Tuy nhiên, ở Việt Nam cho đến nay, những quy định pháp luật về vấn đề 1 Đối với các nước bảo vệ tốt quyền lợi người gửi tiền là yếu tố quan trọng trong giải quyết khủng hoảng tài chính
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Nguyễn Thanh Bình Luận văn có kế thừa các tư tưởng, kết quả nghiên cứu của những người đi trước
Mọi thông tin, số liệu được sử dụng trong Luận văn là trung thực và có trích dẫn nguồn đầy đủ
TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng 11 năm 2010
Tác giả
Huỳnh Anh
Trang 4BHTG : Bảo hiểm tiền gửi
Trang 52 - Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 - Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
4 - Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 5
5 - Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 5
6 - Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI GỬI TIỀN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 7
1.1 Tổ chức tín dụng và hoạt động của tổ chức tín dụng 7
1.1.1 Khái quát về tổ chức tín dụng 7
1.1.2 Các hoạt động của tổ chức tín dụng 9
1.2 Khái quát tiền gửi 1 6 1.2.1 Khái niệm tiền gửi 16 1.2.2 Các hình thức tiền gửi 17
1.3 Vai trò của tiền gửi 19
1.3.1 Đối với người gửi tiền 19
1.3.2 Đối với tổ chức tín dụng 20
1.3.3 Đối với nền kinh tế 21
1.4 Người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng 24
1.4.1 Khái quát về người gửi tiền 24
1.4.2 Phân loại chủ thể gửi tiền 25
1.5 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 2 7 1.5.1 Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo sự bình đẳng giữa tổ chức tín dụng và người gửi tiền .28
1.5.2 Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền từ những rủi ro của hoạt động tài chính ngân hàng 29
1.5.3 Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền góp phần đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng 30
Trang 61.6.1 Quyền được tạo thuận lợi khi gửi tiền và rút tiền .32
1.6.2 Quyền được trả đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi mọi khoản tiền gửi 33
1.6.3 Quyền được đảm bảo bí mật thông tin tiền gửi (số dư tài khoản, số tài khoản, ), an toàn tài khoản .34
1.6.4 Quyền được cung cấp thông tin về tiền gửi: lãi suất, số dư, 37
1.6.5 Quyền định đoạt tiền gửi, để lại di sản thừa kế 38
1.6.6 Quyền được bảo hiểm chi trả khi tổ chức tín dụng gặp rủi ro 39
1.6.7 Quyền khởi kiện tổ chức tín dụng có hành vi vi phạm hợp đồng đã cam kết theo quy định của pháp luật .39
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI GỬI TIỀN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 41
2.1 Quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 41
2.1.1 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 41
2.1.2 Thực tiễn pháp luật điều chỉnh việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 42
2.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 78
2.2.1 Hoàn thiện những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 78
2.2.2 Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 86
KẾT LUẬN CHUNG 8
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 – Tính cấp thiết của đề tài
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, bảo vệ tốt quyền lợi người gửi tiền có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo an toàn tổ chức tín dụng,
hệ thống tài chính ngân hàng, cũng như góp phần phát triển kinh tế - xã hội Bởi khi người gửi tiền tin rằng quyền lợi của họ được đảm bảo thì họ sẽ tích cực gửi tiền vào tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng huy động được nguồn vốn dồi dào để cho vay, từ đó nguồn vốn được lưu thông, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, khi quyền lợi được đảm bảo thì người gửi tiền cũng không dễ dàng nghe theo những tin đồn thất thiệt dẫn đến việc rút tiền ồ ạt, ảnh hưởng đến an toàn
hệ thống ngân hàng Tại Việt Nam, sự đổ vỡ hàng loạt các hợp tác xã tín dụng nông thôn và quỹ tín dụng đô thị trên toàn quốc trong những năm cuối thập niên 80 của thế kỉ XX đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền Thực tiễn ở các nước trên thế giới cũng cho thấy điều đó qua các cuộc khủng hoảng kinh tế, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 vừa qua1
Xét ở một khía cạnh khác, quyền lợi người gửi tiền cần được bảo vệ xuất phát từ vị thế của người gửi tiền trong mối quan hệ với tổ chức tín dụng Theo đó, quyền lợi của người gửi tiền chưa thật sự bình đẳng với tổ chức tín dụng Người gửi tiền khi gửi tiền vào tổ chức tín dụng, chủ yếu dựa vào niềm tin và uy tín của tổ chức tín dụng, vì không có tài sản nào bảo đảm từ phía tổ chức tín dụng Trong khi
đó, tổ chức tín dụng thường yêu cầu khách hàng vay phải có tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Điều này đòi hỏi phải có cơ chế bảo vệ người gửi tiền trong tương quan với việc bảo đảm khả năng chi trả của tổ chức tín dụng Hiện nay, để khắc phục một phần vấn đề này là sự can thiệp của bảo hiểm tiền gửi Theo đó, tổ chức nhận tiền gửi sẽ đóng tiền bảo hiểm cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi, trong trường hợp
tổ chức nhận tiền gửi mất khả năng thanh toán thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ đứng
ra chi trả cho người gửi tiền một lượng tiền nhất định theo hạn mức do pháp luật quy định Tuy nhiên, ở Việt Nam cho đến nay, những quy định pháp luật về vấn đề
1 Đối với các nước bảo vệ tốt quyền lợi người gửi tiền là yếu tố quan trọng trong giải quyết khủng hoảng tài chính, nhờ đó thị trường tài chính không bị rối ren, các tổ chức tín dụng giải thể, phá sản trong vòng trật tự (điển hình là Mỹ); ngược lại, ở các nước không bảo vệ tốt quyền lợi người gửi tiền đã làm cho hệ thống tài chính - ngân hàng bị rối loạn, hiện tượng rút tiền hàng loạt đã diễn ra (điển hình là ở Anh) Đó là lí do vì sao
sự sụp đổ của ngân hàng ở Anh là rất lớn còn ở Mỹ thì có nhiều ngân hàng sụp đổ nhưng khủng hoảng dây chuyền không nặng nề như ở Anh
Trang 8này vẫn còn những hạn chế, từ hạn mức chi trả bảo hiểm đến ghi nhận vai trò, mô hình của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chưa thật phù hợp nên hiệu quả bảo vệ quyền lợi người gửi tiền chưa cao Bởi bảo vệ quyền lợi người gửi tiền không chỉ dừng lại
ở việc chi trả bảo hiểm mà còn phải hạn chế sự sụp đổ của tổ chức tín dụng, hạn chế tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng Thực tiễn cho thấy người gửi tiền chưa thật sự yên tâm về sự an toàn tiền gửi của mình Minh chứng là người gửi tiền dễ dàng nghe theo tin đồn thất thiệt, dẫn đến hiện tượng rút tiền hàng loạt tại một số ngân hàng trong thời gian qua như Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (2003), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nông thôn Ninh Bình (2005),…
Ngoài ra, an toàn tiền gửi cũng như đảm bảo những quyền lợi liên quan đến tiền gửi (lãi suất, giá trị và tiện ích của các dịch vụ được cung ứng) là sự quan tâm của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khi gửi tiền tại các tổ chức tín dụng Đặc biệt, khi
đó lại là những khoản tiền dành dụm, chắt chiu để đảm bảo cuộc sống thì tiền gửi đối với người gửi tiền càng trở nên quan trọng Ước tính khoảng 60% - 65% tổng lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng hiện nay là của người dân với số người gửi tiền lên tới hàng chục triệu người Vì thế, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền không chỉ có ý nghĩa bảo vệ lợi ích chính đáng của người gửi tiền
mà còn có ý nghĩa đảm bảo an sinh xã hội
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập, vì vậy, những tác động tiêu cực từ thị trường tài chính thế giới cũng sẽ ảnh hưởng đến hệ thống tài chính nước ta, từ đó ảnh hưởng đến khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền2 Mặt khác, hiện nay năng lực cạnh tranh của hệ thống tài chính - ngân hàng của nước ta so với nhiều nước trên thế giới còn thua kém về chất lượng sản phẩm, về công nghệ áp dụng, về quy mô vốn… có thể sẽ có một số tổ chức tín dụng nhỏ dễ bị đổ vỡ trước sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài Đặc biệt là khi Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường tài chính, với tính chất của nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn thời điểm hiện nay Khi đó, quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng nhỏ này sẽ bị đe dọa Vì vậy, cần có những giải pháp góp phần hạn chế sự sụp
đổ của các tổ chức tín dụng này để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền trong thời gian sắp tới Điều này cũng phù hợp với chính sách của Nhà nước về xây dựng các
loại hình tổ chức tín dụng theo đó “xây dựng hệ thống các tổ chức tín dụng hiện đại,
2
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập và trong giai đoạn tiến đến là một quốc gia phát triển Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam không thể tách khỏi sự ảnh hưởng của bên ngoài, những biến động của tình hình thế giới Đặc biệt là sự tác động trong trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm và nhiều rủi ro, có tính chất ảnh hưởng dây chuyền Một khi có khủng hoảng thì không chỉ xảy ra ở một hay một vài quốc gia mà nó có thể lan rộng khắp nơi trên thế giới, Việt Nam không ngoại lệ.
Trang 9đủ sức đáp ứng nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế và dân cư, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người gửi tiền”3
Từ những lý do trên, việc đúc kết kinh nghiệm của các nước, kết hợp thực tiễn Việt Nam để bổ sung, hoàn thiện những quy định của pháp luật về bảo vệ
quyền lợi người gửi tiền là rất cần thiết Do đó, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về
bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng” để làm luận văn tốt
nghiệp cao học luật của mình
2 - Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian qua, với phạm vi và mức độ nghiên cứu khác nhau, có nhiều tác giả có bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi người
gửi tiền tại các tổ chức tín dụng như: luận văn tốt nghiệp cử nhân luật “Một số vấn
đề pháp lý về bảo hiểm tiền gửi”(2004) của tác giả Đặng Thị Đỉnh; luận văn tốt
nghiệp cử nhân luật “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hình thức
nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng”(2005) của tác giả Bùi Thị Thúy Triều; luận văn
tốt nghiệp cử nhân luật “Một số vấn đề pháp lý về bảo hiểm tiền gửi”(2005) của tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo; luận văn tốt nghiệp cử nhân luật “Bảo hiểm tiền gửi -
công cụ pháp lý bảo vệ quyền lợi người gửi tiền” (2006) của tác giả Vũ Tuyết
Minh; luận văn tốt nghiệp cao học luật “Bảo hiểm tiền gửi - quy định của pháp luật
và thực tiễn áp dụng” (2009) của tác giả Nguyễn Thị Diệu Linh Một số bài viết của
các tác giả như: “Bàn thêm về vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo
vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng”(2009)
của TS Phùng Văn Hùng; “Tăng cường bảo vệ quyền lợi người gửi tiền”(2009) của
TS Nguyễn Thị Kim Oanh & ThS Lê Việt Nga…
Tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ bảo hiểm tiền gửi, tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến bảo hiểm tiền gửi mà không đặt trọng tâm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Cũng có tác giả đặt trọng tâm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền (tác giả Bùi Thị Thúy Triều, Vũ Tuyết Minh) nhưng chỉ nghiên cứu trong mối tương quan với bảo hiểm tiền gửi, đồng thời các công trình nghiên cứu này cũng đã lâu (2005), đến nay điều kiện kinh tế - xã hội cũng như những quy định của pháp luật đã có sự thay đổi Vì vậy, có thể nói, việc nghiên cứu một cách tập trung và hệ thống những quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng trong điều kiện hội nhập hiện nay là một nội
3
Xem Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 1997
Trang 10dung cần tiếp tục hoàn thiện
3 - Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu về hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng bằng hình thức nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, qua đó làm sáng tỏ sự cần thiết bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng
Từ những quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, luận văn sẽ làm rõ những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành về quyền lợi chính đáng của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức
tín dụng trong điều kiện hiện nay
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận về tổ chức tín dụng và các hoạt động của tổ chức tín dụng, trong đó có hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, các quyền và lợi ích của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng Quy định của pháp luật hiện hành cũng như thực trạng bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng Từ đó, kiến nghị một
số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng bao gồm huy động vốn bằng nhận tiền gửi, huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá, huy động vốn bằng vay vốn giữa các tổ chức tín dụng, vay vốn của Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng bằng nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá Người gửi tiền được nghiên cứu trong luận văn này là cá nhân, tổ chức có tiền gửi tại tổ chức tín dụng thông qua hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng và phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng nhằm huy động vốn Người gửi tiền ở đây không bao gồm, các tổ chức tín dụng là chủ nợ cho vay nợ,
Trang 11Tác giả tập trung nghiên cứu những quy định cơ bản nhất về quyền lợi của người gửi tiền trong các hoạt động nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng
4 - Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Thực hiện đề tài này tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ những quy định về hoạt động của tổ chức tín dụng và quy định pháp luật về bảo vệ người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng Trên cơ sở đó luận văn đi từ cơ sở lý luận đến thực trạng pháp luật và chỉ ra những hạn chế; đồng thời đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền
5 - Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Đề tài có những đóng góp mới như sau:
Một là, tác giả phân tích để thấy rõ hơn khái niệm tiền gửi, có liên hệ so sánh
giữa khái niệm tiền gửi theo quy định hiện hành và khái niệm tiền gửi theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010
Hai là, luận văn đã chỉ ra được những cở sở cho thấy sự cần thiết phải bảo vệ
quyền lợi của người gửi tiền tại tổ chức tín dụng; nêu rõ những quyền lợi nào của người gửi tiền cần được bảo vệ Đồng thời lý giải vì sao người gửi tiền có được các quyền ấy, vì sao cần bảo vệ các quyền ấy
Ba là, phân tích được những quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ
quyền lợi của người gửi tiền bao gồm những ghi nhận trực tiếp quyền lợi của người gửi tiền; những công cụ pháp luật điều chỉnh nhằm đảm bảo an toàn tổ chức tín dụng, gián tiếp bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền như quy định về lãi suất, hạn chế tín dụng, Đặc biệt, những quy định về bảo hiểm tiền gửi, một thiết chế bảo vệ quyền lợi người gửi tiền hữu hiệu Qua đó, giúp độc giả có được những kiến thức chung nhất về quy định của pháp luật hiện hành trong việc bảo
vệ quyền lợi người gửi tiền
Bốn là, phân tích thực tiễn pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, kết
hợp khảo sát thực tiễn cho thấy những bất cập của quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Bao gồm những bất cập về quy định đóng, phong tỏa tài khoản, những quy định về thừa kế, rút vốn trước hạn, cung cấp thông tin và bảo mật thông tin, khuyến mại, chuyển tiền, bảo hiểm tiền gửi
Trang 12Năm là, đề xuất những giải pháp nhằm góp phần bảo vệ tốt hơn nữa quyền
lợi người gửi tiền Gồm hai nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện những quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền
- Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền
6 - Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 2 chương, bao gồm:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng
- Chương 2: Thực tiễn pháp luật bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các
tổ chức tín dụng và hướng hoàn thiện
Trang 13CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA NGƯỜI GỬI TIỀN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Hoạt động của các TCTD vốn phức tạp và có vai trò không nhỏ đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia Do vậy, các nước đều có những chế định pháp luật quy định về TCTD nhằm điều chỉnh hoạt động của chúng Ở nước ta, theo Luật Các TCTD 1997, sửa đổi, bổ sung năm 2004 (sau đây gọi là Luật Các TCTD 2004),
định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của
Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng.”
Theo quy định trên, TCTD là doanh nghiệp thực hiện “hoạt động kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng
số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”4 Trên thực tế, có nhiều tổ chức được gọi là TCTD nhưng không thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân
hàng như định nghĩa đã nêu, tức không thực hiện đồng thời hoạt động “kinh doanh
tiền tệ” và “dịch vụ ngân hàng”
Xuất phát từ thực tế trên, Luật Các TCTD 2010, định nghĩa TCTD như sau:
“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động
Trang 14NH cũng được xem là TCTD, TCTD không nhất thiết phải hoạt động đồng thời tất
cả các nghiệp vụ ngân hàng
Như vậy, các định nghĩa đều khẳng định TCTD là doanh nghiệp, có thực hiện hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, các TCTD khác nhau có thể có phạm vi hoạt động ngân hàng tùy theo hình thức tổ chức và hoạt động của loại hình TCTD đó, từ đó một TCTD có thể thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Theo luật hiện hành, căn cứ vào phạm vi hoạt động, TCTD gồm các loại: TCTD
- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực
hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công
ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác
1.1.1.2 Đặc điểm của tổ chức tín dụng
Từ khái niệm TCTD có thể thấy TCTD có những đặc điểm sau:
- Một là, TCTD là doanh nghiệp có đối tượng kinh doanh trực tiếp là tiền tệ
Cũng giống như các doanh nghiệp khác, TCTD kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, nhưng đối tượng kinh doanh trực tiếp không phải là hàng hóa phục vụ thông thường, mà đó là tiền tệ - một loại hàng hóa đặc biệt, vật ngang giá chung trong trao đổi và chịu sự tác động của nhiều yếu tố chính trị - xã hội
- Hai là, TCTD là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu,
thường xuyên và mang tính chất nghề nghiệp là hoạt động ngân hàng Đó là các hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
Từ những hoạt động này dẫn đến những nét rất riêng biệt của TCTD
+ Thứ nhất, TCTD hoạt động trên nguyên tắc “đi vay để cho vay”, nghĩa là
nguồn vốn cho vay của TCTD chính là vốn huy động từ khách hàng dưới
5
Theo Khoản 2 và Khoản 3 Điều 20 Luật Các TCTD 2004
Trang 15các hình thức huy động vốn chủ yếu như nhận tiền gửi các loại, phát hành trái phiếu ngân hàng, vay của TCTD khác hoặc vay của NHNN trên thị trường liên NH
+ Thứ hai, hoạt động của TCTD luôn tìm ẩn những nguy cơ, rủi ro, bất trắc
so với hoạt động kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp khác, bản chất nghề nghiệp của TCTD là người cho người khác sử dụng vốn của mình và mình huy động được để thu lợi nhuận mà chỉ có thể đòi được lại vốn sau một thời hạn nhất định Mặt khác, còn phải tùy thuộc vào hiệu quả, mục đích sử dụng vốn của người đi vay
+ Thứ ba, hoạt động ngân hàng của TCTD có ảnh hưởng quyết định đến sự
tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế đất nước Bởi vì, những tác động tiêu cực hay tích cực từ hoạt động kinh doanh của TCTD có tác động dây chuyền đối với quyền lợi của nhiều tổ chức, cá nhân trong xã hội
- Ba là, TCTD là loại hình doanh nghiệp chịu sự quản lý nhà nước của NHNN
và thuộc phạm vi áp dụng của pháp luật ngân hàng
Đây là một trong các dấu hiệu nhận dạng một tổ chức kinh tế là TCTD Các tổ chức kinh tế khác chịu sự quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước khác mà không phải là NHNN Chẳng hạn, công ty chứng khoán chịu sự quản lý nhà nước của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các tổ chức kinh doanh thương mại chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Công thương,…
1.1.2 Các hoạt động của tổ chức tín dụng
Theo quy định của pháp luật hiện hành, các hoạt động của TCTD gồm: huy động vốn, hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ và các hoạt động khác
1.1.2.1 Huy động vốn
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của TCTD Hoạt động này mang lại nguồn vốn để TCTD có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ khác cho khách hàng Hoạt động huy động vốn của TCTD gồm các nội dung như nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các TCTD và vay vốn của NHNN
a) Nhận tiền gửi
Nhận tiền gửi là hoạt động huy động vốn chủ yếu của TCTD, nó chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nguồn vốn huy động ở mỗi TCTD Theo Luật Các TCTD 2004
Trang 16không đưa ra khái niệm nhận tiền gửi Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động này, Luật Các TCTD 2010 đưa ra khái niệm nhận tiền gửi như sau:
Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận 6
và dài hạn8, nếu cho phép tổ chức này nhận tiền gửi không kỳ hạn hoặc nhận tiền gửi có kỳ hạn dưới một năm thì sẽ khó bảo đảm khả năng thanh khoản khi không thể rút vốn để đáp ứng nhu cầu thu hồi tiền hoặc thanh toán của khách hàng gửi tiền
Trong thời gian sắp tới, khi Luật Các TCTD 2010 có hiệu lực (01/01/2011), phạm vi nhận tiền gửi của các TCTD phi NH sẽ tiếp tục bị thu hẹp, theo đó các TCTD này không được phép nhận tiền gửi cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng9
6 Khoản 13 Điều 4 Luật Các TCTD 2010
7 Xem Khoản 1 và Khoản 2 Điều 45 Luật Các TCTD năm 2004: “1 Ngân hàng được nhận tiền gửi của tổ
chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác” và “2 Tổ chức tín dụng phi ngân hàng được nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước."
8 Xem Điều 16 Nghị định số16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính; xem Mục 2 Nghị định số 79/2002/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính
9
Xem Khoản 4 Luật Các TCTD 2010
Trang 17Theo Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước (sau đây gọi là Quy chế phát hành giấy tờ có giá), tại Khoản 1 Điều 4 định nghĩa:
“Giấy tờ có giá” là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa
tổ chức tín dụng và người mua”.
Giấy tờ có giá do TCTD phát hành có thể là loại giấy tờ có giá ngắn hạn hoặc dài hạn, giấy tờ có giá ghi danh hoặc giấy tờ có giá vô danh Cụ thể10
:
+ “Giấy tờ có giá ngắn hạn” là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một 1
năm bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
+ “Giấy tở có giá dài hạn” là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác
+ “Giấy tờ có giá ghi danh” là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có ghi tên người sở hữu
+ “Giấy tờ có giá vô danh” là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá
Về điều kiện phát hành giấy tờ có giá, các TCTD muốn phát hành giấy tờ có giá phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định Theo quy định hiện hành, tùy theo loại giấy tờ có giá được phát hành, pháp luật quy định điều kiện khác nhau
Nó tùy thuộc vào TCTD phát hành giấy tờ có giá là loại giấy tờ có giá ngắn hạn, giấy tờ có giá dài hạn hay trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền Có thể nhận thấy các điều kiện này đều nhằm mục đích đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD và đảm bảo khả năng chi trả của TCTD cho khách hàng mua giấy
tờ có giá Vì vậy, một trong các điều kiện không thể thiếu trong phát hành là TCTD được phát hành giấy tờ có giá phải tuân thủ đầy đủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các TCTD và hướng dẫn của NHNN11
Trang 18Các TCTD có thể phát hành giấy tờ có giá theo bốn phương thức: TCTD trực tiếp phát hành giấy tờ có giá; bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá thông qua TCTD khác, công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh giấy tờ có giá và các định chế tài chính theo quy định tại giấy phép hoạt động; hoặc phương thức đại lý phát hành, theo đó TCTD ủy quyền cho một số tổ chức khác phát hành giấy tờ có giá; hoặc phát hành theo hình thức đấu thầu giấy tờ có giá
Hiện nay, theo Luật Các TCTD 2004, phát hành giấy tờ có giá là một trong các hình thức huy động vốn, được quy định riêng rẽ với hình thức huy động vốn là nhận tiền gửi Điều này đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau khi xác định tiền gửi12 Thực chất, có một số loại giấy tờ có giá (như chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu) khi TCTD phát hành chúng xét về bản chất cũng là một hình thức nhận tiền gửi Bởi vì khi tổ chức, cá nhân mua giấy tờ có giá này do TCTD phát hành chính là
tổ chức, cá nhân đó đã gửi tiền vào TCTD và TCTD có trách nhiệm trả lãi và vốn khi đến hạn (kỳ hạn được ghi trên giấy tờ có giá)
Xuất phát từ bản chất hoạt động phát hành giấy tờ có giá của TCTD, cũng là một hình thức nhận tiền gửi, Luật Các TCTD 2010 đã đưa ra khái niệm nhận tiền
gửi, trong đó khẳng định việc phát hành một số loại giấy tờ có giá như “phát hành
chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu” là một hình thức nhận tiền gửi Điều này đã
tạo được sự thống nhất giữa các quy định về nhận tiền gửi và khái niệm tiền gửi, đồng thời cũng tạo được cách hiểu thống nhất về tiền gửi
Trang 19"Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng" là việc cấp tín dụng dưới hình thức cho
vay của tổ chức tín dụng (bên cho vay) cho một tổ chức tín dụng khác (bên vay)”
TCTD có thể vay vốn của TCTD nước ngoài13
Như vậy, việc vay vốn giữa các TCTD cũng là hoạt động cấp tín dụng Vì vậy, cũng tương tự như hoạt động cho vay của TCTD đối với các tổ chức, cá nhân khác Điểm khác biệt trong quan hệ này là bên vay cũng là một TCTD Nội dung quan hệ vay vốn cũng bao gồm những thỏa thuận về nghĩa vụ trả gốc và lãi của bên vay, các khoản phí khác phải trả của bên vay, về thời hạn cho vay, về các biện pháp bảo đảm, về phương thức cho vay,
Hoạt động vay vốn giữa các TCTD được thực hiện trên thị trường liên NH Các TCTD trong khi tham gia hệ thống thanh toán có thể mở tài khoản tại các TCTD khác Qua tài khoản này, các TCTD có thể cho nhau vay vốn Thông thường các TCTD chỉ vay vốn của TCTD khác nhằm đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách, trong nhiều trường hợp nó bổ sung và thay thế cho các khoản vay từ NHNN
d) Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước
Trong quá trình hoạt động của TCTD, có những trường hợp TCTD rơi vào tình huống tạm thời mất khả năng chi trả vì chưa kịp thu hồi nguồn vốn đã cho vay
để chi trả cho khách hàng khi họ có yêu cầu Vì vậy, pháp luật quy định các TCTD
là NH được phép vay vốn của NHNN trong trường hợp này, qua đó giúp các TCTD vượt qua khó khăn tạm thời về thanh khoản, bảo vệ quyền lợi cho NGT
Đây cũng chính là một công cụ mà NHNN sử dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia - công cụ tái cấp vốn Qua việc tái cấp vốn cho NH đang gặp khó khăn về thanh khoản, NHNN đã góp phần đảm bảo ổn định chung cho nền kinh
tế, bởi rủi ro của một NH có tính dây chuyền, có thể ảnh hưởng đến nhiều tổ chức,
cá nhân khác và có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của cả hệ thống NH
Theo quy định hiện hành, “Tổ chức tín dụng là ngân hàng được vay vốn
ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định tại Điều 30 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”14 Như vậy, theo quy định này chỉ TCTD là NH mới được NHNN cấp tín dụng và chỉ cấp tín dụng ngắn hạn Việc cấp tín dụng có thể thực hiện dưới các hình thức: 1 Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng;
2 Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; 3
13 Khoản 1 Điều 2 Quy chế vay vốn giữa các TCTD ban hành kèm theo quyết định Quyết định số 1310/
2001/QĐ-NHNN ngày 15/10/2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước; Điều 47 Luật Các TCTD 1997
14
Điều 48 Luật Các TCTD 1997
Trang 20Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác15.
Các TCTD không phải là NH về nguyên tắc không được vay vốn dưới hình thức tái cấp vốn của NHNN, trừ trường hợp đặc biệt là đối với TCTD tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các TCTD thì có thể được NHNN cho vay tái cấp vốn nhưng phải được Chính phủ chấp nhận16
1.1.2.2 Hoạt động tín dụng
Tín dụng là quan hệ kinh tế trong đó một chủ thể thỏa thuận để chủ thể khác
được sử dụng một số vốn của mình (dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa) trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả dựa trên cơ sở tín nhiệm
Bên cạnh hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu của TCTD trong quá trình kinh doanh tiền tệ Theo quy định của
pháp luật hiện hành “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn
vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng”17
Thẩm quyền cấp tín dụng của TCTD được quy định tại Điều 49 Luật Các
TCTD 2004 như sau: “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân
dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.”
Như vậy, theo quy định trên, hoạt động tín dụng của TCTD thực chất là một giao dịch hợp đồng, theo đó TCTD thỏa thuận để cho khách hàng sử dụng một số tiền của mình trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả trên cơ sở sự tín nhiệm Loại giao dịch này có những đặc điểm:
- Một bên chủ thể tham gia quan hệ giao dịch là TCTD TCTD đóng vai trò
16
Xem Điều 30 Luật Các TCTD 1997
17 Khoản 8 Điều 20 Luật Các TCTD 2004 Theo Điều 10 Luật Các TCTD 2004, “Cấp tín dụng là việc tổ
chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp
vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”
Trang 21- Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh có độ rủi ro cao, hậu quả của rủi ro có tính dây chuyền
- TCTD hoạt động tín dụng dưới các hình thức như: cho vay, chiết khấu các giấy tờ có giá, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính, bao thanh toán
1.1.2.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ là hoạt động gắn liền với hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng Bởi khi thực hiện nghiệp vụ huy động vốn, TCTD là NH tiến hành mở tài khoản cho khách hàng ký gửi tiền Qua nghiệp vụ này, một mặt NH huy động được vốn từ khách hàng, mặt khác NH có thể cung cấp cho khách hàng các dịch vụ ngân hàng khác, trong đó có dịch vụ thanh toán Khách hàng vay cũng là những chủ thể thường xuyên sử dụng các dịch vụ thanh toán của
NH Hơn nữa, thông qua một số dịch vụ thanh toán, khách hàng cũng có thể thực hiện vay tiền của TCTD (chẳng hạn dịch vụ thấu chi, ủy nhiệm chi,…)
Để thực hiên hoạt động này, pháp luật quy định cho TCTD có một số quyền
và nghĩa vụ như sau:
- TCTD được mở tài khoản tiền gửi tại NHNN, tại các TCTD khác Riêng đối với TCTD có nhận tiền gửi của khách hàng thì phải duy trì số dư trong tài khoản gửi tại NHNN không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc do NHNN quy định
- TCTD được thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng Ngoài
ra, đối với TCTD là NH thì có thêm một số quyền riêng như được mở tài khoản thanh toán cho khách hàng trong và ngoài nước, được cung ứng các dịch vụ thanh toán,…
- TCTD góp vốn, mua cổ phần trong giới hạn pháp luật quy định
- TCTD được kinh doanh ngoại hối và vàng ở thị trường trong nước và quốc tế khi được NHNN cho phép
- TCTD được ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng
Trang 22- Được thành lập công ty độc lập để kinh doanh bảo hiểm theo quy định pháp luật
1.2.1 Khái niệm tiền gửi
Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền.(Theo Khoản 9 Điều 20 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Các
TCTD 2004)
Với cách giải thích trên, tiền gửi theo pháp luật tín dụng ngân hàng hiện hành
là khoản tiền khách hàng gửi tại các tổ chức có hoạt động ngân hàng, trong đó gồm TCTD và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng Tiền gửi tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, có kỳ hạn, không kỳ hạn hoặc hình thức khác, có thể hưởng lãi hoặc không Theo quy định của pháp luật hiện hành, các hình thức khác có thể hiểu
là phát hành giấy tờ có giá18, vì thế tiền mua loại giấy tờ có giá cũng được xem là một dạng tiền gửi Tuy nhiên, (như đã trình bày trong Điểm a, Điểm b Mục 1.1.2.1), pháp luật đã quy định hình thức phát hành giấy tờ có giá là một hình thức tồn tại riêng biệt Vì vậy, để đảm bảo sự rõ ràng, thống nhất cần phải khẳng định rõ hoạt động phát hành một số loại giấy tờ giá cũng là hình thức nhận tiền gửi
Theo Luật Các TCTD năm 2010, khái niệm tiền gửi không được đặt ra một cách riêng rẽ, tiền gửi được xác định thông qua khái niệm hình thức nhận tiền gửi (như đã trình bày tại Điểm a Mục 1.1.2.1) Trong đó, bên cạnh các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, khái niệm còn xác định nhận tiền gửi bao gồm
hoạt động nhận tiền nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức “phát hành
chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”19
18 Một số văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận tiền mua giấy tờ có giá là một loại tiền gửi được trả bảo hiểm tiền gửi theo quy định pháp luật như: Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi; Nghị định số109/2005/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi; Thông tư số 03/2006/TT- NHNN ngày 25 tháng 4 năm 2006 về việc hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày
01 tháng 9 năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi và Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 về bảo hiểm tiền
gửi
19
Khoản 13 Điều 4 Luật Các TCTD 2010
Trang 23Như vậy, thông qua khái niệm huy động vốn, chúng ta nhận thấy tiền gửi có
thể được hiểu như sau: Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức nhận tiền gửi dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm; tiền của tổ chức, cá nhân mua một số loại giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu của các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng
Theo khái niệm mới này, Luật không liệt kê cụ thể các tổ chức nhận tiền gửi như trước đây để tránh sự thiếu sót, phạm vi tiền gửi được đưa ra rộng hơn, phù hợp hơn Đây cũng là phạm vi nghiên cứu mà chúng tôi hướng đến
Thực tế có một số tổ chức khác như các tổ chức thực hiện dịch vụ tiết kiệm bưu điện vẫn có hoạt động nhận tiền gửi Theo đó, các tổ chức này có thể nhận tiền gửi tiết kiệm bưu điện, phát hành chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật20.Theo khái niệm mới này, những khoản tiền này cũng được xem
là tiền gửi
1.2.2 Các hình thức tiền gửi
1.2.2.1 Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà giữa khách hàng và TCTD không tồn tại một thỏa thuận về thời hạn rút tiền TCTD nhận tiền gửi không kỳ hạn có nhiệm vụ chi trả cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu rút tiền
Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm tiền gửi thanh toán (còn gọi là tài khoản dịch vụ hay tài khoản thanh toán, ở Mỹ gọi là tiền gửi theo yêu cầu, ở Pháp thì gọi
là tiền gửi theo tài khoản séc) và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
- Tiền gửi thanh toán là tiền gửi được khách hàng gửi tại các TCTD để thực
hiện các khoản chi trả, thanh toán
Chủ tài khoản của loại tài khoản tiền gửi không kỳ hạn thông thường là các chủ thể tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, cá nhân có hoạt động kinh doanh hoặc các chủ thể khác Mục đích của khách hàng gửi tiền trong trường hợp này là để gửi giữ tiền hoặc hưởng các tiện ích từ các dịch vụ thanh toán của TCTD, chẳng hạn khách hàng được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả như séc, ủy nhiệm chi và các lệnh chi khác; yếu tố lãi suất chỉ là thứ yếu, có thể không được trả lãi suất hoặc được trả mức lãi suất rất thấp
20 Quyết định số 270/2005/QĐ-TTG ngày 31 tháng 10 năm 2005 về việc tổ chức, huy động, quản lý và sử dụng nguồn tiền gửi kiệm bưu điện
Trang 24Một dạng tài khoản thuộc loại này đang được sử dụng phổ biến hiện nay là tài khoản tiền giao dịch chứng khoán Đây là loại tài khoản tiền gửi thanh toán chuyên dùng của khách hàng để phục vụ cho mục đích kinh doanh chứng khoán Hiện nay, để thu hút khách hàng, hầu hết các NH không thu phí duy trì tài khoản loại này và khách hàng vẫn được tính lãi trên số dư tiền gửi trong tài khoản
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà NGT có thể rút tiền
theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm Đây là loại tiền gửi của các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm mục đích an toàn tiền gửi, tích lũy và tiết kiệm NGT được hưởng lãi và được BHTG Loại tiền gửi này là tiền để dành của cá nhân chứ không phải để thanh toán
Tài khoản tiền gửi loại này không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện các giao dịch thanh toán bằng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt để chi trả cho người khác, trừ trường hợp tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam của người cư trú được sử dụng để chuyển khoản thanh toán tiền vay của chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó; hoặc chuyển khoản sang tài khoản khác do chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tài khoản tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó
1.2.2.2 Tiền gửi có kỳ hạn
Bao gồm tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân, tổ chức và tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn của cá nhân
- Tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân, tổ chức là loại tiền gửi mà khách hàng gửi
tại các TCTD trên cơ sở có sự thỏa thuận với TCTD nhận tiền gửi về thời gian rút tiền Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các tổ chức nhận gửi đều cho phép khách hàng có thể rút tiền trước hạn nếu thỏa mãn những điều kiện nhất định như thời gian báo trước hoặc có thỏa thuận
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà NGT chỉ có thể rút tiền
sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm Tuy nhiên, NGT cũng có thể rút tiền trước hạn nếu hội đủ các điều kiện nhất
Trang 25định như phải có thỏa thuận với TCTD và phải đảm bảo thời gian báo trước, Trong trường hợp không đủ điều kiện nhưng TCTD đồng ý thì khách hàng vẫn có thể rút tiền trước hạn nhưng phải trả mức phí do TCTD quy định21.
Trên thực tế, có rất nhiều dạng của các hình thức tiền gửi dựa trên phân chia
kỳ hạn, tính chất của tiện ích và cả hình thức khuyến mại như tài khoản tiền gửi kinh doanh chứng khoán, tài khoản thẻ, tiết kiệm linh hoạt,
1.3.1 Đối với NGT
Khi gửi tiền vào TCTD, nhu cầu gửi tiền của khách hàng rất đa dạng Vì vậy,
sự mong đợi những lợi ích có được từ tiền gửi của từng khách hàng cụ thể cũng khác nhau Nói cách khác, vai trò của tiền gửi đối với mỗi cá nhân gửi tiền không giống nhau, phụ thuộc vào loại sản phẩm tiền gửi mà khách hàng lựa chọn Tuy nhiên, chúng ta có thể khái quát vai trò của tiền gửi đối với khách hàng gửi tiền ở những khía cạnh sau:
- Tiền gửi mang ý nghĩa tiết kiệm và đầu tư sinh lợi
Cá nhân có thể có những khoản tiền dành dụm để dự phòng rủi ro, bất trắc trong cuộc sống Khi đó, tiền gửi có ý nghĩa tiết kiệm, tổ chức nhận tiền gửi sẽ giữ
hộ NGT đối với phần tiền gửi của họ, đáp ứng nhu cầu tiết kiệm cho khách hàng
Đối với khách hàng gửi tiền, lợi ích mà họ có được từ việc gửi tiền tại TCTD trước hết đó chính là khoản lãi của tiền gửi Những số tiền tiết kiệm này sẽ không tự nhiên đem lại thu nhập cho chủ sở hữu nhưng từ hoạt động nhận tiền gửi của các TCTD đã tạo thu nhập cho NGT thông qua việc trả lãi Vì thế, tiền gửi cũng mang ý nghĩa đầu tư, bởi tiền gửi sẽ sinh lợi, tạo cơ hội cho NGT gia tăng tiêu dùng trong tương lai Khi gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi, NGT sẽ được nhận một khoản lãi trên số tiền gửi, từ đó số tiền của khách hàng ngày càng gia tăng Số tiền lãi khách hàng nhận được phụ thuộc vào giá trị tiền gửi và hình thức gửi tiền mà khách hàng lựa chọn Chẳng hạn, với cùng một số tiền gửi nhưng lãi suất gửi tiết kiệm có kỳ hạn cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm không kỳ hạn
- Việc gửi tiền tại TCTD có ý nghĩa đảm bảo tính an toàn tiền gửi, bí mật cá nhân liên quan đến tiền gửi
21 Điều 16 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 47/2006/QĐ-NHNN
Trang 26Khi tiền của khách hàng được gửi tại tổ chức nhận tiền gửi, tức tiền sẽ được cất giữ ở một nơi an toàn, bởi tổ chức nhận tiền gửi là tổ chức có uy tín nhất định, được pháp luật quy định có trách nhiệm trả đầy đủ và đúng hạn cả vốn và lãi các khoản tiền gửi, nhờ đó giúp khách hàng có thể tích trữ vốn tạm thời nhàn rỗi Bên cạnh đó, việc gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi có thể đáp ứng nhu cầu đảm bảo tính riêng tư của NGT Bởi vì cá nhân khi gửi tiền vào tổ chức nhận tiền gửi vì nhiều lý
do khác nhau không muốn người khác biết mình có số tiền nhất định, khi đó gửi tiền vào tổ chức nhận tiền gửi sẽ là một giải pháp Pháp luật có những quy định về trách nhiệm bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng
- Thông qua tiền gửi, khách hàng có thể sử dụng các tiện ích dịch vụ thanh toán của các TCTD
Thông qua tiền gửi, NGT có cơ hội tiếp cận các dịch vụ khác nhau của TCTD, đặc biệt là dịch vụ thanh toán và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu dùng Bởi vì, muốn sử dụng các tiện ích của các dịch vụ thanh toán của TCTD, khách hàng phải có một tài khoản tiền gửi mở tại TCTD đó Các dịch vụ do TCTD cung cấp hầu hết đều thông qua tài khoản này của khách hàng Đây là loại tài khoản tiền gửi thanh toán Ngoài ra còn
sử dụng các dịch vụ:
+ NGT có thể sử dụng dịch vụ thanh toán của TCTD như: chi trả cho đối tác, người lao động trong hoạt động thương mại, chuyển tiền cho người thân, chi trả cho các khoản tiêu dùng hằng ngày của mình mà không cần dùng tiền mặt , sử dụng nhiều dịch vụ liên quan khác như sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử, truy vấn
số dư và các giao dịch tức thời trên tài khoản bằng dịch vụ ngân hàng điện tử như SMS B@nking và Phone B@nking, Nhìn chung, NGT có thể hưởng được rất nhiều tiện ích từ việc gửi tiền tại TCTD
+ NGT có thể sử dụng các dịch vụ tín dụng của TCTD như: NGT có thể vay tiền của TCTD thông qua tài khoản tiền gửi khi sử dụng các dịch vụ như chi hộ, thấu chi,
Từ phân tích trên, có thể thấy, tiền gửi có vai trò quan trọng đối với NGT Vì vậy, làm thế nào để đảm bảo những quyền lợi chính đáng của NGT phát sinh từ mối quan hệ gửi tiền và nhận tiền gửi là vấn đề rất cần quan tâm
1.3.2 Đối với tổ chức tín dụng
- Vai trò của TCTD là trung gian tín dụng trong nền kinh tế, thực hiện điều hòa nguồn vốn trong xã hội Hoạt động cơ bản mang tính chức năng của TCTD là
Trang 27huy động vốn để cấp tín dụng, nói cách khác là đi vay để cho vay lại Thực tế, hầu như các TCTD hoạt động kinh doanh là nhờ vào nguồn vốn huy động, đặc biệt là vốn huy động dưới hình thức nhận tiền gửi từ các thành phần kinh tế chiếm tỉ lệ lớn Như vậy, TCTD có thực hiện tốt vai trò trung gian tín dụng hay không phụ thuộc rất lớn vào số tiền gửi mà TCTD huy động được
- TCTD là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ - ngân hàng Vì thế, mặc dù đối tượng kinh doanh của TCTD là hàng hóa đặc biệt (tiền tệ), nhưng cũng như các doanh nghiệp khác, mục đích hoạt động kinh doanh của TCTD là tìm kiếm lợi nhuận Lợi nhuận của TCTD chính là khoản lời chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay, bên cạnh đó còn có những khoản phí thu được từ việc cung ứng dịch vụ ngân hàng cho khách hàng Điều này đồng nghĩa với việc nếu TCTD huy động được nguồn tiền gửi dồi dào, cơ hội thu được lợi nhuận của TCTD
sẽ cao hơn vì có thể cấp tín dụng với lượng tiền nhiều hơn, thu lãi nhiều hơn Tương
tự như vậy, khách hàng gửi tiền hầu hết là những khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng của tổ chức nhận tiền gửi, bởi vì hầu hết các dịch vụ đều được thực hiện thông qua tiền gửi, nên nếu lượng tiền gửi nhiều thì cơ hội phí thu được từ hoạt động cung ứng dịch vụ của tổ chức nhận tiền gửi cũng nhiều hơn
- Việc đa dạng các hình thức huy động tiền gửi đã góp phần tạo nên sự đa dạng phương thức kinh doanh của TCTD, thúc đẩy sự phát triển của TCTD Xuất phát từ nhu cầu đa dạng và khác nhau của khách hàng gửi tiền, cũng như những đòi hỏi ngày càng cao của họ, nên để thu hút khách hàng gửi tiền, đòi hỏi các TCTD phải thiết kế và phát triển nhiều loại sản phẩm với nhiều hình thức tiền gửi phong phú Chẳng hạn, bên cạnh các hình thức tiền gửi cổ điển như tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn đơn giản, các TCTD đưa ra nhiều sản phẩm tiền gửi như tiết kiệm linh hoạt, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm bội thu, tiết kiệm kỳ hạn thả nổi, và rất nhiều hình thức khuyến mại như chương trình gửi tiền có quà tặng, quay số trúng thưởng,
1.3.3 Đối với nền kinh tế
- Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước rất cần vốn
đầu tư Bên cạnh các nguồn vốn khác thì nguồn vốn huy động trong nước có tính chất quyết định
Nguồn vốn đóng vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như nước ta Đối với các nước đang phát triển, vốn đầu tư là vấn đề khó khăn vì khả năng tích lũy vốn hoặc huy động vốn trong nước thấp, khả năng vay nợ nước ngoài cũng bị hạn chế
Trang 28Ở nước ta, chiến lược huy động nguồn vốn để đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa được đặt ra ngay từ Đại hội VII: “Để CNH, HĐH cần huy
động nhiều nguồn vốn, gắn với việc sử dụng vốn có hiệu quả Trong đó nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn vốn từ bên ngoài là quan trọng”, và đến Đại hội
VIII tiếp tục khẳng định: “Huy động mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển, trong đó
vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn nước ngoài có ý nghĩa quan trọng” và
“phát huy tối đa mọi nguồn vốn trong nước để chiếm tỉ lệ cao trong đầu tư” Đại
hội Đảng lần IX xác định rõ: “Nội lực là chính, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với
nhau thành nguồn lực để phát triển đất nước” Đại hội X: “Huy động mọi nguồn lực trong xã hội cho đầu tư phát triển”22
Như vậy, để phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói riêng, điều kiện cơ bản là phải có vốn Có hai nguồn để tạo vốn là: một là, tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế quốc dân; hai là, dựa vào nguồn vốn từ bên ngoài FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) và ODA (hỗ trợ phát triển chính thức)
Trong hai nguồn vốn trên, nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân xét về lâu dài là nguồn chủ yếu, có vai trò quyết định Bởi vì nguồn vốn từ nước ngoài dù có lớn đến đâu đi nữa nếu không có nguồn vốn đầu tư do sự tích lũy từ nội tại nền kinh tế thì nguồn vốn từ nước ngoài cũng không thể sử dụng có hiệu quả
Mặt khác, nguồn vốn dù là viện trợ hay đầu tư nước ngoài cũng chỉ là tạm thời, sử
dụng nguồn vốn trong nước vừa đảm bảo tăng trưởng bền vững, ổn định, lại vừa tránh được sự phụ thuộc vào nước ngoài
Tuy nhiên, thực tế huy động vốn trong những năm qua cho thấy, trong khi nền kinh tế đang rất “đói vốn” thì một lượng vốn không nhỏ trong dân chưa được quan tâm huy động cho đầu tư phát triển (theo các chuyên gia kinh tế, lượng vốn trong dân ở nước ta nước khoảng 6 tỷ - 9 tỷ USD, mức huy động hiện nay (năm 2006) mới đạt khoảng 40%)23 Bên cạnh đó, đến nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập người dân ngày một cải thiện, của cải tích lũy được ngày càng nhiều tạo nên một nguồn vốn nhàn rỗi càng lớn Vì vậy, khai thác được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng là góp phần quan trọng trong việc quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong nước, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển
22 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI,
VII, VIII, XI, X), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 297, 432, 510, 633
23 Xem: Vũ Văn Phúc (2006), Lý luận tuần hoàn, chu chuyển tư bản và vấn đề vốn cho công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.152
Trang 29Tóm lại, nước ta đang có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn để thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nguồn vốn đóng vai trò quyết định là vốn trong nước Thực tiễn thời gian qua cho thấy chúng ta chưa phát huy hết hiệu quả sử dụng nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn nhàn rỗi trong dân Nguồn vốn này chính là một nguồn quan trọng vì chiếm tỉ lệ khá lớn để phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nước Qua đó, càng khẳng định lượng tiền gửi của NGT tại các TCTD có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Yêu cầu hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
cũng cần nhiều vốn để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh
Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa mà cốt lõi là toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành một thực tế khách quan, tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Quá trình toàn cầu hóa kinh tế gia tăng ngày càng nhanh dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ Mọi quốc gia không thể đứng ngoài
xu thế này Việt Nam đang trong quá trình hội nhập mạnh mẽ Biểu hiện gần đây là
sự gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Yêu cầu hội nhập này đã mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức Một trong những thách thức đó là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam so với các doanh nghiệp nước ngoài
Quá trình hội nhập sẽ tăng cường thu hút đầu tư và chuyên giao kỹ thuật, công nghệ cao về thương mại từ các nước tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp thu công nghệ cao Song, đây cũng là một thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam Sự cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ thương mại của Việt Nam hạn chế, yếu kém về chất lượng, đơn điệu về chủng loại, giá thành cao, so với doanh nghiệp nước ngoài Một trong những nguyên nhân cơ bản chính là công nghệ sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém Để khắc phục được điều đó, doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ Muốn vậy, doanh nghiệp phải có vốn để đầu tư cho việc đổi mới công nghệ này Nguồn tiền gửi của tổ chức, cá nhân tại các TCTD là một trong những nguồn quan trọng để cung cấp vốn cho doanh nghiệp thông qua trung gian tài chính là TCTD
- Yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế cũng cần đến nguồn vốn đầu tư
Từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua, vấn đề tái cấu trúc nền kinh
tế sau khi bị suy giảm được coi là việc làm cấp thiết được đặt ra không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới Để chuẩn bị cho việc tái cấu trúc nền kinh tế, vốn là một trong những yếu tố quan trọng nhằm đáp ứng những chi
Trang 30phí cần thiết để tổ chức lại, cấu trúc lại các bộ phận của nền kinh tế nói chung Quá trình tái cấu trúc nền kinh tế không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn của các
tổ chức, cá nhân trong xã hội Trong đó, các doanh nghiệp là một trong những chủ thể quan trọng trong kịch bản tái cấu trúc nền kinh tế Vì vậy, không chỉ Nhà nước
mà các tổ chức kinh tế đều rất cần vốn trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế
Như đã trình bày, huy động và tập trung nguồn vốn trong nước để phát triển kinh tế - xã hội đang trở thành một bộ phận chủ yếu trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của nước ta, bởi lẽ nhu cầu vốn đầu tư trong nước càng trở nên bức thiết trong điều kiện khoa học kỹ thuật tiến bộ và sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng Giờ đây, vốn càng trở nên quan trọng hơn trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, phục vụ mục tiêu khắc phục suy giảm kinh tế sau khủng hoảng, tiến đến xây dựng nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững
1.4.1 Khái quát về người gửi tiền
Pháp luật hiện hành không định nghĩa chung nhất về NGT Tuy nhiên, chúng
ta cũng có thể hiểu khái niệm về NGT qua một số văn bản điều chỉnh về tiền gửi như sau:
Theo quy chế tiền gửi tiết kiệm, tại Khoản 2 Điều 6, định nghĩa:
Người gửi tiền là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm
Theo định nghĩa trên, NGT là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi, chỉ có thể là cá nhân hoặc nhóm cá nhân, không có chủ thể là tổ chức Tuy nhiên, theo Quy chế về mở và sử dụng tài khoản tiền gửi, khi liệt kê các đối tượng được mở tài khoản tiền gửi, đối tượng này bao gồm cả các tổ chức24
Như đã phân tích, tiền mua một số loại giấy tờ có giá cũng là một hình thức tiền gửi Do đó, chủ thể mua các loại giấy tờ có giá này được xem là NGT Theo Quy chế này, người mua giấy tờ có giá bao gồm cả cá nhân và tổ chức25
24 Xem Khoản 2 Điều 2 Quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước và tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1284 /2002/QĐ-NHNN2 ngày 21 -11 - 2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
25
Điều 3 Quy chế phát hành giấy tờ có giá
Trang 31Như vậy, khái quát chung chúng ta có thể hiểu, NGT là người thực hiện giao
dịch liên quan đến tiền gửi NGT có thể là cá nhân, nhóm cá nhân hoặc tổ chức
Mặc dù không có khái niệm chung về NGT, nhưng các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã chỉ ra những chủ thể nào có thể trở thành NGT đối với hai hình thức gửi tiền cơ bản là tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm
1.4.2 Phân loại chủ thể gửi tiền
Tiền gửi tạo được sự quan tâm của nhiều thành phần chủ thể khác nhau trong đời sống xã hội Các thành phần này lại có những nhu cầu rất khác nhau đối với tiền gửi Chính vì vậy, có rất nhiều loại khách hàng gửi tiền Tuy nhiên, chúng ta có thể phân loại NGT dựa trên các tiêu chí chung sau đây:
1.4.2.1 Căn cứ vào chủ thể gửi tiền, người gửi tiền được chia thành:
a) Chủ thể gửi tiền là cá nhân
Bên cạnh số ít cá nhân gửi tiền nhằm đáp ứng yêu cầu thanh toán, phần lớn
các cá nhân gửi tiền tại các TCTD là những khoản tiền dành dụm, chắt chiu trong cuộc sống, khoản lãi từ tiền gửi có thể nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu cuộc sống hằng ngày của họ Họ ít có điều kiện tham gia đầu tư kinh doanh trực tiếp (do năng lực hoặc điều kiện khác ) nên dựa hẳn vào tiền gửi Vì vậy, tiền gửi rất quan trọng đối với họ, khi tiền gửi này bị rủi ro thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của họ Đối tượng này thông thường là cán bộ hưu trí, hoặc người lao động có thu nhập trung bình, người làm công ăn lương Nhìn xa hơn, đời sống của những người này
bị ảnh hưởng sẽ trở thành một mối lo cho xã hội bởi lượng người này chiếm số lượng khá lớn Chính vì vậy, khi xây dựng các chính sách liên quan đến những đối tượng này, Nhà nước luôn quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi cho họ Trong quan
hệ tiền gửi, khi quy định về BHTG cũng quan tâm ưu ái cho đối tượng này
b) Chủ thể gửi tiền là tổ chức
Chủ thể tiền gửi là tổ chức phần lớn là những tổ chức mở tài khoản nhằm phục vụ cho nhu cầu thanh toán trong kinh doanh Có thể nói, hầu hết các tổ chức kinh doanh đều có tiền gửi tại NH Nguồn gốc của tiền gửi thực chất là một phần tiền của các thành viên góp vốn của doanh nghiệp hoặc của chủ sở hữu doanh nghiệp Tiền gửi này thường tách bạch với các khoản tiền khác của thành viên góp vốn (trừ một số doanh nghiệp như công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân), khoản tiền này được họ dùng để tìm kiếm lợi nhuận với những dự liệu rủi ro do hoạt động kinh doanh mang lại Vì vậy, nếu tiền gửi của họ bị rủi ro thì ít nghiêm trọng hơn so với đa số khách hàng cá nhân gửi tiền
Trang 32Ngoài ra, một số tổ chức khác có những khoản tiền nhàn rỗi (do thu nhập, nguồn quỹ của tổ chức, ) như các đơn vị sự nghiệp có thu hoặc của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp, gửi tại TCTD nhằm tranh thủ tìm kiếm thêm lợi nhuận, tăng thu nhập cho các thành viên của tổ chức
1.4.2.2 Căn cứ vào mục đích gửi tiền, người gửi tiền được chia thành:
a) Chủ thể gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi
Chủ thể gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi thường gửi tiền dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm Các hình thức tiết kiệm khác nhau phản ánh mục đích khác nhau của NGT
Đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đối tượng NGT là cá nhân có tiền nhàn rỗi muốn gửi TCTD vì mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai Khách hàng gửi tiền dưới hình thức này nhằm mục tiêu an toàn, tiện lợi quan trọng hơn là mục đích sinh lợi
Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đối tượng NGT là cá nhân có tiền nhàn rỗi muốn gửi TCTD vì mục tiêu an toàn và sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai Khách hàng gửi tiền dưới hình thức này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý Mục tiêu quan trọng của họ khi gửi tiền theo hình thức này là lợi tức có được theo định kỳ
Đối với tiền gửi thông qua việc mua các loại giấy tờ có giá: Như đã phân tích tại Mục 1.2.1, tiền mua một số loại giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu,
kỳ phiếu cũng là một dạng tiền gửi Loại tiền gửi này có vai trò tiết kiệm và đầu tư
là chủ yếu Mục đích của khách hàng là muốn được hưởng lãi từ việc mua các giấy
tờ có giá đó Các loại giấy tờ có giá đều có mệnh giá, thời hạn và lãi suất được thể hiện trên giấy tờ đó Khi đến hạn thanh toán, người mua giấy tờ có giá sẽ đến tổ chức phát hành giấy tờ đó để nhận số tiền bằng mệnh giá của giấy tờ đó, cộng với tiền lãi Nó thực chất gần giống như là dạng tiền gửi có kỳ hạn Trong trường hợp chủ sở hữu giấy tờ có giá cần tiền mặt hoặc không muốn nắm giữ giấy tờ có giá đó nữa thì có thể chiết khấu lại cho TCTD, thay vì rút tiền trước hạn như đối với tiền gửi có kỳ hạn
b) Chủ thể gửi tiền nhằm mục đích thanh toán
Tổ chức, cá nhân có nhu cầu thực hiện thanh toán qua NH thì họ sẽ mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại NH Mục đích chủ yếu của đối tượng này là sử dụng
Trang 33dịch vụ thanh toán của NH thông qua tài khoản tiền gửi, không nhằm mục đích hưởng lãi
Theo thông lệ các nước, NH không phải được trả lãi cho loại tiền gửi này,
mà NH còn yêu cầu khách hàng phải duy trì số dư tối thiểu, để được hưởng các dịch
vụ của khách hàng, nếu không có đủ số dư này thì khách hàng phải trả phí cho việc
sử dụng dịch vụ
Ở Việt Nam, do dân chúng chưa có thói quen sử dụng dịch vụ thanh toán qua
NH nên để thu hút khách hàng, NH vẫn trả lãi đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, tuy nhiên mức lãi suất rất thấp
Ngoài ra, đối với khách hàng có nhu cầu đầu tư, kinh doanh chứng khoán, họ
có thể mở tài khoản tiền gửi giao dịch chứng khoán Đây là tài khoản thanh toán chuyên dùng của khách hàng mở tại các NH để sử dụng cho mục đích kinh doanh chứng khoán Loại tài khoản này nhìn chung cũng có những tiện ích của một tài khoản thanh toán khác trong việc sử dụng các dịch vụ thanh toán và thường vẫn được hưởng lãi suất với mức lãi suất thấp như đối với các tài khoản thanh toán khác Tuy nhiên, mục đích chủ yếu là phục vụ cho kinh doanh chứng khoán của khách hàng gửi tiền
Trong quan hệ nhận tiền gửi giữa TCTD và NGT thì khách hàng gửi tiền thường là những người có sự hiểu biết hạn chế hơn về hoạt động ngân hàng, đặc biệt là những rủi ro trong hoạt động ngân hàng của TCTD Vì vậy, trong nhiều trường hợp họ không thể lường hết được những bất lợi mà mình có thể gặp phải khi đem tiền gửi vào TCTD, họ không thể bảo vệ mình một cách tốt nhất Do đó, họ cần được sự trợ giúp của Nhà nước, sự bảo vệ của pháp luật
Ngoài ra, NGT trong mối quan hệ với tổ chức nhận tiền gửi thì NGT ở vị trí yếu thế hơn, quyền lợi của NGT dễ bị xâm hại hơn so với tổ chức nhận tiền gửi Bởi
vì tổ chức nhận tiền gửi nắm giữ tiền gửi của NGT, nắm giữ thông tin về NGT, nhưng NGT không nắm giữ bất cứ tài sản bảo đảm từ phía TCTD Bên cạnh đó, NGT cũng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi những tác động khác của điều kiện kinh tế -
xã hội như lạm phát, khủng hoảng tài chính,
Với chức năng đại diện cho đại bộ phận dân cư trong xã hội, Nhà nước sẽ sử dụng công cụ có hiệu quả nhất là pháp luật, ban hành những quy định hạn chế những rủi ro trong hoạt động tín dụng, hạn chế những tác động tiêu cực từ sự biến
Trang 34động của điều kiện kinh tế - xã hội, những quy định ngăn ngừa sự xâm hại lợi ích NGT từ phía TCTD, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NGT
1.5.1 Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo sự bình đẳng giữa tổ chức tín dụng và người gửi tiền
TCTD là trung gian tín dụng trong nền kinh tế, một trong những hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng Khi nhận tiền gửi, TCTD đóng vai trò là chủ thể vay, khi cấp tín dụng, TCTD đóng vai trò là chủ thể cho vay Như vậy, xét trong quan hệ này TCTD là chủ thể vay, trong quan hệ khác TCTD là chủ thể cho vay
Theo lẽ thường, đối với các hợp đồng vay tiền, để bảo đảm khả năng thanh toán của người vay, người cho vay thường yêu cầu người vay phải cầm cố, thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay Điều này đã là tập quán trong vay tiền và đã được pháp luật ghi nhận từ lâu Ở nước ta, theo quy định của pháp luật dân sự cũng điều chỉnh
về hợp đồng vay tài sản và những biện pháp bảo đảm Tuy nhiên, trong quan hệ vay tiền giữa TCTD (người đi vay) và các tổ chức, cá nhân gửi tiền (người cho vay) thì không hoàn toàn như vậy Cụ thể:
+ Trong hoạt động cho vay của TCTD, hầu hết các hợp đồng tín dụng đều có tài sản bảo đảm, có ý nghĩa bảo vệ lợi ích của TCTD, đảm bảo khả năng thu hồi nợ trong trường hợp khách hàng vay không có khả năng thanh toán các khoản vay Khi khách hàng không trả được nợ cho TCTD, TCTD có thể xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định
+ Tuy nhiên, trong mối quan hệ nhận tiền gửi thì lại khác, khách hàng gửi tiền vào TCTD chỉ dựa vào niềm tin đối với TCTD, uy tín của TCTD mà không nhận bất kỳ tài sản bảo đảm nào từ phía TCTD Mặc dù, xét về bản chất thì đây cũng là hợp đồng vay nhưng chủ thể vay là TCTD, chủ thể cho vay là khách hàng gửi tiền Có thể nói, uy tín của TCTD là một yếu tố để khách hàng có thể tin cậy ở mức độ nhất định hơn so với số đông tổ chức, cá nhân đi vay tiền bất kỳ (vì TCTD được thành lập và hoạt động kinh doanh tiền tệ phải thỏa mãn những điều kiện cần thiết về vốn, nghiệp vụ và được pháp luật cho phép) Tuy nhiên, uy tín của TCTD
sẽ không thể đảm bảo được quyền lợi của NGT một khi TCTD mất khả năng thanh toán
Do vậy, để cân bằng lợi ích trong quan hệ nhận tiền gửi và gửi tiền, pháp luật cần có những quy định bảo vệ quyền lợi của NGT trong quan hệ này
1.5.2 Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền từ những rủi ro của hoạt động tài chính
- ngân hàng
Trang 35Trong hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro cao do tính kéo dài của quan
hệ kinh doanh Khi TCTD gặp rủi ro thì đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp là NGT
vì khi đó TCTD không có khả năng chi trả tiền gửi cho họ Những rủi ro này có thể xuất phát từ những yếu tố sau:
- Đối tượng kinh doanh của TCTD là tiền tệ, một loại hàng hóa đặc biệt, vật ngang giá chung trong trao đổi Vì vậy, hoạt động kinh doanh tiền tệ chịu chi phối của nhiều yếu tố tác động từ chính trị, kinh tế - xã hội
Theo các nhà kinh tế học, tiền tệ được định nghĩa “là một vật đảm nhận đồng
thời vai trò công cụ trao đổi, công cụ thước đo giá trị và công cụ tích lũy” Theo
Mác, “tiền tệ là thứ hàng hóa đặc biệt, tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng làm vật
ngang giá chung để thể hiện và đo lường giá trị của mọi hàng hóa; nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất”
Như vậy, tiền tệ không chỉ là trung gian trao đổi, mà còn là một hàng hóa; nói cách khác, tiền tệ không chỉ công cụ trung gian trong các trao đổi giữa những người sản xuất hoặc những người buôn bán với người tiêu thụ, mà trong một số giao dịch, nó đóng vai trò là đối tượng của giao dịch Chính vì tính chất đặc biệt này của tiền tệ, nên người ta gọi nó là hàng hóa đặc biệt Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của TCTD, tiền tệ đã trở thành hàng hóa, tiền tệ là đối tượng của các giao dịch trong hoạt động kinh doanh này (hoạt động vay, cho vay)
Vì chức năng và đặc tính trên, tiền tệ được xem là một trong những phương tiện hữu hiệu để đưa nền kinh tế đi đến những mục tiêu mong muốn Chính vì vậy, một mặt tiền tệ có khả năng tác động đến điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội; mặt khác nó chịu sự chi phối bởi các điều kiện này Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh tiền tệ cũng chịu sự chi phối rất lớn từ các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Khi
cơ chế, chính sách này thay đổi có thể dẫn đến những biến động trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, có thể tác động tích cực hoặc mang lại rủi ro trong hoạt động
NH
- Việc cho vay của TCTD phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng vốn vay của khách hàng Bởi việc sử dụng vốn vay của khách hàng ảnh hưởng đến kết quả của việc cho vay, từ đó, ảnh hưởng đến khả năng chi trả tiền gửi cho khách hàng gửi tiền
Đối với hợp đồng vay tài sản thông thường thì người cho vay dùng tài sản của chính mình để cho vay nên khi người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì chỉ có người cho vay phải gánh chịu hậu quả Tuy nhiên, việc cho vay của TCTD chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động của tổ chức, cá nhân trong xã hội Chính vì
Trang 36vậy, do chức năng trung gian này mà các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng (người vay) sẽ ảnh hưởng ngay đến TCTD và qua đó ảnh hưởng đến quyền lợi của NGT
Trong trường hợp khách hàng sử dụng vốn gặp rủi ro do sử dụng vốn sai mục đích, quá trình sản xuất kinh doanh bị thua lỗ, thậm chí dẫn đến phá sản thì việc thu hồi vốn và lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn Việc cho vay của TCTD không đạt kết quả Khi đó, TCTD có thể gặp rủi ro tín dụng
Ngoài ra, những nguyên nhân khác dẫn đến rủi ro tín dụng của TCTD như do
sự non kém về nghiệp vụ của cán bộ tín dụng, sự tha hóa của một bộ phận cán bộ tín dụng trong xét duyệt dự án cho vay, hoặc khách hàng gặp sự cố như thất nghiệp,
ốm đau, hoặc khách hàng “chay ỳ” không thanh toán tiền vay cho TCTD
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng có thể từ phía Nhà nước Do thay đổi cơ chế, chính sách làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính hoặc do các yếu tố khách quan như ảnh hưởng của thị trường biến động, khủng hoảng kinh
tế, thiên tai, làm cho các TCTD gặp nhiều khó khăn trong thu hồi nợ
1.5.3 Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền góp phần đảm bảo an toàn hệ thống
các tổ chức tín dụng
Do đặc trưng liên kết trong hệ thống các TCTD, vì vậy sẽ dẫn đến phản ứng Đôminô khi một TCTD nào đó bị đổ vỡ Cụ thể, khi TCTD nào đó gặp rủi ro dẫn đến việc TCTD mất khả năng thanh toán tạm thời hoặc buộc chấm dứt hoạt động Khi đó, do quan hệ có tính ảnh hưởng dây chuyền có thể kéo theo các TCTD khác cũng gặp khó khăn về thanh toán, từ đó ảnh hưởng đến an toàn hệ thống các TCTD Tính ảnh hưởng dây chuyền không chỉ trong hệ thống TCTD của một quốc gia mà
có thể ảnh hưởng đến hệ thống TCTD của các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt
là trong điều kiện hội nhập quốc tế như hiện nay
Trong khi đó, hoạt động ngân hàng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia Hoạt động ngân hàng giúp điều hòa nguồn vốn trong xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế26
Vì vậy, khi hệ thống TCTD sụp đổ sẽ kéo nền kinh tế đổ
vỡ theo Đối với Việt Nam, hệ thống tài chính còn ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển theo cơ chế thị trường, nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn nên hoạt
26 Hoạt động ngân hàng khuyến khích tiết kiệm và đưa nguồn vốn trong xã hội vào sử dụng có hiệu quả Việc cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp đã khuyến khích sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng sản lượng và giảm nhập khẩu hàng hóa Mặt khác, việc khách hàng cá nhân vay vốn sẽ khuyến khích tăng nhu cầu về hàng hóa và điều này sẽ giúp cho việc tăng cường sản xuất
Trang 37động ngân hàng có vai trò càng quan trọng trong việc cung ứng vốn nhằm duy trì nhịp độ tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế
Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới vừa qua là một minh chứng, hàng loạt các NH sụp đổ, trong đó có những NH hàng đầu thế giới như Merill Lynch, Lehman Brothers, Northern Rock… Với tính chất ảnh hưởng dây chuyền, khủng hoảng tài chính đã lây lan giữa các quốc gia Rất nhiều quốc gia trên thế giới rơi vào khủng hoảng tài chính trầm trọng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của kinh tế thế giới, bao gồm cả các cường quốc như Mỹ, Nhật, Anh Đến nay, tình hình thế giới còn nhiều biến động, hậu quả của cuộc khủng hoảng còn nặng nề Chính vì vậy, đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống các TCTD là tối cần thiết, đặc biệt quan trọng đối với mọi quốc gia
Trong quá trình giải quyết khủng hoảng, các nước trên thế giới thực hiện các giải pháp để khắc phục, một trong những giải pháp đó là tăng cường bảo vệ quyền lợi của NGT để tạo lòng tin cho họ Giải pháp tức thời được thông qua là việc tăng hạn mức chi trả bảo hiểm Rõ ràng, bảo vệ NGT góp phần vào việc đảm bảo an toàn
hệ thống các TCTD vì khi NGT tin vào những quy định của pháp luật, cơ chế của pháp luật có thể bảo vệ được quyền lợi của mình thì sẽ hạn chế việc NGT tin vào những tin đồn thất thiệt, dẫn đến hiện tượng rút tiền hàng loạt, tạo nguy cơ “lung lay” hệ thống các TCTD Đồng thời cũng góp phần hạn chế xảy ra trường hợp tương tự như khi có một TCTD tạm thời hoặc thật sự mất khả năng thanh toán cho NGT, những NGT khác có thể do tâm lý hoang mang mà đồng loạt đến các TCTD rút tiền gửi, đẩy các TCTD vào tình trạng thiếu khả năng chi trả, đe dọa an toàn của hệ thống các TCTD
1.5.4 Thông qua hoạt động cung cấp dịch vụ, tổ chức tín dụng có thể gây thiệt
hại cho người gửi tiền
Cung ứng các dịch vụ thanh toán là một trong những chức năng chủ yếu của TCTD là NH Trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ, TCTD là NH cung cấp các dịch vụ cho khách hàng gửi tiền thông qua tiền gửi, quản lý tài khoản khách hàng, cũng như nắm giữ các thông tin liên quan đến tài khoản khách hàng Thông qua hoạt động này, vì nhiều lý do khác nhau đã ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng gửi tiền
Thứ nhất, liên quan đến việc thực hiện nghiệp vụ thanh toán qua tài khoản
Trong dịch vụ thanh toán, chuyển tiền là một dịch vụ khá cổ điển và phổ biến Việc chuyển tiền nhầm trong hoạt động ngân hàng đã là việc hiện hữu và cũng không phải là hi hữu, dù cả NH và khách hàng điều không mong muốn Đó là những
Trang 38trường hợp NH nhầm về chủ thể được chuyển tiền, thay vì chuyển tiền từ khách hàng A cho khách hàng B nhưng lại chuyển cho khách hàng C; hoặc chuyển nhầm
số tiền, tức là lẽ ra NH sẽ chuyển tiền vào tài khoản nào đó một số tiền X nhưng lại chuyển vào tài khoản này số tiền Y27 Khi đó, có những trường hợp khách hàng đã không được NH chịu trách nhiệm về khoản tiền đã bị chuyển nhầm do NH cho rằng mình không có lỗi trong việc chuyển nhầm, mặc dù việc chuyển tiền vốn là hoạt động nghiệp vụ của NH Bên cạnh đó, về phía người được nhận số tiền chuyển nhầm, về nguyên tắc họ không có lỗi, vì tiền vào tài khoản họ có thể biết hoặc không biết rõ nguồn gốc và rút tiền ra sử dụng Tuy nhiên, khi có thông báo mà họ
cố tình chiếm dụng thì có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý bằng pháp luật, yêu cầu người thụ hưởng hoàn trả số tiền nói trên Trong nhiều trường hợp vì muốn sớm thu lại số tiền mà nhân viên NH có những ứng xử khiến khách hàng gặp nhiều phiền phức và gặp rắc rối không đáng, ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng
Thứ hai, liên quan đến vấn để bảo mật thông tin khách hàng NGT mang tiền
đến gửi tại TCTD bên cạnh nhu cầu về thanh toán, hưởng lãi, họ còn có nhu cầu được bảo mật thông tin liên quan đến tiền gửi Về nguyên tắc, TCTD bảo đảm những thông tin cá nhân cho họ Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, cũng như việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng đã phổ biến và đa dạng, đòi hỏi cơ chế bảo vệ thông tin cho NGT càng chặt chẽ hơn
Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán nước ta ngày càng phát triển, đây là thị trường phức tạp, vấn đề thông tin rất quan trọng đối với các nhà đầu tư chứng khoán Các đối thủ cạnh tranh có thể lợi dụng việc nắm bắt thông tin về khách hàng gửi tiền để gây bất lợi cho nhà đầu tư Từ đó cho thấy, bảo vệ bí mật thông tin cho khách hàng trong điều kiện hiện nay là rất cần thiết
1.6.1 Quyền được tạo thuận lợi khi gửi tiền và rút tiền
Tổ chức, cá nhân gửi tiền vào TCTD xuất phát từ nhu cầu đầu tư sinh lợi Đây là nhu cầu chính đáng, giúp họ có thêm thu nhập, đáp ứng lợi ích của nhà đầu
tư Thu nhập của các cá nhân, tổ chức trong xã hội tăng chính là góp phần vào sự
27 Một số vụ việc chuyển tiền nhầm có giá trị lớn: Năm 2006, NH Ngoại thương Việt Nam đã chuyển nhầm
số tiền 4 triệu đồng thành hơn 48,5 tỷ đồng cho khách hàng Năm 2008, NH Thương mại Cổ phần Kỹ thương
đã chuyển nhầm cho khách hàng số tiền 306 triệu đồng Năm 2010, NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Agribank chi nhánh Đà Nẳng chuyển nhầm vào tài khoản ông Phạm Sự số tiền 1,277 tỷ đồng, trong khi tiền thực hưởng của ông Sự chỉ hơn 105 triệu đồng
Trang 39giàu có của quốc gia, cần được khuyến khích Bên cạnh đó, TCTD là tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi để cấp tín dụng, việc gửi tiền của khách hàng tại TCTD chính là phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của TCTD, giúp TCTD có nguồn vốn để cho vay, sinh lời Vì vậy, TCTD có trách nhiệm tạo thuận lợi cho khách hàng khi gửi tiền
Mặt khác, tiền gửi tại TCTD vẫn thuộc quyền sở hữu của khách hàng, khách hàng có quyền rút tiền, thể hiện sự định đoạt của chủ sở hữu đối với tiền gửi Tất nhiên, việc rút tiền này phải nằm trong giới hạn sự thỏa thuận giữa NGT và TCTD trong hợp đồng gửi tiền về vấn đề rút tiền gửi28
Tạo thuận lợi cho NGT là đảm bảo việc gửi tiền và rút tiền được nhanh chóng, dễ dàng Chẳng hạn, thủ tục gửi tiền và rút tiền cần đơn giản, gọn nhẹ, khách hàng có thể lựa chọn TCTD để gửi tiền, khách hàng có thể đồng thời gửi tiền ở nhiều TCTD khác nhau, gửi tiền tại một TCTD nhưng có thể rút tiền ở nhiều TCTD khác
1.6.2 Quyền được trả đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi mọi khoản tiền gửi
Có thể nói đây là quyền quan trọng nhất mà khách hàng quan tâm Trong mối quan hệ giữa NGT và tổ chức nhận tiền gửi thì thực chất là mối quan hệ giữa một bên là chủ thể vay (TCTD) và một bên là chủ thể cho vay (NGT) Chủ thể vay sau khi nhận được tiền vay (lợi ích) thì đương nhiên phải có nghĩa vụ đối với người cho vay trong việc chi trả vốn và lãi Đây là nghĩa vụ cơ bản của bên vay trong hợp đồng vay tài sản
Đối với tiền gửi dưới dạng các loại giấy tờ có giá, cũng cùng nguyên lý trên, TCTD phát hành phải chi trả đầy đủ gốc và lãi cho khách hàng khi đến hạn thanh toán được ghi trên giấy tờ có giá đó Xuất phát từ tính chất của giấy tờ có giá, khách hàng cũng có thể thanh toán trước hạn thông qua hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của TCTD, khi đó TCTD sẽ mua lại giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng Trong trường hợp này giá và lãi suất chiết khấu sẽ do khách hàng và TCTD thỏa thuận phù hợp quy định pháp luật
1.6.3 Quyền được đảm bảo bí mật thông tin tiền gửi (số dư tài khoản, số tài
khoản, ), an toàn tài khoản
28 Tức là phụ thuộc vào sự thỏa thuận trong hợp đồng tiền gửi giữa NGT và TCTD về thời hạn rút tiền, về rút tiền trước hạn Chẳng hạn, nếu khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng nhận tiền gửi là không được rút trước hạn thì khi chưa đến hạn thanh toán, khách hàng không thể buộc TCTD tạo điều kiện thuận lợi cho họ rút tiền
Trang 401.6.3.1 Quyền đảm bảo bí mật thông tin tiền gửi
Việc bảo đảm bí mật thông tin khách hàng chính là bảo vệ lợi ích chính đáng của khách hàng Bảo mật thông tin tiền gửi của khách hàng góp phần đảm bảo an toàn tiền gửi của khách hàng, tránh được việc bị kẻ xấu lợi dụng những thông tin biết được để rút tiền khách hàng hoặc có những hành vi phá hoại gây thiệt hại cho khách hàng
Hiện nay, công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng đã được sử dụng rộng rãi, bọn tội phạm cũng có những thủ đoạn mới và tinh vi hơn Chẳng hạn, khi bọn tội phạm có được mật khẩu hay mã giao dịch giữa NH và khách hàng, chúng có thể sử dụng tài khoản khách hàng hoặc yêu cầu NH thực hiện những giao dịch gây bất lợi cho khách hàng,
Đối với khách hàng gửi tiền là các chủ thể kinh doanh thì thông tin về tiền gửi cũng là một dạng bí mật trong kinh doanh của NGT Những thông tin này có thể phản ánh phương án sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, mối quan hệ với đối tác của khách hàng gửi tiền, Những thông tin này nếu bị khai thác bởi đối thủ cạnh tranh thì có thể gây thiệt hại cho khách hàng Đảm bảo bí mật thông tin khách hàng gửi tiền cũng chính là góp phần chống lại những người có ý đồ cạnh tranh không lành mạnh
Một số thông tin cụ thể của khách hàng cần được bảo mật bao gồm:
- Số hiệu tài khoản của khách hàng
Số hiệu tài khoản chính là mã tài khoản Số hiệu tài khoản tiền gửi giúp phân biệt các tài khoản của các khách hàng khác nhau trong quản lý ngân hàng Muốn rút tiền hoặc gửi tiền vào một tài khoản nhất định thì phải biết số tài khoản đó, trừ trường hợp rút tiền thông qua máy rút tiền tự động, người rút tiền có thể không cần
sử dụng số hiệu tài khoản, thay vào đó chủ tài khoản phải có thẻ và biết mã số pin
Đối với những NGT vào TCTD theo hình thức tiết kiệm, tiền gửi kỳ hạn nhằm mục đích an toàn tiền gửi, hưởng lãi suất, họ thường có nhu cầu bảo mật số hiệu tài khoản không chỉ nhằm tránh khai thác của kẻ thứ ba gây thiệt hại tài sản của họ, họ còn muốn không ai biết được họ đã có tài khoản gửi tại TCTD, chưa nói đến việc người khác biết được ngày đáo hạn của số tiền gửi thông qua số hiệu tài khoản
Đối với tài khoản thanh toán, đối tác của khách hàng dễ dàng có được số hiệu tài khoản thông qua lần giao dịch đầu tiên với khách hàng Tuy nhiên, về nguyên tắc TCTD cần tôn trọng bí mật số hiệu tài khoản của khách hàng, trừ trường