Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tạo dựng một ngành nông nghiệp có cơ cấu kinh tế hợp lý, qua đó phát huy mọi tiềm năng sản xuất, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
[ \
VÕ HOÀNG ĐÔNG LỚP DH8CT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Ở THỊ XÃ TÂN CHÂU – TỈNH AN GIANG
GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP HỆ ĐẠI HỌC
KHÓA HỌC 2007 – 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
[ \
VÕ HOÀNG ĐÔNG LỚP DH8CT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Ở THỊ XÃ TÂN CHÂU – TỈNH AN GIANG
GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP HỆ ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN THẠC SĨ NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Quá trình nghiên cứu và viết khóa luận tốt nghiệp gặp nhiều khó khăn
nhưng cuối cùng khóa luận vẫn được hoàn thành Bên cạnh sự cố gắng của
bản thân thì còn nhờ phần lớn ở sự giúp đỡ, hỗ trợ từ nhiều phía và cho phép
em được chân thành cảm ơn:
Đảng ủy, Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Lý luận chính trị trường
Đại học An Giang đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt khóa luận
tốt nghiệp
Quý thầy cô trong khoa Lý luận chính trị đã truyền đạt cho em những
kiến thức vô cùng quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường và sự nhiệt
tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa
luận Đặc biệt em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Thạc sĩ Nguyễn Ngọc
Phương – giáo viên hướng dẫn trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành
khóa luận Thầy đã rất nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp ý kiến, góp ý
sửa chữa để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Cán bộ, nhân viên Thư viện trường Đại học An Giang đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi giúp em tìm kiếm, sưu tầm tài liệu
Các cơ quan, ban ngành của thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã nhiệt
tình giúp đỡ, cung cấp những tài liệu thiết thực, góp phần thuận lợi cho em
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn Kính chúc quý thầy cô được
dồi dào sức khỏe, nhiều may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống!
Long Xuyên, tháng 05 năm 2011
Võ Hoàng Đông
Trang 4MỤC LỤC
-
Trang PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1 Những vấn đề chung về nông nghiệp
1.1.1 Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
1.2 Những vấn đề chung về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm và nội dung của cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.2 Khái niệm, nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.4 Kinh nghiệm thực tế về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.4.1 Kinh nghiệm nước ngoài
1.4.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
1.4.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
1.4.2 Kinh nghiệm trong nước
1.4.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Tiền Giang
1.4.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Định
1.5 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam gắn với thị trường và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng và của cả nước
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong giai đoạn 2005 – 2009
1
6
6
6
6
7
7
7
9
12
13
14
14
14
15
16
16
17
18
20
20
20
21
23
Trang 52.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng
2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế
2.2.4 Đánh giá chung cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong giai đoạn 2005 – 2009
2.2.4.1 Những kết quả đạt được
2.2.4.2 Những yếu kém, tồn tại
2.2.4.3 Nguyên nhân của những yếu kém, tồn tại
2.3 Quan điểm phát triển về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong giai đoạn 2010 – 2015
2.4 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong giai đoạn 2010 – 2015
2.4.1 Định hướng phát triển
2.4.2 Các chỉ tiêu cụ thể
2.5 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong giai đoạn 2010 – 2015
2.5.1 Từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước và nâng cao năng lực, tinh thần trách nhiệm và chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức
2.5.2 Quy hoạch phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh
2.5.3 Đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, các thành tựu khoa học – công nghệ và công tác khuyến nông
2.5.4 Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
2.5.5 Phát triển các thành phần kinh tế
2.5.6 Vận dụng kịp thời, linh hoạt các cơ chế, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước ta
2.5.6.1 Chính sách về đất đai
2.5.6.2 Chính sách về đầu tư và tín dụng
2.5.6.3 Chính sách về thị trường
2.5.6.4 Chính sách về lao động và việc làm
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
23
28
31
32
32
33
33
34
35
35
37
38
38
39
40
42
43
44
44
44
46
47
48
49
51
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và đã đạt được một số thành tựu đáng kể, những thành tựu đó góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế Điều đó được đánh dấu bằng sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại toàn cầu WTO vào tháng 12 năm 2007 sau hơn 11 năm đàm phán Tham gia vào WTO là tham gia vào một sân chơi công bằng và bình đẳng toàn cầu, ở đó hứa hẹn sẽ có rất nhiều cơ hội đồng thời cũng không ít khó khăn và thách thức cần phải vượt qua để phát triển Để tận dụng được các cơ hội đó thì cần phải đổi mới tư duy nền kinh tế theo xu hướng hội nhập quốc tế, có cơ cấu nền kinh tế hợp lý hơn, hoạt động sản xuất hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước và đảm bảo nâng cao đời sống của nhân dân vì
mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặt hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ Hiện tại cũng như trong tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người, không ngành nào có thể thay thế được Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói
“Nông dân ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [7, tr.215] Thậm chí, Người còn đặt vấn đề “Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm
nông nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nước ta Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tạo dựng một ngành nông nghiệp có cơ cấu kinh tế hợp lý, qua đó phát huy mọi tiềm năng sản xuất, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho người nông dân, đó là vấn đề cấp bách trong chiến lược
phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay và tương lai
Trang 7Tân Châu là một thị xã vùng biên của tỉnh An Giang, mới được thành lập theo Nghị quyết số 40/NQ-CP ngày 24/8/2009 của Chính phủ, với diện tích đất tự nhiên là 17.568,46 ha và có hơn 184.129 nhân khẩu Nông nghiệp vừa là bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thị xã, vừa có điều kiện phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Vì vậy, nông nghiệp là ngành được đặc biệt chú trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của thị xã Tân Châu Trong nhiều năm qua, mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của thị xã đã diễn ra nhanh hơn nhưng vẫn còn nhiều tiềm năng trong nông nghiệp chưa được khai thác Sản xuất nông nghiệp còn mang tính nhỏ lẻ, sản xuất tự cung, tự cấp là chủ yếu Sản phẩm nông nghiệp làm ra chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng của hộ gia đình và thị trường nội địa, có hướng tới xuất khẩu nhưng chưa nhiều và hiệu quả chưa cao, chưa phát huy hết lợi thế và tiềm năng của thị xã Ngành chăn nuôi chưa phát huy hết lợi thế;
tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp còn cao; dịch vụ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp của thị xã hiện nay chưa phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, chưa phát huy hết lợi thế và tiềm năng của địa phương Xuất phát từ thực tế khách quan và yêu cầu cấp thiết đó, tác
giả mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu
quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tác động đến quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang
Đánh giá khái quát thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
của thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang
Phân tích các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang
Định hướng và đưa ra một số giải pháp cơ bản góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp một cách có hiệu quả, theo hướng bền vững của thị
xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Là một khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành kinh tế chính trị, khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu nội dung cơ bản của cơ cấu kinh tế nông nghiệp và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang từ năm 2005 đến năm 2009 (khi huyện Tân Châu chính
Trang 8thức trở thành thị xã Tân Châu theo nghị quyết số 40/NQ-CP ngày 24/8/2009 của Chính phủ)
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho quá trình nghiên cứu
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp thống kê
toán học, so sánh, phân tích, tổng hợp,…
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung khóa luận gồm 2 chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
1.1 Những vấn đề chung về nông nghiệp
1.1.1 Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
1.2 Những vấn đề chung về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm và nội dung của cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.2 Khái niệm, nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp
1.4 Kinh nghiệm thực tế về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.4.1 Kinh nghiệm nước ngoài
1.4.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
1.4.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
1.4.2 Kinh nghiệm trong nước
1.4.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Tiền Giang
1.4.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Định
1.5 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Việt
Nam gắn với thị trường và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng và của cả nước
Trang 9CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong giai đoạn 2005 – 2009
2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng
2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế 2.2.4 Đánh giá chung cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong giai đoạn 2005 – 2009
2.2.4.1 Những kết quả đạt được
2.2.4.2 Những yếu kém, tồn tại
2.2.4.3 Nguyên nhân của những yếu kém, tồn tại
2.3 Quan điểm phát triển về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong giai đoạn 2010 – 2015
2.4 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong giai đoạn 2010 – 2015
2.5.2 Quy hoạch phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh
2.5.3 Đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, các thành tựu khoa học – công nghệ và công tác khuyến nông
2.5.4 Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
2.5.5 Phát triển các thành phần kinh tế
2.5.6 Vận dụng kịp thời, linh hoạt các cơ chế, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước ta
Trang 102.5.6.1 Chính sách về đất đai 2.5.6.2 Chính sách về đầu tư và tín dụng 2.5.6.3 Chính sách về thị trường
2.5.6.4 Chính sách về lao động và việc làm
Trang 11PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
1.1 Những vấn đề chung về nông nghiệp
1.1.1 Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
- Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong
sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó cung cấp lương thực – thực phẩm, đó là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước Thực tiễn lịch sử các quốc gia trên thế giới đã chứng minh rằng, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng khi quốc gia đó đã đảm bảo an ninh lương thực Nếu không đảm bảo được an ninh lương thực thì khó có thể có được sự ổn định về chính
trị và các điều kiện để làm tiền đề cho sự phát triển các ngành kinh tế khác
- Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị Điều đó thể hiện các mặt cơ bản sau:
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung ở khu vực nông thôn, đó thực
sự là nguồn dự trữ nguồn nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị
Nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp chế biến Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của các sản phẩm nông nghiệp được nâng lên nhiều lần, tăng khả năng cạnh tranh của nông sản trên thị trường
- Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn của công nghiệp Ở hầu hết các quốc gia, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng được tiêu thụ chủ yếu và trước hết là khu vực nông nghiệp, nông thôn
- Nông nghiệp cũng là ngành đem lại nguồn ngoại tệ lớn Các loại, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với hàng hóa công nghiệp
- Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững môi trường Trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần phải có những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự bền vững của môi trường
Tóm lại, vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân bao gồm 2 loại đóng góp: thứ nhất, đó là đóng góp về thị trường – cung cấp sản phẩm cho
Trang 12thị trường trong và ngoài nước; thứ hai là sự đóng góp về nhân tố diễn ra khi
có sự chuyển dịch các nguồn lực như lao động, vốn,…từ nông nghiệp sang các khu vực khác
1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
- Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có được, đó là:
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt
Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi
Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp
- Ngoài những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp nêu trên, nông nghiệp Việt Nam còn có những đặc điểm riêng sau:
Nông nghiệp Việt Nam đang trong tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Điều này cho thấy điểm xuất phát của nông nghiệp Việt Nam là rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới như cơ sở vật chất còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu kém, lao động thuần nông còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội, năng suất ruộng đất và năng suất lao động trong nông nghiệp còn thấp,…
Nền nông nghiệp Việt Nam là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc và được trải rộng trên bốn vùng rộng lớn, phức tạp như trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển Đặc điểm này đã đem lại cho sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam nhiều thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng không ít những khó khăn rất lớn
Nông nghiệp Việt Nam đang chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa Nhiều vùng của đất nước đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp, tăng sản phẩm phi nông nghiệp
1.2 Những vấn đề chung về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm, nội dung của cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế
Trang 13Sự phát triển sản xuất dẫn đến quá trình phân công lao động Tuỳ vào tính chất sản phẩm, chuyên môn kỹ thuật mà chia thành từng ngành, lĩnh vực khác nhau Nhưng trong nền sản xuất, các ngành, các lĩnh vực này không thể hoạt động một cách độc lập mà phải có sự tương tác qua lại lẫn nhau, hỗ trợ nhau, tuỳ thuộc vào nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển Từ đó đòi hỏi nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa các bộ phận Sự phân công và mối quan hệ hợp tác trong hệ thống thống nhất là tiền đề cho quá trình hình thành cơ cấu kinh tế Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm cơ cấu kinh tế Hiểu một cách khái quát là: “Cơ cấu kinh tế là cấu trúc tổng thể các bộ phận của nền kinh tế với quy mô, vị trí, các quan hệ tỷ lệ tương đối ổn định hợp thành trong một thời kỳ nhất định” [6, tr.11]
Cơ cấu kinh tế được phân chia thành:
- Cơ cấu ngành và nội bộ ngành: Phản ánh tỷ trọng mối quan hệ giữa các ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Thông thường khi xác định cơ cấu kinh tế ngành người ta phân chia thành 3 ngành chính là nông nghiệp, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ Mỗi ngành lại phân chia thành những phân hệ nhỏ khác nhau Sự biến đổi tỷ trọng của 3 ngành này tạo nên cơ cấu kinh tế trong những thời kỳ phát triển nhất định
- Cơ cấu thành phần kinh tế: Phản ánh mối quan hệ, tỷ trọng giá trị đóng góp của các thành phần kinh tế Có thể phân chia các thành phần kinh tế thành 2 khu vực lớn là khu vực Nhà nước và khu vực ngoài Nhà nước, hoặc cũng có thể phân chia một cách cụ thể hơn Theo Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X thì ở Việt Nam có 5 thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế Nhà nước, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế
tư nhân, thành phần kinh tế tư bản Nhà nước và thành phần kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài
- Cơ cấu vùng: Phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất Ở nước ta, cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ được phân chia dựa vào điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất và trình độ phát triển của các vùng
Trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, cơ cấu kinh tế luôn luôn biến đổi “Sự biến đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái kinh tế khác trong một thời kỳ nhất định trên cơ sở phù hợp với điều kiện khách quan và chủ quan, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển” [6, tr.12] đó là chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tất yếu gắn liền với sự phát triển kinh tế của một quốc gia đặc biệt là sự phát
Trang 14triển trong quá trình hội nhập Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra như thế nào phụ thuộc vào các yếu tố như quy mô kinh tế, mức độ mở cửa của nền kinh tế với bên ngoài, dân số của quốc gia, các lợi thế về tự nhiên, nhân lực, điều kiện kinh tế, văn hóa,… nhân tố quan trọng khác góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó là quá trình chuyên môn hóa trong phạm vi quốc gia và mở rộng chuyên môn hóa quốc tế và thay đổi công nghệ tiến bộ kỹ thuật Chuyên môn hóa mở đường cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến hoàn thiện tổ chức nâng cao năng suất lao động xã hội Chuyên môn hóa cũng tạo ra những hoạt động dịch vụ và chế biến mới Tiến
bộ khoa học kỹ thuật công nghệ lại thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa Điều
đó làm cho tỷ trọng các ngành truyền thống giảm đi, tỷ trọng các ngành dịch
vụ kỹ thuật mới tăng trưởng nhanh chóng và dần dần chiếm ưu thế Phân công lao động và sự tiến bộ kỹ thuật công nghệ ngày càng phát triển sâu sắc tạo ra những tiền đề cho việc phát triển thị trường các yếu tố sản xuất Và ngược lại, việc phát triển thị trường các yếu tố sản xuất lại thúc đẩy quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và do vậy làm sâu sắc thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.2 Khái niệm và nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất được hình thành sớm nhất trong lịch sử phát triển kinh tế của nhân loại Vì vậy, nó luôn có vai trò quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế quốc dân của hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như nước ta hiện nay Cho nên phát triển nông nghiệp là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội nước ta hiện nay
Theo phân ngành kinh tế quốc dân của quốc tế cũng như của nước ta, nền kinh tế quốc dân được chia thành 3 khu vực chính:
- Khu vực I: bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp
- Khu vực II: bao gồm công nghiệp và xây dựng
- Khu vực III: bao gồm tất cả các hoạt động sản xuất dịch vụ
Từ đó cho thấy, nông nghiệp là một bộ phận cấu thành quan trọng trong
hệ thống nền kinh tế quốc dân Nhưng đồng thời bản thân nông nghiệp cũng là một hệ thống nhỏ được cấu thành bởi các bộ phận khác nằm trong tổng thể hệ thống kinh tế quốc dân Quá trình phát triển dẫn đến sự thay đổi của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nói chung, đòi hỏi bản thân ngành nông nghiệp cũng phải có sự chuyển đổi phù hợp với các điều kiện và xu thế phát triển chung
Trang 15Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là thuật ngữ chỉ mối quan hệ hợp thành của các sản phẩm nông nghiệp tuỳ theo mục tiêu sản xuất của con người ở từng địa bàn cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định
Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm:
- Một là, cơ cấu kinh tế – kỹ thuật của nông nghiệp theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Ngành nông nghiệp (theo nghĩa rộng): là tổ hợp các ngành gắn liền với quá trình sinh học gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Khi phân tích đánh giá cơ cấu kinh tế thì tiêu chí, cơ cấu ngành thường được xem trọng nhất bởi vì nó phản ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội Lực lượng sản xuất càng phát triển, phân công lao động xã hội càng sâu sắc, tỷ mỉ thì càng có nhiều ngành kinh tế hình thành và phát triển đa dạng khác nhau Ở nước ta cho đến nay, về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp cho nên sự phát triển của nó giữ vai trò quyết định trong kinh tế nông thôn, đồng thời là một trong những ngành cơ bản của nền kinh tế quốc dân Vì vậy, nó vừa chịu sự chi phối của nền kinh tế quốc dân vừa gắn bó chặt chẽ với các ngành khác, vừa phản ánh những nét riêng biệt mang tính đặc thù của một ngành mà đối tượng sản xuất là những cơ thể sống
Ngành nông nghiệp (theo nghĩa hẹp): bao gồm trồng trọt và chăn nuôi Trong trồng trọt được phân ra trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả,… Ngành chăn nuôi gồm có chăn nuôi đại gia súc, gia súc, gia cầm,… Những ngành trên có thể phân ra thành các ngành nhỏ hơn Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình phát triển và tạo thành cơ cấu nông nghiệp Hiện nay, trong cơ cấu nông nghiệp có hai vấn đề quan trọng là cơ cấu hợp lý giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa trồng cây lương thực và cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thực phẩm Chuyển từ trạng thái độc canh cây lương thực sang đa canh cây trồng là xu hướng khách quan nhằm sử dụng hợp lý các điều kiện và các nguồn lực như đất đai, lao động, tăng thu nhập cho người lao động, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội cũng như phát huy được một cách triệt để tiềm năng, lợi thế của từng địa phương trong quá trình phát triển
Ngành lâm nghiệp: bao gồm nhiều chủng loại thực vật và động vật
rừng Đây là nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và đa dạng Rừng là một nguồn lợi to lớn về kinh tế và có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ, hạn chế lũ lụt, phát triển du lịch Cơ cấu kinh tế lâm nghiệp bao gồm các nội dung: bảo tồn rừng tự nhiên, phát triển và trồng rừng, khai thác tài nguyên rừng, chế biến lâm sản
Trang 16Ngành ngư nghiệp: là một trong những ngành kinh tế quan trọng cấu thành kinh tế nông thôn ở nước ta Cơ cấu kinh tế ngư nghiệp bao gồm các nội dung chủ yếu: nuôi trồng thuỷ hải sản, khai thác thuỷ hải sản, chế biến thuỷ hải sản
- Hai là, cơ cấu vùng (lãnh thổ):
Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động
xã hội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu kinh tế vùng lại được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý Cơ cấu vùng và cơ cấu ngành kinh tế thực chất là hai mặt của một thể thống nhất và đều là biểu hiện của sự phân công lao động xã hội Cơ cấu lãnh thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế Ở nước ta, trong các năm qua các vùng kinh tế sinh thái đã được hình thành và phát triển từng bước tạo nên các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá có trình độ chuyên môn hoá cao như vùng trồng lúa, cây công nghiệp, cây ăn quả
- Ba là, cơ cấu thành phần kinh tế:
Cơ cấu kinh tế được hình thành từ chế độ sở hữu: Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống, tổ chức kinh tế với chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội
Ở nước ta, cơ cấu thành phần kinh tế tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp bao gồm: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân; trong đó, kinh tế tư nhân mà cụ thể là kinh tế hộ gia đình nông dân chiếm vị trí chủ yếu
và vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế nông nghiệp nước ta
- Ngoài 3 loại cơ cấu chính nêu trên, trong sản xuất nông nghiệp còn có các loại cơ cấu khác như cơ cấu mùa vụ, cơ cấu công nghệ sử dụng trong nông nghiệp,…
Cơ cấu mùa vụ: nói lên thời điểm gieo trồng các loại cây, chu kỳ sinh trưởng và thu hoạch chúng Việc bố trí mùa vụ cho từng loại cây phụ thuộc vào các yếu tố chính như thời tiết, đất đai, đặc điểm sinh học của giống cây trồng, tiến bộ khoa học kỹ thuật,… Trong sản xuất nông nghiệp, sự thay đổi
cơ cấu mùa vụ cũng bao hàm sự thay đổi cơ cấu cây trồng và góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu công nghệ: nói lên tỷ trọng và mức độ áp dụng các loại công nghệ trong sản xuất nông nghiệp như công nghệ lạc hậu, tiên tiến và hiện đại Ngày nay, dưới sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng thì vịêc thay đổi từ công nghệ sản xuất
cũ, lạc hậu sang công nghệ tiên tiến, hiện đại là một yêu cầu cấp thiết nhằm
Trang 17bảo đảm việc nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của các loại nông sản của mỗi quốc gia
1.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không cố định Đó là sự thay đổi số lượng các ngành (nông, lâm, ngư nghiệp) hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do
sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không đồng đều
Có thể nói, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự thay đổi của
cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển Đây không đơn thuần là sự thay đổi vị trí mà là sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu kinh tế mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu kinh tế cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của cơ cấu (ngành, vùng, thành phần) nhằm hướng sự phát triển của toàn
bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển
Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
- Vị trí địa lý và khí hậu tự nhiên: ở những vị trí địa lý khác nhau và vùng khí hậu khác, việc xác định cơ cấu kinh tế cũng khác nhau Xác định cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn cũng có nghĩa là xác định cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn ở các vùng điều kiện địa lý và khí hậu tự nhiên khác nhau
- Các nguồn lợi: bao gồm tài nguyên khoáng sản, nguồn nước, nguồn năng lượng, đất đai,… có hay không có, có nhiều hay có ít các tài nguyên này
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định cơ cấu kinh tế của một quốc gia nó chung và của vùng đó nói riêng
- Phong tục tập quán và truyền thống dân tộc: Đây là nhân tố vừa có tác dụng thúc đẩy vừa có tác dụng kìm hãm Một quốc gia nào hay một vùng nào
đó ở đâu đó có phong tục tập quán canh tác lạc hậu ví dụ như du canh, du cư thì ở đó có sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất diễn ra không thể nhanh chóng và
Trang 18suông sẻ được Ngược lại, ở đâu có tập tục, tập quán truyền thống sản xuất tiến bộ thì ở đó việc làm chuyển biến cơ cấu kinh tế nói chung sẽ dễ dàng hơn
- Trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ: với trình độ này càng cao thì sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ càng dễ dàng hơn và công nghệ hiện đại, tiên tiến đó sẽ là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, nông nghiệp và nông thôn nói riêng
- Con người: ta biết rằng cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, thế nhưng việc nó hình thành nhanh hay chậm, hợp lý hay không hợp lý, lại do tác động chủ quan của con người Bởi vì, con người là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc tiến hành cơ cấu kinh tế
1.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX “Về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010” đã xác định: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó, lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%, thu nhập của dân cư nông thôn gấp 2,5 lần so với hiện nay
“Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương Tăng nhanh tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và
Trang 19dịch vụ; giảm dần tỉ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp Sớm khắc phục tình trạng manh mún về đất canh tác của các hộ nông dân, khuyến khích việc dồn điền đổi thửa, cho thuê, góp vốn cổ phần bằng đất; phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng trồng trọt và chăn nuôi tập trung, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gắn với hình thành các ngành nghề, làng nghề, hợp tác
xã, trang trại, tạo ra những sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao.” [2, Tr.88]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đã xác định:
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhằm đạt đến mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nâng cao trình độ sản xuất của nông dân ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới; xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững; xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.4 Kinh nghiệm thực tế về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.4.1 Kinh nghiệm nước ngoài
1.4.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là nước có nền nông nghiệp chiếm địa vị chi phối, dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Nông nghiệp Thái Lan trong hàng thập kỷ qua đã chứng tỏ vai trò quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm chất lượng cuộc sống cho người dân Chính phủ Thái Lan xác định hướng chiến lược là xây dựng nền nông nghiệp với chất lượng cao, có sức cạnh tranh mạnh
Qua thực tế quá trình xây dựng và phát triển nền nông nghiệp bền vững
ở Thái Lan có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu cả về lý luận và
Trang 20thực tiễn Đó là: Quá trình phát triển kinh tế đất nước phải toàn diện và trên quan điểm “nông thôn là xương sống của đất nước” Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thông qua các chính sách đòn bẩy như chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, thị trường, giá cả; chính sách thuế, chính sách khuyến nông,… Điển hình Chính phủ đã quan tâm đến việc ổn định giá vật tư – lương thực (mặc dù tự do hoá thị trường) thông qua việc thành lập uỷ ban về giá gạo, ngân hàng nông nghiệp và hợp tác xã có chương trình đặc biệt cho vay bằng hiện vật (vật tư giá rẻ) thế chấp bằng thóc, miễn thuế các mặt hàng do nông dân sản xuất và xuất khẩu Thực hiện đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, xây dựng sản phẩm chiến lược trên cơ sở ưu thế về tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu, trong đó vẫn đảm bảo ổn định sản xuất lương thực, bảo vệ tài nguyên theo hướng phát triển bền vững Đầu tư kịp thời và đi trước một bước so với các nước trong khu vực về công nghệ chế biến, bảo quản nông sản hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu, bảo đảm quyền lợi và tránh được rủi ro cho nông dân, giữ được chữ tín với khách hàng Ngoài đầu tư cho nông nghiệp và công nghiệp chế biến, Thái Lan còn quan tâm phát triển đồng bộ các ngành công nghiệp cơ khí, điện, giao thông, công nghệ sinh học và thị trường phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp Giáo dục và đào tạo cũng hướng vào nông nghiệp, nông thôn với các chương trình đào tạo phát triển kỹ năng cho nông dân và người quản lý đất đai, quản lý kinh doanh, bảo vệ môi trường và an toàn sức khỏe
Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp lớn và lâu đời nhất thế giới, đồng thời là một trong những chiếc nôi của nền nông nghiệp thế giới Do đó, nền nông nghiệp Trung Quốc đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thâm canh cổ truyền với một hệ thống công cụ sản xuất thủ công phong phú, đa dạng, tận dụng nguồn lao động dồi dào ở nông thôn, bảo đảm sản xuất nông nghiệp tự túc, tự cấp có hiệu quả cao Kể từ khi tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa đến nay, nền nông nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, phát triển theo hướng hiện đại hóa và bền vững Kinh tế nông nghiệp Trung Quốc đã có sự chuyển dịch cơ cấu tích cực nhằm tạo ra năng suất cây trồng, vật nuôi cũng như hiệu quả lao động cao, sản xuất nhiều nông sản hàng hóa Nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã có những bước thay đổi to lớn và đạt được những thành tựu đáng kể, đời sống nông dân được cải thiện từng bước, một bộ phận dân cư đã có đời sống khá giả
Trang 21Hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc Tổng kết kinh nghiệm 20 năm cải cách và phát triển kinh tế nông thôn, Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ rõ: Không có sự ổn định của nông thôn sẽ không có sự ổn định của
cả nước, không có sự sung túc của nông dân sẽ không có sự sung túc của nhân dân cả nước, không có hiện đại hóa nông nghiệp sẽ không có hiện đại hóa của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định rằng, hiện nay và trong một thời gian dài nữa, nông nghiệp Trung Quốc vẫn giữ vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế; hiện đại hóa nông nghiệp là một bộ phận trọng yếu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Qua hơn 20 năm cải cách nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền vững, Trung Quốc đã thu được những bài học kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn Đó là: Bảo đảm đầy đủ quyền tự chủ, phát huy tính tích cực của nông dân; phát triển nhiều loại sở hữu kinh tế, trong đó công hữu là chủ thể, thực hiện sở hữu tập thể đối với ruộng đất kinh doanh khoán gia đình, tách quyền sử dụng với quyền sở hữu; cải cách theo hướng thị trường, tạo ra sức sống mới cho kinh tế nông thôn; xây dựng địa vị chủ thể của trang trại trong kinh doanh tự chủ của các nông hộ, khuyến khích nông dân phát triển sản xuất hàng hóa hướng về thị trường; tôn trọng tinh thần sáng tạo của nông dân, thúc đẩy sự nghiệp cải cách, khoán chế độ trách nhiệm đến hộ gia đình và phát triển các xí nghiệp hương trấn; kiên trì đường lối căn bản “từ quần chúng mà ra, đi vào quần chúng”; coi trọng cao độ nông nghiệp, kết hợp cải cách nông thôn và cải cách thành thị,
1.4.2 Kinh nghiệm trong nước
1.4.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Tiền Giang
Tiền Giang là một tỉnh thuộc vùng đất giàu tiềm năng của Đồng bằng sông Cửu Long Nhờ có thế mạnh về vị trí địa lý, đất đai, lao động nên tỉnh có nhiều tiềm năng, triển vọng để phát triển sản xuất các mặt hàng nông sản có tỷ trọng hàng hóa cao như: lúa, gạo, cây ăn quả, rau màu thực phẩm, không những góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa mà còn là hàng hóa xuất khẩu quan trọng Những năm qua, thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của Tiền Giang theo hướng công nghiệp hóa, đã tạo ra một khối lượng hàng hoá lớn tham gia thị trường trong nước và nước ngoài
Qua thực tế của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Tiền Giang theo hướng công nghiệp hóa, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn Đó là: Hình thành vùng sản xuất hàng hóa với sản lượng lớn, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và góp phần xóa đói giảm
Trang 22nghèo bền vững ở vùng nông thôn Loại bỏ những giống xấu, cải tạo vườn tạp, cùng với thành lập các hợp tác xã dịch vụ cây ăn trái, hướng dẫn nông dân sản xuất an toàn theo hướng GAP; Để sản xuất đạt hiệu quả cao, tỉnh đã bố trí lại
cơ cấu sản xuất lúa gạo, cơ cấu mùa vụ theo hướng giảm dần diện tích đất lúa đối với những vùng bị áp lực của lũ lụt, mặn, phèn hàng năm, tăng chất lượng lương thực thông qua việc đưa các giống lúa mới chất lượng cao hoặc đặc sản vào sản xuất, áp dụng các mô hình luân canh, đa canh nhằm đạt được giá trị cao trên một đơn vị diện tích như canh tác 2 vụ lúa chất lượng cao, đặc sản hoặc 2 vụ lúa - một vụ màu, hình thành và đi vào thâm canh vùng lúa hàng hóa phục vụ xuất khẩu đồng thời giảm diện tích những nơi không hiệu quả, nhằm đảm bảo an ninh lương thực và tạo ra vùng sản xuất hàng hóa tập trung vối chất lượng cao, giá thành hạ, tăng hiệu quả trên đơn vị diện tích; Quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất phải bám sát quy hoạch và có sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát trên cơ sở quy hoạch lại sản xuất và có bước đi cụ thể, không tự phát, chuyển đổi cơ cấu sản xuất gằn liền với quy hoạch sử dụng đất, mỗi địa phương chỉ nên tập trung vào các loại sản phẩm đặc sản truyền thống có giá trị cao, có lợi thế cạnh tranh gắn sản xuất với xây dựng, quảng bá và khai thác thương hiệu
1.4.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Định
Bình Định là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, nằm sườn đông dãy Trường Sơn, địa hình hẹp và dốc; đất nông nghiệp phân tán, kém màu mỡ, trong khi đó, đây lại là vùng có thời tiết khắc nghiệt, mùa khô kéo dài, gây ra hạn hán; mùa mưa ngắn, lại thường xuất hiện bão, lũ gây ra tình trạng sa bồi, thủy phá nghiêm trọng, đó là những trở lực thường gây khó khăn lớn cho sản xuất nông nghiệp của địa phương Nhận thức được những khó khăn, thách thức đối với sản xuất nông nghiệp và nông thôn, quán triệt chủ trương của Trung ương về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, trong những năm qua, Bình Định đã có nhiều chủ trương, chương trình, dự án về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng, với mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa đa dạng, phù hợp với thực tiễn tình hình của địa phương
Qua thực tiễn của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Bình Định đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn Đó là: Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ như chuyển diện tích sản xuất lúa kém hiệu quả sang trồng cây khác hiệu quả hơn
và chuyển diện tích ở những vùng sản xuất 3 vụ lúa/năm kém hiệu quả sang sản xuất 2 vụ lúa/năm; mở rộng diện tích ngô, lạc, đậu tương, vừng và một số
Trang 23cây, con có điều kiện phát triển và thị trường tiêu thụ; Phát triển các vùng sản xuất tập trung, trang trại gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm; Đẩy mạnh công tác ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông, lâm nghiệp, nhất là trong khâu giống cây trồng, vật nuôi và kỹ thuật canh tác; Khảo nghiệm, tuyển chọn và sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất để tăng nhanh năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tăng cường ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp để giảm thất thoát và nâng cao hiệu quả sản xuất; Phát triển các
cơ sở công nghiệp chế biến nông, lâm sản theo từng vùng có tiềm năng nguyên liệu, khôi phục làng nghề truyền thống để giải quyết việc làm, nâng cao hiệu quả sản xuất và mức sống cho người dân ở nông thôn; Tranh thủ nguồn vốn đầu tư của Trung ương, vốn nước ngoài và huy động vốn địa phương đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu
tư cho thủy lợi, nước sinh hoạt nông thôn, điện, giao thông nông thôn,
1.5 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam gắn với thị trường và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng và của cả nước
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với thị trường là yêu cầu cần thiết đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước bởi những
lý do sau:
- Thứ nhất, xuất phát từ vai trò của nông nghiệp đối với đời sống kinh
tế xã hội của đất nước Trong điều kiện thế giới có nhiều biến động phức tạp,
ở hầu hết các nước trên thế giới đều quan tâm đến phát triển nông nghiệp vì đây là lĩnh vực rộng lớn, là nơi sản xuất lương thực, thực phẩm, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và hàng hoá xuất khẩu, là nguồn tích luỹ cho công nghiệp hoá, nguồn cung cấp nhân lực và là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho công nghiệp và dịch vụ Có thể nói sự phát triển của nông nghiệp gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nhân loại
- Thứ hai, từ thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta Trong những năm gần đây nông nghiệp nước ta đạt được những thành tựu nổi bật, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên kinh tế nông nghiệp vẫn còn những hạn chế:
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tuy có chuyển biến nhưng còn rất chậm, kinh tế nông nghiệp chưa thoát khỏi tình trạng độc canh cây lương thực, tự cấp
tự túc là chính, sản xuất hàng hoá phát triển chậm, năng suất đất đai, năng suất lao động, thu nhập và đời sống nông dân còn thấp Chất lượng và giá cả nông sản xuất khẩu thấp, thị trường tiêu thụ chưa ổn định
Trang 24Nhiều vấn đề xã hội ở nông thôn, nhất là đời sống của cư dân nông nghiệp đang đòi hỏi bức xúc phải giải quyết, trong đó nổi bật là khoảng cách
về thu nhập và đời sống giữa nông thôn và thành thị, giữa miền núi và miền xuôi, giữa người nghèo và người giàu đang có xu hướng mở rộng; lao động nông nghiệp dư thừa, thiếu việc làm, thu nhập của nông dân thấp, cuộc sống còn nhiều khó khăn,…
Việc bảo vệ môi trường sinh thái trong nông nghiệp còn nhiều hạn chế như diện tích rừng tiếp tục giảm, đất đai bị xói mòn, ô nhiễm môi trường do sử dụng nhiều hoá chất độc hại chưa giảm
Để khắc phục những hạn chế trên, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển thì yêu cầu cấp thiết là phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Thứ ba, từ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Đây là một nhiệm vụ trọng tâm trước mắt và lâu dài của Nhà nước ta nhằm xây dựng và phát triển nền nông nghiệp bền vững, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao, đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông nghiệp được nâng lên, đưa
bộ mặt nông thôn trở thành giàu đẹp, tiến bộ, văn minh hiện đại
- Thứ tư, từ yêu cầu đòi hỏi của thị trường trong nước và thế giới Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, do vậy để nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, đa dạng hoá sản phẩm và thích ứng với sự biến động của quan hệ cung cầu trên thị trường trong và ngoài nước đòi hỏi chúng
ta phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đáp ứng những nhu cầu của thị trường
Trang 25CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ TÂN CHÂU,
TỈNH AN GIANG
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tân Châu là một huyện biên giới thuộc tỉnh An Giang, điểm đầu nguồn của sông Mêkông khi chảy vào Việt Nam Phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp theo sông Tiền, phía Nam giáp huyện Phú Tân, phía Tây giáp thị xã Châu Đốc
và huyện An Phú theo sông Hậu, phía Bắc giáp quận Lecdec tỉnh Kandal vương quốc Campuchia
Ngày 21/06/2007, Tỉnh ủy An Giang ban hành nghị quyết số NQ/TU về việc xây dựng và phát triển thị xã Tân Châu đến năm 2010 Đến ngày 24/08/2009, thị xã Tân Châu chính thức được thành lập theo Nghị quyết
08-số 40/NQ-CP của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Tân Châu, An Phú và Phú Tân, trên cơ sở toàn bộ 17.568,46 ha diện tích tự nhiên với 12 xã, thị trấn hiện có Hiện nay, thị xã Tân Châu có 5 phường: Long Châu, Long Hưng, Long Phú, Long Sơn, Long Thạnh và 9 xã: Phú Lộc, Vĩnh Xương, Vĩnh Hòa, Tân Thạnh, Tân An, Long An, Châu Phong, Phú Vĩnh, Lê Chánh
Thị xã Tân Châu mang đặc trưng khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long, mỗi năm chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, hướng gió chính Đông Bắc; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, hướng gió chính Tây Nam
Nhiệt độ không khí: cao đều trong năm, nhiệt độ trung bình 26,70C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,80C (tháng 4), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất 24,90C (tháng 1)
Độ ẩm trung bình khoảng 79,3%/năm, độ ẩm trung bình tháng cao nhất 84% (tháng 8), độ ẩm trung bình tháng thấp nhất 74% (tháng 11)
Lượng mưa trung bình khoảng 83,44 mm/năm, lượng mưa trung bình tháng cao nhất 183mm (tháng 10), lượng mưa trung bình tháng thấp nhất 0
mm (tháng 2)
Tổng số giờ nắng trong năm đạt 2504 giờ, mùa khô chiếm 50-60% số giờ nắng năm, giờ nắng trung bình cao nhất ngày 9,2 giờ; giờ nắng trung bình thấp nhất 5 giờ
Mỗi năm có 2 mùa gió chính: Mùa khô: gió Tây-Nam hoặc Nam, mùa mưa: gió Đông-Bắc, tốc độ gió trung bình 8m/s, lớn nhất 25m/s
Trang 26Tây-Tây-Đặc điểm địa chất: Có 17.568,46 ha diện tích tự nhiên Trong đó, đất phù sa chiếm diện tích lớn Ngoài ra, còn có đất cát pha, đất sét pha
Hệ thống sông ngòi và kênh rạch: gồm có sông Tiền là con sông chính
và các kênh chủ yếu là kênh thủy lợi nối từ sông Tiền sang sông Hậu hoặc kênh nội đồng phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng như kênh Xáng, kênh Xép Cỏ Găng, kênh Vĩnh An, kênh Thầy Cai, kênh Ranh, kênh Đào, kênh Đức Ông, kênh Thần Nông, kênh Năm xã, kênh 26 tháng 03, kênh KM2,
Chế độ thủy văn của sông ngòi, kênh mương tại Tân Châu chịu tác động trực tiếp của dòng chảy lũ thượng nguồn, chế độ triều Biển Đông cùng chế độ mưa vùng đồng bằng do vậy diễn biến rất phức tạp Về mùa lũ, lưu lượng trên sông Tiền lớn hơn rất nhiều so với trên sông Hậu, sau đó nhờ có sự điều chỉnh của sông Vàm Nao nên dòng chảy của 2 sông được điều hòa hơn với tỷ lệ 51% và 49% Hàng năm lũ sông Mêkông chảy về gây ngập lụt đồng ruộng và các vùng ven sông Đây là khu vực ngập sâu nhất trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thông thường lũ bắt đầu từ cuối tháng 7 và kết thúc vào cuối tháng 11
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
Dân số là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế đất nước nói chung
và kinh tế thị xã Tân Châu nói riêng Dân số là lực lượng sản xuất xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp luôn cần nhiều lao động Mặt khác, dân số cũng là thị trường tiêu thụ rộng lớn, kích thích sản xuất Năm
2009, dân số thị xã Tân Châu là 166.823 người, trong đó, đại bộ phận người dân sống ở nông thôn Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 2,38% Toàn thị xã có khoảng 100.071 lao động, chiếm khoảng 60% tổng dân số
Với nguồn nhân lực dồi dào và tiềm năng, thế mạnh của địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 14,32%, riêng năm 2009 đạt 14,16% (giá thực tế 16%) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh ở khu vực thương mại – dịch vụ, từ 48,95% (năm 2005) lên 55,73% (năm 2009); khu vực nông nghiệp giảm từ 32,02% (năm 2005) xuống còn 27,24% (năm 2009); khu vực công nghiệp – xây dựng chỉ đạt 17,03% trên kế hoạch là 19% GDP bình quân đầu người đạt 19 triệu
112 nghìn đồng, tăng gấp 2,44 lần so với năm 2005 (7 triệu 814 nghìn đồng)
Trong cơ cấu kinh tế của thị xã thì khu vực thương mại – dịch vụ đạt mức tăng trưởng cao nhất, chiếm 55,73% GDP, tăng 6,66% so với năm 2005
Là một địa phương biên giới, đầu nguồn sông Tiền, Tân Châu đã trở thành địa bàn trung chuyển hàng hóa giữa các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long với vương quốc Campuchia Cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương là cửa khẩu lớn
Trang 27của tỉnh An Giang và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong 5 năm (2005- 2009) trên 2,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu chiếm 91,15%
Trong 5 năm đã xây dựng siêu thị Tân Châu và thêm 4 chợ xã, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa trong nhân dân Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân hàng năm 19,99% Các loại hình dịch vụ có mức tăng trưởng cao , nhất là dịch vụ tài chính – tín dụng, vận tải, nhà hàng – khách sạn,…
Giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm, thủy sản bình quân 4,63%/năm Thực hiện Nghị quyết Trung ương và Tỉnh ủy về “Nông nghiệp – nông dân – nông thôn” bước đầu đạt kết quả tốt; kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp được tập trung đầu tư, đảm bảo tiêu úng và vận chuyển nông sản
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng và giữ vững tính ổn định Giá trị tăng thêm của ngành bình quân 17,77%/năm, năm 2009 tăng gấp 2,67 lần so với năm 2005 Tổng vốn đầu tư phát triển tăng gấp 3,23 lần so với giai đoạn 2001 – 2005
Công tác quản lý, điều hành ngân sách từng bước phát huy hiệu quả, kịp thời chấn chỉnh những hạn chế trong điều hành, sử dụng ngân sách Tổng thu bình quân tăng 10,17% mỗi năm Các hoạt động tín dụng, ngân hàng tăng mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển
Bên cạnh sự phát triển về kinh tế thì tình hình văn hóa – xã hội cũng được quan tâm đầu tư và phát triển Giáo dục – đào tạo phát triển cả về chất lượng và quy mô trường lớp; công tác xã hội hóa có bước chuyển biến tích cực Tỷ lệ học sinh các cấp đến trường tăng so với giai đoạn 2001 – 2005 Hàng năm đều đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục Đầu tư xây dựng trung tâm dạy nghề, công tác dạy nghề và giáo dục thường xuyên tiếp tục phát triển
về số lượng và chất lượng Đến nay, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 35% (năm 2009)
Lễ hội kỷ niệm 250 năm – thành lập Tân Châu đạo vào năm 2007 là một sự kiện văn hóa lớn, được nhân dân phấn khởi và tự hào Hoạt động văn hóa, văn nghệ không ngừng phát triển; các lễ hội truyền thống, văn hóa dân gian, các trại sáng tác, dàn dựng biểu diễn chương trình mang lại hiệu quả tốt
Hệ thống đài truyền thanh phủ khắp địa bàn dân cư, đáp ứng công tác cổ động, tuyên truyền
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” có bước chuyển biến đáng kể Mô hình “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo” được phát huy mạnh
Trang 28Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia; kịp thời phòng chống dịch bệnh; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên được giảm xuống còn 1,145%; trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 19%; người tham gia bảo hiểm y tế đạt 42,5% Bệnh viện đa khoa giữ vững danh hiệu xuất sắc toàn diện, được Bộ y tế công nhận “Bệnh viện thân thiện, vì sức khỏe cộng đồng” Công tác phòng chống HIV/AIDS đạt hiệu quả tốt do nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, chăm sóc người bị nhiễm và điều trị dự phòng
Làm tốt công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với nước, vận động thực hiện quỹ đền ơn đáp nghĩa trên 2 tỷ đồng, cất mới 55 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa 128 căn Thực hiện tốt chính sách an sinh
xã hội, giúp nhiều hộ gia đình có cuộc sống ổn định Làm tốt công tác đào tạo
nghề, giải quyết việc làm cho 19.527 lao động; giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 3%,…
2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong giai đoạn 2005 – 2009
Chính phủ quyết định nâng cấp Tân Châu trở thành thị xã theo Nghị quyết số 40/NQ-CP ngày 24/8/2009 Nhưng ở phần này, tác giả chỉ đề cập đến huyện Tân Châu trước khi nâng cấp thành thị xã, tức là trước 01/10/2009
2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
Với mục tiêu đẩy nhanh tiến độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Đảng bộ và nhân dân huyện biết rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải được đặt trong công tác đổi mới về quản lý và tổ chức sản xuất trong nông nghiệp
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng dần theo các năm Năm 2005 là 769.505 triệu đồng, năm 2007 là 1.084.516 triệu đồng và đến năm 2009 là 1.829.101 triệu Tập trung vào 3 lĩnh vực chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản
- Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng lên nhanh chóng Năm 2005
là 579.163 triệu đồng, chiếm 75,26%, đến năm 2009 tăng lên là 1.511.444 triệu đồng, chiếm 82,63% Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng lên và tỷ trọng của ngành nông nghiệp cũng có xu hướng tăng lên Năm 2005 chiếm 75,26% tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản thì đến năm 2009 tăng lên là 82,63% giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản Giá trị sản xuất nông nghiệp bao gồm 3 giá trị là trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất ngành trồng trọt có xu hướng tăng Năm 2005 là 473.820 triệu đồng, chiếm 61,57% trong tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản, thì đến năm 2009 là 1.227.124 triệu đồng, chiếm 67,09% trong tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản
Trang 29+ Giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi ngày càng tăng theo các năm như: Năm 2005 đạt 41.345 triệu đồng chiếm 5,37%, đến năm 2009 tăng lên 112.770 triệu đồng chiếm 6,17% Việc tăng giá trị và cơ cấu ngành chăn nuôi trong tổng giá trị nông, lâm, thủy sản đang là hướng đi đúng và bước đầu đạt kết quả khả quan Cung cấp các sản phẩm dinh dưỡng có giá trị cao như ( thịt, trứng, sữa,…) đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của nhân dân Việc đổi mới
và phát triển mạnh mẽ ngành chăn nuôi sẽ là cơ sở để phát triển tổng thể trong
nông nghiệp
+ Giá trị của các hoạt động dịch vụ nông nghiệp đây là lĩnh vực mới vì
khi sản xuất nông nghiệp càng phát triển thì lĩnh vực này cũng phát triển theo Giá trị dịch vụ trong nông nghiệp tăng đều theo các năm Năm 2005 đạt 59.796 triệu đồng chiếm 7,77% trong tổng giá trị nông, lâm, thủy sản và đến năm 2009 là 167.000 triệu đồng chiếm 9,13% trong tổng giá trị nông, lâm, thủy sản
- Giá trị sản xuất của ngành thủy sản tăng nhanh theo các năm nhưng tỷ trọng trong cơ cấu nông, lâm, thủy sản thì giảm mạnh, năm 2005 đạt 184.153 triệu đồng chiếm 23,93% thì đến năm 2009 đạt 309.570 chiếm 16,92%
- Tỷ trọng cơ cấu sản xuất lâm nghiệp có xu hướng giảm đều theo các năm, năm 2005 đạt 6.190 triệu đồng chiếm 0,80% và đến năm 2009 là 8.087 triệu đồng chiếm 0,44% trong tổng cơ cấu nông, lâm, thủy sản
82,63
16,92 0,44
%
%
%
Biểu đồ 1 CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NÔNG, LÂM, THỦY SẢN
CỦA HUYỆN TÂN CHÂU