- Cùng với sự phát triển của phong trào đấu tranh sục sôi của nhân dân, các tổchức vũ trang lần lượt được ra đời, đầu tiên là các đội Tự vệ đỏ trong phong trào Xôviết Nghệ Tĩnh 1930 – 1
Trang 1Trả lời
- Giữa thế kỷ 19, thực dânPháp đem quân sang xâm lược nước
ta Với ý trí khát vọng tự do và truyềnthống bất khuất, các cuộc khởi nghĩa
và nhiều phong trào yêu nước củanhân sỹ và nhân dân Khu 4 liên tiếp
nổ ra Tuy các cuộc khởi nghĩa lầnlượt bị thất bại do thiếu một đườnglối đúng đắn nhưng đã chứng minhtinh thần độc lập dân tộc và ý chíchống ngoại xâm của nhân dân ta
- Ngày 3 tháng 2 năm 1930,Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác địnhcon đường cách mạng Việt Nam là con đường bạo lực cách mạng và tất yếu phải tổchức ra lực lượng vũ trang cách mạng Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là
Xứ uỷ Trung kỳ, phong trào cách mạng của quần chúng đã diễn ra mạnh mẽ khắpcác tỉnh Khu 4
- Cùng với sự phát triển của phong trào đấu tranh sục sôi của nhân dân, các tổchức vũ trang lần lượt được ra đời, đầu tiên là các đội Tự vệ đỏ trong phong trào Xôviết Nghệ Tĩnh ( 1930 – 1931), với nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ các cuộc đấutranh của quần chúng công nông ( ở Nghệ An và Hà Tĩnh lúc này có 463 đội vớitổng số 15.428 hội viên) Lực lượng “ Tự vệ đỏ” là lực lượng vũ trang cách mạngđầu tiên, trở thành tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sau này
Trang 2- Trước sự lớn mạnh của Lực lượng vũ trang cách mạng, do yêu cầu bố trí thếtrận chung của cả nước Ngày 15-10-1945 Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh quyết định tổ chức các chiến khu trong toàn quốc và chiến Khu 4 được thànhlập, đồng chí Lê Thiết Hùng làm Khu trưởng; đồng chí Hồ Tùng Mậu, Chủ tịch Uỷban kháng chiến hành chính liên khu làm Chính trị viên cùng với Xứ uỷ Trung kỳthành lập Chiến khu 4 gồm 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Ngày 15-10 trở thành ngày truyền thống của LLVTQuân khu 4.
- Ngày 25-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh tổ chức các Liên khu;Chiến khu 4 đổi thành Liên khu 4
- Ngày 24-4-1955 Liên khu uỷ khu 4 bàn giao cho Liên khu uỷ khu 5 lãnhđạo, chỉ đạo 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế
- Ngày 3-6-1957 Chủ tịch Hồ Chí Minh Ký Sắc lệnh thành lập quân khu 4;tỉnh đội Thanh Hoá được điều về Quân khu Hữu Ngạn
- Ngày 6-4-1966 Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Quân khu TrịThiên
- Ngày 6-2-1976 Quân uỷ Trung ương, Bộ quốc phòng quyết định hợp nhấtQuân khu 4 và Quân khu Trị Thiên thành Quân khu 4
- Ngày 18-4-1976 Tỉnh đội Thanh Hoá được điều chuyển trở lại Quân khu 4
* Ngày 15/10/1945 trở thành ngày truyền thống của LLVT Quân khu
Trang 3Trả lời
Quân khu 4 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam là 1 trong 8 quân khu hiệnnay của Quân đội Nhân dân Việt Nam Địa bàn Quân khu 4 có vị trí hết sức quantrọng Từ xa xưa đây đã từng là chốn "biên thùy", là "phên dậu", là nơi xuất phátcủa nhiều cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giữ nước của dân tộc Qua hai cuộckháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mảnh đất Khu 4 vừa là tiềntuyến, vừa là hậu phương vững chắc Quân và dân Khu 4 vừa hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ quốc gia, vừa làm tròn nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Lào, Cam-pu-chia
- Đây là một địa bàn hiểm yếu, kéo dài từ Tam Điệp nơi Hoàng đế QuangTrung đã hội quân để đánh thắng 20 vạn quân Thanh đến Hải Vân; địa thế dài vàhẹp dần về phía Nam, nơi hẹp nhất chỉ có 50 km, địa hình phức tạp, núi non hiểm
trở Cả 6 tỉnh đều có biên giới trên bộ vàbiển, với tổng chiều dài 1.227,8 kmđường biên giới trên bộ và 722 km
bờ biển Đây là địa bàn rất dễ chia cắtchiến lược trong các cuộc chiếntranh
Trong lịch sử dựng nước vàgiữ nước, nơi đây đã từng bị chia cắt,điển hình là 2 cuộc chia cắt lịch sử:Thời kỳ Trịnh- Nguyễn phân tranh,lấy sông Gianh làm giới tuyến; giaiđoạn 1954 - 1975 khi đế quốc Mỹxâm lược, đất nước tạm thời chia làm
2 miền và giới tuyến tạm thời là Vĩtuyến 17 Chính những yếu tố tự nhiênnày làm cho địa bàn Khu 4 qua
Trang 4các thời kỳ luôn là địa bàn chiến lược quan trọng hiểm yếu của cả nước.
- Từ xa xưa dải đất khu 4 đã từng được xem là phên dậu của các triều đạiphong kiến Việt Nam, là nơi phát tích của các cuộc khởi nghĩa, các phong trào cứunước của cha ông ta xưa khi tổ quốc bị rơi vào tay quân xâm lược Đây là dải đấtđịa linh nhân kiệt Thời nào, cũng có những anh hùng hào kiệt:
+Triệu Thị Trinh cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt chống quân Ngô thế kỷthứ 3, Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế) đánh quân Đường, Lê Lợi tụ nghĩa đánh giặcMinh…
+Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, các phong trào yêu nước đã diễn rasôi nổi, rộng khắp ở tất cả các địa phương trên địa bàn Quân khu, tiêu biểu như:Phong trào Đông Du của Cụ Phan Bội Châu, các cuộc khởi nghĩa của Lê Trực(Quảng Bình), Trần Tấn, Đặng Như Mai (Nghệ An), Đinh Công Tráng (Thanh
Hoá) và Phong trào Cần Vương của CụPhan Đình Phùng tại vùng núi HươngKhê/ Hà Tĩnh…
- Địa bàn khu 4 còn là nơi sinh ranhững danh nhân văn hoá nổi tiếng củadân tộc và thế giới: Đại thi hào Nguyên
Du, La sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Bàchúa thơ nôm Hồ xuân Hương…
- Đặc biệt nơi đây đã sinh ra nhiều lãnh
tụ tiền bối của cách mạng Việt Nam,trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh
tụ vĩ đại của dân tộc ta và Đảng ta, anhhùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới Tổng Bí thư đầu tiên củaĐảng Trần Phú Các tổng Bí thư Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Lê Khả Phiêu
- Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý đã tạo nên truyền thống yêu nước, căm thùgiặc sâu sắc và ý chí kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốccủa con người nơi đây Sau khi có Đảng lãnh đạo nó đã được nâng lên một tầm caomới, yêu nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc gắn liền với lýtưởng xây dựng một chế độ xã hội mới tươi đẹp, chế độ xã hội chủ nghĩa Địa bànQuân khu 4 trở thành một trong những cái nôi của cách mạng Việt Nam Nhân dân
Trang 5Câu 3: Nêu những chiến công tiêu biểu và sự hy sinh anh dũng ( số hy sinh, liệt sỹ, mẹ Việt Nam anh hùng ) của quân và dân khu 4 trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước?
Trả lời
a) Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Khu 4vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương; quân, dân Khu 4 vừa chiến đấu giỏi, vừa sảnxuất giỏi chi viện đắc lực sức người, sức của cho các chiến trường:
* Trong kháng chiếnchống thực dân Pháp:
- Trong những ngàyđầu kháng chiến, cácLLVT Khu 4 tuy còn nhiềukhó khăn nhưng đã giànhđược những thắng lợi quantrọng Nghệ An mở đầucuộc chiến lúc 23 giờ, bắtsống 34 quân Pháp tạiVinh, thu vũ khí trang bị.Thừa Thiên nổ súng tiếncông bao vây 750 lính Pháp tại Huế, sau 50 ngày đêm ta diệt hơn 200 tên
- Phối hợp với chiến trường Bắc Bộ, mặt trận Bình – Trị - Thiên đã mở 2chiến dịch: Chiến dịch Lê Lai từ 22/12/1949 đến 27/1/1950 và chiến dịch PhanĐình Phùng từ 15/6 đến 24/10/1950 Cả 2 chiến dịch đã phá thế phòng ngự liênhoàn, kiềm chế giam chân chủ lực địch và tiêu hao sinh lực địch, chặn đứng âmmưu tiến công của địch ra vùng tự do
- Trên chiến trường Bình – Trị Thiên, lực lượng vũ trang cùng các tầng lớpnhân dân đẩy mạnh tác chiến đáng bại các cuộc hành quân càn quét, bình định củađịch và đập tan mọi âm mưu, tập kích hòng làm suy yếu hậu phương của ta; cùng
Trang 6với bạn Lào giành thắng lợi lớn trong chiến dịch Thượng Lào tạo ra cục diện mớicho thắng lợi quyết định.
- Những đóng góp của quân và dân Liên khu 4 đã góp phần cùng với cảnước đập tan cứ điểm Điện Biên Phủ ( 7/5/1954), kết thúc thắng lợi cuộc khángchiến chống thực dân Pháp xâm lược
- Thành tích trong cuộc kháng chiến chống Pháp
+ Đánh 7.400 trận, tiêu diệt 69.800 tên địch, bắt 3.400 tên, ra hàng 4.500 tên.Thu 8.130 súng các loại; phá huỷ 366 xe cơ giới, 200 khẩu pháo và cối, 117 toa xelửa, bắn rơi 13 máy bay
+ Chi viện cho tiền tuyến: 134.700 thanh niên nhập ngũ, bổ sung đi cácchiến trường gần 100.000 lượt người, hơn 2 triệu lượt người đi dân công hoảtuyến, 120.000 lượt người đi mở đường chiến lược Cung cấp cho chiến trường870.000 tấn lương thực, thực phẩm, 900 tấn vũ khí do địa phương liên khu sảnxuất Làm 53.000 km đường chiến lược, 145 cầu, 30 km đường xe goòng
+ Tính đến ngày 11/11/1954 Liên khu 4 đã bảo đảm ăn nghỉ, sinh hoạt chohơn 3.000 bộ đội giải phóng quân Lào và quân tình nguyện Việt Nam ở Lào và đón26.432 cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết
* Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ:
- Quân và dân Quân khu 4 hăng hái lao động sản xuất, xây dựng hậu phươngvững mạnh, huy động sức người, sức của cho các chiến
trường “ Mỗi người làm việc bằng hai vì miền
Nam ruột thịt” là khẩu hiệu hành động, là tình
cảm thiêng liêng giục dã khắp các công
trường, nhà máy, ruộng đồng Ở Quân khu 4
đã dấy lên nhiều phong trào lao động sản
xuất như “ Gió đại phong” , “ Cờ 3 nhất”, “
Thanh niên 3 sẵn sàng, phụ nữ 3 đảm đang”,
Mặt trận Tổ quốc kêu gọi “ Toàn dân đoàn kết
chống Mỹ”, các cháu thiếu niên nhi đồng “
Vâng lời Bác làm nghìn việc tốt”
Trang 7- Toàn quân khu có hơn 400 ngàn thanh niên lên đường nhập ngũ, trong đó
có hơn 300 ngàn trực tiếp chiến đấu ở các chiến trường Hơn 8 triệu thanh niênxung phong và dân công hoả tuyến Những cô gái trên ba Đồng Lộc, Truông Bồn
“ Sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm” Nhân dân Khu 4 sẵn sàng “Nhường nhà để hàng, nhường nhà để xe”, đóng góp hơn 5 triệu ngày công giúp bộđội đào công sự, xây dựng trận địa, tham gia 80 triệu ngày công bảo đảm giaothông huyết mạch
- Cùng với các lực lượng, quân vàdân Quân khu 4 đã kiên cường đánhtrả bọn giặc trời Mỹ Đã đánh trảhàng vạn trận lớn, nhỏ bắn rơi 2.183máy bay các loại ( có 34 B52, 5F111) bằng hơn ½ tổng số máy bay
Mỹ bị quân và dân ta bắn rơi; bắnchìm 258 tàu chiến Mỹ, góp phầnbảo vệ thành quả xây dựng CNXH,bảo đảm thông suốt tuyến hành lang chi viện cho các chiến trường
- Cuộc tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân và dân Trị - Thiên– Huế đã tiến công nổi dậy mãnh liệt và đều khắp với khí thế chưa từng có Ngayngày đầu đã đánh trúng 40 mục tiêu trong và ngoài thành phố Huế và các huyện thịtrấn, chi khu ở nông thôn, đồng bằng phá vỡ bộ mấy nguỵ quân, nguỵ quyền Uỷ
Trang 8ban nhân dân cách mạng ở một số huyện và thành phố Huế được thành lập Trong
đó cuộc chiến đấu anh dũng liên tục gần 30 ngày đêm của quân và dân thành phốHuế là dấu mốc tiêu biểu trong chiến dịch Tết Mậu Thân, Huế trở thành chiếntrường nổi bật và xuất sắc nhất
- Sau những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, ngày 13/2/1972, thực hiệnquyết định của Quân uỷ Trung ương, quân và dân ta đã giành thắng lợi ở nhiều nơi,giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị vào ngày 02/5/1972
- Mùa xuân năm 1975, phối hợp với các chiến trường, quân và dân ta càngđánh, càng thắng lớn, đến ngày 26/3/2975 tỉnh Thừa Thiên Huế được giải phóng.Những thắng lợi đó của quân và dân Khu 4 đã góp phần giải phóng hoàn toàn MiềnNam, thống nhất đất nước
b) Mảnh đất Khu 4 là mảnh đất của một thời máu lửa, gắn với những chiếncông oanh liệt, đi vào lịch sử dân tộc như những trang chói lọi nhất về trí thôngminh, lòng dũng cảm, nghị lực phi thường của quân và dân nơi đây
- Qua 2 cuộc kháng chiến, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước, đây là chiến trường ác liệt nhất của cả nước, kể cả trên chiến trường TrịThiên hay trên miền Bắc XHCN từ Vĩnh Linh đến Thanh Hoá
+ Quảng Trị với 81 ngày đêm, Thành Cổ, Bến Hải, Cửa Tùng (Quảng Trị);Hàm Rồng (Thanh Hoá); Truông Bồn (Nghệ An); Ngã Ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh);Cảng Gianh (Quảng Bình), đây thực sự là những điểm lửa trong những năm đánh
Mỹ
+ Kẻ thù dội xuống đây nhiều bom đạn chỉ tính riêng Thành Cổ Quảng Trịtrong vòng chưa đầy 2 tháng (từ 27-7 đến 16-9-1972) Mỹ – ngụy đã dội xuống nơiđây 32.800 tấn bom, 733.528 quả đạn pháo
+ Đây là nơi mở đầu cho nhiều học thuyết xâm lược của Mỹ: Hàng rào điện
tử Mắcnamara; nơi mở đầu cuộc xâm lược bằng không quân và hải quân của Mỹ
có 4 điểm thì Khu Bốn 3 điểm: Vinh - Bến Thuỷ (Nghệ An); Cảng Gianh (QuảngBình); Lạch Trường (Thanh Hoá); Bãi Cháy (Quảng Ninh)
+ Người dân Khu 4 chịu nhiều đau thương mất mát, trên địa bàn Quân khu
có 166.446 liệt sỹ hy sinh các chiến trường
+ Đây không chỉ địa bàn chịu nhiều đau thương mất mát, ác liệt trong chiếntranh mà còn chịu những hậu quả hết sức nặng nề Sau chiến tranh quân và dân
Trang 9Quân khu 4 phải xây dựng lại quê hương từ đống đổ nát, hoang tàn, nhiều di chứngchiến tranh còn đeo đẳng mãi cho tới hôm nay.
- Nhưng từ đau thương mất mát ấy, nhân dân và LLVT Quân khu 4 từ trongmáu lửa vẫn kiên trung vững vàng trong tư thế hiên ngang, trong tư thế của ngườichiến thắng, nổi bật:
+ Cô gái sông hương “Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường
Khôn ngoan dàn trận khắp phố phường
+ Mẹ Suốt “Một tay lái chiếc đò ngang” đưa quân dưới làn bom đạn địch.+ Địa đạo Vĩnh Mốc, điển hình trí thông minh, lòng dũng cảm, nghị lực phithường của người Khu 4, cả làng 82 gia đình với 300 con người kiên trì đào sâuvào lòng đất 1 địa đạo dài 1701 m; càng phi thường hơn khi các thế hệ bám trụsống và chiến đấu, học tập ở đây
+ Gương chiến đấu dũng cảm của các nữ pháo thủ Ngư Thuỷ, các cụ dânquân Hoằng Trường…
+ Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, ở Thừa Thiên Huế,cách mạng vào thời điểm vô cùng khó khăn, nhiều cơ sở Đảng bị khủng bố trắng(Hương Thuỷ từ 170 đảng viên chỉ còn 30, Phú Vang 193 đảng viên chỉ còn 23…)nhưng quân và dân ta vẫn sáng lên một niềm tin “Mất đất chưa phải mất nước.Chúng ta nhất định thắng”
- Trong các cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc, nơi đây được ghinhận bởi những chiến công oanh liệt, đi vào lịch sử dựng nước và giữ nước nhưnhững mốc son chói lọi
Cụ thể: Đường 9 - Khe Sanh, Huế, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Vinh - Bến Thuỷ,Nam Ngạn Hàm Rồng, Lạch Trường (Thanh Hoá), Sông Gianh (Quảng Bình) lànhững địa danh trận đầu đánh thắng không quân Mỹ
* Số thương binh, liệt sĩ, mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn Quân khu:
- Thanh Hoá: Thương binh 33142; Liệt sĩ 54967; Mẹ Việt Nam anh hùng
Trang 10- Quảng Bình: Thương binh 14782; Liệt sĩ 13512; Mẹ Việt Nam anh hùng
+ Trong các cuộc kháng chiến có 1.234.600 thanh niên lên đường nhập ngũ (
Chống Pháp: 134.000; chống Mỹ: 700.000, Bảo vệ tổ quốc; làm nhiệm vụ quốc tế:400.000)
Câu 4: Nêu những nét truyền thống tiêu biểu của LLVT Quân khu 4? Nét truyền thống tiêu biểu “ Gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân một
ý chí” được thể hiện như thế nào?
- Truyền thống này xuất phát từ
sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của
Đảng và Bác Hồ mà trực tiếp là Đảng
uỷ, Bộ Tư lệnh Quân khu và cấp uỷ, chỉ
huy các đơn vị Đây là nội dung bao
trùm, chi phối tất cả các nét đặc trưng
khác
Hai là: Có ý chí quyết chiến, quyết
thắng và biết đánh, biết thắng mọi kẻ thù.
- Truyền thống này bắt nguồn từ lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tinh hoanghệ thuật quân sự Việt Nam, từ lòng yêu nước XHCN, tinh thần tự lực, tự cường, ýchí quyết tâm, thông minh dũng cảm, tình thương yêu đồng chí, đồng đội
Ba là: Gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân một ý chí.
Trang 11- Kế thừa truyền thống của Quân đội ta, một Quân đội của dân, do dân và vìdân do Đảng, Bác Hồ tổ chức lãnh đạo.
- Cán bộ, chiến sỹ LLVT Quânkhu chiến đấu quên mình vì nhân dân
- Nhân dân thương yêu đùm bọcLLVT Quân khu như ruột thịt và đó lànhân tố quan trọng để LLVT trưởngthành và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ
- Nhân dân và LLVT Quân khuđồng sức, đồng lòng chiến đấu chống
kẻ thù, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,đấu tranh chống mọi thủ đoạn “DBHB”, bạo loạn lật đổ của địch
Bốn là: Hậu phương - Tiền tuyến đồng lòng, luôn vì cả nước, với cả nước.
- Đây là nét đặc trưng có tính đặc thù của Khu 4, bởi xuất phát từ đặc điểmcủa địa bàn này: Trong 2 cuộc kháng chiến mảnh đất này vừa có vùng giải phóng,vừa có vùng tạm chiếm, vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương Đặc biệt trongkháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là nơi đọ sức quyết liệt giữa ta và địch, làhậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam, là huyết mạch giao thông chiviện cho các chiến trường kể cả nhân, tài, vật lực
Năm là: Có tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng; đặc biệt gắn bó thuỷ chung với cách mạng Lào.
- Đây là một nét đẹp trong truyền thống củaQuân đội mà Quân khu 4 được kế thừa, tuynhiên điều khác hẳn với nhiều đơn vị khác đó
là ngay từ khi ra đời đến nay, không thời kỳnào chúng ta không có vinh dự được làmnhiệm vụ này
- Chúng ta giúp Bạn vô tư, trong sáng,giúp Bạn toàn diện
- Đối với cách mạng Lào là mối tìnhthuỷ chung son sắt trên tình đồng chí, anh em