1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế tư nhân ở thành phố long xuyên, thực trạng và giải pháp

88 271 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 833,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của NEP là áp dụng chính sách thuế lương thực thay cho “chính sách cộng sản thời chiến”, khôi phục và phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp thông qua trao đổi hàng hóa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

# "

Trước tiên em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Lý Luận Chính Trị, Thư viện Trường Đại Học An Giang cùng với các ban ngành, công ty, doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Long Xuyên đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đối với sự hướng dẫn khoa học

và giúp đỡ tận tình của Thạc sĩ Trần Văn Hùng - Giảng viên chính môn Kinh tế chính trị - đã hướng dẫn và giúp đỡ để em hoàn thành khóa luận

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu quá ngắn

và trình độ của người nghiên cứu còn hạn chế nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy cô và bạn đọc để bài khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Long Xuyên ngày 03 tháng 05 năm 2010 Đào Thị Điệp

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC ii

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 4

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế tư nhân 5

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế tư nhân hiện nay 9

CHƯƠNG 2 22

2.1 Tình hình kinh tế - xã hội ở thành phố Long xuyên ảnh hưởng đến kinh tế tư nhân 22

Thứ nhất về Phát triển kinh tế: 23

Thứ hai về lĩnh vực văn hóa - xã hội: 24

2.2 Thực trạng hoạt động của kinh tế tư nhân về sản xuất, thương mại - dịch vụ ở TPLX 28

2.2.1 Trong lĩnh vực sản xuất 32

Thứ nhất : Quá trình thành lập và phát triển của công ty: 33

Thứ hai: Hoạt động sản xuất chính của công ty: 34

Thứ ba: Số lượng lao động, trình độ lao động và hoạt động của công đoàn: 34

Thứ tư: Cơ cấu tổ chức quản lý kinh doanh của công ty: 34

Thứ năm: Chức năng, nhiệm vụ của công ty: 37

Thứ sáu: Những thuận lợi và khó khăn 37

Thứ bảy: Định hướng phát triển của công ty: 38

2.2.2 Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ 42

Thứ nhất: Những thành tựu đạt được: 46

Thứ hai: Nguyên nhân những thành tựu 48

Thứ ba: Những hạn chế 49

Một là: phát triển còn mang tính chất tự phát 49

Thứ tư: Nguyên nhân của hạn chế 51

CHƯƠNG 3 53

3.1 Phương hướng 53

Thứ sáu: nâng cấp, mở rộng các tổ chức hiệp hội sản xuất KD 61

Thứ bảy: Mở rộng nâng cao năng lực sản xuất - hướng mạnh vào xuất khẩu 62

3.2 Giải pháp 63

Một là : Chính sách đất đai: 73

Hai là: Chính sách thuế, tài chính, tín dụng 74

Ba là: chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tư, chính sách kích cầu 75

Thứ sáu: Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 78

Thứ tám: Xã hội hóa dịch vụ tư vấn cho KTTN TPLX 81

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

1 kết luận 82

2 Kiến nghị 83

Trang 5

Tháng 02 năm 1976 Long Xuyên gồm các xã: Bình Đức, Mỹ Bình,

Mỹ Long và Mỹ Phước Ngày 01 tháng 03 năm 1977, theo quyết định số 239/TCUB của UBND tỉnh, thị xã Long Xuyên gồm 4 phường và 2 xã là: phường Bình Đức, Mỹ Bình, Mỹ Long, Mỹ Phước, xã Mỹ Hòa và Mỹ Thới với 13 khóm, 10 ấp Năm 1979 tiếp tục sáp nhập thêm phường Mỹ Xuyên và hai xã Mỹ Khánh và Mỹ Thạnh theo Quyết định 08/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng [15, tr.61- 62]

Từ sau khi giải phóng, dưới sự lãnh đạo của tỉnh Đảng bộ, cùng với UBND tỉnh, đã có những chủ trương, biện pháp phát triển KT-XH mang lại sự ổn định trong cuộc sống cho mọi người dân Trên cơ sở đó, nhân dân đã tích cực đầu tư phát triển kinh tế gia đình, xây dựng đời sống văn hóa mới, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, xã hội lên một bước đáng kể

Vì vậy, ngày 01 tháng 3 năm 1999, theo Nghị định 09/1999/NĐ.CP của chính phủ, TPLX, theo dạng đô thị loại III [15, tr.62]

Đó là thành quả của quá trình phấn đấu và nỗ lực của Đảng bộ và toàn dân trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội

Sau hơn mười năm phấn đấu và phát triển TPLX đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực: kinh tế phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng ở mức bình quân mỗi năm hơn 13%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng dịch vụ - thương mại chiếm hơn 70%, CN xây dựng chiếm 25% Đặc biệt ở lĩnh vực xây dựng đô thị,

đã có tiến bộ rõ nét, đô thị Long Xuyên phát triển rộng hơn với tốc độ đô thị hóa cao, kết cấu hạ tầng đô thị hoàn chỉnh, góp phần thay đổi diện mạo thành phố theo hướng văn minh, hiện đại Để ghi nhận và đánh dấu bước phát triển toàn diện của TPLX, ngày 14 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng chính phủ có Quyết định số 474/QĐ-TTg về việc công nhận TPLX, tỉnh An Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang Khẳng định vị thế TPLX là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học -kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của tỉnh An Giang vùng tứ giác Long

Trang 6

Xuyên Là một đô thị loại II, Long Xuyên sẽ phát huy hơn nữa vai trò trung tâm giao dịch với nước bạn Campuchia và các tỉnh trong khu vực TPLX từ lâu là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh

An Giang Góp phần quan trọng trong việc phát triển KT-XH của tỉnh nhà Tốc độ tăng trưởng kinh tế của TPLX tương đối cao, ổn định và cao hơn mức tăng chung của tỉnh An Giang, năm 2007 tốc độ tăng trưởng kinh tế của TPLX là 15,48% và dự kiến năm 2010 tăng 16% Đời sống của nhân dân TPLX hiện nay đã được cải thiện khá nhiều, số hộ nghèo năm 2007 giảm còn 4,22% (so với năm 2006 số hộ nghèo là 7,8%), số hộ dùng nước sạch được nâng lên 99,8%, số gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa chiếm khoảng 85% Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục và y tế cũng được nâng lên đáng kể Việc thực hiện phổ cập giáo dục phổ thông đạt hiệu quả cao, năm 2007 tỷ lệ học sinh phổ thông là 152 em/1000 người, chất lượng phục vụ y tế cho người dân cũng đã được cải thiện đáng kể Nhân dân TPLX, giàu truyền thống cách mạng, năng động, tích cực trong việc phát triển ngành nghề, năng động trong KD, mạnh dạn đầu tư

và có nhiều doanh nhân KD phát đạt là điều kiện thuận lợi cơ bản để KTTN phát triển Hiện nay KTTN ở TPLX ngày càng phát triển với tốc

độ cao và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của tỉnh nhà

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để KTTN TPLX phát triển đúng hướng, đúng mục tiêu và tăng trưởng bền vững Nhìn chung, nhiều năm qua việc nghiên cứu KTTN ở tỉnh An giang có nhiều công trình như:

“Thực trạng và giải pháp phát triển KTTN huyện chợ mới đến năm 2010” của T.S Trần Văn Hiển; “KTTN huyện Thoại Sơn - tỉnh An Giang thực trang và giải pháp” của Phan Thị Hồng Nga DH3CT…Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thành phần KTTN ở TPLX chưa có

Do vậy, “KTTN ở TPLX-Thực trạng và giải pháp”, là vấn đề

mang tính cấp thiết, cần phải được nghiên cứu cẩn trọng Đây là vấn đề vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn, nếu nghiên cứu thành công sẽ góp phần thúc đẩy CNH, HĐH của TPLX đạt tốc độ nhanh và bền vững

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm mục đích: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KTTN ở TPLX giai đoạn 2005-2010 Từ đó đề xuất ra một số giải pháp cần thiết phát triển KTTN của thành phố trong thời gian tới

Trang 7

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng hoạt động sản xuất - kinh doanh của KTTN ở TPLX

- Tìm ra những giải pháp nhằm phát triển khu vực kinh tế này trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, các hộ cá thể về hoạt động sản xuất KD, thương mại và dịch vụ dưới các loại hình: Lớn, vừa, nhỏ, trên địa bàn TPLX

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Các công ty, doanh nghiệp loại lớn, vừa, nhỏ ở TPLX

- Thời gian từ 2005-2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu Tôi sẽ sử dụng phép biện chứng duy vật, phương pháp phân tích và tổng hợp, sơ đồ hóa,…

5 Đóng góp của khóa luận

Nếu đề tài được nghiệm thu :

- Khóa luận có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các cấp ủy Đảng của thành phố trong việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách phát triển KT-XH ở TPLX

- Khóa luận cũng có thể là tài liệu tham khảo cho quí thầy cô, sinh viên trường Đại Học An Giang trong quá trình giảng dạy và học tập

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương

Chương 1: Một số quan điểm cơ bản trong việc phát triển kinh tế tư nhân

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về KTTN

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển KTTN hiện nay

Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Long Xuyên trong giai đoạn (2005 -2010)

Trang 8

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Long Xuyên

Trang 9

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế tư nhân

Chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất là một phạm trù kinh tế phản ánh

sự thống nhất biện chứng giữa sở hữu với tư cách là điều kiện của sản xuất (Pháp lý), với sở hữu được thực hiện về mặt kinh tế trong quá trình sản xuất Theo đó, chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất ra đời khi xã hội có giai cấp và có Nhà nước Từ chế độ sở hữu hình thành nên nhiều hình thức sở hữu khác nhau, tương ứng với mỗi hình thức sở hữu là một thành phần kinh tế Vì vậy, trong một nền kinh tế tất yếu tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có KTTN

KTTN là mô hình kinh tế ra đời, tồn tại và phát triển lâu dài trong những thời kỳ lịch sử của xã hội loài người Sở hữu tư nhân đã xuất hiện trong các nền kinh tế trước tư bản chủ nghĩa và trở nên phổ biến, phát triển dưới nhiều hình thức mới trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản - giai đoạn tự do cạnh tranh, với những dự báo của Mác - Ăngghen về chủ nghĩa cộng sản và sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản đã đòi hỏi cần có cách nhìn mới về sở hữu tư nhân Ở đây đặt ra vấn đề; sở hữu tư nhân còn tồn tại hay không trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản ?

Bản chất của chủ nghĩa tư bản là chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về các tư liệu sản xuất Ngược lại, là chế độ sở hữu công cộng về

tư liệu sản xuất trong chủ nghĩa xã hội Tuy vậy sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội và sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa tư bản không kéo theo sự biến mất của hình thức tư hữu trong thời kỳ quá độ Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng: Trong thời kỳ quá độ, không thể thủ tiêu hình thức tư hữu ngay lập tức được mà chỉ có thể thực hiện dần dần Điều này đã khẳng định sự tồn tại khách quan của hình thức tư hữu trong thời kỳ quá độ Bởi vì chỉ khi nào đã tạo được một lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hóa sản xuất thực tế với năng suất lao động rất cao thì khi đó mới có thể xóa bỏ tư hữu về tư liệu sản xuất khi đó, “ Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [4, tr.79]

Vì chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ra đời từ trong chế

độ chiếm hữu nô lệ và lần lượt chuyển tiếp qua nhiều phương thức sản xuất cho đến nay; mặt khác cùng với quá trình phát triển của chế độ sở hữu tư nhân thì phân công lao động xã hội ngày càng được củng cố và phát triển

Trang 10

Do vậy, KTTN là mô hình kinh tế ra đời, tồn tại và phát triển lâu dài trong những thời kỳ lịch sử của xã hội loài người

KTTN gắn chặt với sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa và ngược lại sự hình thành kinh tế hàng hóa phụ thuộc vào sự phát triển của nền KTTN

Trong bộ Tư bản, Mác đã phân tích rõ qui luật hình thành và phát triển của nền kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân và kết thúc quá trình nghiên cứu của mình Mác Khẳng định phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ diệt vong, việc ra đời phương thức sản xuất mới cộng sản chủ nghĩa là một hiển nhiên Từ xã hội nọ sang xã hội kia tất yếu phải trải qua một thời kỳ lịch sử nhất định Thời kỳ cải biến cách mạng - Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản

Sự tồn tại khách quan của hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, theo Mác lý giải thì đó là một xã hội mà về phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó lọt lòng ra Chủ nghĩa xã hội là xã hội thoát thai từ chủ nghĩa tư bản nên vẫn mang trên mình “ những vết tích” của xã hội cũ trong đó KTTN là một trong những vết tích đó mà chủ nghĩa xã hội không thể xóa ngay tức khắc được [8, tr.6]

Quá độ lên chủ nghĩa cộng sản là những bước đi phức tạp với sự đan xen, lẫn lộn giữa cái cũ và cái mới Vì thế trong thời kỳ quá độ khó tránh khỏi sự thiếu công bằng khi việc phân phối sản phẩm tiêu dùng theo số lượng và chất lượng lao động Bởi vì, nó mặc nhiên thừa nhận sự không ngang nhau về năng lực lao động của những người lao động Ở đây, cái quyền ngang nhau cũng là cái quyền tư sản tức là vẫn thừa nhận chế độ tư hữu trong khâu phân phối ở thời kỳ quá độ [8, tr.6]

Những luận điểm của Mác - Ăngghen về vai trò của giá trị và những quan hệ giá trị trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng đề cập đến vấn đề tư hữu Mác và Ăngghen dự báo rằng sẽ không còn tồn tại nền sản xuất hàng hóa trong xã hội cộng sản nhưng lại không phủ nhận sự tồn tại của những quan hệ giá trị trong thời kỳ quá độ Trong bộ

“Tư bản” Mác cho rằng: “….Sau khi xóa bỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng vẫn còn duy trì nền sản xuất xã hội, thì sự qui định giá trị vẫn sẽ có tác dụng chi phối, theo ý nghĩa là việc điều tiết thời gian lao động và phân phối lao động xã hội giữa những nhóm sản xuất khác nhau,

và cuối cùng việc ghi chép tất cả những khoản đó vào sổ kế toán sẽ trở thành quan trọng hơn bao giờ hết [8, tr.6]

Trang 11

Như vậy Mác và Ăngghen đều thừa nhận sự tồn tại khách quan của hình thức tư hữu trong thời kỳ quá độ Trên cơ sở đó Lênin đã phát triển thành lý luận về thành phần kinh tế, đặc biệt trong chính sách kinh tế mới (NEP) Nói về đặc trưng của thời kỳ quá độ, trong đó đặc biệt đề cập đến

sự quá độ của nền kinh tế, trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực” Lênin đã viết:…“danh từ quá độ có nghĩa là gì ? Vận dụng vào kinh tế,

có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những

bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không ? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có Song không phải mỗi người thừa nhận điều ấy đều suy nghĩ xem thành phần của kết cấu KT-XH khác nhau hiện

có là như thế nào ?”

Trước hết Lênin đã khẳng định tính tất yếu của sự tồn tại các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, trong đó bao gồm cả “những” thành phần lấy lại của tư bản chủ nghĩa và XHCN Song điều quan trọng mà Lênin muốn nhấn mạnh ở đây chính là sự phân định các thành phần kinh

tế và từ đó nhận thức được sự khác nhau về bản chất giữa các thành phần kinh tế này Theo Lênin mỗi một thành phần kinh tế phải được xem xét như một thành phần, một bộ phận, một “ mảnh” thống nhất biện chứng trong một kết cấu KT-XH Thực tế đã khẳng định điều này

Xét dưới gốc độ kinh tế, mỗi thành phần kinh tế đều có những đặc trưng riêng, vốn có đó là sự khác biệt về trình độ và tính chất xã hội hóa lao động, trình độ phát triển lực lượng sản xuất, hệ thống quan hệ sản xuất và các lợi ích kinh tế v.v…trong đó đặc biệt là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất Vì vậy, mặc dù trên thực tế các thành phần kinh tế không tách biệt nhau, quan hệ tác động lẫn nhau, đan kết với nhau trong các hình thức tổ chức kinh tế, các thành phần kinh tế vẫn không bị hòa tan,

mà giữ nguyên bản chất của nó Do đó muốn hay không muốn, giữa các thành phần kinh tế vẫn có sự phân định Sự phân định này hoàn toàn mang tính khách quan, do quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quy định

Từ sự phân định này quyết định khả năng phát triển, vị trí, vai trò của mỗi thành phần kinh tế trong nền KT-XH và cũng từ sự phân định này dẫn đến sự khác biệt về thái độ chính trị của mỗi giai cấp trong từng thành phần kinh tế, vì vậy việc phân định thành phần kinh tế trong thời

kỳ quá độ có ý nghĩa hết sức quan trọng Nó vừa mang tính khách quan

do những đặc trưng vốn có của mỗi thành phần kinh tế qui định, nhưng đồng thời là sự cần thiết mang tính chủ quan của giai cấp cầm quyền để quản lý và lãnh đạo xã hội hoạt động một cách hiệu quả trong thời kỳ

Trang 12

quá độ Ở đây không chỉ cần thiết dưới gốc độ kinh tế, mà đặc biệt dưới gốc độ chính trị, Lênin đã cho thấy rõ điều này [4, tr.164-165]

Theo Lênin các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ gồm có : 1) Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng Nghĩa là một bộ phận lớn có tính chất tự nhiên

2) Sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó đại đa số nông dân)

3) Chủ nghĩa tư bản tư nhân

4) Chủ nghĩa tư bản nhà nước

5) Chủ nghĩa xã hội

Nhận xét về các thành phần kinh tế này Lênin đã chỉ ra: “trong một nước tiểu nông thì tính tự phát tiểu tư sản chiếm ưu thế và không thể không chiếm ưu thế Số đông thậm chí là đại đa số nông dân đều là những người sản xuất hàng hóa nhỏ” cuộc đấu tranh hiện đang mở rộng chính là ở lĩnh vực đó…cuộc đấu tranh đó diễn ra giữa ai với ai ? có phải

là giữa thành phần thứ tư và thành phần thứ năm theo thứ tự mà tôi kể trên hay không ? đương nhiên là không Ở đây không phải là chủ nghĩa

tư bản Nhà nước đấu tranh với chủ nghĩa xã hội, mà là giai cấp tiểu tư sản cộng với chủ nghĩa tư bản tư nhân cùng nhau đấu tranh chống lại cả chủ nghĩa tư bản Nhà nước lẫn chủ nghĩa xã hội” [4, tr.165]

Thật vậy, trước bối cảnh nước Nga xô viết vừa mới ra đời còn non yếu, trước 14 nước tư bản bao vây, cấm vận, cộng thêm bọn bạch vệ bên trong thổi phồng lên cuộc nội chiến, buộc Lênin phải thực hiện chính sách cộng sản thời chiến, sau khi kết thúc chính sách này tỏ ra lỗi thời, tháng 3 năm 1921 Đảng cộng sản Nga thông qua chính sách kinh tế mới NEP do Lê nin khởi xướng

Nội dung của NEP là áp dụng chính sách thuế lương thực thay cho

“chính sách cộng sản thời chiến”, khôi phục và phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp thông qua trao đổi hàng hóa giữa CN và nông nghiệp phù hợp với yêu cầu của nông nghiệp, nông dân, đổi mới quá trình lưu thông hàng hóa và ổn định tiền tệ, củng cố nền tài chính Xô - viết…Mặt quan trọng của NEP là những phương pháp mới trong kinh doanh, trong tổ chức sản xuất và lao động Lênin chỉ ra rằng, tiến trình phát triển khách quan của cách mạng đã chứng minh tầm quan trọng sống còn của việc kết hợp những nhân tố kích thích về cả tinh thần và vật chất, vì vậy, việc áp dụng một chính sách kinh tế mới phù hợp với điều kiện khách quan mới là việc làm cấp thiết

NEP ra đời trên cơ sở xem xét toàn diện các nhân tố gây ra cuộc khủng hoảng, trong đó nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ bên trong, đó

Trang 13

là những sai lầm về lãnh đạo, quản lý mà trước hết và chủ yếu là trên lĩnh vực kinh tế Do đó, có thể thấy, NEP không chỉ là chính sách kinh tế

mà còn là đường lối chính trị đúng đắn và dũng cảm để Nhà nước Nga Xô-viết tháo gở khó khăn, điều hành sự phát triển KT-XH theo con đường XHCN Chỉ sau một thời gian ngắn thực hiện NEP, KT-XH nước Nga Xô - viết được cải thiện nhanh chóng Ngay trong năm 1921, vụ thuế lương thực đầu tiên đạt 90% (mặc dù bị hạn hán và nạn đói nghiêm trọng); Từ năm 1922 đến 1925, sản lượng lương thực tăng từ 56,3 triệu tấn lên 74,7 triệu tấn, nông nghiệp được phục hồi và phát triển, kéo theo

sự khôi phục của CN, thương nghiệp và giao thông vận tải, đời sống nhân dân lao động được cải thiện rõ rệt, tình hình chính trị - xã hội dần

được ổn định

Sự thành công của NEP ở nước Nga Xô Viết trong những năm đầu khôi phục, phát triển KT-XH theo con đường XHCN, đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu, có thể áp dụng cho những nước có hoàn cảnh, điều kiện KT-XH tương tự

Một là, xác định đúng vai trò quyết định của nông dân đối với thành công của sự nghiệp cách mạng XHCN, đặc biệt là đối với những nước có nền kinh tế tiểu nông, nông dân chiếm đại đa số trong dân cư

Hai là, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa CN và nông nghiệp, xây dựng liên minh công nông trên cơ sở cả chính trị và kinh tế

Ba là, con đường đi từ nền kinh tế nhiều thành phần đến nền kinh

tế xã hội chủ nghĩa phải qua những bước trung gian, những hình thức quá độ

Bốn là, đổi mới quản lý kinh tế theo hướng chuyển từ biện pháp hành chính thuần túy sang biện pháp kinh tế

Nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Lênin cùng với chính sách kinh

tế mới đã đưa nước Nga thoát khỏi cuộc khủng hoảng KT-XH, hàn gắn được vết thương chiến tranh, nhất là cuộc nội chiến (1918-1920) đưa nền kinh tế Nga phát triển vượt bậc Điều này khẳng định tính đúng đắn trong quan điểm của Lênin về hình thức tư hữu nói chung và KTTN nói riêng

Rất tiếc, sau khi Lê nin qua đời, NEP không được sử dụng, nền kinh tế Liên Xô chuyển sang mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế

tư nhân hiện nay

Mô hình KT-XH tập trung đã phát huy tác dụng tích cực trong giai đoạn đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, song dần dần đã bọc

lộ khuyết tật, hạn chế, yếu kém, là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khủng

Trang 14

hoảng toàn diện của hệ thống XHCN trên thế giới Trước tình hình này các Đảng cộng sản ở các nước XHCN buộc phải xem xét lại mô hình KT-XH đang áp dụng và đã nhận ra những khuyết tật của nó cùng những sai lầm trong công tác lãnh đạo, quản lý

Sự vận dụng NEP như thế nào, điều đó phụ thuộc vào sự nhận thức

và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước Đối với Việt Nam, mặc dù điều kiện, lịch sử không hoàn toàn giống nước Nga Xô viết, song có nét tương đồng: Nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, nông dân chiếm đại đa số trong dân cư,…Vì vậy, chính những bài học kinh nghiệm của NEP có thể được áp dụng linh hoạt với Việt Nam Nhận thức được vấn đề này, Đảng ta đã vận dụng một cách sáng tạo, tài tình NEP vào công cuộc đổi mới đất nước Trước hết có thể thấy rằng, Đảng ta đã đặt đúng vị trí vấn đề nông dân và kinh tế nông nghiệp “tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” [3, tr.26]

Là quan điểm chính trị nhất quán được thực hiện từ Đại hội V của Đảng đến nay

Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta cũng đã khẳng định: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu khách quan và chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần

Tuy nhiên trước Đại hội VI, do nôn nóng tiến thẳng lên chủ nghĩa

xã hội bằng con đường quá độ trực tiếp, nên trong quá trình triển khai đường lối phát triển kinh tế chúng ta đã vấp phải một sai lầm khi đặt KTTN vào vị trí là đối tượng cải tạo, nên xem nhẹ và có phần muốn xóa

bỏ thành phần kinh tế này chỉ đến Đại hội VI KTTN được Đảng ta chính thức thừa nhận cùng với quan điểm nhất quán phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN Quá trình đổi mới

và phát triển kinh tế của đất nước cũng là quá trình đổi mới tư duy lý luận - thực tiễn của Đảng về KTTN, từ chỗ còn dè dặt thận trọng, chỉ cho phát triển có giới hạn trong một số ngành lĩnh vực cụ thể, đến bảo đảm quyền tự do KD, khuyến khích tạo điều kiện để KTTN phát triển trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm Đó là một quá trình phát triển cả về tư duy lý luận và thực tiễn vận động, phát triển của KTTN gắn liền với chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện dân chủ hóa kinh tế và nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Thực hiện quan điểm này Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, xây

Trang 15

dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân, trong đó tiêu biểu là chỉ thị 100-CT/TW, Khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp; Nghị quyết 10-NQ/Tw của bộ chính trị khóa

VI về quản lý nông nghiệp và tiếp theo đó là Nghị quyết trung ương 6 khóa VI về chủ trương CNH, HĐH phải phục vụ cho nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn…

Vận dụng bài học kinh nghiệm NEP vào công cuộc đổi mới ở nước ta còn thể hiện ở đường lới phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,

đã được nhận thức từ đại hội VI của Đảng, và tư tưởng này được các kỳ Đại hội VII, VIII, IX và X của Đảng tiếp tục tái khẳng định, bổ sung và hoàn thiện với nhiều nội dung, biện pháp, chính sách mới như: giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, khuyến khích phát triển và định hướng thành phần KTTN theo quỹ đạo chủ nghĩa xã hội, sử dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…Trong quản lý kinh tế cương lĩnh của Đảng lại một lần nữa khẳng định tính chất lâu dài và vững chắc của đường lối của Đảng về phát triển kinh tế: “Xóa bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác”

Sự vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của NEP đã góp phần quan trọng vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước Trong hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng KT-XH, có

sự thay đổi cơ bản và toàn diện, kinh tế tăng trưởng nhanh; sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN đang được đẩy mạnh; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đang được củng cố và tăng cường; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng và an ninh được giữ vững

gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân” [1, tr.25]

KTTN là những đơn vị kinh tế được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sở hữu tư nhân có nhiều hình thức như: sở hữu của hộ gia đình, sở hữu của hộ tiểu chủ, trang trại và sở hữu của tư bản tư nhân…đây là khu vực kinh tế bao gồm các hộ KD cá thể, tiểu chủ và các loại hình doanh nghiệp như: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công

Trang 16

ty hợp doanh, công ty cổ phần phát triển trong các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp, CN-TTCN, thương mại - dịch vụ ở nông thôn và thành thị Kinh tế trang trại, kinh tế hộ nông dân cũng được đưa vào kinh KTTN, mặc dù có mang đặc điểm riêng của nó Việc đưa kinh tế hộ nông dân vào cùng với khu vực KTTN là để đảm bảo tính hệ thống của tổng thể kinh tế cá thể tiểu chủ ở cả thành thị và nông thôn, không có gì thay đổi về mặt chính trị của nông dân - quân chủ lực của cách mạng Khu vực kinh tế này đã và đang phát triển mạnh mẽ, thu hút được đông đảo tầng lớp dân cư tham gia và ngày càng chứng tỏ vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

Từ quan niệm trên, vị trí của KTTN cũng được Đảng và Nhà nước xác định : KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Đại hội VIII của Đảng khẳng định “ kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước, khuyến khích KTTN đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp và tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn theo pháp luật, có lợi quốc kế dân sinh”.[15, tr.5]

Quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta có tầm quan trọng đặc biệt, tạo điều kiện ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của KTTN trong sự nghiệp CNH, HĐH Văn kiện Đại hội IX, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX xác định: “ Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, CNH, HĐH, nâng cao năng lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế” [8, tr.8]

Đây là kết quả của quá trình phát triển KTTN trong thực tiễn, đồng thời cũng là quá trình nhận thức về KTTN và sự khẳng định vị trí, vai trò của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Đảng từ đổi mới đến nay Từ Đại hội IV đến Đại hội IX KTTN từ chỗ không được thừa nhận đến được thừa nhận; từ chỗ thừa nhận có mức giới hạn cả về qui mô lẫn thời gian đến sự mở rộng và lâu dài Từ chỗ được phát triển nhưng không được hỗ trợ giúp đỡ tiến tới được Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ, khuyến khích, cỗ vũ, tôn vinh Từ phân biệt đối xử trong chính sách, pháp luật dần chuyển sang quan hệ bình đẳng, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối

xử giữa các thành phần kinh tế

Trang 17

Sự khẳng định trên của Đảng cũng ngày càng được Nhà nước thể chế hóa, vị trí của KTTN được ghi trong Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt Nam (1992) và các luật như: Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân (1990) và có hiệu lực từ ngày 15 - 4 - 1991 và một số các luật khác Ngoài ra, Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản quan trọng như Nghị quyết 27 - HĐBT (9-3-1988) quy định về chính sách đối với KTTN, cá thể Nghị định 66-HĐBT (1992) đối với các cơ sở, kinh doanh dưới vốn pháp định Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 3-2-2000 của chính phủ hướng dẫn thi hành luật doanh nghiệp, quyết định 1253/QĐ-TTg ngày 19-12-1999 của Thủ Tướng chính phủ về bãi bỏ các giấy phép trái với qui định của luật doanh nghiệp (12-6-1999) một số luật, Nghị định, quyết định nêu trên là những cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định vị trí pháp lý của KTTN ở nước ta, quyền tự do KD và bảo hộ sở hữu tư nhân hợp pháp

Sự thừa nhận cả về mặt chính trị và pháp lý đã tạo cơ sở quan trọng cho thành phần KTTN phát huy hết vai trò của mình trên tất cả các lĩnh vực KT-XH, trở thành lực lượng quan trọng thúc đẩy sự phát triển toàn diện trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta Trước hết là khả năng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và sử dụng tối ưu các nguồn lực địa phương

Việc thành lập các hộ KD cá thể, các doanh nghiệp thuộc KTTN không đòi hỏi quá nhiều vốn, nhất là các doanh nghiệp quy mô nhỏ Cùng với sự khuyến khích của Nhà nước đã tạo cơ hội cho đông đảo dân

cư có thể tham gia đầu tư Mặt khác, trong quá trình hoạt động các loại hình doanh nghiệp tư nhân có thể dễ dàng huy động vốn vay từ quan hệ

họ hàng, bạn bè…Cho nên việc đẩy mạnh phát triển các loại hình doanh nghiệp tư nhân được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động các khoảng tiền đang phân tán, nằm im trong dân cư thành nguồn vốn đầu tư Do KD trên tài sản của mình nên các chủ cơ sở KD vừa phải thận trọng, vừa chớp thời cơ, không để mất cơ hội KD sao cho đồng vốn được luân chuyển và sinh lời nhiều nhất Điều này đã tạo cho KTTN có ưu thế rất rõ nét về sự năng động, nhạy bén cũng như việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn xã hội

Hòa cùng chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta, các địa phương lần lượt triển khai, cụ thể hóa thành những biện pháp phát triển kinh tế ở các địa phương, trong đó có An giang

Năm 2000 được xem là dấu mốc quan trọng với sự ra đời của luật doanh nghiệp mới (có hiệu lực từ 1/1/2000) đã tạo đà cho thành

Trang 18

phần KTTN có bước chuyển biến nổi bật Tính đến ngày 30/9/2009 đã cấp giấy chứng nhận đăng ký KD cho 724 doanh nghiệp (so với cùng

kỳ năm 2008, doanh nghiệp đăng ký tăng 245 doanh nghiệp; tỷ lệ tăng 51,15% ); tổng số vốn đăng ký KD 3.691 tỷ đồng (so với cùng kỳ năm

2008, tổng số vốn đăng ký tăng 60 tỷ đồng; tỷ lệ tăng 1,65%) Cấp thay đổi bổ sung 691 doanh nghiệp và 114 chi nhánh/VPĐD Bình quân vốn đăng ký KD của một doanh nghiệp gần 5,1 tỷ đồng Nâng tổng số doanh nghiệp có trên địa bàn tỉnh lên 4.865 doanh nghiệp, bao gồm: 2.191 doanh nghiệp tư nhân, 1.099 công ty TNHH hai thành viên trở lên, 397 công ty TNHH một thành viên, 141 công ty cổ phần và 1.037 chi nhánh/VPĐD Tổng số vốn đăng ký KD của 3.828 doanh nghiệp là 16.636 tỷ đồng

Quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta có tầm quan trọng đặc biệt, tạo điều kiện ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của KTTN trong sự nghiệp CNH, HĐH Kinh tế cá thể tiểu chủ xuất hiện và phát huy tác dụng ở thành thị lẫn nông thôn, cả trong CN-TTCN lẫn thương mại và dịch vụ Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa gắn với thị trường thì nó có vai trò quan trọng trước mắt cũng như lâu dài trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển Còn kinh tế tư bản tư nhân có vai trò quan trọng xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, về phát triển nền sản xuất hàng hóa, về giải quyết các vấn đề xã hội Vì vậy Đại hội VIII của Đảng khẳng định “kinh tế tư bản tư nhân có khả năng đóng góp phần xây dựng đất nước, khuyến khích KTTN đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp và tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn theo pháp luật, có lợi quốc kế dân sinh”.[15, tr.5]

Như vậy, về lý luận cũng như qua sự vận động thực tiễn hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh sức sống và vai trò to lớn của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội ở nước ta Nhưng để khẳng định và xem xét vai trò quan trọng của KTTN cần xem xét các hoạt động của nó trong nền kinh tế thị trường hiện nay trên một số nét chủ yếu sau:

Thứ nhất phải tăng vốn đầu tư xã hội để phát triển sản xuất KD

Để sản xuất, KD, mọi chủ thể đều phải đầu tư, mà trước hết là đầu

tư vốn tiền tệ Với sự khuyến khích của Nhà nước đã tạo cho KTTN tự

bỏ vốn và huy động mọi nguồn vốn trong dân để đầu tư KD Khi tiến hành các hoạt động đầu tư, do luôn phải chịu sức ép gay gắt của cạnh tranh, cho nên KTTN phải có khả năng phản ứng linh hoạt trước những

Trang 19

biến động để đối phó với những rủi ro Vì thế, đa phần là họ tự bỏ vốn,

tự tích lũy hoặc bằng việc tự huy động từ nhiều nguồn khác nhau Để đồng vốn trên luân chuyển sinh lời nhiều nhất, KTTN rất linh hoạt trong lựa chọn yêu cầu của khách hàng và “tín hiệu” của thị trường Do đó, KTTN luôn tăng đầu tư vốn trong quá trình phát triển sản xuất KD và góp phần vốn không nhỏ cho quá trình CNH, HĐH đất nước

Từ năm 2005 đến năm 2009, vốn đầu tư của KTTN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Vốn sử dụng, vốn đầu tư phát triển và vốn đăng ký KD đều tăng, năm 2009 vốn đăng ký

KD của doanh nghiệp tư nhân tăng rất nhanh, đạt 15,831 tỷ đồng gấp 5,5 lần so với năm 2005

Ở tỉnh An Giang, vốn đầu tư tư nhân chiếm tỷ lệ khoảng 35% so với tổng số vốn đầu tư trên địa bàn của tỉnh Nhiều hơn khoảng 10 lần so với đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, hơn 28 lần so với đầu tư FDI Thứ hai, đóng góp tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo

Chúng ta đều biết lao động là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của nền sản xuất xã hội Vì vậy, giải quyết việc làm không chỉ có ý nghĩa về mặt xã hội mà luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước, là một trong những điều kiện để đảm bảo tăng trưởng, phát triển kinh tế nhanh chóng, bền vững

Hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, điều quan trọng là phải sắp xếp lại nguồn lao động Theo Nghị quyết hội nghị trung ương 5 về KTTN, năm 2000, lao động trong khu vực KTTN chiếm tới 56,3% lao động có việc làm thường xuyên trong

cả nước Trong ngành phi nông nghiệp, trong 4 năm (1997-2000), đã thu hút thêm lao động có việc làm gấp 6,6 lần so với khu vực Nhà nước (=977.019 lao động) Ngành nông nghiệp, giải quyết việc làm chiếm tới 63,9% trong tổng số lao động nông nghiệp toàn quốc [15, tr.7]

Ở An Giang từ năm 2000 đến tháng 6/2004 KTTN đã góp phần gải quyết việc làm cho người lao động trên 40.000 người, trong đó các loại hình doanh nghiệp đã tạo việc làm cho trên 12.000 lao động, hộ KD

cá thể 30.000 lao động

Thực tế cho thấy KTTN không những đã góp phần rất lớn trong việc tạo ra nhiều việc làm cho người lao động mà còn cùng với Nhà nước thực hiện tốt vấn đề xóa đói giảm nghèo tại địa phương Những doanh nghiệp ở địa phương trước hết sẽ tạo ra việc làm; riêng những doanh nghiệp, cơ sở KD tập trung ở các thành phố lớn thu hút được đông đảo

Trang 20

lực lượng lao động ở nông thôn muốn chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp Nếu bình quân một doanh nghiệp tư nhân sử dụng 6 lao động, một công ty TNHH 31 lao động, một hộ KD cá thể 2 lao động thì với hàng trăm nghìn cơ sở tư nhân ở tỉnh đã giải quyết một áp lực lớn về việc làm cho người lao động, thực hiện xóa đói giảm nghèo có hiệu quả Mặt khác, KTTN còn từng bước tạo ra một lực lượng lao động giỏi Bởi vì muốn đứng được vững trong cạnh tranh, các doanh nghiệp tư nhân, cơ sở kinh doanh cá thể phải luôn có biện pháp tổ chức lao động, quản lý nhân sự hiệu quả nhất Do vậy kỷ luật lao động được thực hiện rất sát sao từ khâu tuyển chọn đến bố trí, sử dụng lao động sao cho thích hợp Bản thân người lao động cũng phải có ý thức tự nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần nâng cao sức cạnh trạnh cho doanh nghiệp Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Riêng ở TPLX, trong 2 năm (2007- 2008) KTTN đã giải quyết việc làm cho người lao động khoảng 15.932 người, trong đó các loại hình doanh nghiệp đã tạo việc làm cho khoảng 15.816 lao động Trong

đó doanh nghiệp tư nhân đã giải quyết việc làm cho 384 lao động, công

ra của cải vật chất nhưng là tác nhân quan trọng thúc đẩy các ngành sản xuất công nông nghiệp tăng trưởng Từ đó đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế và ngân sách Nhà nước

Năm 2000, cả nước có gần 9,8 triệu hộ KD cá thể và đến năm

2001 66.780 doanh nghiệp đăng ký KD với các loại hình doanh nghiêp

tư nhân chiếm 58,75%, công ty TNHH 38,68%, công ty cổ phần 2,25%, công ty hợp doanh 0,01% Chỉ trong vòng 2 năm từ tháng 1/2000 đến tháng 3/2002, cả nước có trên 42.000 doanh nghiệp và hơn 300.000 hộ

KD mới đăng ký, tương đương với số doanh nghiệp đăng ký trong 10 năm trước đó Năm 2000, GDP KTTN chiếm 42,3% GDP toàn quốc Trong đó các ngành phi nông nghiệp có mức đóng góp chiếm tỷ lệ khá cao bằng 63,6% khu vực KTTN, hay bằng 26,87% GDP toàn quốc, tăng 25,94% so với năm 1995, mức tăng bình quân 7%/năm Còn đối với các

Trang 21

ngành phi nông nghiệp, KTTN chiếm 15,4% GDP cả nước hay chiếm 62,3% GDP của nông nghiệp nói chung [15, tr.8]

Đến 2005 cả nước có 12.793.878 hộ KD cá thể Trong đó có 9.656.165 hộ nông nghiệp ngoài hợp tác xã, 3.137.713 hộ kinh doanh phi nông nghiệp

Thứ tư, KTTN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy cạnh tranh và làm lớn mạnh đội ngũ doanh nhân Việt Nam

Hiện nay, KTTN đã tham gia hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất KD Trong đó, nhiều lĩnh vực, ngành nghề KTTN chiếm tỷ trọng áp đảo như: sản xuất lương thực, thực phẩm, nuôi trồng thủy sản, hàng hóa, bán lẻ, thủ công mỹ nghệ, giày dép, dệt may…đã mang về hàng tỷ USD cho nền kinh tế Riêng năm 2005, KTTN đã đóng góp tới 48,5% kim ngạch xuất khẩu Chính sự phát triển phong phú đa dạng các

cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các hình thức KD…của khu vực KTTN

đã giúp cho các doanh nghiệp đững vững trên thị trường Qua đó thúc đẩy sự cạnh tranh gữa các khu vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN làm cho nền kinh tế càng trở nên năng động Bởi vì khi tham gia thị trường, các doanh nghiệp đều phải chịu tác động của quy luật cạnh tranh Cho nên cạnh tranh vừa là quy luật vừa là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển trong KD của KTTN Các doanh nghiệp phải không ngừng mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng hàng hóa để thích ứng với thị trường và nâng cao sức cạnh tranh

Sự phát triển của khu vực KTTN góp phần mở mang ngành nghề

và lưu thông hàng hóa Sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, đưa đến sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của từng địa phương và trên cả nước Với khả năng phát triển trên nhiều ngành nghề, sản phẩm, trong những năm gần đây KTTN có xu hướng phát triển mạnh trong những ngành CN, may mặc Những năm đầu đổi mới, KTTN chủ yếu đầu tư vào các ngành thương mại, dịch vụ chiếm hơn 70% tổng số vốn đầu tư của khu vực KTTN

Tham gia thị trường phải tuân thủ luật chơi, chịu tác động của quy luật cạnh tranh Cạnh tranh vốn là đặc tính của kinh tế thị trường, đồng thời cũng là yếu tố chi phối, điều tiết trực tiếp hoạt động của doanh nghiệp tư nhân Nói cách khác, cạnh tranh vừa là động lực vừa là nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển nói chung và sự vận động của KTTN nói riêng Vì vậy KTTN phải tận dụng ưu thế riêng có của mình để góp phần

mở rộng ngành, nghề sản xuất và khâu lưu thông hàng hóa, sản phẩm

Trang 22

ngày càng đa dạng, phong phú với sự cạnh tranh ngày càng cao Một số sản phẩm đã góp phần chặn đứng, đẩy lùi sự xâm nhập của hàng ngoại nhập Đã xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động tốt, tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường, sản phẩm hàng hóa được người tiêu dùng tín nhiệm KTTN đã góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN [15, tr.9]

Bên cạnh đó KTTN còn góp phần dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH đất nước Như vậy, các hộ KD cá thể, tiểu chủ hay các loại hình doanh nghiệp tư nhân đều có xu hướng đầu tư vào lĩnh vực thương mại - dịch vụ Nguyên nhân là do vốn đầu tư không lớn, vòng quay vốn nhanh, nhanh chóng thu hồi vốn, đảm bảo mục tiêu sinh lợi nhanh Xu hướng này không chỉ thể hiện qua số lượng, cơ cấu, các loại hình doanh nghiệp mà còn thể hiện qua cơ cấu vốn đầu tư, số lao động sử dụng, doanh thu nộp thuế…Sự tập trung của KTTN vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ…cũng góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân Từ đó đã kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng CN, thương mại, dịch vụ trong nền kinh tế

Nhờ đổi mới và phát triển khu vực KTTN, chúng ta từng bước hình thành được đội ngũ doanh nhân hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực, các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân, với số lượng ngày càng lớn, chất lượng ngày càng cao

KTTN trong tỉnh An Giang cũng đã tham gia xuất khẩu trực tiếp, chủ yếu là hàng thủy sản, lúa gạo và sản phẩm may mặc Trong hai năm gần đây kim ngạch xuất khẩu và sản lượng của KTTN chiếm khoảng 2/3 KTTN còn đóng góp vào phát triển du lịch của tỉnh chiếm tỷ lệ 93%, trong khi đó đóng góp của liên doanh nước ngoài chiếm tỷ lệ 2% và của doanh nghiệp Nhà nước là 5% Và đã hình thành một số gương tiêu biểu điển hình, nhân tố mới của KTTN tại địa phương như:

+ Công ty Nam Việt, tên viết tắt NAVIFISHCO Là đơn vị KTTN đầu tiên trong tỉnh đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thủy sản, bắt đầu hoạt động từ năm 2002 với tổng số vốn đầu tư ban đầu khoảng 50 tỷ đồng Đến nay tổng giá trị đầu tư của công ty hơn 500 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho hơn 2.500 lao động

+ Công ty TNHH may xuất khẩu Đức Thành, tên viết tắt DUCTHANH GARMENT IMPORT & EXPORT Co.Ltd Vốn đăng ký kinh doanh 4 tỷ đồng, hiện tổng giá trị đầu tư hơn 49 tỷ, giải quyết việc làm cho hơn 1.116 lao động

Trang 23

Từ sự phân tích trên cho thấy vai trò quan trọng ngày càng tăng của KTTN trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN Đặc biệt là trong các lĩnh vực tăng vốn đầu tư và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao, giải quyết việc làm và đào tạo nguồn lao động, tăng sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế v.v…KTTN thật sự trở thành yếu

tố năng động của nền kinh tế quốc dân và tồn tại lâu dài trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân và tồn tại lâu dài trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Do đó, Đảng, Nhà nước cần có một chiến lược để KTTN thật sự hòa nhập vào cộng đồng với tinh thần công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội trong tiến trình CNH, CNH đất nước

KTTN tồn tại khách quan và phát triển lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Nó vận động và biến đổi theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và chịu sự tác động của các quy luật thị trường và

sự quản lý của Nhà nước Những tác động này thúc đẩy KTTN vận động

và phát triển trên các hướng chủ yếu sau:

- KTTN phát triển đa dạng dưới nhiều hình thức và quy mô khác nhau, trong đó phần lớn sẽ hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ, một

bộ phận phát triển theo qui mô kinh tế gia đình và có thể là hộ kinh tế gia đình của nhiều thế hệ, một số ít có năng lực và có khả năng quản lý tốt,

có thể trở thành tư bản tư nhân và sẽ liên doanh với Nhà nước, hình thành kinh tế tư bản Nhà nước

- KTTN tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực sản xuất

KD ở cả thành thị và nông thôn với số lượng ngày càng tăng và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng vốn đầu tư toàn xã hội, tổng sản phẩm trong nước, kim ngạch xuất khẩu, góp phần tăng tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh, trở thành một khu vực kinh tế mạnh trong cơ cấu ngành kinh tế quốc dân, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân và xóa đói giảm nghèo

- Trong quá trình vận động và phát triển, tất yếu sẽ diễn ra sự liên kết, hợp tác giữa các đơn vị KTTN với nhau và với các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế khác hình thành các loại kinh tế đa dạng, hỗn hợp trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KTTN được Đại hội IX xác định: “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các thành phần kinh tế KD theo pháp luật

là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Trong

Trang 24

đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng với kinh

tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”; kinh tế tư bản tư nhân “được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, KD mà pháp luật không cấm”.[15, tr.11] Với quan điểm nhất quán về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN trong suốt thời kỳ quá độ Với chủ trương khuyến khích KTTN đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài, với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh Đảng và Nhà nước cần có chiến lược và chính sách phát triển KT-XH của đất nước

KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, CNH, HĐH, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế

Dựa trên tinh thần đó Đảng và Nhà nước ta đã tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN Đặc biệt xác định rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX)

Hội nghị Trung ương 5 có quan điểm chỉ đạo: Nhà nước tôn trọng

và đảm bảo quyền tự do KD theo pháp luật; tạo môi trường KD thuận lợi về chính sách, pháp lý và tâm lý xã hội để các doanh nghiệp tư nhân phát triển rộng rãi trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm, không hạn chế quy mô nhất là trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước Đảng và Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ lợi ích chính đáng của cả người lao động và người sử dụng lao động Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục các chủ doanh nghiệp nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và các hiệp hội đối với phát triển KTTN

Để cụ thể hóa các quan điểm của Đảng trong phát triển KTTN không thể không tăng cường sự quản lý của Nhà nước nhằm xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý và ban hành chính sách, cơ chế quản lý đối với các đơn vị sản xuất, KD; xây dựng quy hoạch và trợ giúp đào tạo cán bộ quản lý cho doanh nghiệp, giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, chế độ, chính sách Nhà nước của doanh nghiệp cũng như nắm chắc tình hình đăng ký KD và hoạt động của các cơ sở KD Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ, hướng dẫn, tạo điều kiện, để KTTN phát triển trong

Trang 25

mối quan hệ bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Việc hỗ trợ này cũng là để dẫn dắt thành phần KTTN phát triển theo định hướng XHCN Trong quá trình chỉ đạo, triển khai phát triển KTTN Tỉnh ủy An Giang có chỉ thị số 09-CT/TU AG ngày 24/7/2002, xác định KTTN giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh, góp phần rất lớn trong việc phát huy nội lực; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; giải quyết việc làm và là nguồn đóng góp chủ yếu cho ngân sách thành phố nói riêng cho ngân sách của tỉnh An Giang nói chung; góp phần quan trọng cho tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Các cấp, các ngành có trách nhiệm tạo điều kiện và giúp đỡ KTTN phát triển không hạn chế quy mô Nghiêm cấm mọi biểu hiện đối xử không bình đẳng, hoặc cản trở hoạt động hợp pháp của KTTN UBND tỉnh cũng ban hành các chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy phát triển KTTN như: chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư đối với một số lĩnh vực, ngành nghề trên địa bàn tỉnh; chính sách ưu đãi đầu tư đối với xây dựng khu dân cư và nhà ở đô thị; chính sách ưu đãi đầu tư vào các khu CN; khu kinh tế cửa khẩu; chính sách khen thưởng xuất khẩu; khen thưởng tổ chức, cá nhân có thành tích trong kêu gọi đầu tư

Bên cạnh đó trong báo cáo chính trị tại Đai hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII cũng đã đề cập đến vấn đề KTTN: “Chính sách ưu đãi đầu tư để KTTN phát triển”: có chính sách và sử dụng tốt các công cụ quản lý nhằm tạo môi trường thuận lợi cho KTTN phát triển, được bình đẳng, đúng pháp luật Áp dụng các chính sách ưu đãi đầu tư về vốn, tín dụng, thuế, thuê mướn đất đai,…cho các tổ chức, các ngành hàng xuất khẩu, giải quyết được nhiều lao động Bồi dưỡng nâng cao trình độ quản trị KD cho các nhà quản lý doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, dịch vụ tư nhân Cải tiến nhanh các thủ tục về đầu tư, quyền sử dụng đất, đăng ký

KD, cho vay, thuế…được thuận lợi Khuyến khích việc hợp tác đan xen các thành phần kinh tế thông qua hợp đồng với nhiều phương thức giữa người sản xuất - doanh nghiệp - ngân hàng, tạo sự gắn kết về lợi ích và liên đới trách nhiệm từ sản xuất, vay vốn, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm Qua đó khắc phục được tình trạng bất ổn định về nguyên liệu làm

ra khi thừa khi thiếu

Để phát huy vai trò KTTN, trước hết cần phải xóa bỏ hết định kiến giữa các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư bản tư nhân; phải nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò, xu hướng vận động và phát triển của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; nhất quán về quan điểm chỉ đạo và thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để

Trang 26

khu vực kinh tế này phát triển rộng rãi trong các ngành nghề ở cả thành thị và nông thôn với nhiều loại hình và qui mô khác nhau

Thống nhất theo quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò của KTTN trong nền kinh tế quốc dân, trong thời gian qua tỉnh An Giang nói chung và TPLX nói riêng luôn nhận thức đúng về vai trò của thành phần kinh tế này trong phát triển kinh tế của thành phố Điều này thể hiện rõ qua những chủ trương cụ thể của Đảng bộ tỉnh và TPLX trong việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để KTTN ngày càng phát triển, thực sự trở thành một động lực thúc đẩy KT-XH của TPLX

Từ sự phân tích trên cho thấy vai trò quan trọng ngày càng tăng của KTTN trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN Đặc biệt là trong các lĩnh vực tăng vốn đầu tư và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao, giải quyết việc làm và đào tạo nguồn lao động, tăng sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế v.v…KTTN thật sự trở thành yếu

tố năng động của nền kinh tế quốc dân và tồn tại lâu dài trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân và tồn tại lâu dài trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Do đó, Đảng, Nhà nước cần có một chiến lược để KTTN thật sự hòa nhập vào cộng đồng với tinh thần công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội trong tiến trình CNH, HĐH Qua đó, chứng tỏ KTTN đã và đang là thành phần kinh tế có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nước

ta Việc tìm ra phương hướng và giải pháp để KTTN phát triển đúng định hướng và góp phần đắc lực vào mục tiêu đân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là một việc làm của toàn xã hội, của các nhà nghiên cứu và của sinh viên sắp tốt nghiệp

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TRONG GIAI ĐOẠN 2005 -2010

2.1 Tình hình kinh tế - xã hội ở thành phố Long xuyên ảnh hưởng

đến kinh tế tư nhân

TPLX là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của tỉnh An Giang Thành phố nằm bên bờ sông hậu có diện tích tự

Trang 27

nhiên 106,87 km2, dân số 247,281 người, gồm 9 phường và 3 xã Tây Bắc giáp huyện Châu thành 12,446km, Đông Bắc giáp huyện Chợ Mới 18,128km, Đông Nam giáp huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) 13,15 km, Nam giáp huyện thốt nốt (Cần Thơ) 9,096km, Tây giáp huyện Thoại Sơn 10,054km Gồm 40 tuyến địa giới cấp xã dài 105,253km, trong đó 18 tuyến trùng với tuyến huyện và 4 tuyến trùng với tuyến tỉnh, được xác định bằng 36 mốc địa giới hành chính (2 mốc tỉnh, 20 mốc huyện và 14 mốc xã) [16, tr.61] Cùng với một hệ thống kênh gạch chằng chịt, khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai phì nhiêu màu mỡ và do nằm ở hữu ngạn sông Hậu thuộc vùng hạ lưu của hệ thống sông Mê Kông đã đưa TPLX trở thành một vùng đất giàu tiềm năng phát triển về nông nghiệp, CN - TTCN, thương mại - dịch vụ Đó là những điều kiện thuận lợi cho KTTN TPLX kế thừa, phát huy và phát triển

Nhân dân TPLX vốn ham học hỏi, giàu truyền thống cách mạng, tích cực trong việc mở mang ngành nghề, năng động trong KD mạnh dạn đầu tư và có nhiều doanh nhân KD phát đạt là điều kiện thuận lợi

cơ bản để KTTN phát triển Ngày 14 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 474/QĐ-TTg về việc công nhận TPLX,

tỉnh An Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang Khẳng định vị

thế TPLX là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của tỉnh An Giang Là một đô thị loại

II Long Xuyên sẽ phát huy hơn nữa vai trò trung tâm giao dịch với nước bạn Campuchia và các nước trong khu vực

Từ khi tỉnh khánh thành thành phố đến nay, với sự phấn đấu, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân thành phố đã vượt qua nhiều trở ngại, thách thức để đưa kinh tế thành phố phát triển khá ổn định, GDP tăng bình quân mỗi năm là 15,04%; khu vực Nông nghiệp đạt 0,14%, khu vực CN - Xây dựng 15,53%, khu vực Thương mại - Dịch

vụ 15,67%; thu nhập bình quân đầu người là 38 triệu đồng (năm 2010) (chỉ tiêu 37 Trđ) Cơ cấu kinh tế: khu vực Thương mại - Dịch vụ chiếm 71% (chỉ tiêu 70%), khu vực CN - Xây dựng 25,3% (chỉ tiêu 27%), khu vực Nông nghiệp 3,7% (chỉ tiêu 3%); môi trường đầu tư được quan tâm; đời sống của nhân dân ngày càng được nâng lên về nhiều mặt; lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, tổng vốn đầu tư xã hội 3.371 tỷ đồng (chỉ tiêu 1.533 tỷ đồng); an ninh quốc phòng được đảm bảo Kết quả đem lại rất khả quan, thể hiện trên nhiều lĩnh vực Cụ thể là:

Thứ nhất về Phát triển kinh tế:

Trang 28

- Nông nghiệp: So với năm 2005, diện tích gieo trồng hàng

năm giảm 120.8 ha; sản lượng lương thực đạt 71.093 tấn, giảm khoảng 2.000 tấn; tổng sản lượng thịt, thương phẩm đạt 1.645 tấn, tăng 14,6%/năm; sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 32.414 tấn, tăng 76% so năm 2005

- CN - TTCN: Giá trị sản xuất CN-TTCN ước đạt 6.358 tỷ đồng

(giá cố định năm 1994), tăng 121% so năm 2005; các ngân hàng chuyên doanh trên địa bàn giải ngân khoảng 8.000 tỷ đồng, tăng gần 1.000 tỷ; Nhiều cơ sở sản xuất đầu tư mở rộng cơ sở, nâng cấp các loại máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh (như dây chuyền đóng gói, đóng chai, công nghệ làm nước tương, nước mắm sạch ) giá trị gần 412 tỷ đồng Thành phố đã đưa vào sử dụng Cụm chế biến thủy sản Mỹ Quý; đang triển khai giải phóng mặt bằng cụm CN-TTCN và dân cư Tây Huề; phối hợp tỉnh công bố quy hoạch Khu CN Vàm Cống

- Thương mại - dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ

tiêu dùng xã hội ước đạt trên 12.333 tỷ đồng, tăng khoảng 150% so với năm 2005; hiện có 13.454 hộ cá thể đăng ký KD, tăng 2.343 cơ sở so với năm 2005; có 44 cơ sở lưu trú với 1.002 phòng, tăng 09 cơ sở so với năm 2005 Nhiều công trình phục vụ thương mại đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần tăng trưởng kinh tế như Siêu thị CoopMart, Trung tâm thương mại Nguyễn Huệ, chợ Long Xuyên, Xẻo Trôm, Mỹ Phước,

Mỹ Bình Đang thi công Trung tâm thương mại Mỹ Xuyên, chuẩn bị đầu tư chợ Cái Sắn Triển khai thực hiện dự án phát triển du lịch cộng đồng xã Mỹ Hòa Hưng, đã đưa vào hoạt động Trung tâm thông tin du lịch; lập dự án mở rộng công viên Mỹ Thới; kêu gọi đầu tư khu Du lịch bãi bồi Bình Đức

Thứ hai về lĩnh vực văn hóa - xã hội:

- Phát triển và nâng chất các mô hình văn hóa: Tính đến nay

thành phố đã công nhận 43.669 hộ Gia đình VH (85,62% dân số), 88 khóm ấp Tiên tiến (chiếm 96,7%), 49 cơ quan VH cấp thành phố (chiếm 96%), tỷ lệ trường học VH chiếm 92%; có 10 chợ TTVS và 1.456 hộ

KD văn minh; 1.383 gương Người tốt việc tốt; tỷ lệ người dân luyện tập TDTT chiếm 28,5% số thành phố (78.571 người) Toàn thành phố có 04 phường, xã có Nhà VH hoạt động gắn với Trung tâm học tập cộng đồng (Mỹ Thạnh, Mỹ Hòa, Mỹ Khánh, Mỹ Hòa Hưng) và 48 Câu lạc bộ văn hóa, với 645 hội viên

- Giáo dục - Đào tạo: Tỷ lệ học sinh tiểu học bỏ học là 1,3% (chỉ

Trang 29

tiêu <2%), THCS là 2,8% (chỉ tiêu <3%) Thành phố phối hợp tỉnh quy hoạch mạng lưới trường lớp; hoàn thành chương trình kiên cố hóa trường lớp với 20 trường học, tổng số vốn 45 tỷ đồng; xây dựng 14 trường đạt chuẩn Quốc gia, đạt 32%/tổng số trường trên địa bàn thành phố; giữ vững chuẩn chống mù chữ là 98,8%; phổ cập giáo dục mẫu giáo 5 tuổi đạt 96,8%; phổ cập tiểu học đúng độ tuổi 89%; phổ cập THCS 86,3%; ứng dụng CNTT vào quản lý giáo dục đạt 100% số trường; có hơn 30%

số giáo viên của 04 trường thực hiện soạn, giảng giáo án điện tử

- Y tế: Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,09% (chỉ tiêu 1,1%);

tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 17,2% (chỉ tiêu 18%); tỷ lệ phường, xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế là 92% (chỉ tiêu 100%) (12/13 phường, xã; còn Đông Xuyên); tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt 100% (chỉ tiêu 95%); chỉ tiêu về y tế đều đạt kế hoạch đề ra, trong đó: tỷ lệ sinh con lần thứ 3 chiếm 6%, tỷ lệ số cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai chiếm 85%, tỷ lệ trẻ em được cấp thẻ khám, chữa bệnh 96,5%

- Chính sách xã hội: Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,3% so với hộ dân

thành phố (890 hộ); công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm luôn đạt

và vượt kế hoạch đề ra, tổng số 13.691 lao động được đào tạo nghề (2.700 lao động/năm); có 38.507 lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh (7.700 lao động/năm)

Công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách được thực hiện thường xuyên, tổng kinh phí trên 401 tỷ đồng; thực hiện thu gom hơn 4.500 đối trượng lang thang, cơ nhở và nghiện ma túy; xét cho vay từ nguồn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm cho 236 dự án

- Thu - chi ngân sách: Ước thu ngân sách giai đoạn (2006-2010) là

1.324 tỷ đồng (chỉ tiêu 1.260 tỷ); ước chi ngân sách Nhà nước 1.119 tỷ đồng, trong đó chi đầu tư phát triển 342 tỷ đồng

Bên cạnh đó quy mô của nền kinh tế (quy mô GTGT tính theo giá hiện hành) tăng nhanh trong suốt giai đoạn 2000 - 2008 Năm 2000 đạt 1.807 tỷ đồng, chiếm 19,1% của tỉnh; tăng lên 4.232 tỷ đồng năm 2005, chiếm 22,7% của tỉnh và đạt 8.488 tỷ đồng năm 2008, chiếm 24,6% của tỉnh Dự báo GTGT năm 2010 là 10.818 tỷ đồng Như vậy, với 10% dân

số tạo ra gần 25% về giá trị kinh tế của tỉnh, cho thấy tầm quan trọng của kinh tế Long Xuyên trong tổng thể nền kinh tế tỉnh An Giang

Trang 30

QUY MÔ NỀN KINH TẾ

KD, hoạt động xuất khẩu nên tăng trưởng của năm 2009 ước 12,1% và phục hồi nhanh vào năm 2010 với tốc độ 15,7%

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TP.LONG XUYÊN 2000-2010

10.6

9.8

13.5

16.6 14.2 14.9

Trang 31

trục giao thương của vùng ĐBSCL với Phnompênh, Campuchia và các nước ASEAN để phát triển kinh tế dịch vụ

Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu GTGT của thành phố - chiếm 70,5% vào năm 2008 - và đóng góp đến 59,1% vào tăng trưởng kinh tế thành phố trong thời kỳ (2006-2010)

Tổng GTSX các ngành dịch vụ năm 2008 đạt 8.685 tỷ đồng, tăng 4.150 tỷ đồng so với năm 2005, chiếm 32,3% GTSX dịch vụ toàn tỉnh Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 608 triệu USD, chiếm 81,1% của toàn tỉnh An Giang Dự báo đến năm 2010, GTSX dịch vụ 12.115 tỷ đồng, tăng 7.580 tỷ đồng so với năm 2005 Kim ngạch xuất khẩu năm

2010 là 700 triệu USD [9, tr.18] Đây là một trong những lợi thế để các doanh nghiệp cũng như hộ cá thể tiểu chủ mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ

Ngoài ra, lực lượng lao động xã hội vốn là tiềm năng kinh tế của TPLX chưa được khai thác, với dân số trung bình của TPLX năm 2008

là 278,7 ngàn người, chiếm 12,38% dân số toàn tỉnh, tăng 8,7 ngàn người

so với năm 2005, bình quân mỗi năm tăng khoảng 3.000 người So với các huyện thị khác trong tỉnh An Giang, Long Xuyên đứng thứ hai về quy mô dân số, sau huyện Chợ Mới (369 ngàn người) nhưng đứng thứ nhất về mật độ dân cư, 2.418 người/km2, nhiều gấp 3,8 lần con số của tỉnh Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động năm 2008 là 181,8 ngàn người, chiếm 65,9% dân số, tăng khoảng 10.000 người so với năm 2005 Đây là nguồn nhân lực dồi dào để khu vực KTTN khai thác,

sử dụng có hiệu quả trong tất cả các ngành nghề, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao tốc độ phát triển KT-XH của thành phố nói chung của KTTN nói riêng

Mặc dù là đô thị loại II nhưng diện tích đất nông nghiệp còn chiếm

tỷ trọng lớn trong cơ cấu sử dụng đất năm 2008, chiếm 60,65% diện tích

tự nhiên Đây là điều kiện thuận lợi về quỹ đất để Long Xuyên thực hiện quá trình đô thị hóa, CNH, HĐH nền kinh tế trong thời kỳ quy hoạch, mà còn tạo thuận lợi cho nông nghiệp thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, nâng cao thu nhập cho nông dân và còn tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế cá thể tiểu chủ, các loại hình doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp

Những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đã tác động đến quá trình phát triển của KTTN TPLX, đem lại sự thay đổi đáng kể về KT-XH của thành phố đặc biệt là trong giai đoạn 2005 - 2010

Trang 32

2.2 Thực trạng hoạt động của kinh tế tư nhân về sản xuất, thương

mại - dịch vụ ở TPLX

Vốn là thành phố còn non trẻ nên tình hình hoạt động sản xuất của thành phố chủ yếu là hàng gia công may mặc, buôn bán nhỏ lẻ, sản xuất nông nghiệp, ngay từ sau khi đổi mới thì tình hình hoạt động sản xuất của thành phố cũng chỉ đơn điệu với sản xuất gia công buôn bán nhỏ lẻ rải rác trên toàn thành phố tập trung trong các ngành CN-TTCN, thương mại dịch vụ quy mô nhỏ dưới dạng hộ gia đình KTTN trên toàn thành phố nhìn chung phát triển chậm

Đến năm 2000 với sự ra đời của Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp đã nhanh chóng đi vào cuộc sống Trên cơ sở đó KTTN TPLX đã thật sự chuyển mình Thật vậy số lượng KTTN đã không ngừng tăng lên trong tất cả các loại hình Nếu năm 2006 các hộ đăng ký KD trong các ngành thương mại - dịch vụ là 14.664 cơ sở thì đến năm 2008 đã tăng lên 15.552 cơ sở

Tuy nhiên trong tổng số cơ sở KTTN của TPLX số lượng doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần vẫn chiếm số lượng không lớn lắm Đa số các doanh nghiệp hoạt động nhỏ lẻ dưới dạng hộ

cá thể Trong nền thị trường mang tính rủi ro cao nên các cơ sở vẫn chưa mạnh dạn đầu tư thành quy mô doanh nghiệp Mặt khác từ năm 2000 có một số chính sách Nhà nước chưa thật sự khuyến khích các doanh nghiệp như: thuế môn bài,…Bên cạnh đó việc quy định quá nhiều sổ sách, trong khi nghiệp vụ kế toán của doanh nghiệp không có đã làm cho các doanh nghiệp ngán ngại Vì vậy năm 2008 số doanh nghiệp trong toàn thành phố là 15.966 trong khi đó hộ kinh doanh cá thể là 15.552

Từ năm 2000 đến nay với sự phổ biến rộng rãi các chính sách khuyến khích kinh tế của Đảng và Nhà nước mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp, KTTN đã được phục hồi trở lại Hầu hết các loại hình KTTN kể cả hộ cá thể và các doanh nghiệp đều tăng lên về số lượng trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề Từ đó đã tạo đà cho sự phát triển kinh tế của toàn thành phố

Cùng với sự gia tăng về số lượng, loại hình KTTN, nguồn vốn đầu

tư sản xuất, giá trị sản xuất KD và mức thuế đóng góp vào ngân sách của thành phố cũng có xu thuế gia tăng kéo theo sự nâng cao toàn diện trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh của TPLX trong giai đoạn 2005 -

2010 Có được thành quả đó trước hết phải kể đến lợi ích từ các chính sách kinh tế mang lại cho thành phần kinh tế này

Trang 33

GTSX gia tăng trong các ngành nghề đã thúc đẩy xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong toàn TPLX Kinh tế TPLX từ năm 2005 đến nay không còn hoạt động sản xuất gia công nhỏ lẻ mà phát triển mạnh

mẽ ngày càng lớn dần tập trung vào các ngành CN-TTCN mũi nhọn hướng vào thị trường xuất khẩu như: may mặc, chế biến thủy sản,…nâng GTSX năm 2008 lên 3.900 tỷ đồng, tăng 50% so cùng kỳ Trong đó khu vực cá thể tăng gần 6%, khu vực doanh nghiệp tăng gần 60% Bên cạnh đó thương mại - dịch vụ cũng ngày càng được mở rộng : các trung tâm thương mại và chợ được cải tạo và nâng cấp như: chợ Mỹ Bình, Mỹ Phước; đang thi công khu Bách hóa công nghệ - chợ Long Xuyên, xúc tiến mời gọi đầu tư, cải tạo, nâng cấp chợ, cái sắn, Mỹ quý

Có 1.100 cơ sở thương mại - dịch vụ đăng ký KD với tổng số vốn đăng

ký ban đầu trên 70 tỷ đồng, thu hút 4.500 lao động tham gia Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng trên 27% so cùng kỳ Giá cả hàng hóa tăng bình quân khoảng 20% (cùng kỳ là 8,5%), trong đó tăng cao nhất là các nhóm hàng lương thực, thực phẩm, vật tư nông nghiệp

Trong những năm qua khu vực KTTN còn đóng góp đáng kể vào ngân sách của thành phố qua việc thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách

về thuế của Nhà nước như thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp Theo tình hình thu chi ngân sách Nhà nước TPLX tính đến năm 2006 tổng thu ngân sách thuế ngoài quốc doanh là 109.874 triệu đồng

Nhìn chung KTTN TPLX trong giai đoạn 2005-2010 có xu thế phát triển rõ nét cả về số lượng, cơ cấu lẫn quy mô, đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, huy động nguồn vốn đầu tư cho phát triển, tạo ra sản phẩm ngày càng tăng Tuy nhiên nó vẫn còn nhiều hạn chế như: quy mô nhỏ, vốn ít, trình độ quản lý, nguồn lao động còn yếu nên hiệu quả kinh tế chưa cao

KTTN TPLX phát triển gắn với quá trình đổi mới và phát triển KT -

XH của thành phố và phát triển mạnh từ khi có luật doanh nghiệp ra đời đến nay

Số lượng cơ sở KTTN tăng lên nhanh chóng với nhiều loại hình, nhưng phần lớn vẫn là cơ sở tiểu chủ, chủ yếu dùng vốn tự có để đầu tư sản xuất KD, quy mô nhỏ, sử dụng lao động gia đình là chính

Với vị trí địa lý tiếp giáp với nhiều huyện trong tỉnh và các tỉnh lân cận, TPLX có thuận lợi rất lớn để phát triển KTTN Đẩy mạnh kết hợp với sản xuất lúa - tôm hướng tới xuất khẩu và khai thác các tiềm năng

du lịch như: Du lịch sinh thái Mỹ Hòa Hưng, khu du lịch bãi bồi

Trang 34

phường Bình Đức Đây là những điều kiện để KTTN thành phố phát triển trên tất cả các ngành nghề: nông nghiệp, CN-TTCN, thương mại - dịch vụ, du lịch…

Sự phát triển các ngành nghề truyền thống đã thúc đẩy KTTN trong thành phố hình thành các cụm CN-TTCN trên địa bàn các phường, xã Trong đó cụm CN-TTCN Mỹ Quý, Vàm Cống nằm trên Quốc Lộ, và tỉnh lộ 943 được xem tuyến đường huyết mạch và là trung tâm đầu mối quan trọng tập trung hàng hóa để chuyển đến TP.HCM và các tỉnh lân cận

Dựa trên những đặc điểm KT-XH sẵn có cho thấy TPLX có tiềm năng rất lớn để phát triển KTTN Bên cạnh đó những năm qua được sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng và Nhà nước trong các chính sách kinh

tế, thành phần kinh tế này ngày có nhiều chiều hướng phát triển mạnh Luật doanh nghiệp ban hành và có hiệu lực năm 2000 là cơ sở pháp

lý quan trọng, tạo điều kiện cho KTTN phát triển Đặc biệt từ khi có Nghị quyết của Đảng về khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN

đã thổi một luồng sinh khí mới vào khu vực kinh tế này, thúc đẩy sự tăng lên về số lượng cơ sở, loại hình doanh nghiệp và ngành nghề, sản phẩm ngày càng thêm phong phú đa dạng

Tính đến năm 2008 số lượng KTTN trong toàn thành phố về thương mại - dịch vụ là 15.966 cơ sở, số doanh nghiệp tư nhân 217, công ty cổ phần - công ty TNHH 197, cá thể là 15.552 Điều này cho thấy tâm lý còn e dè trong hoạt động kinh tế của nhân dân Bởi vì họ chưa thật sự an tâm khi đầu tư vốn với quy mô lớn vào các loại hình doanh nghiệp, công

ty trong khi các chính sách thuế còn cao, còn phải nộp quá nhiều sổ sách…Đến năm 2002 với sự ra đời của Nghị quyết trung ương 5 và tạo điều kiện cho KTTN phát triển được phổ biến rộng rãi trong nhân dân đã tạo điều kiện cho các cơ sở, hộ cá thể mạnh dạn chuyển sang các loại hình doanh nghiệp

Ngành CN-TTCN theo số liệu thống kê, sản xuất CN trên địa bàn tăng trưởng rất cao trong giai đoạn 2005 - 2008 GTSX CN (tính theo giá so sánh 1994) năm 2008 đạt 7.427 tỷ đồng, gấp 2,63 lần so với năm 2005, bình quân mỗi năm tăng 38% Trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước năm 2008 đạt 901 tỷ đồng, tăng bình quân 18,5%/năm; khu vực kinh tế ngoài quốc doanh năm 2008 đạt 6.488 tỷ đồng, tăng 42,1%/năm, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài năm 2008 đạt 38,4 tỷ đồng, tăng 20,4%/năm Dự báo GTSX CN năm 2010 là 10.000 tỷ đồng, tăng bình quân 28,7%/năm thời kỳ

2006 - 2010

Trang 35

Sản xuất CN của tỉnh An Giang phần lớn nằm trên địa TPLX, với các ngành, sản phẩm quan trọng như: chế biến thủy sản đông lạnh, thực phẩm

và đồ uống, quần áo may sẵn, cơ khí - chế tạo máy, vật liệu xây dựng…GTSX CN trên địa bàn (tính theo giá hiện hành) năm 2008 là 12.183 tỷ đồng, tăng gần 8.000 tỷ đồng so với năm 2005 Một số ngành, sản phẩm CN chiếm tỷ trọng cao trong tỉnh như: chế biến thực phẩm và đồ uống từ 50 - 60% GTSX; thủy sản đông lạnh từ 85 - 90% sản lượng

Phân theo thành phần kinh tế: năm 2008 khu vực kinh tế trong nước chiếm đến 99% GTSX CN trên địa bàn thành phố; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 1% (năm 2008 là 0,8%, tỷ lệ này của tỉnh An Giang là 0,5%) Cho thấy khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực CN trên địa bàn thành phố nói riêng và cả tỉnh An Giang nói chung còn rất hạn chế

Năm 2008 trên địa bàn có 1.901 cơ sở sản xuất CN các loại, trong

đó thành phố quản lý 1.893 cơ sở (loại hình cá thể có 1.808 cơ sở, chiếm 96%; doanh nghiệp có 85 cơ sở, chiếm 4%) Các cơ sở sản xuất CN-TTCN phân bố rộng khắp trên các phường, xã của thành phố; các phường có nhiều cơ sở nhất là Mỹ Hòa (228 cơ sở), Mỹ Phước (208 cơ sở), Bình Đức (199 cơ sở), Mỹ Long (176 cơ sở), ít nhất là phường Đông Xuyên (30 cơ sở)

Tổng số lao động CN-TTCN trên địa bàn năm 2008 là 27.002 người, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước là 5.605 lao động, chiếm 20,8%, khu vực kinh tế khác là 21.323 lao động, chiếm 79,2% Các cơ sở

CN cá thể thu hút 5.391 lao động, chiếm 25,3% tổng lao động CN trên địa bàn; các doanh nghiệp CN thu hút 15.932 lao động, chiếm 74,7% Bình quân có 3 lao động trên một cơ sở sản xuất cá thể, có 187 lao động/doanh nghiệp CN (riêng loại hình công ty TNHH hay cổ phần là

286 lao động/doanh nghiệp)

Lao động trong ngành CN tăng khá nhanh trong thời kỳ 2001-2005,

từ 12.395 lao động năm 2000 lên 24.173 lao động năm 2005 và tăng chậm lại trong thời kỳ 2006-2008, chỉ đạt 3,8%/năm so với 14,3%/năm thời kỳ 2001-2005 Những ngành thu hút nhiều lao động là ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống (chủ yếu là chế biến thủy sản đông lạnh) với 13.887 lao động (năm 2008), chiếm 65,0%; ngành may mặc 3.615 lao động, chiếm 16,9%; ngành cơ khí 1.659 lao động, chiếm 7,8%

Bình quân GTSX/cơ sở tăng nhanh, từ 630 triệu đồng năm 2000 lên 6.409 triệu đồng năm 2008; trong đó, GTSX/doanh nghiệp CN năm

2008 là 136.835 triệu đồng (năm 2000 là 17.367 triệu đồng) Bên cạnh

Trang 36

đó theo số liệu thống kê của phòng tài chính TPLX KTTN trong ngành nông nghiệp chiếm 3% (2009), thương mại - dịch vụ là 15.966 (2008) Qua đó cho thấy sự thay đổi về số lượng cơ sở giữa các ngành theo hướng giảm dần trong nông nghiệp và tăng mạnh trong thương mại - dịch vụ là phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm

tỷ lệ trong nông nghiệp, tăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ, CN-TTCN, đồng thời còn tạo cơ sở vững chắc cho việc hình thành cơ cấu kinh tế mới trong quá trình CNH, HĐH của thành phố

Trong thương mại - dịch vụ, nơi có nhiều cơ sở nhất là phường Mỹ Long 3.446, Mỹ Xuyên 2.074, Mỹ Bình 1.793, xã có cơ sở ít nhất là xã

Mỹ Khánh 342, riêng phường Mỹ Quý có sự tăng vọt từ 550 (năm 2006) lến đến 717 (năm 2008) cơ sở Như vậy các phường Mỹ Long, Mỹ Xuyên, Mỹ Bình nơi tập trung đông dân cư sớm phát triển ngành nghề dịch vụ, có nghề truyền thống

KTTN TPLX sản xuất, KD nhiều loại sản phẩm hàng hóa và dịch

vụ Trong nông nghiệp, thủy sản có các sản phẩm lúa, rau đậu, cây lâu năm, nuôi cá Tra, cá Basa, nhiều tư nhân thực hiện KD tổng hợp, CN-TTCN tập trung chủ yếu là phát triển mạnh ở các ngành chế biến thủy sản, lương thực thực phẩm, may mặc, thêu rua xuất khẩu, sản xuất giấy, tập…cụ thể hóa ở các lĩnh vực sau:

2.2.1 Trong lĩnh vực sản xuất

Tiếp nối truyền thống tốt đẹp và quý báu của ông cha ta - một quê hương có bề dày lịch sử và giàu truyền thống cách mạng đấu tranh chống giặc ngoại xâm trong suốt quá trình mở đất và giữ đất, nhân dân TPLX ham học hỏi, giàu đức tính cần cù, năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất Những phẩm chất này vô cùng cần thiết để xây dựng đội ngũ doanh nhân có trình độ và năng động trong sản xuất KD thúc đẩy KTTN phát triển - và thực tế đã chứng minh trong thời gian qua KTTN

ở TPLX, với số lượng đội ngũ doanh nghiệp không cao chủ yếu hoạt động với nhiều quy mô khác nhau lớn, vừa, nhỏ trong các ngành sản xuất may mặc, chế biến thủy hải sản,…nhưng các doanh nghiệp lại tỏ ra rất năng động và nhạy bén với sự biến động chung của nền kinh tế thị trường cụ thể năm 2005 giá trị sản xuất CN-TTCN đạt 1.536.27 tỷ đồng (giá cố định 94), tăng 22,49% so với cùng kỳ; trong đó KTTN đạt 35,285 tỷ đồng, bằng 94% so với cùng kỳ; kinh tế hỗn hợp đạt 1.196.191 tỷ đồng, tăng 29,49%; kinh tế tập thể đạt 6,634 tỷ đồng, bằng 88,43% và kinh tế cá thể đạt 298,168 tỷ đồng, tăng 4,5% Phát triển mạnh ở các ngành nghề chế biến thủy sản, chế biến lương thực, thực

Trang 37

phẩm, may mặc, thêu rua xuất khẩu, sản xuất giấy, tập,…do chất lượng hàng hóa tốt có sức cạnh tranh trên thị trường

Ước giá trị sản xuất CN-TTCN 2007 đạt 3.133.642 triệu đồng, tăng 19,3% Trong đó : khu vực Nhà nước: ước 2.820.277 triệu đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ Có 110 cơ sở mới thành lập, tổng số vốn đầu tư ban đầu là 3.700 triệu đồng, thu hút được 500 lao động Bên cạnh

đó một số sản phẩm chủ yếu của các doanh nghiệp, hộ cá thể có sản lượng tăng so cùng kỳ như: Chế biến thủy sản 71.000 tấn, tăng 18,4%; gạo 152.000 tấn, tăng 27,8%; thức ăn cho gia súc, gia cầm và thủy sản 31.340 tấn, tăng 35,39%; nước mắm 320.000 lít, tăng 24,03%; quần áo may mặc 6.692.000 chiếc tăng 18,5%; nước uống đóng chai 4,5 triệu lít, tăng 13,45%; bia hơi 39,5 triệu lít, tăng 2,87% ,…

Qua đó cho chúng ta thấy được KTTN ở TPLX đã thật sự trưởng thành và dần lớn mạnh thể hiện được thế đứng và vị thế của mình trong nền kinh tế thị trường đầy biến động Một trong những công ty tư nhân

ăn nên làm ra trong thời gian qua ở TPLX là công ty TNHH may xuất

nhập khẩu Đức Thành, đây là một công ty tư nhân thuộc quy mô loại

lớn ở TPLX

* Công ty TNHH may xuất nhập khẩu Đức Thành:

Thứ nhất : Quá trình thành lập và phát triển của công ty:

Công ty TNHH may xuất nhập khẩu Đức Thành tên tiếng anh là

DucThanh Garmen Import & Export Co.Ltd Trụ sở của công ty được đặt trên: 18, Trần Hưng Đạo, phường Mỹ Thới, Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang số điện thoại 0763.835812, Fax: 0763.833380, Email: ducthanhagg@hcm.vnn.vn

Công ty được thành lập theo quyết định số 5202000069 của UBND tỉnh An Giang cấp ngày 09/07/2001 với vốn điều lệ ban đầu là 2

tỷ đồng và công nhân lao động hơn 200 người, tổng diện tích công ty là 12.640 m2, diện tích văn phòng làm việc là 1200 m2, có 5.120 xưởng sản xuất và bao gồm các công trình phụ như: nhà xe, căn tin, công viên, đường nội bộ: 6320 m2, kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty là 18 triệu USD, doanh số đạt khoảng 119,7 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế là 29,2 tỷ đồng Ngay từ những ngày thành lập công ty đã gặp không ít khó khăn về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, thông tin ngành, sự hỗ trợ của cơ quan ban ngành ở địa phương…về vị trí địa lý công ty

TNHH may xuất nhập khẩu Đức Thành nằm cách xa trung tâm kinh tế

TPHCM (Trung tâm CN may lớn nhất của cả nước), công tác vận chuyển hàng hóa tốn kém, nhiều thời gian, chi phí, những yêu cầu cao

Trang 38

trong may mặc, quy cách trong bao bì đóng gói, thông tin về thị trường còn mới mẽ chưa được cập nhật đầy đủ Nhưng với sự nhất trí sự đồng lòng và nổ lực của toàn công ty, sau hơn một năm củng cố hoạt động công ty đã từng bước đi vào ổn định và phát triển, mở rộng thêm nhà xưởng, nâng tổng số cán bộ, công nhân lên khoảng 700 người và số công nhân của công ty hiện nay 1.116 người

Năm 2006 công ty mở rộng và cất mới thêm nhiều nhà phân xưởng giải quyết việc làm cho hơn 1.300 lao động Hiện nay vốn điều lệ của công ty lên đến 49 tỷ đồng

Thứ hai: Hoạt động sản xuất chính của công ty:

Lĩnh vực sản xuất chính: May gia công xuất khẩu quần áo bệnh viện và quần áo học sinh Thị trường mua nguyên liệu: Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam; thị trường tiêu thụ : Mỹ

Thứ ba: Số lượng lao động, trình độ lao động và hoạt động của công đoàn:

- Nhân viên văn phòng: 11 người, công nhân: 1.116 người

- Trình độ lao động :

+ Nhân viên văn phòng: Số nhân viên có bằng Đại học là 60%, trình độ trung cấp và cao đẳng là 40%

+ Công ty có 80% lao động trực tiếp sản xuất

- Hoạt động của công đoàn:

Công đoàn đi vào hoạt động chính thức là vào năm 2003 với số lượng đoàn viên là 343 đoàn viên, ban chấp hành là 10 đoàn viên đã tích cực đề ra những giải pháp góp phần đưa công ty đi lên, theo dõi các chế độ, chính sách lao động quan tâm đến đời sống, sức khỏe chính sách xã hội…của công nhân

Thứ tư: Cơ cấu tổ chức quản lý kinh doanh của công ty:

- Tổ chức quản lý của công ty:

Công ty TNHH may xuất nhập khẩu Đức Thành là một công ty

lớn về quy mô KD với đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ tay nghề cao, nhiều kinh nghiệm và cơ sở vật chất kỹ thuật không ngừng được cải tiến đã làm cho công việc tổ chức của công ty ngày càng hoàn thiện và ổn định hơn

Cơ cấu tổ chức của công ty theo mô hình trực tuyến chức năng Các phòng ban phân xưởng, chi nhánh được quyền chủ động trong phạm

vi chức năng mà bộ phận đó đảm nhiệm để đảm bảo công việc được tiến hành thuận lợi, dễ kiểm soát trong quá trình thực hiện Đối với các tổ sản

Trang 39

xuất thì Ban giám đốc tạo điều kiện cho việc chủ động làm việc khuyến khích sự sáng tạo của công nhân và không ngừng nâng cao tay nghề

Sơ đồ tổ chức của công ty:

TRƯỞNG PHÒNG XNK

TRƯỞNG PHÒNG

KẾ HOẠCH

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN

CƠ ĐIỆN

BAN XUẤT KHẨU

QUẢN ĐỐC

XƯỜNG

TỔ MAY

BAN NHẬP KHẨU

PHÒNG

Y TẾ

BẢO VỆ

CN THÔNG TIN DỊCH VỤ

TỔNG KHO

KẾ TOÁN LƯƠNG

KẾ TOÁN TỔNG HỢP

TỔ CÁT

QUẢNG CÁO

KỸ THUẬT

THU CHI

Trang 40

- Chức năng của từng bộ phận:

+ Hội đồng thành viên: Đứng đầu là chủ tịch hội đồng thành viên,

là người lãnh đạo cao nhất trong công ty, là người vạch ra chiến lược KD

và chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động của công ty

+ Giám đốc: Là người lãnh đạo điều hành công việc và là người đại diện pháp lý, chịu trách nhiệm trực tiếp về mọi mặt hoạt động của công ty

+ Tổ chức hành chính: là được Giám đốc ủy quyền về vấn đề cơ cấu tổ chức hoạt động của công ty cũng như trách nhiệm tuyển công nhân viên và sắp xếp công nhân nhân viên một cách hợp lý và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về các mặt công tác được Giám đốc ủy nhiệm, soạn thảo triển khai theo quy chế làm việc, lập dự thảo điều lệ hoạt động của công ty

+ Phòng kế hoạch kinh doanh: lập kế hoạch sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng, để có thể đạt tiêu chuẩn sản phẩm cao, bảo đảm uy tín của công ty

+ Phòng xuất nhập khẩu: Kiểm tra hàng hóa, điều động vận chuyển hàng hóa và các thủ tục xuất nhập khẩu

+ Phòng kế toán: Có nhiệm vụ giải quyết các mối quan hệ về tài chính hoàn thành trong quá trình luân chuyển như : Mối quan hệ Nhà nước, mối quan hệ với khách hàng, mối quan hệ tài chính trong nội bộ công ty, phân phối vốn hợp lý để sử dụng vốn hiệu quả, tiết kiệm Ngoài

ra bộ phận kế toán còn có chức năng sau:

* Tổ chức hạch toán các nghiệp vụ mua bán công nợ, thanh toán ngân sách Nhà nước, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng quỹ của công ty theo chế độ hiện hành, đồng thời phản ánh vào sổ sách kế toán kịp thời và chính xác

* Quản lý vốn, tài sản bằng cách theo dõi, phản ánh chính xác sự biến động của các đối tượng trên, quản lý và rà soát tài chính của công ty trên nguyên tắc tuân thủ các chỉ tiêu, quy định do Nhà nước ban hành Xây dựng tiền lương, tiền thưởng cho người lao động

+ Phòng phụ liệu: Có nhiệm vụ bảo quản xuất nhập nguyên phụ liệu theo yêu cầu công việc

+ Phòng y tế: Chăm sóc sức khỏe công nhân lao động và sơ cấp cứu tai nạn lao động

+ Phân xưởng sản xuất: Có nhiệm vụ lãnh đạo các tổ chức sản xuất, khuyến khích chủ động làm việc theo yêu cầu của Giám đốc đồng thời

Ngày đăng: 06/12/2015, 12:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tổ chức của công ty: - Kinh tế tư nhân ở thành phố long xuyên, thực trạng và giải pháp
Sơ đồ t ổ chức của công ty: (Trang 39)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w