Vấn đề này cũng đã được cụ thể hóa trong khoản 2 điều 28 của luật giáo dục năm 2005 “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN BỈNH KHIÊM,
HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
KHÓA HỌC 2009 - 2013
AN GIANG 04/2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường và trong suốt khoảng thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ tận tình từ Khoa, từ các đơn vị và giáo viên hướng dẫn Nay tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:
Quý thầy, cô giáo khoa Lý luận Chính trị trường Đại học An Giang đã tận tình truyền đạt những tri thức quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học và khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.s Tôn Việt Thảo, người đã bỏ ra nhiều tâm huyết, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành cuốn khóa luận tốt nghiệp này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô, các em học sinh trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, quý bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn
Sinh viên
Đoàn Thị Kiều Oanh
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU …………01
1 Lý do chọn đề tài 01
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 03
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 04
4 Phương pháp nghiên cứu 04
5 Đóng góp của khóa luận 04
6 Cấu trúc khóa luận 04
NỘI DUNG 04
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Đặc thù của môn GDCD ở trường THPT 05
1.1.1 Vị trí của môn GDCD ở trường THPT 05
1.1.2 Nhiệm vụ môn GDCD ở trường THPT 06
1.1.3 Đặc thù tri thức môn giáo dục công dân ở trường THPT 10
1.2 Quan điểm xây dựng chương trình và những định hướng về đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDCD 13
1.2.1 Quan điểm xây dựng chương trình giảng dạy môn GDCD ở trường THPT 13
1.2.2 Những định hướng về đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDCD ở trường THPT 15
Trang 41.3 Một số khái niệm liên quan 18
1.3.1 Khái niệm về tính tích cực và tính tích cực trong học tập 18
1.3.2 Các cấp độ của tính tích cực 21
1.3.3 Nguyên nhân của tính tích cực nhận thức 22
1.4 Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT 24
1.4.1 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực 24
1.4.2 Quá trình sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn GDCD ở trường THPT 28
1.4.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục Công dân ở trường THPT 34
Chương II: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN BỈNH KHIÊM, HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG 2.1 Đặc điểm trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang 37
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang 37
2.1.2 Giới thiệu sơ nét về Tổ Bộ môn Giáo dục Công dân ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang 38
2.1.3 Đặc điểm học sinh trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang 39
2.2 Thành tựu của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Giáo dục Công dân ở THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang 40
Trang 52.3 Những hạn chế trong việc dạy và học môn Giáo dục Công dân ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện nay 50
2.4 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Giáo dục công dân trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm 54 2.4.1 Nguyên nhân của những thành tựu 54 2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế 56
2.5 Một số giải pháp góp phần phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Giáo dục công dân ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm 59 PHẦN KẾT LUẬN 66 PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình dạy học là quá trình thống nhất, biện chứng giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, trong đó hoạt động học là trung tâm Dạy học nhằm phát huy tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh thực chất, đó là quá trình tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề trên cơ sở tự giác, được tạo khả năng và điều kiện để chủ động trong hoạt động học tập của học sinh Quá trình đó thực chất là tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập
Việc phát huy tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của người thầy trong quá trình dạy học Vì vậy, việc nghiên cứu về lý luận thực tiễn, việc vận dụng nó trong dạy học như thế nào luôn là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục Muốn nâng cao tính tích cực của người học, đòi hỏi phải không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy Đổi mới các phương pháp dạy học là thay thế các phương pháp dạy học chỉ đem lại cho người học sự thụ động, lệ thuộc vào người dạy bằng các phương pháp dạy học khác có khả năng làm phát huy tính tích cực chủ động của người học Đổi mới phương pháp dạy học đối với giáo dục và đào tạo nước ta hiện nay là nhiệm vụ tất yếu, cấp thiết Bởi vì, khoa học kỹ thuật – công nghệ hiện nay phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi giáo dục và đào tạo vừa truyền thụ hệ thống tri thức đã có vừa cập nhật kịp thời những thông tin, tri thức mới Ngoài ra, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta đang hội nhập với kinh tế thế giới đòi hỏi giáo dục và đào tạo nước ta phải xây dựng ở thế hệ trẻ các thói quen, hình thành kỹ năng tự lực, nghi vấn, suy luận, sáng tạo, phản ứng nhanh và quyết đoán trước hoàn cảnh
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Trong đó đổi mới giáo dục là một khâu vô cùng quan trọng để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho quá trình đổi mới đất nước Nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dục, Đảng và nhà nước ta khẳng định mục tiêu của giáo dục là “nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của
Trang 7dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam; có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân; làm chủ tri thức khoa học và công nghệ, có tính tổ chức và kỉ luật, có sức khỏe; là người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa
“hồng” vừa “ chuyên” theo lời căn dặn của Bác Hồ” [7;29] Vấn đề này cũng
đã được cụ thể hóa trong khoản 2 điều 28 của luật giáo dục năm 2005
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện ký năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [12;30] Điều này đặt ra cho ngành giáo dục là phải đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại vào dạy học trong tất cả các môn học mà nhất là môn GDCD Môn GDCD cùng các môn học khác có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành cho học sinh ý thức công dân, giúp các em phát triển một cách toàn diện cả về tri thức khoa học lẫn phẩm chất đạo đức, ý thức được trách nhiệm của bản thân với gia đình, xã hội Đồng thời, môn GDCD còn góp phần hình thành năng lực, phẩm chất đạo đức gắn với đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, hình thành con người lao động mới có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiên tiến, đạo đức trong sáng
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay ở nhà trường phổ thông đa số học sinh thường không mấy thiết tha với việc học tập môn GDCD Các em quan niệm rằng môn GDCD là môn học phụ, lại không phục vụ cho lợi ích thiết thực trong cuộc sống …cho nên các em chỉ tập trung cho những môn nào thi tốt Ngoài ra, muốn học tốt môn này đòi hỏi học sinh phải siêng năng chịu khó đọc sách, suy ngẫm và tìm tòi vận dụng phù hợp vào thực tiễn Song thời đại công nghệ số, tự động hoá đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp nhận các giá trị, hứng thú trong học tập môn GDCD của học sinh Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn GDCD là một điều rất quan trọng và cấp thiết
Trong những năm gần đây, trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không ngừng đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập môn GDCD từng bước đem lại hiệu quả thiết thực Nhưng vẫn còn một số học sinh thụ động trong việc tự, phần lớn ỷ lại, xem nhẹ môn học và chủ yếu dựa vào những kiến thức mà giáo viên
Trang 8truyền thụ, các em thụ động trong việc suy nghĩ xây dựng bài, ý thức học tập kém
Là sinh viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, tương lai ra trường sẽ trở thành giáo viên GDCD ở trường THPT, hơn ai hết tôi ý thức được tầm quan trọng của việc nắm vững và vận dụng sáng tạo các phương pháp giảng dạy để giáo dục tốt nhất cho học sinh nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong
học tập môn Giáo dục Công dân ở trường trung học phổ thông Thông qua đề
tài này, tôi mong muốn cung cấp một bức tranh toàn cảnh về thực trạng của việc dạy và học môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, qua đó, giúp bản thân cũng như giáo viên có cái nhìn khách quan, toàn diện và nhận thức được những hạn chế, thiếu sót để từng bước đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm mang lại chất lượng cao trong dạy và học môn GDCD ở trường THPT
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng của việc
phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Giáo dục Công dân ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang”
làm khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng của việc phát tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang Trên cơ sở đề xuất một vài giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy tính
tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT
Thứ hai, tìm hiểu thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh
trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập
môn GDCD ở trường THPT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài khóa luận tốt nghiệp, bước đầu đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng của việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT, phạm vi trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và hệ thống, phương pháp điều tra xã hội học,…
5 Đóng góp của khóa luận:
Khóa luận tìm hiểu thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang
Khóa luận góp phần làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Giáo dục Chính trị, cho hoạt động giảng dạy GDCD ở các trường phổ thông
6 Cấu trúc khóa luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận kết cấu làm hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT
Chương 2: Thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang
Trang 10NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Đặc thù của môn GDCD ở trường THPT
1.1.1 Vị trí của môn GDCD ở trường THPT
Trên cơ sở xác định mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển hài hòa, toàn diện tính chất xã hội chủ nghĩa của nền Giáo dục, Điều 27 của Luật Giáo dục của nước ta năm 2005 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [20,tr.15] Trên cơ sở mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, Luật giáo dục nước ta đã xác định rõ mục tiêu của từng cấp học, bậc học Trong đó, mục tiêu của cấp THPT là “nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [1, tr15]
Mục tiêu trên trở thành định hướng chỉ đạo toàn bộ các hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân mà trước hết là thông qua quá trình dạy học các môn học ở trường THPT, trong đó có môn GDCD Liên quan đến vị trí và vai trò môn GDCD, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 2 khóa VIII của Đảng đã nhấn mạnh “Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành…” nhằm “giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung và phương pháp giáo dục - đào tạo”, góp phần phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [2, tr.13]
Vị trí môn GDCD ở nhà trường THPT đã được xác định trong chỉ thị số 30/1998/CT-BGD & ĐT của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20 tháng 5 năm 1998 Theo đó, “Môn GDCD ở trường THPT có vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách học sinh thông qua việc cung cấp
hệ thống tri thức cơ bản về giáo dục đạo đức – nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và Pháp luật, kế thừa các truyền thống đạo đức, bản
Trang 11sắc dân tộc Việt Nam; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; tiếp thu những giá trị đẹp của nhân loại và thời đại” [2, tr.13]
Xuất phát từ vị trí đã được xác định, trong thời gian qua, Bộ giáo Dục và Đào tạo đã thực thi nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn GDCD như: cải tiến nội dung chương trình, sách giáo khoa; đào tạo bồi dưỡng giáo viên để nâng cao chất lượng đội ngũ, bổ sung thêm tài liệu, trang thiết bị dạy học, khuyến khích giáo viên bộ môn tích cực đổi mới phương pháp, nội dung dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học… Tuy nhiên việc nhận thức hoặc đánh giá không đúng về vị trí của môn GDCD vẫn còn là một tình trạng phổ biến ở nhiều trường THPT hiện nay Nhiều nhà quản lí, giáo viên (kể cả giáo viên bộ môn), học sinh và phụ huynh vẫn còn có những nhận thức, quan niệm lệch lạc khi cho rằng môn GDCD chỉ
là một môn học phụ, môn bổ trợ hoặc đồng nhất môn GDCD với môn chính trị hoặc đạo đức thuần túy Những sai lầm trong nhận thức đã kéo theo những hạn chế trong hoạt động thực tiễn dạy học bộ môn Nhiều trường học và cấp quản
lí không chú ý quan tâm đầu tư cho môn GDCD, đội ngũ giáo viên không được đào tạo chính quy, tình trạng giáo viên dạy chéo môn vẫn còn khá phổ biến, công tác bồi dưỡng giáo viên chưa được chú trọng đúng mức Nhiều giáo viên chỉ dạy qua loa, theo lệ còn học sinh thì coi thường môn học… Hiện trạng của sự nhận thức và quan niệm sai lầm về vị trí của môn học đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học cũng như vị thế của bộ môn này trong nhà trường phổ thông hiện nay Để khắc phục tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo: “Các cấp quản lí Giáo dục – Đào tạo từ Bộ đến địa phương cần có nhận thức đúng về vị trí và mục tiêu đào tạo của bộ môn GDCD ở cấp trung học phổ thông, có kế hoạch và các giải pháp tích cực nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng giáo viên, đồng thời tăng cường công tác chỉ đạo đảm bảo chất lượng giảng dạy, giáo dục đạo đức và pháp luật trong các trường Trung học phổ thông, đáp ứng yêu cầu “dạy người và dạy chữ, dạy nghề, trong đó mục tiêu dạy người là quan trọng nhất” nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.[2, tr.14]
Trang 121.1.2 Nhiệm vụ môn GDCD ở trường THPT
Môn GDCD ở trường THPT có những nhiệm vụ cơ bản sau:
a Trang bị cho học sinh hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức – nhân văn, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và Pháp luật
Môn GDCD ở trường THPT là hệ thống kiến thức liên quan đến nhiều lĩnh vực như triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối, quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà nước, Pháp luật… Vì thế nhiệm vụ đầu tiên của môn học là trang bị và giúp cho học sinh nắm vững hệ thống tri thức cơ bản, thiết thực của bộ môn
Đối với phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học (GDCD 10), giáo viên phải giúp học sinh nhận
biết được nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng; Hiểu được bản chất của thế giới là vật chất vận động và phát triển theo những quy luật khách quan; Con người có thể nhận thức và vận dụng được những quy luật ấy Đồng thời, giáo viên phải giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa hoạt động của chủ thể với khách thể qua các mối quan hệ: Thực tiễn với nhận thức, tồn tại xã hội với ý thức xã hội, con người là chủ thể của lịch sử và là mục tiêu phát triển của xã hội
Đối với phần thứ hai: Công dân với đạo đức (GDCD 10), giáo viên
phải giúp cho học sinh nắm vững một số phạm trù cơ bản của đạo đức học có quan hệ trực tiếp đến mục tiêu đào tạo THPT; Giúp học sinh nắm các yêu cầu
cơ bản về đạo đức của người công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đối với phần thứ ba: Công dân với kinh tế (GDCD 11), giáo viên phải
giúp cho học sinh hiểu được một số phạm trù, quy luật kinh tế cơ bản và phương hướng phát triển kinh tế trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta; Giúp học sinh hiểu được trách nhiệm công dân trong việc xây dựng, phát triển cá nhân, gia đình và xã hội
Đối với phần thứ tư: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội (GDCD 11), giáo viên phải giúp cho học sinh hiểu được tính tất yếu và đặc
điểm của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Hiểu được bản chất của Nhà Nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; Giúp học sinh nắm được một số nội dung cơ bản về những chính sách lớn của Đảng và nhà nước hiện nay
Trang 13Đối với phần thứ năm: Công dân với pháp luật (GDCD 12), giáo viên
phải giúp học sinh hiểu được bản chất giai cấp, xã hội của pháp luật; mối quan
hệ biện chứng giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức; Giúp học sinh nhận biết được những giá trị cơ bản của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội Giúp học sinh hiểu được một số nội dung cơ bản của pháp luật liên quan đến việc thực hiện và bảo vệ quyền bình đẳng, tự do, dân chủ và phát triển của công dân [2, tr.15]
b Giúp học sinh từng bước hình thành thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học
Trên cơ sở từng bước tiếp cận và nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản của môn GDCD, học sinh sẽ từng bước có những hiểu biết cơ bản để hình thành thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học Giúp học sinh biết cách quan sát để có được quan niệm đúng đắn, khách quan về thế giới xung quanh Xuất phát từ thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học, học sinh sẽ vận dụng nhằm năng cao hiệu quả quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của bản thân Nhiệm vụ này được tập trung chủ yếu trong phần: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học (GDCD 10) Để thực hiện được nhiệm vụ này, trong quá trình dạy học, giáo viên bộ môn không nên sa đà vào các khái niệm, phạm trù, nguyên
lí, quy luật triết học mang nặng tính chất hàn lâm, kinh điển Thông qua việc dạy các khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật, giáo viên phải hướng học sinh đến các ý nghĩa về mặt phương pháp luận Từ những ý nghĩa của phương pháp luận rút ra từ sau mỗi bài học, tiết dạy, học sinh sẽ tự liên hệ, rút ra những bài học cho bản thân, qua đó giúp các em từng bước hình thành cho mình phương pháp luận khoa học [2, tr.16]
c Góp phần giúp học sinh hình thành nhân sinh quan tiến bộ
Thông qua hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức – nhân văn, đường lối, chính sách lớn của Đảng, Nhà Nước và Pháp luật, môn GDCD giúp học sinh ý thức được các giá trị của con người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giúp các em có được những hiểu biết đúng đắn về xã hội xã hội chủ nghĩa, về nhà nước xã hội chủ nghĩa, về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, về các định hướng phát triển kinh tế-xã hội, về vai trò và giá trị của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, nhà nước và xã hội Học sinh có cái nhìn đúng đắn về thế giới và thời đại, về con người và cộng đồng, về các hiện tượng khác nhau diễn ra trong đời sống Các em biết phân tích, đánh giá các hiện tượng xã hội theo quan điểm khoa học, tiến bộ, biết đấu tranh để bảo
Trang 14vệ và ủng hộ cái mới, cái tích cực và chống lại những cái tiêu cực, lạc hậu, lỗi thời [2, tr.16]
d Trang bị cho học sinh những kĩ năng sống cần thiết
Trong quá trình dạy học GDCD, nhiều giáo viên bộ môn đã không hoàn thành nhiệm vụ này Nhiều giáo viên chỉ chú trọng đến việc truyền thụ tri thức trong khi không chú ý đến việc giáo dục các kĩ năng sống cần thiết cho học sinh Do đó, bài học GDCD trở nên hàn lâm, đơn điệu, nhàm chán, không cuốn hút được học sinh, không đạt được mục tiêu đề ra Những kĩ năng trong các bài học GDCD như: giao tiếp và ứng xử, tổ chức quản lí, hoạt động chính trị - xã hội, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, định hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, thích ứng với những điều kiện và hoàn cảnh trước những biến động không ngừng của đời sống xã hội,… hoặc những kĩ năng cụ thể như quan hệ bạn bè, đồng chí, những cư xử trong tình yêu, hôn nhân, gia đình,… luôn cần thiết cho học sinh Thông qua mỗi bài học, mỗi tiết dạy người giáo viên GDCD cần trang bị cho học sinh những kĩ năng tương ứng, giúp các em uốn nắn những biểu hiện, cử chỉ, hành vi lệch lạc, không ngừng
tự hoàn thiện bản thân, biết đón nhận và giải quyết những thử thách của cuộc sống một cách khoa học và hiệu quả [2, tr.17]
e Định hướng phát triển nhân cách của học sinh
Đối với môn GDCD, mục tiêu dạy người luôn được xác định là quan trọng nhất Vì thế, môn GDCD luôn ở vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách của học sinh Mỗi học sinh là một chủ thể của sự phát triển nhân cách, phát triển xã hội Do đó, thông qua mỗi bài dạy, tiết học người giáo viên GDCD phải tích cực giáo dục, bồi dưỡng để giúp mỗi học sinh hình thành được cho mình những lẽ sống, lí tưởng và niềm tin lành mạnh Giáo dục
để các em trở thành những công dân có ích cho bản thân, gia đình và xã hội; những con người phát triển cao về trí tuệ, trong sáng về đạo đức và có đời sống tinh thần phong phú Thông qua các bài học GDCD, người giáo viên bộ môn phải giúp các em trở thành những con người sống có nghĩa có tình, thủy chung, có tin thần tập thể, có ý thức tổ chức kỉ luật, có lòng nhân ái bao dung, biết yêu quê hương, đất nước, yêu chủ nghĩa xã hội Để thực hiện được nhiệm
vụ này, người giáo viên GDCD phải biến những tri thức vốn khô khan, trừu tượng, khó hiểu của môn học thành tình cảm, lẽ sống, lí tưởng, niềm tin ở học sinh, thôi thúc các em hành động theo lẽ phải và không ngừng nỗ lực phấn đấu
để tự hoàn thiện bản thân, vươn tới “chân - thiện - mĩ” [2, tr.17]
Trang 15Đối với người giáo viên GDCD, những nhiệm vụ nói trên hết sức nặng
nề nhưng đó cũng là những nhiệm vụ rất đỗi vinh quang Để hoàn thành được những nhiệm vụ ấy đòi hỏi người giáo viên GDCD với lương tâm và trách nhiệm của mình, phải không ngừng học hỏi, lắng nghe và trải nghiệm để mang lại cho học sinh những bài học GDCD bổ ích và hiệu quả
1.1.3 Đặc thù tri thức môn giáo dục công dân ở trường THPT
a Hệ thống tri thức môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông mang tính đa dạng tổng hợp
Hệ thống tri thức môn Giáo dục Công dân ở trường Trung học phổ thông (THPT) được tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, nhiều bộ môn khoa học khác nhau như triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà Nước, pháp luật học Bên cạnh đó, mỗi phần, mỗi bài học lại có những nội dung liên quan đến các lĩnh vực, các môn khoa học khác nhau liên quan đến các lĩnh vực, các môn học khác nhau như: dân số, môi trường, ngoại giao, quốc phòng, giới tính và sức khỏe sinh sản, vật lí, sinh học, hóa học…
Đặc thù nói trên đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân bên cạnh trình độ nắm vững hệ thống tri thức triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa
xã hội khoa học, đường lối quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà Nước, pháp luật học, phải có tri thức về nội dung liên quan ở những lĩnh vực, những bộ môn khoa học khác nhau Người giáo viên Giáo dục công dân phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ, phải am hiểu nhiều lĩnh vực, nắm vững và biết vận dụng các kiến thức của các lĩnh vực, các môn khoa học khác nhau vào bài học Giáo dục công dân
Sự đa dạng hệ thống tri thức đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân phải sử dụng một cách đa dạng và linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với đặc thù tri thức của từng phần, từng bài học giáo dục công dân [2, tr.26]
b Hệ thống tri thức môn Giáo dục Công dân ở trường Trung học phổ thông mang tính khái quát, trừu tượng
Tính khái quát, trừu tượng của hệ thống tri thức môn Giáo dục công dân trước hết thể hiện ở những nội dung, luận điểm được đề cập trong mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức Những nội dung đó thường là những vấn đề lớn ở tầm vĩ mô, chẳng hạn như: những vấn đề cấp thiết của nhân loại, pháp luật với
sự hòa bình và tiến bộ của nhân loại bao trùm một lĩnh vực rộng lớn nào đó
Trang 16như chính sách quốc phòng và an ninh, chính sách đối ngoại, chính sách dân
số và giải quyết việc làm, chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường
Tính khái quát, trừu tượng của hệ thống tri thức môn Giáo dục công dân còn thể hiện thông qua một số khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật hết sức đặc thù Những khái niệm, phạm trù của môn Giáo dục công dân thường là những khái niệm, phạm trù triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học như: thế giới quan, phương pháp luận, lượng, chất, phủ định biện chứng, thực tiễn, phương thức sản xuất, đạo đức, lương tâm, nghĩa
vụ, sản xuất vật chất, phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế, giá trị hàng hóa, chủ nghĩa xã hội
Những nguyên lí, quy luật môn Giáo dục công dân chủ yếu là những nguyên lí, quy luật của triết học, kinh tế chính trị học được trình bày một cách ngắn gọn như: sự vận động và phát triển của thế giới vật chất, nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, cách thức vận động , phát triển của sự vật, hiện tượng, khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng, tồn tại xã hội
và ý thức xã hội, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cung cầu trong sản xuất lưu thông hàng hóa Phạm vi phản ánh những khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật nói trên rất rộng vì thế chúng điều mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa rất cao
Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân trước hết phải nắm vững nội dung, bản chất, đặc điểm của từng khái niệm, phạm trù, nguyên
lí, quy luật, luận điểm liên quan Ngoài ra người giáo viên giáo dục công dân phải lựa chọn được các phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học phù hợp với đối tượng để truyền thụ và giúp học sinh lĩnh hội chính xác những nội dung của bài học Việc tăng cường liên hệ thực tiễn và đảm bảo tính vứa sức trong dạy học luôn là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong dạy học giáo dục công dân, đặc biệt là những nội dung có tính khái quát, trừu tượng [2, tr.27]
c Hệ thống tri thức môn Giáo dục Công dân ở trường Trung học phổ thông mang tính thời sự
Tri thức của các môn học điều gắn liền với thực tiễn cuộc sống ở những
gốc độ và lĩnh vực khác nhau Đối với môn Giáo dục công dân, bên cạnh tính thực tiễn tri thức của môn học luôn mang tính thời sự sâu sắc Những tri thức
Trang 17của môn học dù khái quát, trừu tượng hay cụ thể tập trung phản ánh những vấn
đề, những hiện tượng đang nảy sinh trong cuộc sống hằng ngày Từ những vấn
đề thách thức của toàn cầu như bùng nổ dân số, dịch bệnh, ô nhiểm môi trường đến những vấn đề của một quốc gia như giải quyết việc làm, chính sách giáo dục, bảo vệ môi trường Ngay cả những nội dung khái quát, trừu tượng như: quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cung cầu trong sản xuất lưu thông hàng hóa cũng đang hàng ngày, hàng giờ biểu hiện, tác động trong mọi lĩnh vực của đời sống
Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân phải làm theo tri thức của bài học bắt nhịp với cuộc sống đang đổi mới từng ngày Để làm được điều đó, mỗi người giáo viên giáo dục công dân phải có một tâm hồn nhạy cảm, biết cảm nhận, biết lắng nghe những thay đổi của cuộc sống, biết nắm bắt, sàng lọc, cập nhật, phân tích và xử lí thông tin để mang hơi thở cuộc sống, thời đại vào từng tiết dạy, bài học giáo dục công dân Tuy nhiên, nếu lạm dụng đặc thù này, giáo viên sẽ biến giờ học giáo dục công dân trở thành một giờ nói chuyện thời sự [2, tr.28]
d Hệ thống tri thức môn Giáo dục Công dân ở trường Trung học phổ thông mang tính định hướng chính trị sâu sắc
Đối với môn Giáo dục Công dân ở trường THPT, mục tiêu dạy người –
giáo dục để học sinh trở thành một công dân có ích cho xã hội luôn được xác định là quan trọng nhất Quá trình giáo dục để học sinh trở thành những công dân có ích cho xã hội trước hết phải bắt đầu từ việc giáo dục ý thức công dân,
ý thức chính trị cho các em Ở nhà trường THPT nhiệm vụ này trước hết thuộc
về môn Giáo dục công dân Do hệ thống tri thức của môn học luôn hướng vào việc giúp học sinh hình thành được những thái độ, tình cảm công dân lành mạnh, có lập trường, quan điểm chính trị rõ rang Nội dung của mỗi bài học tiết học giáo dục công dân luôn định hướng cho học sinh về trách nhiệm của
em đối với bản thân, gia đình và xã hội
Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân phải luôn bám sát mục tiêu của mỗi bài học, tiết dạy, phải nắm vững nội dung của từng bài, từng đơn vị kiến thức, nắm bắt được đặc điểm trình độ, tâm sinh lý của học sinh để lựa chọn phương pháp dạy học sao cho phù hợp Người giáo viên Giáo dục công dân phải không ngừng rèn luyện để có một nhân cách trong sáng, một tâm hồn phong phú, một bản lĩnh chính trị vững vàng [2, tr.29]
Trang 18e Hệ thống tri thức môn Giáo dục Công dân ở trường Trung học phổ thông gắn liền với việc hình thành kĩ năng sống cho học sinh
Tất cả các môn học điều hướng vào rèn luyện kĩ năng cho người học Do đặc thù về vị trí, nhiệm vụ của môn học môn Giáo dục công dân chủ yếu hướng vào việc rèn luyện cho học sinh những kĩ năng sống hết sức cần thiết cho các em Những kĩ năng như: giao tiếp và ứng xử, tổ chức quản lý, hoạt động chính trị - xã hội, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, định hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, thích ứng với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trước những biến đổi không ngừng của đời sống xã hội Gắn liền với nội dung mỗi bài học giáo dục công dân luôn có một loạt những kĩ năng tương ứng, có thể đó là những kĩ năng tiếp cận, phân tích, xử lý thông tin, cũng có thể là những kĩ năng tiếp cận, nhận diện, xử lý, giải quyết những thách thức, những hiện tượng vấn đề đang không ngừng nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày của chính bản thân học sinh Có nhiều kĩ năng rất cần thiết và sẽ đi theo các em trong suốt cuộc đời như cách cư xử, ứng xử với chính bản thân các em, trong quan hệ với bạn bè, trong tình yêu, hôn nhân và gia đình, trong quan hệ cộng đồng
Trong quá trình dạy học Giáo dục công dân người giáo viên phải nắm vững những mục tiêu kĩ năng của từng bài, lưạ chọn giới thiệu, trang bị cho học sinh những kĩ năng cần thiết nhất.Khuyến khích các em đưa những kĩ năng đó vào thực hành và không ngừng tự hoàn thiện ngay trong cuộc sống hằng ngày của chính các em Trong quá trình dạy học, người giáo viên Giáo dục công dân phải không ngừng trải nghiệm, quan sát, học hỏi và hoàn thiện chính mình Một bài học giáo dục công dân thật sự bổ ích là bài học mà ở đó học sinh không chỉ học được những tri thức, tình cảm cần thiết mà các em còn học được ở đó cả sự trải nghiệm và những kĩ năng sống của chính người thầy Những đặc thù tri thức của môn giáo dục công dân nói trên biểu hiện khác nhau trong mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức khác nhau Trước khi giảng dạy, người giáo viên bộ môn cần nghiên cứu kĩ những mục tiêu, nội dung, đặc thù của từng bài học, từng tiết học, từng đơn vị kiến thức để lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, nội dung thông tin, tài liệu, phương tiện dạy học sao cho phù hợp hiệu quả [2, tr.29]
Trang 191.2 Quan điểm xây dựng chương trình và những định hướng về đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDCD
1.2.1 Quan điểm xây dựng chương trình giảng dạy môn GDCD ở trường THPT
Chương trình môn GDCD được xây dựng trên các môn khoa học cơ bản như: Triết học, Đạo đức học, Luật học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học và các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà Nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Môn GDCD còn tích hợp nhiều nội dung giáo dục xã hội cần thiết cho các công dân trẻ tuổi như: Giáo dục quyền trẻ em, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục văn hóa hòa bình, giáo dục môi trường, giáo dục giới tính – sức khỏe sinh sản vị thanh niên, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục phòng chống ma túy, phòng tránh HIV/AIDS… Tuy nhiên việc tích hợp phải hợp lí, phù hợp với đặc trưng môn học và không làm nặng nề thêm nội dung môn học
Quá trình dạy môn GDCD là quá trình khai thác tiềm năng và phát triển tâm lực, trí lực học sinh, phát triển tích cực hoạt động nhận thức và năng lực
tự hoàn thiện của học sinh
Nội dung môn GDCD hướng học sinh vươn tới những giá trị cơ bản của người công dân Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đó là những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong sự hòa nhập với tinh hoa văn hóa nhân loại, thể hiện sự thống nhất giữa tính truyền thống với tính hiện đại Chương trình môn giáo dục công dân THPT đảm bảo tính hệ thống, tính phát triển của các giá trị; đáp ứng được mục tiêu của cấp học, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng nhận thức của học sinh
Chương trình môn GDCD đảm bảo cân đối, hài hòa giữa yêu cầu trang bị kiến thức với việc rèn luyện kĩ năng và phát triển thái độ tích cực cho học sinh Môn GDCD không những trang bị cho học sinh về thế giới quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ; về các giá trị đạo đức, pháp luật, lối sống, mà còn hình thành và phát triển ở các em những tình cảm, niềm tin, những hành vi
và thói quen phù hợp với những giá trị đã học; giúp cho học sinh có sự thống nhất cao giữa ý thức và hành vi
Nội dung môn GDCD gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống của học sinh, gắn liền với sự kiện trong đời sống đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị,
xã hội của địa phương, của đất nước Vì vậy, ngoài nội dung thống nhất chung cho cả nước, chương trình còn có phần “mở” để dạy các vấn đề liên quan của địa phương
Trang 201.2.2 Những định hướng về đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDCD ở trường THPT
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1- 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12- 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), đặc biệt là Chỉ thị số 15 (4 -1999) Luật Giáo dục ( 2005), Điều 28.2 đã quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Có thể nói định hướng chung của việc đổi mới phương pháp dạy học là tăng cường vai trò chủ động, tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập, khắc phục tình trạng dạy học “ thầy thuyết trình, trò thụ động nghe, ghi chép” Dạy học phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh
là rất cần thiết Đó chính là việc học sinh hoàn thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sáng kiến với những hoạt động trí
óc và chân tay nhằm nắm vững kiến thức, hình thành kĩ năng và kĩ xảo để vận dụng những nội dung tri thức đã học vào thực tiễn
Từ định hướng chung kể trên, việc đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT cần thực hiện theo các định hướng cụ thể sau đây:
a Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh
Tâm lí học hiện đại đã chỉ ra rằng: Nhân cách của con người chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao tiếp Chính vì vậy, để hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ thông qua môn GDCD, việc dạy học không thể tiến hành theo kiểu thuyết lí, rao giảng mà phải thông qua các hoạt động tương tác của chính học sinh Nói cách khác, quá trình dạy học môn GDCD phải thông qua quá trình tổ chức cho các em hoạt động và tương tác Phương pháp dạy học phải tạo ra được sự cuốn hút học sinh vào các hoạt động học tập do giáo viên thiết kế, tổ chức và hướng dẫn, qua đó học sinh có thể tự khám phá và chiếm lĩnh nội dung bài học, học sinh sẽ hứng thú, thông hiểu và ghi nhớ những gì các em nắm được qua hoạt động chủ động, tích cực của chính mình Các hoạt động này do giáo viên thiết kế dựa trên mục tiêu, nội dung của bài học; đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh, điều kiện, hoàn cảnh, cơ sở vật chất kĩ thuật của nhà trường, lớp học và sở
trường của người giáo viên
Trang 21Các hoạt động dạy học môn GDCD rất phong phú và đa dạng bao gồm các hình thức hoạt động chủ yếu như: thảo luận, phân tích tình huống, điều tra thực tiễn, đánh giá ý kiến, quan điểm, hành vi, sưu tầm tài liệu… các hoạt động này phải được giáo viên thiết kế đan xen một cách linh hoạt và hợp lí trong tiết dạy để vừa đảm bảo được thực hiện mục tiêu bài học vừa gây hứng thú học tập cho học sinh
b Dạy học phải rèn luyện phương pháp tự học
Đổi mới phương pháp dạy học phải xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong đổi mới phương pháp dạy học, học sinh - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “ học” – được cuốn hút vào các hoạt động do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua
đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, học sinh trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Dạy học theo cách này, giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức
mà còn dạy học sinh phương pháp học, trong đó cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho học sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học sẽ tạo cho họ hứng thú ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động tự học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, không chỉ tự học ở nhà sau giờ lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
c Dạy học phải tăng cường học tập độc lập kết hợp chặt chẽ với học tập hợp tác
Dạy học hợp tác là cách dạy trong đó giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động hợp tác với nhau trong nhóm nhỏ để giải quyết một vấn đề đặt ra, nhằm đạt được mục tiêu học tập
Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động hợp tác theo nhóm nhỏ, tính cách, năng lực mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn; phát triển tình bạn, ý thức
Trang 22tổ chức, tinh thần tương trợ Sự hợp tác trong học tập sẽ giúp học sinh quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội hình thành năng lực hợp tác rất cần thiết cho người công dân trong một thế giới phát triển với sự hợp tác song phương, đa phương giữa các quốc gia và xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa
Trong quá trình dạy học môn GDCD, giáo viên cần phải huy động, khai thác tối đa vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của học sinh, tạo cơ hội động viên khuyến khích học sinh bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân về vấn đề đang học Giáo viên cũng cần khuyến khích học sinh nêu thắc mắc trong khi nghe giảng; đặt câu hỏi cho thầy, cho bạn; tạo nên mối quan hệ hợp tác, giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò và trò trong quá trình chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua hiểu biết của học sinh được nâng lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi học sinh và
cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo
d Dạy học phải kết hợp đánh giá
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng
và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn
là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học [2, tr.69]
Trang 231.3 Một số khái niệm liên quan:
1.3.1.Khái niệm về tính tích cực và tính tích cực trong học tập
a Tính tích cực
Theo Từ điển Tiếng Việt, tích cực có nghĩa là có ý nghĩa, có tác dụng
khẳng định, thúc đẩy sự phát triển Người tích cực là người tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển Ví dụ: đấu
tranh tích cực, phương pháp phòng bệnh tích cực… Theo một nghĩa khác, tích cực là đem hết khả năng và tâm trí vào việc làm Ví dụ: công tác rất tích cực
Tích cực là một trạng thái tinh thần có tác dụng khẳng định và thúc đẩy sự phát triển Tích cực là chủ động, hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ được giao [13, tr20]
Ở Việt Nam, vấn đề phương pháp dạy học tích cực cũng được các nhà
giáo dục đề cập với nhiều quan điểm khác nhau Nguyễn Kỳ cho rằng, phương
pháp tích cực chính là tổ chức cho học sinh học tích cực bằng hành động của chính các em, qua hợp tác với cộng đồng, theo ba thời điểm: một là trẻ làm việc một mình với đối tượng học; hai là trẻ hợp tác với tập thể, xã hội và cuối
cùng là chuyển sang hệ thống mới: Trò - Lớp - Thầy [12;tr7] Theo Nguyễn Trọng Di, nếu coi học là quá trình giải quyết vấn đề do tình huống thực tế tạo
nên, học là tự tìm tòi mày mò kiến thức thì đồng nhất việc học với việc nghiên cứu khoa học.Theo ông, học qua giải quyết tình huống, mà tình huống ấy do thầy tạo ra, do sự hướng dẫn có chủ đích của thầy chứ không phải tự lực hoàn toàn, động cơ ở người học cũng khác người nghiên cứu Xét về bản chất việc học là tiếp thu, là phải biết chấp nhận, vì vậy nếu coi là tự tìm tòi ra kiến thức
là không hợp lý, là hơi cực đoan [8;tr6] Với Phạm Viết Vượng, phương pháp
dạy học tích cực không phải là một phương pháp cụ thể, không phải là một phương pháp mới phát minh mà là một nguyên tắc dạy học Từ nguyên tắc này buộc người ta phải tìm ra những phương pháp tương ứng [26;tr9] Tuy chưa hoàn toàn thống nhất nhưng quan điểm của các nhà giáo dục Việt Nam đã có giá trị định hướng, chỉ rõ phương pháp, biện pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh Họ coi việc phát huy tính tích cực học tập và vai trò chủ thể học tập của học sinh là đối tượng tác động của giáo viên và việc tích cực học tập của học sinh là dấu hiệu của việc học tập có hiệu quả
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Để tồn tại và phát triển, con người luôn tìm tòi, khám phá và cải biến môi trường để phục vụ cho con người Tuy vậy, tính tích cực có mặt tự phát và tự
Trang 24giác Theo Thái Duy Tuyên, mặt tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm
ẩn bên trong, bẩm sinh, thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, linh hoạt trong đời sống hằng ngày Mặt tự giác của tính tích cực là một trạng thái tâm lý tính tích cực
có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng
đó Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí
tò mò khoa học … Nhờ tính tích cực tự giác, có ý thức, con người có thể đạt được nhiều tiến bộ trong đời sống và phát triển nhanh hơn so với tính tích cực
tự phát Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng
b Tính tích cực trong học tập
Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học Tính tích cực trong hoạt động học – về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng
hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích lũy được Tuy nhiên trong học tập học sinh cũng phải “ khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân Học sinh sẽ thông hiểu, ghi nhớ, luyện tập, vận dụng … những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động khám phá của chính mình; Đó là chưa nói tới trình độ nhất định, sự học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học
cũng làm ra những tri thức mới cho khoa học
Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của sự tự giác sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm móng của sáng tạo.Ngược lại phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú bồi dưỡng động cơ học tập
Từ trên cho thấy tính tích cực học tập là phẩm chất nhân cách của người học sinh thể hiện ý thức tự giác của học sinh về mục đích của hoạt động học tập, qua đó học sinh phát huy được cao nhất các chức năng tâm lý nhằm tổ chức và thực hiện việc học tập có hiệu quả Nó là năng lực thể hiện sự nổ lực
cố gắng ở sự chủ động, sáng tạo có ý thức tác động qua lại với môi trường của chủ thể Tính tích cực bắt nguồn từ lợi ích nhu cầu của con người, được nảy sinh, hình thành và phát triển trong hoạt động
Trang 25c Các hình thức biểu hiện tính tích cực trong học tập
Tính tích cực trong học tập được biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, xúc cảm học tập: Thể hiện ở niềm vui, sốt sắng thực hiện yêu
cầu của giáo viên, hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên; thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra Hay thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ
những vấn đề chưa đủ rõ
Thứ hai, chú ý: Thể hiện ở việc tập trung chú ý học tập, lắng nghe, theo
dõi mọi hành động của giáo viên
Thứ ba, sự nỗ lực của ý chí: Thể hiện ở sự kiên trì, nhẫn nại, vượt khó
khăn khi giải quyết nhiệm vụ nhận thức Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trước những tình huống khó khăn Có quyết tâm, ý chí vươn
lên trong học tập
Thứ tư, hành vi: Thể hiện ở sự hăng hái tham gia vào mọi hình thức của
hoạt động học tập; hay giơ tay phát biểu ý kiến, bổ sung các câu trả lời của các bạn; ghi chép cẩn thận, đầy đủ, cử chỉ khẩn trương trong khi thực hiện các
hành động tư duy
Thứ năm, kết quả lĩnh hội: Thể hiện ở sự lĩnh hội tri thức nhanh, đúng,
tái hiện được khi cần, chủ động vận dụng được kiến thức, kĩ năng khi gặp tình
huống mới để nhận thức những vấn đề mới
Đặc biệt, tính tích cực học tập có mối liên hệ nhân quả với các phẩm chất nhân cách của người học như:
Thứ nhất, tính tự giác: Đó là sự tự nhận thức được nhu cầu học tập của
mình và có giá trị thúc đẩy hoạt động có kết quả
Thứ hai, tính độc lập tư duy: Đó là sự phân tích, tìm hiểu, giải quyết các
nhiệm vụ nhận thức Đây là biểu hiện cao của tính tích cực
Thứ ba, tính chủ động: Thể hiện ở việc làm chủ các hành động trong
toàn bộ hoặc trong từng giai đoạn của quá trình nhận thức đặt ra nhiệm vụ, lập
kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đó, tự đọc thêm, làm thêm các bài tập, tự kiểm tra… Lúc này, tính tích cực đóng vai trò như một tiền đề cần thiết để tiến hành
các hoạt động học tập của người học
Thứ tư, tính sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tìm ra cái mới,
cách giải quyết mới, không bị phụ thuộc vào cái đã có Đây là mức độ biểu
hiện cao nhất của tính tích cực
Trang 26Như vậy, khi đề cập đến tính tích cực, người ta thường đánh giá ở cấp độ
cá nhân người học trong quá trình thực hiện mục đích dạy học Có thể khái quát tính tích cực trong hoạt động nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ với nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức cho chính mình
Những nhân tố ảnh hưởng đến tinh tích cực của học sinh
Tính tích cực nhận thức của học sinh phụ thuộc vào những nhân tố sau đây: Bản thân học sinh: Chăm chỉ, tự giác, có lòng quyết tâm cao, có lòng tin vào bản thân.Phân bố thời gian học tập, vui chơi, nghỉ ngơi khoa học, hợp lý.Tham gia tích cực các phong trào ngoại khóa Đặc điểm hoạt động trí tuệ của học sinh như tính:tái hiện, sáng tạo của học sinh Năng lực: hệ thống tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, sự trải nghiệm cuộc sống Tình trạng sức khỏe, trạng thái tâm lí của các em là nhân tố ảnh hưởng vô cùng quan trọng như: hứng thú, xúc cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí Điều kiện vật chất, tinh thần: thời gian, tiền của, không khí đạo đức Môi trường tự nhiên, xã hội
Nhà trường: Chất lượng quan trọng trong dạy học GDCD là;nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức kiểm tra đánh giá Quan hệ thầy trò Không khí đạo đức nhà trường Ngoài ra nhân tố gia đình và xã hội cũng là nhân tố tác động không nhỏ đến việc phát huy tính tích cực học tập ở các em Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị đầy đủ Có sự đầu tư về vật chất , sự quan tâm về tinh thần từ gia đình, bạn bè, xã hội… Từ đó, việc phát huy tính tích cực của học sinh đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội
cơ chế “hoạt động bên ngoài và bên trong có cùng cấu trúc” Nhờ đó, kinh
nghiệm hoạt động được tích lũy thông qua kinh nghiệm của người khác
Tái hiện và bắt chước là tính tích cực ở mức độ thấp Có thể giáo viên thay đổi một chút dữ kiện là học sinh lúng túng không làm được Nhưng nói
Trang 27lại là tiền đề cơ bản giúp các em nắm được nội dung bài giảng để có điều kiện
nâng tính tích cực lên mức cao hơn
b Tích cực tìm tòi
Xuất hiện cùng với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết các tình huống nhận thức, tìm tòi các phương thức hành động trên cơ sở có tính tự giác, có sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và ý chí của học sinh Loại này xuất hiện không chỉ do yêu cầu của giáo viên mà còn hoàn toàn tự phát trong quá trình nhận thức Nó tồn tại không chỉ ở trạng thái, cảm xúc mà còn ở dạng thuộc tính bền vững của hoạt động Ở mức độ này, tính độc lập cao hơn mức trên, cho phép học sinh tiếp nhận nhiệm vụ và tự tìm cho mình
phương tiện thực hiện
Ý thức tìm tòi giúp các em say mê đi tìm kiến thức mới, khai thác kiến thức đã học theo nhiều hướng khác nhau, kiểm tra lại kiến thức đã học trước
đó Ý thức tìm tòi là phẩm chất của trí tuệ Đó là sự độc lập trong tư duy, tự mình phát hiện ra vấn đề, tự mình xác định phương hướng và tìm cách giải đáp, tự mình kiểm tra, thử lại, đánh giá kết quả đạt được Đây cũng là tiền đề
cơ bản của tính tích cực sáng tạo
c Tính tích cực sáng tạo
Thể hiện khi chủ thể nhận thức tự tìm tòi kiến thức mới, tự tìm ra phương thức hành động riêng và trở thành phẩm chất bền vững của cá nhân Đây là mức độ biểu hiện tính tích cực cao nhất Học sinh có tính tích cực sáng tạo sẽ có thể tìm được các kiến thức mới không nhờ vào sự gợi ý của người khác, thực hiện tốt các yêu cầu do giáo viên đưa ra và có tính sáng tạo trong phương pháp Ở mức này, học sinh đã có khả năng tư duy phân tích, tổng hợp,
khái quát hóa, tưởng tựơng … để tìm tòi phát hiện kiến thức mới
1.3.3 Nguyên nhân của tính tích cực nhận thức
Tính tích cực nhận thức tuy nảy sinh trong quá trình học tập nhưng nó lại
là hậu quả của nhiều nguyên nhân Nhìn chung, tính tích cực nhận thức phụ
thuộc vào những nguyên nhân sau đây:
a Hứng thú học tập
Hứng thú nói chung và hứng thú học tập nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động học tập cũng như trong đời sống con người Học tập với tư
Trang 28cách là học tập tích cực, là một quá trình căng thẳng đòi hỏi người học phải không ngừng nỗ lực thường xuyên Nếu như trong quá trình đó học sinh có hứng thú sẽ có tác dụng như là một sự thúc đẩy bên trong làm giảm sự căng thẳng, mệt mỏi, mở đường dẫn đến sự hiểu biết Ngược lại, khi không có hứng thú học tập, người học dễ rơi vào một trạng thái bất lợi cho việc tiếp thu kiến
thức, họ sẽ sớm thấy mệt mõi, làm giảm hiệu quả của hoạt động học tập
b Nhu cầu học tập
Học sinh muốn tích cực học tập, trước hết phải có nhu cầu học tập Nhu cầu là yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy học sinh tích cực học tập Học sinh có nhận thức nghề nghiệp cao sẽ luôn khao khát và say mê nỗ lực trí tuệ để tìm kiếm tri thức cho mình Do vậy cần khơi dậy nhu cầu nhận thức của học sinh, kích thích sự tìm tòi, khám phá vận dụng tri thức đã học vào thực tế cuộc sống Học sinh càng tích cực tìm hiểu về nghề nghiệp thì sự thỏa mãn nhu cầu
về nghề nghiệp càng cao, vì vậy các em có niềm vui, say sưa và nỗ lực trong
học tập
c Động cơ học tập
Động cơ học tập là một trong những thành tố của hoạt động học tập của học sinh, tạo nên động lực thúc đẩy, lôi cuốn và kích thích học sinh tích cực học tập Động cơ học tập luôn luôn có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động
học tập của học sinh
d Ý chí vươn lên trong học tập
Hoạt động học tập là hoạt động lĩnh hội nền văn hóa xã hội, biến kinh nghiệm của loài người thành kinh nghiệm của cá nhân Để làm được điều đó, học sinh không thể hoạt động một cách thụ động mà đòi hỏi phải tích cực, chủ động, sáng tạo, phải có nỗ lực cả về trí tuệ, thể lực và ý chí Mặt khác, hoạt động học tập của học sinh không phải lúc nào cũng được diễn ra trong điều kiện thuận lợi mà luôn luôn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, do đó đòi hỏi học sinh phải có được sự kiên trì, nỗ lực cao về mặt ý chí
Trang 29dẻo dai, niềm say mê, hứng thú học tập… Vì vậy học sinh cần quan tâm để có
sức khỏe tốt nhất để việc học tập đạt kết quả cao
g Môi trường
Môi trường bao gồm môi trường xã hội và hoàn cảnh gia đình Đây là hai
yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến tính tích cực, tự giác của người học Môi trường xã hội tích cực, lành mạnh sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng động cơ, thái độ học tập, rèn luyện của học sinh Ngược lại, môi trường xã hội tiêu cực sẽ tạo cho học sinh tâm trạng bi quan, chán nản, bầu không khí thiếu lành mạnh, nhiều tệ nạn xã hội… sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến lối sống của học sinh Hoàn cảnh gia đình hạnh phúc, đầm ấm, khá giả học sinh sẽ yên tâm
và có điều kiện học tập nhiều hơn
Như vậy, tính tích cực trong học tập của học sinh chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Mỗi yếu tố có vị trí, vai trò khác nhau song chúng có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và tác động lẫn nhau Vì vậy, muốn xem xét và nâng cao tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh phải xem xét và đồng thời tác động vào nhiều yếu tố theo hướng tích cực hóa
để không ngừng phát triển tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh Trong những nhân tố trên đây, có những nhân tố có thể hình thành ngay nhưng cũng có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá trình lâu dài dưới ảnh hưởng của rất nhiều tác động
Do đó, để phát huy được tính tích cực, chúng ta cần phải có những giải pháp đồng bộ, từ mục đích đến nội dung, từ giáo trình, sách giáo khoa đến tài kiệu tham khảo, trang thiết bị trường lớp… đều phải tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho việc học cá nhân, học nhóm Đặc biệt, một trong những giải pháp đóng vai trò hết sức quan trọng đó là cải tiến phương pháp dạy học là hoạt động chủ đạo của giáo viên, nhưng đặt trong khuôn khổ gắn chặt với hoạt
động học tập của học sinh theo các yêu đã nêu
1.4 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT
Mỗi phương pháp đều có chức năng điều hành nội bộ quá trình dạy học tức nó sẽ quy định cách thức chiếm lĩnh kiến thức và kinh nghiệm hoạt động của học sinh Theo các nhà nghiên cứu P.I.Picatxitui và B.I.Côrôtiatiev, có hai cách thức chiếm lĩnh kiến thức:
Trang 30Thứ nhất là tái hiện kiến thức: Định hướng đến hoạt động tái tạo, được
xây dựng trên cơ sở học sinh chiếm lĩnh các tiêu chuẩn, hình mẫu có sẵn
Thứ hai là tìm kiếm kiến thức: Định hướng đến hoạt động cải tạo tích
cực, dẫn đến việc “phát minh” kiến thức và kinh nghiệm hoạt động
Có rất nhiều phương pháp dạy học được các giáo viên sử dụng nhưng phương pháp dạy học nào đảm bảo phối hợp nhuần nhuyễn hai cách dạy tái hiện và tìm kiếm kiến thức, trong đó tận dụng cơ hội và điều kiện để cách thứ hai chiếm ưu thế, đồng thời kết hợp hài hòa với tính sẵn sàng học tập của học sinh thì về cơ bản phương pháp dạy học đó có khả năng tích cực hóa được quá trình học tập của học sinh, nhờ đó hình thành được các phương thức hành động và kinh nghiệm hoạt động cho các em
1.4.1 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
a Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức
đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực
tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy theo cách này giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Do đó, giáo viên phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng
Trang 31Trong các phương pháp học, cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận
sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập
Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường
sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua
đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường và được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức
tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Trang 32Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh
d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều
kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng
và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong
cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết
những tình huống thực tế
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn
là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp
thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức,
kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình
độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
Trang 33Có thể so sánh đặc trưng của phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy hiện đại như sau:
Phương pháp dạy học cổ truyền Phương pháp dạy học hiện đại Quan niệm Học là quá trình tiếp thu và
lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng, tư tưởng tình cảm
Học là quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực
và phẩm chất
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ
và chứng minh chân lí của giáo viên
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Dạy học là quá trình tìm ra chân lí
Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo Học để đói phó với thi cử Sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến
Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác, ) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển của xã hội
Nội dung Nội dung từ sách giáo khoa,
sách giáo viên
Từ nhiều nguồn khác nhau: sách giáo khoa, giáo viên, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế gắn với vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của học sinh
Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương Những vấn
đề học sinh quan tâm
Trang 34Hình thức
tổ chức
Cố định : giới hạn trong 4 bức tường của lớp học, giáo viên đối diện với cả lớp
Cơ động, linh hoạt : Học ở lớp,
ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế , học ở cá nhân, học đôi bạn, học theo nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên
Trên cơ sở đó, người học không chỉ được học về tri thức mà còn học phương pháp học, học cách giao tiếp, học qua kinh nghiệm bản thân và tự đánh giá
1.4.2 Quá trình sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn GDCD ở trường THPT
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền thống Trong hệ thống các phương pháp dạy học quen thuộc được đào tạo trong các trường sư phạm nước ta từ mấy thập kỉ gần đây cũng
có nhiều phương pháp tích cực Các sách lí luận dạy học đã chỉ rõ, về mặt hoạt động nhận thức, thì các phương pháp thực hành là tích cực hơn các phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan thì tích cực hơn các phương pháp dùng lời
Muốn thực hiện dạy và học tích cực thì cần phát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện, nhất là khi dạy các môn khoa học thực nghiệm
Đổi mới phương pháp dạy học cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của hệ thống phương pháp dạy học đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy
và học ở nước ta để giáo dục từng bước tiến lên vững chắc Theo hướng nói trên, nên quan tâm phát triển một số phương pháp dạy học tích cực sau:
a Phương pháp động não
Phương pháp động não là phương pháp giáo viên đưa ra một hệ thống
thông tin làm tiền đề cho buổi thảo luận, giúp học sinh trong thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nêu ra Phương pháp này khích lệ học sinh phát huy được tối đa tính tích cực tư duy sáng tạo một cách đa dạng, phong phú, qua đó học sinh lĩnh hội được tri thức toàn diện
và sâu sắc
Trang 35Phương pháp động não có thể tiến hành theo các bước sau: Trước hết,
giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm và khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt Sau đó, liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy
to, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp và tiến hành phân loại, tổng hợp ý kiến của học sinh, giải đáp các thắc mắc có liên quan
Khi tiến hành phương pháp này, giáo viên cần lưu ý: Phương pháp
động não đặc biệt phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong thực tế cuộc sống của học sinh Đồng thời phương pháp này có thể dùng cho cả câu hỏi có phần kết đóng và phần kết mở Các ý kiến phát biểu nêu ngắn gọn bằng một từ hay một câu thật ngắn Tất cả mọi ý kiến cần được giáo viên hoan nghênh, chấp nhận không nên phê phán, nhận định đúng hay sai ngay Cuối giờ thảo luận, giáo viên nhấn mạnh kết luận này là kết quả của sự tham gia của tất cả các học sinh
Chẳng hạn sau khi dạy Bài 4: Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, sách giáo khoa 11, phần “mục đích cuối cùng trong cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa là nhằm giành lợi nhuận về mình nhiều hơn người khác”, giáo viên có thể nêu câu hỏi:
Theo em giành lợi nhuận về mình thể hiện ở việc giành lấy những gì? Và yêu cầu học sinh lần lượt phát biểu, mỗi em chỉ nêu một ý Học sinh lần lượt thể hiện, ví dụ: Giành nguồn nguyên liệu, giành thị trường, giành ưu thế về giá
cả, giành hợp đồng, giành ưu thế và công nghệ…
Sau đó giáo viên liệt kê hoặc cho học sinh liệt kê các ý kiến trên bảng, từ
đó bổ sung tổng kết thành kết luận: Mục đích của cạnh tranh thể hiện ở những mặt sau: Giành nguồn nguyên liệu và các nguồn lợi sản xuất khác, giành ưu thế về khoa học công nghệ, giành thị trường, nơi đầu tư, các hợp đồng và các đơn đặt hàng, kể cả lắp đặt, bảo hành, sửa chữa, phương thức thanh toán Cuối cùng giáo viên nên nhấn mạnh kết luận này là kết quả của sự tham gia chung của tất cả các học sinh
Về ưu điểm, phương pháp động não giúp giáo viên dễ soạn thảo câu hỏi
và dễ thực hiện, huy động được tối đa trí tuệ của tập thể trong quá trình tìm kiếm thông tin để trả lời Ngoài ra còn tạo được không khí sôi nổi nhờ quá trình tham gia phản hồi một cách tích cực của người học để cải tạo tình trạng giao tiếp và không khí học tập trầm lặng, buồn tẻ
Trang 36Về nhược điểm, bên cạnh những ưu điểm, phương pháp này cũng có
những nhược điểm sau: Các ý kiến trả lời cho cùng một chủ đề có thể tản mạn hoặc lạc đề Giáo viên mất nhiều thời gian nếu lớp học đông Ngoài ra, hiệu quả của phương pháp mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp ý tưởng chứ chưa bồi dưỡng được năng lực tư duy phân tích, chứng minh, tổng hợp của học sinh
b Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp tổ chức cho các nhóm học
sinh bàn bạc, chia sẻ những thông tin, tri thức của bản thân cùng nhau xây dựng nhận thức mới
Phương pháp thảo luận nhóm có thể tiến hành theo các bước sau: Trước
hết, giáo viên nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo luân cho mỗi nhóm, quy định thời gian và phân công vị trí ngồi thảo luận cho các nhóm Sau khi giáo viên phân công nhiệm vụ xong, các nhóm tiến hành thảo luận trong thời gian quy định Hết thời gian quy định, đại diện từng nhóm lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm Các nhóm lắng nghe, chất vấn, trao đổi,
bổ sung ý kiến Cuối cùng giáo viên nhận xét, góp ý và tổng kết
Khi tiến hành phương pháp thảo luận nhóm, giáo viên cần đáp ứng yêu
cầu sư phạm như sau: Có nhiều cách chia nhóm, có thể theo số điểm danh,
theo lứa tuổi, theo đội, theo giới tính, theo vị trí chỗ ngồi… Quy mô các nhóm
có thể lớn hoặc nhỏ, tùy theo vấn đề thảo luận Tuy nhiên nhóm từ 6 -8 học sinh là tốt nhất, vì số học sinh như vậy vừa đủ nhỏ để đảm bảo tất cả học sinh
có thể tham gia ý kiến Số học sinh như vậy vừa đủ lớn để đảm bảo rằng học sinh không thiếu ý tưởng và không có gì để nói Nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau Cần quy định rõ thời gian thảo luận và trình bày kết quả thảo luận cho các nhóm Mỗi nhóm cần cử trưởng nhóm và thư kí, học sinh được luân phiên làm nhóm trưởng, thư kí và người đại diện nhóm trình bày trước lớp Kết quả thảo luận có thể được trình bày bằng lời, đóng vai, viết hoặc vẽ trên giấy khổ to, có thể một người trình bày toàn bộ hoặc mỗi người trình bày một đoạn Trong thời gian thảo luận giáo viên chú ý quan sát để nắm được tinh thần làm việc của từng nhóm của các cá nhân, lắng nghe ý kiến của học sinh, giúp đỡ, gợi ý những lúc cần thiết
Để thấy rõ cách tiến hành phương pháp này ta có thể lấy một ví dụ khi dạy phần hòa nhập (Bài 13 – sách giáo khoa giáo dục công dân lớp 10)
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm tiến hành thảo luận các câu hỏi sau:
Trang 37Nhóm 1: Hợp tác là gì? Theo các em trong kiểm tra, thi cử có nên hợp tác hay không vì sao ?
Nhóm 2: Hợp tác được biểu hiện như thế nào ? Hợp tác có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống con người ?
Nhóm 3: Nêu các nguyên tắc của hợp tác ? Các loại (mức độ, cấp độ) của hợp tác ? Cho ví dụ minh họa
Nhóm 4:Trách nhiệm học sinh trong việc rèn luyện tinh thần hợp tác? Các nhóm thảo luận trong 5 phút Giáo viên đến các nhóm thúc đẩy thảo luận và gợi ý Sau 5 phút thảo luận các nhóm cử đại diện trình bày kết quả của mình Các nhóm khác phát biểu ý kiến bổ sung và tranh luận Cuối cùng giáo viên nhận xét, bổ sung, điều chỉnh và tổng kết các ý kiến của học sinh Đồng thời khen thưởng cá nhân có hoạt động tích cực trong việc tham gia thảo luận
Phương pháp thảo luận nhóm những ưu điểm sau: Giúp học sinh rèn
luyện, phát triển kỹ năng làm việc và giao tiếp, tạo điều kiện cho các em học hỏi lẫn nhau Hoạt động nhóm còn làm tăng hiệu quả, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn cần tới sự phối hợp của các cá nhân để hoàn thành
nhiệm vụ chung Hình thức dạy học theo nhóm góp phần hình thành và phát
triển các mối quan hệ qua lại trong học sinh, tạo ra không khí đoàn kết, giúp
đỡ, tin tưởng lẫn nhau trong học tập Tổ chức dạy học theo nhóm giúp học
sinh nhút nhát, diễn đạt kém…có điều kiện rèn luyện, tập dượt để dần dần
khẳng định bản thân trong sự hấp dẫn của hoạt động nhóm Khi dạy học theo
nhóm, giáo viên có dịp tận dụng các kinh nghiệm, sự sáng tạo của học sinh
trong học tập
Tuy nhiên phương pháp thảo luận nhóm cũng có những nhược điểm:
Trong hoạt động nhóm chỉ có một số thành viên khá, giỏi tham gia, những thành viên khác không tích cực, vì vậy kết quả thảo luận phụ thuộc vào ý kiến của một hoặc hai thành viên mà thôi Các thành viên không lắng nghe ý kiến của nhau nên khó đưa ra ý kiến thống nhất Một số thành viên không hứng thú hoạt động nhóm nên dẫn tới nhóm hoạt động tự do, không hiệu quả Một số thành viên xem đây là cơ hội thuận lợi để làm việc riêng, nói chuyện và đùa giỡn với nhau Ngoài ra phương pháp này khá tốn thời gian và dễ “cháy giáo án” Do đó giáo viên phải quản lí chặt chẽ thời gian theo kế hoạch đã định
c Phương pháp giải quyết vấn đề
Trang 38Giải quyết vấn đề là quá trình xem xét, phân tích những vấn đề đang tồn tại và xác định các bước nhằm cải thiện tình hình, giúp học sinh vạch ra những cách thức giải quyết vấn đề, tình huống cụ thể đã gặp trong đời sống hằng ngày Dạy học giải quyết vấn đề nhằm phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức
Phương pháp đặt vấn đề được tiến hành với các bước sau: Trước tiên, giáo viên cần giúp học sinh xác định (hay phát hiện) vấn đề cần giải quyết là gì? Nêu lên những chi tiết có liên quan đến vấn đề và những câu hỏi giúp học sinh giải quyết vấn đề chẳng hạn: Vấn đề xảy ra trong điều kiện nào? Vấn đề xảy ra khi nào? Vấn đề xảy ra ở đâu?
Sau đó giáo viên giúp học sinh kiểm tra xem xét tất cả thông tin đã tập hợp được vấn đề, liệt kê tất cả các giải pháp, đánh giá kết quả các giải pháp (tích cực, hạn chế, giá trị, cảm xúc), so sánh kết quả các giải pháp, quyết định chọn giải pháp tốt nhất và lặp lại các bước trên nếu kết quả chưa tốt
Trong quá trình tiến hành phương pháp này, giáo viên cần lưu ý: Vấn
đề, tình huống lựa chọn phải phù hợp với chủ đề của môn giáo dục công dân, gần gũi với thực tế cuộc sống của học sinh, phải kích thích được sự sáng tạo của người học Cách giải quyết vấn đề được lựa chọn là giải pháp tối ưu
Chẳng hạn, sau khi học xong bài 10: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, giáo
viên có thể giao cho học sinh lập và thực hiện kế hoạch tham gia tuyên truyền, vận động cho ngày bầu cử Quốc hội 20/05/2007
Để tiến hành, giáo viên nên yêu cầu học sinh nêu rõ trong kế hoạch về: Mục tiêu, những công việc cần làm, cách tiến hành, thời gian dự kiến, người phụ trách mỗi công việc đồng thời kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Sau đó, giáo viên nhận xét và góp ý
Về ưu điểm, thông qua phương pháp này giúp học sinh nắm chắc được tri
thức mới và phương pháp lĩnh hội tri thức đó Bên cạnh đó phát triển tư duy sáng tạo, bồi dưỡng lòng ham học, khả năng tự học của học sinh Phương pháp này giúp học sinh rèn luyện năng lực thích ứng với cuộc sống hiện đại thông qua kĩ năng biết đặt ra và giải quyết các vấn đề nảy sinh Ngoài ra còn giúp giáo viên kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh thông qua các hoạt động học tập như tiếp cận và xử lý tình huống, xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề, trình bày lý giải các bài toán nhận thức…
Trang 39Bên cạnh những ưu điểm thì phương pháp này còn có những nhược điểm như: Để thực hiện phương pháp này hiệu quả, đòi hỏi phụ thuộc nhiều vào
trình độ, năng lực vận dụng phương pháp của giáo viên cũng như trình độ nhận thức của học sinh Đồng thời giáo viên cần đầu tư nghiêm túc, cần rất
nhiều thời gian trong quá trình chuẩn bị và triển khai trên lớp
d Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, làm thử một
số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà họ quan sát được Việc diễn không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy
Phương pháp đóng vai có thể tiến hành theo các bước sau: Giáo viên nêu
chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong
đó quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm Sau đó các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai Hết thời gian quy định, các nhóm lần lượt lên đóng vai Lớp thảo luận, nhận xét, chủ yếu thảo luận bắt đầu từ cách ứng xử của các nhân vật cụ thể hoặc tình huống trong vở diễn, nhưng sẽ mở rộng phạm
vi sang thảo luận những vấn đề khái quát hơn hay những vấn đề mà vở diễn chứng minh Cuối cùng giáo viên kết luận, nhận xét, rút kinh nghiệm
Chẳng hạn, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh đóng vai theo các tình huống như: Từ chối khi bạn bè rủ rê uống rượu, sử dụng ma túy; Cảm thông với người nhiễm HIV/AIDS…
Trong quá trình sử dụng phương pháp đóng vai, giáo viên cần lưu ý:
Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề GDCD, phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học Tình huống nên mở, không cho trước kịch bản, lời thoại Giáo viên phải dành thời gian phù hợp cho các
nhóm chuẩn bị đóng vai Người đóng vai phải hiểu rõ vai diễn của mình trong bài tập đóng vai để không lạc đề Đồng thời giáo viên nên khích lệ tất cả các
học sinh cùng tham gia, kể cả những học sinh nhút nhát Nên có hóa trang và
đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai
Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm như: Học sinh rèn luyện được,
thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn
trước khi thực hành trong thực tiễn Phương pháp này gây hứng thú và chú ý
cho học sinh, tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của học sinh và khích lệ sự
Trang 40thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn
Tuy nhiên, phương pháp này không tránh khỏi những nhược điểm như:
phương pháp đóng vai chỉ có thể tiến hành với phòng học rộng và học sinh mạnh dạn trong quá trình tham gia các vai diễn Có thể mất nhiều thời gian nếu giáo viên không có kinh nghiệm tổ chức và học sinh nhút nhát Sự lặp đi, lặp lại một tình huống đóng vai giữa các nhóm có thể gây nên sự nhàm chán đối với học sinh
1.4.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục Công dân ở trường THPT
Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục – đào tạo, công nghệ thông tin đã góp phần hiện đại hóa phương tiện thiết bị dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học
Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin; dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả
Thông tin được hiểu càng có giá trị nếu nó gây ra được sự bất ngờ càng lớn Trong khoa học người ta đã lượng hóa thông tin theo quan điểm này Người học như một máy thu có nhiều cửa vào, phải biết tiếp nhận thông tin qua nhiều cửa, phải biết tách thông tin hữu ích, phải biết biến đổi, lưu trữ, ghi nhớ thông tin trong nhiều bộ nhớ khác nhau, mỗi cửa vào tiếp nhận một loại thông tin vào các cửa này, cần sử dụng các trang thiết bị hiện đại nhằm chuyển đổi, mã hóa, chế biến thông tin để việc truyền đạt thông tin đạt hiệu quả nhất Nếu nội dung bài học chỉ được truyền đạt tới người học dưới dạng văn bản thì người học sẽ kém hứng thú Nếu chỉ truyền thông tin theo một chiều, không có sự hỏi đáp thì thông tin thu được của người học có thể phiếm diện, không đầy đủ hoặc bị biến dạng, có khi dẫn đến việc hiểu sai nội dung
Theo quan điểm công nghệ thông tin, để đổi mới phương pháp dạy học, người ta tìm ra những phương pháp làm tăng giá trị lượng thông tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, quá trình dạy học đã sử dụng phương pháp dạy học sau đây: Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead, phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với LCD - projector (máy chiếu tinh thể lỏng) hay còn gọi là