Bath, 1977) Những đạo luật mới này đã tham khảo nhiều yếu tố thuộc cả hệ thống thông luật lẫn hệ thống luật dân sự (hiện nay, cách làm này vẫn được áp dụng trong quá trình cải cách pháp luật ở Trung Quốc) Quốc dân Đảng đã dựa vào những hoạt động cải cách đầu tiên này để xây dựng hệ thống pháp luật và tòa án của mình, kết hợp với các nguyên tắc trong các tác phẩm của Tôn Dật Tiên, trong đó nhấn mạnh đến chủ nghĩa dân tộc, dân chủ và đời sống của nhân dân (Chen Jianfu, 2008, tr 30 - 38) Khi Đảng CSTQ tiếp quản Đại lục năm 1949, một trong những mục tiêu của Đảng
là xóa bỏ hệ thống pháp luật của Quốc dân Đảng để xây dựng một hệ thống pháp luật mang tính giai cấp, không cần có luật thành văn mà dựa vào các đường lối chính sách của Đảng, các luật, nghị định và văn bản pháp luật khác do Chính quyền nhân dân biên soạn Trong thời
kỳ này, các học thuyết pháp lý và tư tưởng Xô viết có ảnh hưởng rất lớn đến tư duy lập pháp và cấu trúc hệ thống pháp luật Kết hợp với một số luật sư và thẩm phán được đào tạo trước năm 1949, Hiến pháp đầu tiên đã được ban hành năm 1954 và hệ thống tòa án bốn cấp hiện nay (Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp trung và Tòa án nhân dân cấp cơ sở) đã được thành lập Tuy nhiên, phong trào Chống cánh hữu bắt đầu từ năm 1957 đã thực hiện việc thanh trừng các luật sư và học giả pháp lý, những người chỉ trích việc thực hiện pháp luật và cách tiếp cận mang màu sắc cộng sản đối với hệ thống pháp luật Trung Quốc Cải cách định chế hệ
thống pháp luật và tư pháp bị thoái trào mãi cho đến khi Chính sách
mở cửa được khởi xướng Nhìn chung, các quan điểm thể hiện trong pháp luật giai đoạn này phản ảnh tư tưởng cho rằng trong một nhà nước lý tưởng dưới chế độ cộng sản chủ nghĩa không cần phải có pháp
Trang 24luật hoặc một hệ thống pháp luật chính thống Do đó, pháp luật cần phục vụ những mục tiêu chính trị trong những giai đoạn nhất định (Peerenboom, 2002, tr 43 - 46) Trong thực tiễn, trước năm 1979, hệ thống pháp luật của Trung Quốc do Đảng Cộng sản chi phối và kiểm soát chặt chẽ, hoạt động xây dựng pháp luật diễn ra rất rời rạc, hoạt động đào tạo luật sư hầu như bị đình chỉ, thẩm phán không được đào tạo hiệu quả và không có quyền độc lập khi xét xử vụ án (xin xem
cụ thể hơn trong báo cáo này, xem Peerenboom, 2002 và Chen Jianfu, 2008.)
Ông Đặng Tiểu Bình, người tiếp quản việc điều hành Trung Quốc trong bối cảnh hỗn loạn sau cuộc Cách mạng văn hóa, đã nhìn thấy sự cần thiết phải có pháp luật “Phải có pháp luật để mọi người tuân theo; pháp luật phải được tuân thủ; pháp luật phải được thi hành nghiêm ngặt; người vi phạm pháp luật phải bị xử lý.” (trích dẫn
trong Chen Jianfu, 2008, tr 52) Điều đó không có nghĩa là pháp luật tách rời hoặc đứng trên chính sách của Đảng Cộng sản Tuy
nhiên, điều đó có nghĩa là phải có pháp luật thành văn Mối quan hệ giữa chính sách và Đảng Cộng sản, vai trò của luật thành văn và tòa
án và các cơ quan khác chịu trách nhiệm thi hành pháp luật tiếp tục tạo nên những khó khăn thực tế ở Trung Quốc Theo Chen Jianfu, cải cách kinh tế, mở cửa nền kinh tế nhà nước và cuối cùng là “nền kinh
tế thị trường xã hội chủ nghĩa” đòi hỏi sự thay đổi trong hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp và đã mở ra cuộc tranh luận giữa các học giả về bản chất của pháp luật và việc phát triển hệ thống pháp luật cũng như tư pháp Năm 1999, Hiến pháp sửa đổi (Điều 5) đã quy định rằng: “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thực hiện quản lý theo pháp luật và xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.” Yêu cầu cải cách càng thêm mạnh mẽ khi Trung Quốc gia nhập WTO, đòi hỏi phải sửa đổi cơ bản pháp luật thương mại và kinh tế của Trung Quốc, cam kết minh bạch và tăng cường sự tham gia của Trung Quốc với cộng đồng quốc tế và gia nhập các thỏa ước quốc tế quan trọng (Chen Jianfu,
Trang 25lập một hệ thống pháp luật phù hợp với các mục tiêu của Trung Quốc (Chen Jianfu, 2008, tr 65 - 75; Clarke, 2006; Erie, 2009)
Hệ thống pháp luật Trung Quốc không chỉ bao gồm các văn bản pháp luật do Quốc hội và hội đồng nhân dân địa phương thông qua mà còn bao gồm rất nhiều loại quy định, quy tắc, nghị định do cơ quan hành chính thông qua Quá trình ban hành pháp luật bị giới hạn bởi Hiến pháp, theo đó, mọi văn bản luật hoặc quy tắc hay quy định hành chính đều không được trái với Hiến pháp (Điều 5) Theo quy định tại Điều 58 Hiến pháp, Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội “thực hiện quyền lập pháp của Nhà nước.” Quốc hội có thể sửa đổi Hiến pháp
(Điều 62), ban hành và sửa đổi “các đạo luật cơ bản quy định tội phạm hình sự, các vấn đề dân sự, bộ máy nhà nước và những vấn đề khác”, bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch nước và, theo đề nghị của Chủ tịch nước, bầu Thủ tướng và Quốc vụ viện Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm
có Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, Tổng bí thư và các thành viên khác do Quốc hội bầu Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể ban hành và sửa đổi luật trừ những đạo luật phải do chính Quốc hội ban hành Các quy định này được Luật Ban hành văn bản pháp luật năm 2000 quy định
cụ thể hơn như sau: “Luật quốc gia” chỉ được ban hành để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền tự chủ quốc gia, thành lập và hoạt động của cơ quan dân cử, chính phủ, tòa án và kiểm sát, luật hình
sự, việc tước các quyền chính trị hoặc tự do của công dân, việc tịch thu tài sản không thuộc sở hữu nhà nước, các thiết chế dân sự cơ bản, hệ thống kinh tế, thuế, hải quan, hệ thống tài chính và ngoại thương, hệ thống tranh tụng và trọng tài Ủy ban thường vụ Quốc hội
có trách nhiệm giải thích Hiến pháp, giải thích (và sửa đổi) luật (Điều 67 Hiến pháp) Các văn bản giải thích luật cũng có hiệu lực như luật (Điều 74 Luật Ban hành văn bản pháp luật) Việc trao quyền giải thích luật cho Ủy ban thường vụ Quốc hội mà không phải cho tòa
án khiến cho tòa án gặp nhiều khó khăn khi gặp phải những văn bản pháp luật do nhiều cấp chính quyền ban hành
Quốc vụ viện là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất (Hiến
pháp, Điều 85), không chỉ có quyền trình các đề xuất lên Quốc hội và
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc vụ viện còn có quyền thông qua các biện pháp hành chính, quy định, quy tắc hành chính, ban hành lệnh và quyết định Các quy định hành chính được ban hành để điều chỉnh
những vấn đề cần thiết nhằm thi hành pháp luật (chẳng hạn như Quy định thi hành Luật Hợp đồng lao động) hay những vấn đề thuộc thẩm quyền riêng của Quốc vụ viện theo Điều 89 của Hiến pháp, như quy định sự lãnh đạo thống nhất, các vấn đề về kinh tế, giáo dục, khoa
Trang 26học, văn hóa, quốc tịch v.v Trong trường hợp một Bộ hoặc một cơ quan thuộc Quốc vụ viện muốn ban hành một quy định hành chính thì phải được phép của Quốc vụ viện và phải trình bản dự thảo cuối lên văn phòng các vấn đề pháp luật của Quốc vụ viện để phê chuẩn (Điều
57 và Điều 59 Luật Ban hành văn bản pháp luật)
Như đã lưu ý ở trên, dưới Quốc hội là các cấp chính quyền tỉnh, thành phố, quận huyện, mỗi cấp có trách nhiệm quản lý quan trọng và
có quyền ban hành văn bản pháp luật Có 27 bộ và Ủy ban thuộc Quốc
vụ viện, các cơ quan này cũng có quyền ban hành các quy tắc Tranh chấp về thẩm quyền giữa các bộ và các cơ quan chính quyền cấp dưới (là những cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm thi hành pháp luật) thì rất khó giải quyết trên thực tiễn Cả Hiến pháp lẫn Luật Ban hành văn bản pháp luật đều không giải quyết đầy đủ thứ bậc các vấn đề mâu thuẫn trong các văn bản pháp luật do các cơ quan khác nhau ban hành Đây là khó khăn lớn đối với các thẩm phán giải quyết các mâu thuẫn này do họ không có quyền tuyên bố một văn bản nào đó là vô hiệu cũng như phải chịu sức ép từ các quan chức chính quyền địa phương
Trong thực tế, Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản pháp luật không phân biệt rõ ràng giữa các loại văn bản pháp luật và trách nhiệm ban hành văn bản pháp luật và hiện người ta vẫn rất hay lầm lẫn về việc cơ quan nào có quyền ban hành hay thi hành luật và các
cơ quan đó có những thẩm quyền cụ thể nào (Chen, 2008, 180 và tiếp theo) Đặc biệt, cả Hiến pháp lẫn Luật Ban hành văn bản pháp luật đều không quy định rõ vai trò của Đảng CSTQ trong việc xây dựng pháp luật, mặc dù trong thực tế Đảng đóng một vai trò quan trọng với việc thông qua chương trình lập pháp, trình bày ý kiến tại các cuộc họp của Đảng, kiểm soát việc bổ nhiệm thành viên chính phủ và thúc đẩy lãnh đạo chính phủ ủng hộ một số dự luật nào đó (Peerenboom, 2002,
tr 234, chú giải 130; Chen Jianfu, tr 192 - 195)
Tuy không được quy định trong Luật Ban hành văn bản pháp luật, bằng việc giải thích pháp luật trên thực tế và ban hành các quy định cho các tòa cấp dưới áp dụng, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã trở thành một nguồn quan trọng cung cấp văn bản pháp luật gián tiếp (Keith and Lin, 2009) TANDTC có thể ban hành các loại văn bản sau
để hỗ trợ các tòa án cấp dưới: “văn bản giải thích” để quy định cách thức áp dụng hoặc giải thích một quy định pháp luật cụ thể trong một
vụ án được xét xử tại tòa; “quy định” để làm rõ việc quản lý tư pháp “dựa trên tinh thần của luật”; “văn bản trả lời” hướng dẫn về những vụ án cụ thể; và “quyết định” là văn bản sửa đổi hoặc bãi bỏ
Trang 27một văn bản giải thích luật nào đó của tòa án (TANDTC, Các quy định
về giải thích tư pháp, 2007) Viện kiểm sát nhân dân tối cao
(VKSNDTC) có thể độc lập hoặc cùng với TANDTC ra văn bản giải thích luật liên quan đến hoạt động điều tra hoặc các hoạt động khác của viện kiểm sát Các văn bản này giải thích cụ thể hoặc đưa ra các quy định chi tiết liên quan đến việc áp dụng luật và các văn bản dưới luật, đề ra chuẩn mực để các tòa án áp dụng (đây là việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hệ thống luật dân sự của Trung Quốc
vì nó không sử dụng án lệ như các nước phương Tây) cũng như để tập trung quyền kiểm soát đối với việc giải thích và áp dụng luật của TANDTC (Keith and Lin, 2009; Chen Jianfu, 2008, tr 198 - 203)
Việc một đạo luật được thông qua không có nghĩa là đạo luật đó
sẽ dễ dàng được thực hiện, đặc biệt là trong bối cảnh cơ cấu định chế Trung Quốc Việc pháp luật Trung Quốc không đề cập đến vai trò của ĐCS trong hoạt động lập pháp bất chấp cơ cấu tổ chức nội bộ
chính thức của Đảng, vai trò và ảnh hưởng quan trọng của Đảng trong chính phủ Trung Quốc đã thực sự là vấn đề cơ bản trong việc giao cho
tổ chức này vai trò thực hiện và thi hành pháp luật Các văn bản giải thích của TANDTC, các quy định và nghị định hành chính được ban hành một phần để điều chỉnh các lĩnh vực chưa được điều chỉnh một cách rõ ràng trong luật hoặc phát sinh trong thực tiễn Các định chế hiện hành có thể không muốn thay đổi Công chức và Đảng viên có thể không muốn tuân thủ pháp luật Trung Quốc không phải là một nền dân chủ đa đảng và bất chấp cơ cấu hiến định của mình, Trung Quốc là một quốc gia độc tài và những nhà lãnh đạo đất nước có thể không muốn cho phép mở rộng vai trò của tòa án trong việc thi hành pháp luật đối với những lĩnh vực thuộc quyền kiểm soát chính trị của mình (xin xem Fu, 2009) Do đó, khi thảo luận về hệ thống tư pháp, vấn đề rất quan trọng là phải cân nhắc cách thức vận hành hệ thống trong thực tiễn, trong chừng mực thông tin sẵn có ở Trung Quốc
Các cơ quan tư pháp
Hiến pháp Trung Quốc quy định hai hệ thống cơ quan tư pháp
chính là Tòa án nhân dân (TAND) và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND)
(xin xem “Cơ chế lập hiến”) Theo quy định của Hiến pháp, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Ủy ban thường vụ Quốc hội Chức năng và nhiệm vụ của các thẩm phán và kiểm sát viên được điều chỉnh theo Luật về thẩm phán và Luật về kiểm sát viên (xem các Phần 3 và 4) Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức Viện
Trang 28kiểm sát nhân dân quy định cụ thể hơn về hệ thống tòa án và viện kiểm sát
Tòa án Trung Quốc được chia thành 4 cấp Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) có trách nhiệm kiểm tra và giám sát hoạt động của các tòa án cấp dưới Tuy nhiên, mỗi cấp tòa án cũng có trách nhiệm báo cáo trước cấp chính quyền hoặc Hội đồng nhân dân (HĐND) nơi mình hoạt động (và được các cơ quan đó cấp kinh phí hoạt động) TANDTC là cấp cao nhất của hệ thống tòa án Dưới TANDTC là các Tòa án nhân dân cấp cao của các tỉnh, thành phố tương đương cấp tỉnh (Bắc Kinh,
Thiên Tân, Thượng Hải và Trùng Khánh) và các khu vực tự trị (Tân Cương và Tây Tạng), tiếp theo là các Tòa án nhân dân cấp trung (có bản dịch là Toà án Trung cấp) và cuối cùng là các Tòa án nhân dân cấp cơ bản hay tòa cấp cơ sở Thủ tục tố tụng được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự (Bộ luật TTHS) và Luật Tố tụng dân sự (Luật TTDS) Thêm vào đó, TANDTC ban hành các văn bản hướng dẫn hoặc giải thích để làm rõ những vấn đề liên quan đến việc giải thích, áp dụng pháp luật và trình tự thủ tục thích hợp cần được tuân thủ
Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng được coi là một cơ quan tư pháp Giống như tòa án, hệ thống các cơ quan kiểm sát được tổ chức thành 4 cấp tương ứng với các cấp tòa án Các chức năng của Viện kiểm sát (VKS) bao gồm: kiểm sát việc thi hành pháp luật theo quy định của pháp luật, thực hiện quyền công tố nhân danh Nhà nước, điều tra một số vụ án hình sự nhất định (chủ yếu là các vụ tham nhũng) và các chức năng khác do luật định (Điều 6 Luật về kiểm sát viên) (xin xem Chương 3) VKS có quyền kháng nghị và yêu cầu xét xử lại các vụ
án trong một số hoàn cảnh nhất định
Trong hoạt động tố tụng còn có một số cơ quan được giao thực hiện các nhiệm vụ nhất định Bộ luật TTHS (Điều 13 và Điều 18) quy định “cơ quan công an” hoặc “cảnh sát” (Bộ Công an - BCA và các cơ quan trực thuộc BCA) chịu trách nhiệm điều tra, giam giữ, thi hành lệnh bắt và khám xét ban đầu đối với người bị tình nghi Trừ khi pháp luật có quy định khác, cơ quan công an tiến hành điều tra các
vụ án hình sự (Điều 18) Tuy nhiên, các vụ án hình sự liên quan đến các tội gây nguy hiểm đến an ninh quốc gia được giao cho Bộ An ninh quốc gia (Bộ ANQG) xử lý (Điều 4) - đây là cơ quan trực thuộc Chính phủ và nó cũng có các cơ quan cấp dưới ở nhiều địa phương Như đã đề cập trên đây, VKS cũng có trách nhiệm điều tra đối với các vụ án tham nhũng
Bộ luật TTHS quy định thủ tục điều tra và cụ thể hơn là quyền
Trang 29của cảnh sát hoặc cơ quan điều tra trong việc tạm giam người bị tình nghi (xin xem thêm Phần 4)
Ngoài hệ thống tòa án, Ủy ban Kiểm tra và Kỷ luật (Ủy ban KTKL) của ĐCSTQ được giao trách nhiệm điều tra các đảng viên ĐCSTQ vi phạm chế độ kỷ luật nội bộ Ủy ban KTKL của ĐCSTQ có thể quyết định áp dụng các hình thức kỷ luật từ cảnh cáo đến thử thách và từ đình chỉ đến khai trừ Đảng Ủy ban KTKL của ĐCSTQ có vai trò quan trọng do thẩm quyền của cơ quan này điều tra các vụ tham nhũng liên quan đến đảng viên có thể dẫm chân và thay thế VKS trong việc thực thi một trong những chức năng chính của VKS là điều tra án tham nhũng
Một cơ quan khác tuy không có vai trò chính thức theo pháp luật liên quan đến hệ thống tư pháp nhưng lại có vai trò thể chế mạnh mẽ
và tiếng nói quan trọng trong việc thực thi công lý là Ủy ban Chính pháp ĐCSTQ Ở từng cấp chính quyền đều có các Ủy ban chính pháp trực thuộc Ủy ban Chính pháp Trung ương của Trung ương ĐCSTQ, có trách nhiệm lãnh đạo, giám sát, phối hợp, quản lý, chỉ đạo và thực hiện công tác chính trị - pháp lý Vì vậy, các ủy ban này giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp và có thể đóng vai trò trực tiếp trong việc quyết định hoặc thay đổi các quyết định trong những trường hợp
cụ thể
Trách nhiệm báo cáo
Hệ thống trách nhiệm báo cáo trong hệ thống tư pháp khá phức tạp do đây là một hệ thống giám sát kép: theo chiều dọc và chiều ngang Ví dụ, các tòa án chịu trách nhiệm trước các cơ quan bổ nhiệm mình (HĐND cùng cấp) - là cơ quan hiện đang chịu trách nhiệm cấp kinh phí bảo đảm hoạt động và trả lương cho thẩm phán Tuy nhiên, các tòa cũng chịu sự giám sát chung của TANDTC và tòa án cấp trên VKS cũng có cơ chế trách nhiệm và giám sát tương tự như vậy
Như sẽ được phân tích trong Báo cáo này, hệ thống trách nhiệm giải trình đa phương diện cho thấy nhiều vấn đề quan trọng trong quản lý tư pháp tại Trung Quốc Hệ thống quản lý dọc khiến cho các
bộ, ngành hoạt động riêng rẽ với nhau Vì vậy, cán bộ của các bộ, ngành này cũng không hứng thú với việc hợp tác với các bộ, ngành khác Hệ thống quản lý ngang theo đó các cơ quan chính quyền địa phương và cán bộ Đảng tham gia ý kiến và kiểm soát đối với việc bổ nhiệm và trả lương cho các thẩm phán và kiểm sát viên địa phương cũng khiến cho các cán bộ chính quyền và cán bộ Đảng địa phương có thể can thiệp vào các vụ việc cụ thể cũng như tạo nên sự khác biệt
Trang 30trong hệ thống lương bổng gữa các cán bộ tư pháp hoạt động ở những khu vực khác nhau (He, Xin, 2009a) Sức ép từ các phương tiện thông tin đại chúng vừa có tác dụng giúp tòa án đạt được một số biện pháp độc lập tư pháp vừa khiến cho việc ra các bản án tuy đúng pháp luật nhưng không được dư luận đồng tình trở nên khó khăn hơn (Liebman, 2007) Cá nhân thẩm phán hoặc kiểm sát viên được khen thưởng (hoặc
bị kỷ luật) dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ của mình Nhiều bước
đi cơ bản đã được tiến hành trong quá trình cải cách chung để giải quyết một số vấn đề, trong đó có việc cải cách luật tố tụng, nâng cao chất lượng tư pháp và tăng cường đào tạo tư pháp và tránh can thiệp trực tiếp từ phía ĐCS trong việc giám sát các vụ án cụ thể (Fu, 2009)
Cơ cấu Hiến pháp
Theo Hiến pháp (Điều 123), TAND và VKSND là các cơ quan tư pháp của Trung Quốc Điều 135 Hiến pháp cũng đề cập đến cơ quan công an khi quy định rằng trong khi giải quyết các vụ án hình sự, tòa án, viện kiểm sát và cơ quan công an phải phân chia công việc, chịu
trách nhiệm đối với hoạt động của mình và cùng phối hợp Tuy nhiên, (như sẽ được phân tích cụ thể hơn trong Báo cáo), việc phân công chức năng nhiệm vụ trong thực tế không được rõ ràng như Hiến pháp yêu cầu và do vậy đã tạo ra nhiều khó khăn
Hiến pháp không quy định cụ thể về chức năng của tòa án và VKS Tuy nhiên, Hiến pháp quy định việc thành lập tòa án và VKS các cấp, tòa án và VKS quân sự hay đặc biệt theo quy định của pháp luật (Điều
124 và Điều 130) TANDTC là cơ quan xét xử cao nhất và giám sát hoạt động của tòa án cấp dưới (Điều 127); VKSNDTC là cơ quan kiểm sát cao nhất và chỉ đạo hoạt động của các VKS cấp dưới (Điều 132) Ở cả hai
hệ thống, tòa án cấp trên giám sát hoạt động của tòa án cấp dưới và VKS cấp trên chỉ đạo hoạt động của VKS cấp dưới Như lưu ý dưới đây, ngoài hệ thống giám sát dọc, mỗi tòa án và VKS còn phải chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cùng cấp Do vậy, Chánh án TANDTC
và Viện trưởng VKSNDTC được bổ nhiệm và có thể bị bãi nhiệm bởi Quốc hội và phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 128 và Điều 133) Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ giám sát hoạt động của họ (Điều 67) Phó Chánh án, thẩm phán TANDTC, thành viên Ủy ban Thẩm phán và Chánh án Tòa án quân sự do Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và miễn nhiệm theo đề nghị của Chánh án TANDTC (Điều 67(11)) Ủy ban thường vụ Quốc hội, theo đề nghị của Viện
trưởng VKSNDTC, bổ nhiệm và miễn nhiệm Phó Viện trưởng, kiểm sát
Trang 31viên, các thành viên của Ủy ban Kiểm sát và Viện trưởng VKS Quân sự, phê chuẩn việc bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm Kiểm sát viên trưởng các tỉnh, khu vực tự trị và thành phố trực thuộc trung ương Các điều
102, 104, 127 và 132 Hiến pháp cũng có các quy định tương tự về thẩm quyền của cơ quan dân cử địa phương trong việc việc bổ nhiệm, miễn nhiệm và giám sát thẩm phán, kiểm sát viên cũng như trách nhiệm của
tòa án và viện kiểm sát
Hiến pháp không có nhiều quy định liên quan đến thẩm quyền và vai trò của tòa án và viện kiểm sát Tuy nhiên, Hiến pháp có quy định một số nguyên tắc cơ bản Trước hết, không công dân nào có thể
bị bắt giữ nếu không có lệnh của tòa án nhân dân hoặc VKSND hay chưa được các cơ quan này phê chuẩn Việc bắt giữ phải do cơ quan công an tiến hành (Điều 37) Thứ hai, quyền thực hiện nhiệm vụ độc lập của
cả tòa án lẫn VKS đều được bảo đảm không chịu sự can thiệp của “bất
kỳ cơ quan hành chính, tổ chức công hoặc bất kỳ cá nhân nào” (Điều
126 và Điều 131) Thứ ba, mọi vụ án đều được xét xử công khai, trừ những trường hợp do pháp luật quy định Bị cáo có quyền bào chữa (Điều 125) Thứ tư, Điều 134 ghi nhận quyền của mọi công dân được dùng tiếng nói và chữ viết của mình trước tòa Như sẽ được phân tích
kỹ hơn trong báo cáo này, sự bảo đảm của Hiến pháp đối với sự độc lập tư pháp gây ra nhiều khó khăn trong thực tiễn
Như đã trình bày ở trên, mặc dù theo pháp luật, Bộ Tư pháp
(BTP), BCA và Bộ ANQG cũng có vai trò nhất định trong việc quản lý
tư pháp, nhưng khác với tòa án và VKS, việc thành lập những cơ quan này không được quy định trong Hiến pháp Những cơ quan này được đặt dưới Chính phủ (là cơ quan hiến định) và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó có thể được thay đổi Tuy nhiên, Bộ trưởng các bộ này rõ ràng có ảnh hưởng đối với việc vận hành hệ thống tư pháp và những mục tiêu khác nhau của các bộ có thể gây ra xung đột liên quan đến việc quản lý tư pháp cũng như các vấn đề ưu tiên trong việc sửa đổi luật pháp
1.4 Các cơ quan khác
Các chủ thể khác trong hệ thống tư pháp bao gồm BTP, luật sư và các hội luật gia mà BTP quản lý, một số tổ chức phi chính phủ quan tâm đến việc quản lý tư pháp và cải cách pháp luật, các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật (là những nhà vận động cải cách) Các cơ quan phi chính phủ bị kiểm soát hết sức chặt chẽ tại Trung Quốc Tuy vậy họ vẫn có thể đóng vai trò nhất định trong việc vận động cải cách Việc mở rộng phạm vi tiếp cận đối
Trang 32với mạng internet ở Trung Quốc cũng ảnh hưởng đến hệ thống tư pháp Một số vụ án mà công luận cho là chưa được giải quyết thỏa đáng hoặc
có hiện tượng tham nhũng của quan chức hay trong hệ thống tòa án đã được công bố rộng rãi Kết quả là có những vụ án đã phải thay đổi thủ tục tố tụng hoặc chỉnh sửa bản án (Liebman và Wu, 2007) Công chúng cũng có vai trò nhất định trong việc góp ý kiến vào các dự thảo luật được công bố rộng rãi để lấy ý kiến của nhân dân ngay từ khi mới bắt đầu được soạn thảo Việc xây dựng Luật hợp đồng lao động
đã thu hút sự tham gia của nhiều chủ thể, bao gồm nhân dân, người làm công, các phòng thương mại nước ngoài, các hiệp hội kinh doanh
và công nghiệp địa phương và Hồng Kông và Liên đoàn các Hiệp hội thương mại toàn Trung Quốc Đây chính là một ví dụ điển hình về sự quan tâm và tham gia của công chúng vào hoạt động lập pháp và hệ thống tư pháp (Karindi, 2008)
Ngoài những chủ thể đóng vai trò trực tiếp trong quá trình lập pháp và thi hành pháp luật thông qua hệ thống tư pháp, Trung Quốc cũng cần lưu ý tới sự tồn tại song song của hệ thống thi hành pháp luật Hệ thống “chế tài hành chính” cho phép các cơ quan áp dụng các chế tài hành chính, thường là các chế tài nhẹ, đối với các vi phạm nhỏ, với điều kiện là các chế tài tước đoạt quyền tự do cá nhân chỉ
có thể do cơ quan công an áp dụng (Điều 9 và Điều 16 Luật xử phạt hành chính) Tương tự như vậy, còn có các hệ thống liên quan đến việc áp dụng hình phạt “cải tạo lao động”, cai nghiện ma túy, phục hồi nhân phẩm ngoài hệ thống tòa án chính thống
Một hệ thống ngoài tư pháp khác là hệ thống khiếu nại hay còn gọi là “đơn thư và kiểm tra” do các cá nhân trực tiếp gửi cho các cơ quan chính phủ (kể cả tòa án) khi không đồng tình với hành vi có liên quan đến quyền lợi của họ và không thể hoặc không muốn khởi kiện ra tòa án hành chính hoặc giải quyết tranh chấp với cơ quan chính phủ theo cách khác Thủ tục khiếu nại không chính thức này được rất nhiều người sử dụng mặc dù số vụ thành công rất nhỏ Hệ thống tòa án cũng như các cơ quan khác nhận và có trách nhiệm trả lời một khối lượng lớn đơn thư khiếu nại hàng năm tại Trung Quốc (Xie, 2009)
Kết luận
Từ năm 1979, hệ thống tư pháp của Trung Quốc đã có những thay đổi đáng kể Hệ thống tòa án đã được thành lập trên toàn quốc, các trường đại học luật được mở để đào tạo luật sư, hệ thống kiểm tra được thiết lập để nâng cao tiêu chuẩn học vấn của thẩm phán, kiểm
Trang 33sát viên và luật sư Hệ thống toàn diện các cơ quan lập pháp và tố tụng đã được thành lập để quản lý tư pháp Trong hơn 30 năm qua, Trung Quốc đã đạt được những tiến bộ thực sự đáng kể Tuy nhiên, còn nhiều lĩnh vực cần được tiếp tục hoàn thiện (như đã khái lược trên đây) Các vấn đề như điều tra và xét xử công bằng đối với bị cáo, (tức là hiện thực hóa những nguyên tắc mà pháp luật đã ghi nhận), hoàn thiện pháp luật về tố tụng, thẩm quyền và sự độc lập trong xét
xử (ví dụ, thay đổi nguồn kinh phí chi cho ngành tòa án để tòa án bớt phụ thuộc vào chính quyền địa phương), gây dựng lòng tin của công chúng nơi hệ thống tư pháp và những vấn đề khác sẽ được đề cập
cụ thể dưới đây
2 Điều tra hình sự
Trung Quốc nổi tiếng là quốc gia có tỷ lệ tội phạm thấp, mặc dù trong nước có nhiều người lo ngại rằng vấn đề tội phạm và gây rối trật tự xã hội đã và đang trở nên tồi tệ hơn rất nhiều kể từ khi thực hiện chính sách cải cách kinh tế Kể từ khi nước CHND Trung Hoa được thành lập, tỷ lệ tội phạm hình sự đã trải qua ba giai đoạn biến động lớn Giai đoạn thứ nhất từ năm 1949 đến những năm 1970 được đánh dấu bằng tỷ lệ tội phạm thấp Số vụ phạm pháp hình sự dao động
từ 160.000 đến 500.000 vụ một năm Trong giai đoạn thứ hai từ những năm 1980 đến những năm 1990, tỷ lệ tội phạm tăng nhanh Số vụ phạm pháp hình sự bị cơ quan công an khởi tố lên đến 3.000.000 vụ Từ năm
2001, số vụ phạm pháp hình sự bị cơ quan công an khởi tố giữ ở mức khoảng 4.500.000 vụ một năm Việc nắm vững bối cảnh mối quan ngại về việc tội phạm ngày càng gia tăng và chính sách được áp dụng để đối phó với tình trạng trên và để có thể hiểu tốt hơn những đòi hỏi về chính sách điều tra hình sự và các vấn đề đang tồn tại trong việc thi hành pháp luật tại Trung Quốc là điều cần thiết (Bộ Công an, Khái lược diễn biến tội phạm năm 2009 ở Trung Quốc)
2.1 Tổ chức
Thẩm quyền điều tra
Nhiệm vụ điều tra hình sự chủ yếu do lực lượng cảnh sát hình sự tiến hành Tuy nhiên, VKSND có trách nhiệm điều tra các vụ án liên quan đến tham nhũng và lạm dụng chức vụ Phạm vi các vụ việc thuộc thẩm quyền điều tra trực tiếp của VKS được quy định tại Điều 18 Bộ luật TTHS
Điều 18 Bộ luật TTHS quy định rằng, VKS có quyền lập hồ sơ giao
Trang 34cơ quan kiểm sát trực tiếp điều tra các tội phạm sau đây: tham ô và hối lộ, công chức nhà nước sao lãng nhiệm vụ, các tội xâm phạm quyền riêng tư của công dân như bắt giữ người trái pháp luật, bức cung, trả thù, mưu hại và khám xét bất hợp pháp và các tội xâm phạm quyền dân chủ của công dân do công chức nhà nước thực hiện thông qua việc lạm dụng quyền hạn VKS có thể điều tra các tội phạm “nghiêm
trọng” khác khi có quyết định của VKS cấp tỉnh trở lên cũng như các loại tội phạm do công chức nhà nước lạm dụng chức vụ thực hiện
Số vụ hình sự do VKS trực tiếp điều tra ít hơn nhiều so với số
vụ do cảnh sát điều tra Năm 2007, VKSND thụ lý 33.651 vụ và hoàn thành 32.534 vụ Trong khi đó, các cơ quan công an thụ lý tổng số 4.807.517 vụ (Niên giám pháp luật Trung Quốc, 2008)
Một số cơ quan khác được trao thẩm quyền đặc biệt để tiến hành điều tra hình sự Điều 4 Bộ luật TTHS quy định các cơ quan an ninh quốc gia chịu trách nhiệm điều tra các tội phạm đe dọa an ninh quốc gia
Đối với các tội phạm do quân nhân thực hiện, tội buôn lậu, tội liên quan đến hoạt động hải quan, biển, rừng, tàu khách thì thẩm quyền điều tra có sự tách biệt:
Nếu hành vi phạm tội do quân nhân thực hiện, các cơ quan công
an phải chuyển vụ việc cho Phòng an ninh của Quân đội là cơ quan có thẩm quyền điều tra tội phạm này
Phòng điều tra tội phạm buôn lậu được thành lập riêng và đặt dưới sự giám sát chung của Tổng cục Hải quan và BCA (chịu trách nhiệm chủ yếu trước Tổng cục hải quan) có thẩm quyền điều tra
các tội phạm buôn lậu (Thông báo của TANDTC, VKĐNTC, BCA, BTP, Tổng cục Hải quan về việc áp dụng Bộ luật TTHS đối với các vụ
án hình sự phạm tội buôn lậu do Phòng điều tra tội phạm buôn lậu xử lý, 1988) Phòng này có thẩm quyền lập danh sách truy
nã, yêu cầu kiểm soát biên giới, tạm giam (điểm II), đề nghị bắt (điểm IV) và tiến hành giám sát nhà của người bị tình nghi (điểm II), tiến hành xem xét sơ bộ (điểm III), kết thúc điều tra và trình báo cáo lên VKS để tiến hành thủ tục truy tố (điểm
V và VI) Phòng điều tra tội phạm buôn lậu phối hợp với các cơ quan công an địa phương trong việc thi hành lệnh bắt người, giám sát người bị tình nghi đang được bảo lãnh hoặc những kẻ buôn lậu đã bị kết án đang chấp hành hình phạt không giam giữ
Trang 35Trang | 34
hoặc án treo (điểm II)
Thông báo của TANDTC, VKSNDTC và BCA năm 2007 về các vấn đề liên quan đến việc giải quyết các vụ vi phạm pháp luật và các
vụ án hình sự xảy ra trên biển trao thẩm quyền điều tra hình sự
của các cơ quan công an cho Lực lượng phòng vệ biên giới của Cảnh sát vũ trang nhân dân đối với các tội phạm hình sự xảy ra trên biển
Thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự xảy ra trên tàu khách
được trao cho lực lượng cảnh sát đường sắt theo Thông báo về thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự xảy ra trên tàu khách năm
2001 của TANDTC, VKSNDTC và BCA
Quy định về thẩm quyền điều tra và tiêu chí thụ lý án đối với các vụ án hình sự liên quan đến rừng và động vật hoang dã sống trên cạn năm 2001 của Ủy ban quốc gia về rừng và BCA trao thẩm
quyền điều tra hình sự cho lực lượng cảnh sát kiểm lâm
Khung tổ chức của cảnh sát
Cảnh sát điều tra hình sự là bộ phận thuộc Bộ Công an Bộ Công
an được thành lập dưới sự quản lý của Quốc vụ viện - cơ quan hành chính nhà nước cao nhất BCA là cơ quan chỉ huy và lãnh đạo tất cả các đơn vị cảnh sát và các cơ quan cảnh sát cấp dưới BCA giám sát tất cả các cán bộ cảnh sát theo thứ bậc và mọi cảnh sát viên phải tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên
Cơ quan cảnh sát cấp trên thực hiện quyền lãnh đạo đối với cơ quan cấp dưới Cơ quan cảnh sát địa phương còn chịu sự lãnh đạo của chính quyền địa phương cùng cấp Điều này gọi là hệ thống giám sát song trùng, vừa theo chiều ngang, vừa theo chiều dọc (đã đề cập đến trong phần Giới thiệu ở trên) Các cơ quan công an được thành lập ở mỗi cấp trên toàn quốc theo sơ đồ dưới đây
Các cơ quan công an
Sở Công an tỉnh, khu tự trị, Tổng Công ty Sản xuất và Xây dựng Tân
Cương
Sở Công an thành phố trực thuộc trung ương
Bộ Công an
Phòng Công an Phòng Công an thành
Trang 36Nhiệm vụ của cảnh sát do nhiều đơn vị đảm nhiệm Về cơ bản, nhiệm vụ của cảnh sát bao gồm hai lĩnh vực chính Thứ nhất là chức năng tư pháp hình sự Thứ hai là chức năng quản lý hành chính Các đơn vị chịu trách nhiệm thi hành quản lý hành chính gồm có cảnh sát trật tự công cộng, quản lý giao thông, quản lý đăng ký hộ khẩu, bảo
vệ an ninh nội địa, bảo vệ an ninh kinh tế, phòng cháy chữa cháy, ma túy, quản lý và giám sát thông tin
Các đồn cảnh sát cơ sở tại Trung Quốc có nhiệm vụ rất quan
trọng của cảnh sát cộng đồng Một chính sách cơ bản trong hoạt động cảnh sát là “tuyến nhân dân” trong đó nhấn mạnh đến việc xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa cảnh sát và nhân dân Để tăng cường đáp ứng các nhu cầu của nhân dân, lực lượng cảnh sát tuần tra đã được tăng cường và đường dây nóng 110 đã được thành lập Không chỉ cảnh sát sử dụng các cơ chế này để giải quyết tranh chấp trước khi nó trở nên nghiêm trọng mà đây còn là cơ chế để cung cấp thông tin cho cảnh sát
về những hành vi phạm tội Cảnh sát có một mạng lưới “tai mắt” cung cấp thông tin về những hành vi phạm tội và hoạt động của các nhóm đối tượng bị kiểm soát hoặc nghi vấn khủng bố
Chức năng điều tra hình sự
Trang 37Hoạt động điều tra hình sự chủ yếu do lực lượng cảnh sát hình
sự thuộc các đơn vị điều tra hình sự (ĐTHS) tiến hành Cục Điều tra hình sự trung ương là đơn vị thuộc BCA Cục Điều tra hình sự trung ương có trách nhiệm quan trọng nhất, bao gồm: thu thập và phổ biến thông tin về tội phạm; xây dựng chính sách phòng và trấn áp tội phạm bao gồm cả tội phạm ma túy; giám sát và phối hợp công tác giữa các
cơ quan điều tra hình sự được thành lập ở từng cấp Cục Điều tra hình sự trung ương có trách nhiệm chỉ huy, chỉ đạo và phối hợp công tác của các đơn vị điều tra hình sự cấp dưới Các đơn vị ĐTHS cấp dưới được thành lập tại các cơ quan cảnh sát từ cấp quận huyện trở lên (Xem sơ đồ trên)
Năm 1997, các đơn vị điều tra hình sự được bố trí lại để phân định rõ “lĩnh vực trách nhiệm” trong việc điều tra các vụ án hình
sự Trước đó, các đồn cảnh sát địa phương chỉ có trách nhiệm quản lý
và phòng ngừa tội phạm Với sự thay đổi này, các đồn cảnh sát địa phương được giao quyền điều tra các vụ án hình sự thông thường
Mặc dù các cơ quan khác cũng có thẩm quyền tiến hành điều tra các vụ phạm pháp hình sự nói trên, trách nhiệm điều tra chủ yếu
Một đặc trưng của hệ thống tư pháp hình sự Trung Quốc là sự phân định trách nhiệm giữa các cơ quan “tư pháp”, bao gồm cơ quan công an (cảnh sát), VKSND và tòa án nhân dân
Cơ quan công an là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc điều tra tội phạm (Bộ luật TTHS Điều 18) và áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự được quy định trong Chương IV Bộ luật TTHS như dẫn giải, tạm giam, bắt, bảo lãnh và quản thúc tại gia
VKS có quyền trực tiếp điều tra một số tội phạm (như đã trình
Trang 38bày ở trên) và có quyền phê chuẩn việc bắt, thực hành quyền công tố
và trong những trường hợp quy định tại Điều 18 Bộ luật TTHS, có
quyền tự khởi tố, điều tra và truy tố Phần 3 dưới đây sẽ phân tích chức năng truy tố, giám sát của VKS, trừ thẩm quyền giám sát hoạt động điều tra hình sự của cơ quan công an
Tòa án chịu trách nhiệm xét xử, đồng thời thụ lý và xử lý các
vụ án tư tố (xem Phần 4)
Mô hình cơ bản được thiết lập theo Hiến pháp (Điều 135) quy định mỗi cơ quan thực hiện những nhiệm vụ khác nhau trong tố tụng hình sự, có nghĩa là giám sát công việc của cơ quan khác và bảo đảm thi hành pháp luật một cách chính xác Đồng thời, các cơ quan này phải phối hợp hoạt động với nhau Việc yêu cầu các cơ quan tư pháp vừa phối hợp vừa giám sát lẫn nhau đã tạo nên một sự căng thẳng
trong việc thực hiện các nhiệm vụ ưu tiên giữa các cơ quan tư pháp VKS là cơ quan chịu nhiều sức ép nhất do vừa chịu trách nhiệm truy
tố tội phạm vừa giám sát việc tuân thủ pháp luật trong quá trình điều tra, xét xử cũng như hoạt động của trại giam và trại tạm giam
Cơ cấu của các cơ quan tư pháp hình sự của Trung Quốc dựa trên
hệ thống thẩm vấn của các nước theo hệ thống dân luật và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ về mặt cơ cấu từ mô hình Xô viết Dù nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949 nhưng mãi đến năm 1979,
Bộ luật TTHS đầu tiên mới được ban hành Đạo luật này chủ yếu sao chép cơ cấu điều tra và tư pháp hình sự Xô viết Có thể lấy một ví
dụ là giai đoạn khởi đầu “khởi tố vụ án” như một cách để bắt đầu thủ tục tố tụng hình sự trước giai đoạn điều tra
Năm 1996, Bộ luật TTHS được sửa đổi cơ bản toàn diện TANDTC, VKSNDTC và BCA đã ban hành các văn bản giải thích Bộ luật TTHS
Quyết định của BCA về thủ tục giải quyết các vụ án hình sự (1998,
sửa đổi năm 2007) đã quy định cụ thể về việc thực hiện thẩm quyền của các cơ quan công an trong vụ án hình sự Thẩm quyền của VKS được
giải thích trong nhiều văn bản, trong đó có Quy tắc tố tụng hình sự của VKSNDTC năm 1999) và Quy định về áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự năm 2000 của VKSNDTC, BCA
Bộ luật TTHS năm 1996 có nhiều cải cách Các cải cách năm 1996
đã cố gắng tái lập sự cân bằng quyền hạn giữa cơ quan cảnh sát, viện kiểm sát và tòa án bằng cách loại bỏ thẩm quyền của VKS kết luận một người phạm tội nhưng đồng thời miễn áp dụng hình phạt đối với người
đó Bộ luật TTHS 1996 quy định chỉ có tòa án có quyền xác định một người có phạm tội hay không Đồng thời, bãi bỏ thẩm quyền của tòa án
Trang 39được tự mình tiến hành điều tra trên diện rộng Luật cũng áp dụng một số yếu tố của hệ thống tranh tụng Các yếu tố tranh tụng được áp dụng năm 1996 chủ yếu tác động đến thủ tục truy tố và thủ tục xét
xử Cuộc cải cách đã quy định quyền của nghi phạm được tiếp cận với luật sư ngày từ giai đoạn đầu của quá trình điều tra Với việc quy định trách nhiệm chứng minh thuộc về VKS, tòa án không cần phải tự mình tiến hành điều tra bổ sung nữa Tuy nhiên, những cải cách này nhìn chung được cho là không thành công, đặc biệt là liên quan đến việc tăng cường vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự
Cơ cấu điều tra hình sự không có cải cách gì đáng kể Cảnh sát vẫn là cơ quan chịu trách nhiệm chính đối với việc áp dụng và thi hành quyền triệu tập, tạm giam, bắt, bảo lãnh trong khi chờ xét xử
và quản thúc tại gia trong quá trình tố tụng Tuy nhiên, Bộ luật
TTHS 1996 đã cố gắng áp dụng nhiều biện pháp cải cách để tăng cường bảo vệ bị can trong giai đoạn điều tra Cụ thể:
Luật cấm sử dụng biện pháp tra tấn để buộc bị can nhận tội Tuy nhiên, luật không quy định một cách dứt khoát rằng các chứng cứ và lời thú tội thu được do tra tấn không được chấp nhận trong quá trình xét xử
Một cải cách nữa có ảnh hưởng đến hoạt động điều tra hình
sự là bị can có thể chỉ định đại diện pháp lý sau lần hỏi cung đầu tiên Đây có thể xem như là biện pháp bảo vệ quan trọng nhất đối với bị can đang bị tạm giam Tuy nhiên, trên thực tế các cơ quan điều tra hình sự tỏ ra không tự nguyện thực hiện nghiêm túc quy định này và thường xuyên cản trở
và hạn chế sự tiếp cận của luật sư với khách hàng của mình
và việc tiếp cận với chứng cứ (theo Halliday và Liu, 2007)
Tại thời điểm thông qua Bộ luật TTHS, thẩm quyền tạm giam hành chính để điều tra của cảnh sát bị bãi bỏ Đây được xem
là một bước đi quan trọng, do cảnh sát bị chỉ trích nhiều
về việc lạm dụng quyền lực Trong thực tế, thẩm quyền này
đã được sử dụng thay cho biện pháp tạm giam hình sự bắt buộc Thời hạn tạm giam để điều tra mà pháp luật quy định tối đa là 3 tháng, tuy nhiên nghi can thường bị tạm giam dài hơn thế rất nhiều Vì không có biện pháp hiệu quả nào
để giám sát việc thực hiện thẩm quyền này, do vậy, rất
nhiều vụ lạm dụng quyền hạn xảy ra Một trong những mục tiêu nguyên thủy của tạm giam hành chính là để lấy lời khai những người thực hiện tội phạm ở những địa điểm khác nhau,
Trang 40phạm nhiều tội hoặc những người chưa xác định được danh tính Mục đích này đã được đưa vào Bộ luật TTHS với việc cho phép tạm giam những người thuộc nhóm này trong thời hạn
mà pháp luật cho phép và việc tiếp tục sử dụng biện pháp tra tấn để nghi phạm nhận tội
Theo một bản tin của Reuters ngày 30/5/2010, TANDTC, VKSNDTC, BTP và BCA đã ra quy định liên tịch về đánh giá chứng cứ trong các
vụ án tử hình và loại trừ các chứng cứ thu thập bất hợp pháp trong các vụ án hình sự Cùng với những biện pháp khác, những văn bản này cấm sử dụng các chứng cứ thu thập bất hợp pháp để kết án bị cáo
trong vụ án tử hình và quy định thủ tục để bị cáo có thể đối chứng Nội dung của những quy định này hiện nay vẫn chưa được công bố
(Reuters, 2010b) (Xem thêm phân tích về cải cách trong Phần 7 dưới đây)
2.3 Chức năng và Nhiệm vụ
Chỉ định điều tra viên
Hoạt động điều tra các tội phạm hình sự thuộc thẩm quyền của
cơ quan công an do điều tra viên thuộc cơ quan công an nơi xảy ra tội phạm tiến hành Đơn vị điều tra hình sự sẽ chỉ định điều tra viên đảm nhiệm việc điều tra vụ án cụ thể
Khởi tố vụ án
Đây là bước đầu tiên khi bắt đầu tiến hành hoạt động điều tra hình sự Hoạt động điều tra chính thức chỉ có thể được tiến hành sau khi vụ án đã được khởi tố Điều 83 Bộ luật TTHS yêu cầu cơ quan công
an hoặc VKS, trong phạm vi thẩm quyền điều tra tương ứng của mình (xem mục 2.1 trên đây), khởi tố vụ án khi phát hiện các tình tiết tội phạm hoặc người bị tình nghi phạm tội VKS chịu trách nhiệm khởi
tố những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của mình Tòa án chịu trách nhiệm khởi tố một số vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (Điều 88)