Một số Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của công ty TNHH gốm sứ Bát Tràng phomex sang thị trường Châu Âu
Trang 1MỞ ĐẦU
Sự cần thiết của đề tài
Trong những năm gần đây VN đã và đang hội nhập sâu rộng vào nềnkinh tế của thế giới Vị thế của VN ngày càng được khẳng định trên trườngquốc tế, chúng ta đă là thành viên của các tổ chức hợp tác quốc tế nhưASEAN, APEC, đặc biệt năm 2007 vừa qua chúng ta chính thức trở thànhthành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới( WTO) cánh cửa hội nhập
đã thực sự mở toang đối với VN Trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tếthực hiện nhiệm vụ thiên niên kỷ xây dựng đất nước công bằng, văn minh,công nghệp hoá hiện đại hoá thì không thể phủ nhận vai trò của hoạt độngxuất khẩu XK không chỉ mang lại lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy nềnkinh tế phát triển mà nó còn là biện pháp để giải quyết các vấn đề xã hội nhưviệc làm, phúc lợi xã hội, qua hoạt động XK vị thế và hình ảnh của VN sẽđược nâng lên trên trường quốc tế
Với đặc trưng và những lợi thế nhất định nên hàng thủ công mỹ nghệtrong đó có mặt hàng gốm sứ là mặt hàng trong chiến lược ưu tiên XK của
VN Việc đẩy mạnh việc XK gốm sứ ra thị trường nước ngoài nói chung vàthị trường EU nói riêng không chỉ tạo nguồn thu về ngoại tệ, tạo công ăn việclàm cho ngngười lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế mà nó còn cótác dụng rất lớn trong việc quảng bá hình ảnh của đất nưởc trong lòng bạn bèquốc tế
Công ty TNHH gốm sứ Bát Tràng phomex là một trong những công tyhoạt động trong lĩnh vực sản xuất và XK gốm sứ của đất nước Với tỷ trọng
XK tăng nhanh qua hàng năm tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao độngcủa địa phương và các vùng lân cận, vị thế của công ty đang dần được khẳngđịnh Bên cạnh những thuận lợi, lợi thế là những khó khăn không nhỏ mà
Trang 2công ty đang gặp phải Chính những khó khăn hạn chế này đã ảnh hưởng rấtlớn đến hoạt động xuất khẩu của công ty Thị trường EU là một thị trườngrộng lớn đầy tiềm năng cho mọi công ty, công ty TNHH gốm sứ Bát Tràngphomex cũng không phải ngoại lệ Trong những năm gần đây công ty cũng đăbắt đầu khai thác,thâm nhập thị trường này và cũng đă đạt được những kếtquả nhất định tuy vậy với kết quả đạt được này nó chưa xứng đáng vời quy
mô và tiêm năng của thị trường này Vì vậy để thành công hơn nữa trong việcxuất khẩu sang thị trường này công ty cần nhìn nhận đúng tiềm năng và vaitrò của thị trường này qua đó nghiên cứu và xây dựng cho mình chiến lượcdài hạn khi tiếp cận và thâm nhập thị trường
Với những lý do trên mà em đă lựa chọn đề tài ‘ Một số giải pháp thúcđẩy hoạt động XK của công ty TNHH gốm sứ Bát Tràng phomex sang thịtrường Châu Âu
Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu của luận văn chỉ ra những khái niệm cơ bản về XK, vaitrò, các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động XK của doanh nghiệp
- Nghiên cứu của luận văn nêu ra một số nét tổng quát về thị trường EU
- Nghiên cứu của luận văn chỉ ra thực trạng hoạt động của công tyTNHH gốm sứ Bát Tràng phomex, một số hạn chế của công ty trong việc xúctiến XK sang thị trường châu âu qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nângcao hiệu quả XK của công ty sang thị này trong thời gian tới
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động XK của công ty
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động XK của công ty TNHHgốm sứ Bát Tràng phomex từ năm 2004 đến nay
Phương pháp nghiên cứu.
Trang 3Sử dụng phương pháp tổng hợp, nghiên cứu phân tích, so sánh các số liệu
từ báo cáo của công ty, từ sách báo, Internet…qua đó rút ra những kết luận
Kết cấu của luận văn.
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương cụ thể:
Chương 1: Lý luận chung về XK, hoạt động thúc đẩy xk
Chương 2: Thực trạng về hoạt động thúc đẩy XK của công ty TNHH gốm sứBát Tràng phomex sang thị trường EU
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động XK của công ty TNHH gốm
sứ Bát Tràng phomex sang thị trường EU trong những năm tới
Trang 4CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU VÀ HOẠT ĐỘNG THÚC
ĐẨY XUẤT KHẨU
1.1 Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu (XK)
1.1.1 Khái niệm về hoạt động XK
XK là việc bán hàng hoá hay dịch vụ của các cá nhân, tổ chức có tưcách pháp nhân trong nước cho các cá nhân tổ chức có tư cách pháp nhânnước ngoài XK là hoạt động gắn với yếu tố quốc tế hoặc là hàng hoá, dịch vụ
di chuyển qua lãnh thổ quốc gia hoặc là các pháp nhân giao dịch có quốc tịchkhác nhau
Đặc trưng của hoạt động XK:
+ Phần lớn hàng hoá, dịch vụ trong giao dịch XK di chuyển qua phạm
vi biên giới quốc gia Trong khi việc mua bán hàng hóa trong nước thì hànghóa không di chuyển qua biên giới lãnh thổ
+ Đồng tiền thanh toán trong XK là ngoại tệ ít nhất của một bên hoặccủa cả hai
+ nguồn luật điều chỉnh trong hoạt động XK ngoài luật quốc gia còn cóluật quốc tế và các tập quán thương mại quốc tế, trong khi hoạt động mua bántrong nước chỉ chịu sự điều chỉnh của nguồn luật quốc gia
+ Người mua và người bán trong hoạt động XK là các cá nhân có quốc tịchkhác nhau, là các tổ chức có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau
1.1.2 Các loại hình XK
XK hàng hoá dịch vụ là một hoạt động phong phú, đa dạng, phức tạphàm chứa những rủi ro nhất định Mổi loại hình XK có những đặc điểm, ưunhược điểm khác nhau chính vì vậy các doanh nghiệp cần căn cứ tình hìnhcủa doanh nghiệp mình đặc trưng tính chất của từng giao dịch mà lựa chọn
Trang 5cho mình loại hình XK phù hợp nhất Sau đây là một số loại hình XK mà cácdoanh nghiệp thường lựa chọn để thâm nhập thị trường nước ngoài.
1.1.2.1 XK trực tiếp
Đây là hình thức XK trong đó người bán (các doanh nghiệp XK) trựctiếp giao dịch bán hàng cho người mua (các doanh nghiệp nhập khẩu) Bênbán chỉ có thể bán chứ không mua và bên mua chỉ có thể mua chứ không bán,việc mua và bán là không ràng buộc lẫn nhau Với hình thức xk này công ty,doanh nghiệp xk phải tự mình tiến hành thực hiện tất cả các khâu thay vì quacác khâu trung gian như các hình thức xk khác Vì vậy với hình thức này DN
có thể thu về lợi nhuận lớn do không phải phải phân chia cho các trung giannhưng đồng nghĩa với việc họ phải chịu rủi ro lớn hơn
1.1.2.2 XK uỷ thác
Đây là hình thức XK trong đó doanh nghiệp XK uỷ thác cho cácthương nhân là các trung gian XK đứng ra làm thay mình một số thủ tục cầnthiết để xuất khẩu hàng hoá Thương nhân này tỷ lệ % hoa hồng nhất địnhtheo giá trị của lô hàng tuỳ theo thoả thuận của hai bên
Ưu điểm: ưu điểm của hình thức này là mức độ rủi ro thấp, giao dịch
xuất khẩu diển ra nhanh vì hầu hết các thương nhân trung gian này là nhữngngngười có tính chuyên nghiệp cao trong hoạt động xuất khẩu
Nhược điểm: Lợi nhuận chia nhỏ do có sự tham gia của các trung
gian xuất khẩu thay vì chỉ có hai bên như xuất khẩu trực tiếp
1.1.2.3 Buôn bán đối lưu
Đây là phương thức giao dịch mà xuất khẩu gắn liền với nhập khẩu,người xuất khẩu đồng thời là người nhập khẩu trong một lần giao dịch Mụcđích của hình thức giao dịch này là tạo sự cân bằng về ngoại tệ của mỗi bên,cùng tạo sự cân bằng trong cán cân thanh toán
Trang 61.1.2.4 Tạm nhập tái xuất
Đây là hình thức xk trong đó hàng hoá đi từ nước xuất khẩu sang nướctái xuất rồi từ nước tái xuất được chuyển sang nước nhập khẩu, ngược vớiluồng đi của hàng hoá là luồng đi của dòng tiền Có thể coi quốc gia tái xuấttạm nhập là một quốc gia kinh doanh dịch vụ xuât khẩu mặc dù họ không trựctiếp sản xuất ra hàng hoá Singapo là một quốc gia sử dụng rất hiệu quả và rấtthành công trong hình thức này với hình thức này Singopo được coi như làtrạm chu chuyển hàng hóa lớn của thể giới
1.1.2.5 Chuyển khẩu
Đây là hình thức xk giống với hình thức tạm nhập tái xuất nhưng khác
ở chổ thay vì hàng hoá được di chuyển qua nước thứ ba thì hàng hoá đượcchuyển thẳng từ quốc gia xuất khẩu sang quốc gia nhập khẩu
1.1.2.6 XK tại chổ
Đây là hình thức xuất khẩu khá phổ biến hiện nay, khi mà du lịch pháttriển và trở thành nhu cầu không thể thiếu được của một bộ phận không nhỏngười dân thì hình thức xuất khẩu này có điều kiện phát triển và được nhiều
DN áp dụng Với hình thức này hàng hoá xuất khẩu không nhất thiết phải điqua biên giới lãnh thổ mà nó được bán cho khách du lịch, cho các cá nhân tổchức có quốc tịch nước ngoài ngay trên lãnh thổ của quốc gia XK Lợi ích củahình thức này là giảm thiểu rủi ro cho nhà xuất khẩu do tránh được sự khácbiệt về văn hoá, ngôn ngữ so với các hình thức xk khác, với hình thức nàythì giao dịch xk không phải làm các thủ tục chứng từ thông quan Tuy vậy hạnchế của hình thức này là số lượng khách hàng cũng như số lượng hàng hoá
mà khách hàng mua là không lớn vì khách hàng chủ yếu ở đây là khách dulịch Mặt hàng gốm sứ là một mặt hàng mang tính đặc trưng truyền thông cao,chính vì vậy thông qua việc xk tại chổ mặt hàng này sẽ tạo một phần động lực
Trang 7cho du lịch phát triển và ngược lại thông qua việc du lịch phát triển du kháchbiết đến đồ truyền thống của VN qua đố thúc đẩy phát triển xk mặt hàng này.
1.1.2.7 Gia công xuất khẩu
Đây là một hình thức xk trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công)nhận nguyên liệu, bán thành phẩm, có thể là các thiết bị máy móc phục vụcho sản xuất và sản xuất xk lại thành phẩm cho bên kia (bên đặt gia công).Đây là hình thức khá phổ biến áp dụng cho các nước có trình độ phát triểnchưa cao, có đội ngũ lao động dồi dào trong đó có VN Các sản phẩm xk ápdụng hình thức này chủ yếu là các sản phẩm sử dụng nhiều lao động phổthông VN là một quốc gia áp dụng khá phổ biến hình thức nàyđặc biệt là cácmặt hàng: may mặc, dày dép…
Ưu điểm của hình thức này là tận dụng được nguồn lao động dồi dào,mang tính phổ thông, tính rủi ro thấp (gặp rủi ro do việc gia công sai đơn đặthàng, mẫu mã làm không đúng với yêu cầu những rủi ro này là không thườnggặp),thông qua hình thức xk này DN dần tiếp cận thị trường tiếp cận bạn hàngtừng bước thích nghi để tự mình sản xuất và xk
Nhược Điểm của hình thức này là lợi nhuận thu về ít, ngoài việc trảthù lao cho công nhân và một số chi phí khác thì lợi nhuận còn lại là khôngnhiều Ngoài ra nếu quá chú trọng vào hình thức xk này thì DN không thể tựvươn mình ra thị trường nước ngoài
1.1.3 Vai trò của hoạt đông xuất khẩu.
XK là một hoạt động không thể thiếu và có vai trò vô cùng quan trọngđối với mỗi quốc gia, DN Đặc biệt trong thời đại hội nhập toàn cầu là xu thếtất yếu như hiện nay ‘phi thương bất phú’, một quốc gia không được coi làhưng thịnh, một DN không được coi là lớn mạnh nếu không có hoạt động xkhoặc hoạt động xk diễn ra trì trệ, yếu kém Dưới giác độ của quốc gia hoặcdoanh nghiệp thì xk có những vai trò khác nhau Cụ thể:
Trang 81.1.3.1 Vai trò của xk đối với quốc gia
Đối với quốc gia xk không chỉ là nhân tố thúc đẩy phát triển đấtnước, tạo cân bằng trong cán cân thanh toán thông qua việc thu ngoại tệ, giảiquyết công ăn việc làm cho người lao động mà nó còn là công cụ hữu hiệutrong việc quảng bá hình ảnh đất nước, thông qua hoạt động xk mỗi quốc giatận dụng triển để lợi thế của mình Ngày nay khi mà hội nhập kinh tế quốc tế
là xu hướng, khi mà đã xa rồi khái niệm chiến tranh xâm chiếm lãnh thổ củanhau thì sức mạnh của mỗi quốc gia thể hiện ở sự rộng lớn của thị trường màsản phẩm của quốc gia đó vươn đến, thể hiện ở chổ đứng và uy tín sản phẩmcủa quốc gia đó trên thị trường thế giới điều này chỉ có thể làm được thôngqua hoạt động xuất khẩu
1.1.3.2 Vai trò của xuất khẩu đối với DN
Đối với DN thông qua xuất khẩu các DN có thể tận dụng lợi thế củamình tiếp cận và khai thác thị trường vô cùng rông lớn Hoạt động xk khôngchỉ là một bộ phận cấu thành nên doanh thu và lợi nhuận của DN mà dưới áplực của xuất khẩu khi mà DN phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủthì đây là động lực buộc họ phải đổi mới, phải thích nghi Tóm lại chỉ có xuấtkhẩu DN mới có thể lớn mạnh, và ngượcc lại chỉ có thể thoả mãn những điềukiện nhất định DN mới có thể xuất khẩu thành công
1.2 Hoạt động thúc đẩy XK
1.2.1 Khái niệm
Hoạt động thúc đẩy xk là những hành động, những biện pháp và công cụ
mà doanh nghiệp sử dụng và tiến hành qua đó trực tiếp đẩy mạnh hoạt động
xk của mình Với mỗi quốc gia, thị trường khác nhau cũng như điều kiện cụthể khác nhau của mỗi DN thì họ tiến hành những hoạt động thúc đẩy xk khácnhau Dưới giác độ của nhà nước thì hoạt động thúc đẩy xk là các giải phápmang tính vĩ mô qua đó gia tăng sức cạnh tranh cũng như tạo ra lợi thế cạnh
Trang 9tranh nhất định cho hàng hóa của quốc gia mình, dước giác độ của DN thì đây
là những hành động cụ thể mà DN tiến hành có thể đây là một cải tiến mạnh
mẽ trong quá trình sản xuất một sự đầu tư mạnh tay có chiến lược trong việcxúc tiến xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, với mỗi sản phẩm và thị trườngkhác nhau DN có thể tiến hành các hoạt động thúc đẩy khác nhau Tóm lạixúc hoạt động xk là hoạt động không thể thiếu được đối với một DN xk,thông qua hoạt động thúc đẩy xk giúp DN thành công hơn trong hoạt động xkcủa mình qua đó gia tăng lợi nhuận kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất
1.2.2 Vai trò của hoạt động thúc đẩy xk
Vai trò của hoạt động thúc đẩy xk thể hiện gián tiếp thông qua vai tròcủa xk Để thâm nhập và xk thành công sang một thị trường nhất định thìkhông thể không tiến hành các hoạt động thúc đẩy xk Nếu hoạt động thúcđẩy xk được tiến hành một cách hợp lý, đạt hiệu quả phù hợp với thị trường
và điều kiện DN thì nhất định dẫn đến việc thâm nhập và xk sang thị trường
đó của công ty thành công và qua đó thu được những lợi ích nhất định Ngượclại việc thâm nhập và xk sang một thị trường nào đó sẽ thất bại và không pháttriển nếu DN không tiến hành những hoạt động thúc đẩy xk Một DN khôngthể phát triển và trở thành một tập đoàn kinh tế lớn mang tầm thế giới nếu họkhông xúc tiến và tiến hành hoạt động xk
Vai trò của hoạt động thúc đẩy xk còn thể hiện ở lợi ích toàn diện mà nómang lại Tùy điều kiện thực tế cụ thể mà mỗi DN chọn cho mình những cáchthức xâm nhập, cách thức tiến hành các hoạt động thúc đẩy khác nhau qua đócải tiến nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho chính mình
Thông qua hoạt động thúc đẩy xk DN sẽ dần nâng cao vị thế của mình,dần hoàn thiện mình, dần tăng tính thích nghi và tính linh hoạt cho mình vìsuy cho cùng thì hoạt động thúc đẩy xk là các hoạt động cụ thể qua đó tăngsức cạnh tranh của hàng hóa DN mình trên thị trường nước ngoài
Trang 10Tóm lại một DN không thể phát triển bền vững, không thể trở thành mộttập đoàn kinh tế mang tính toàn cầu nếu họ không tiến hành thâm nhập thịtrường nước ngoài, và để việc thâm nhập và xk thành công ra các thị trườngthì không thể thiếu hoạt động thúc đẩy xk.
1.2.3 Các biện pháp thúc đẩy xk
Có nhiều biện pháp thúc đẩy xk khác nhau, các biện pháp này đến từphía vĩ mô của nhà nước cũng có thể xuất phát từ hành động cụ thể của DN.Tùy đặc điểm khác nhau của mỗi thị trường cũng như tình hình thực tế của
DN mà các DN chọn cho mình những hoạt động thúc đẩy khác nhau Mộthoạt động thúc đẩy XK có thể phù hợp với sản phẩm này, thị trường này và
DN này song nó chưa chắc đã phù hợp với sản phẩm, thị trường, DN khác Cụthể sau đây là một số các biện pháp chung thúc đẩy xk xuất phát từ phía nhànước cũng như từ DN
1.2.3.1 Các biện pháp từ phía nhà nước
Hiện nay VN đã là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giớiWTO, chúng ta đang trong giai đoạn hội nhập sâu rộng và thực hiện các camkết đã ký với các đối tác Vì vậy sự hỗ trợ nói chung của nhà nước đối với các
DN tham gia xk và công ty phomex nói riêng phải tuân thủ các quy định đã
ký kết Sự hỗ trợ từ phía nhà nước là cần thiết và là nhân tố tích cực thúc đẩyhoạt động xk song nếu sự hỗ trợ này vi phạm các quy định của WTO thì môhình chung là rào cản cho chính các công ty Với thực tế hiện tại thì nhà nước
có thể hỗ trợ các DN thông qua việc đổi mới cải tiến bộ máy hành chính đấtnước theo hướng thông thoáng hơn cho các DN, nhà nước có thể giúp các DNthông qua việc giúp DN đào tạo đội ngũ lao động trình độ cao chuyên môn vềngoại thương, nhà nước thông qua các tổ chức thương mại các tham tánthương mại của mình ở nước ngoài sẽ là kênh thông tin cho các DN, Nhànước bằng nguồn ngân sách của mình quảng quá thương hiệu VN qua các
Trang 11chương trình xúc tiến quốc gia, nhà nước tăng cường đầu tư cơ sõ hạ tầng cácbến bãi, các cảng biển qua đó tạo điều kiện cho hoạt động xk diễn ra thuậnlợi Với đặc trưng của từng ngành hàng cụ thể nhà nước cần có chính sách cụthể và dài hạn cho việc phát triển ngành hàng đó, nhà nước cần tạo thứ tự ưutiên nhất định cho mỗi ngành hàng cụ thể Thông thường các biện pháp thúcđẩy hoạt động xk của nhà nước mang tính vĩ mô và dài hạn nó không thể làmột sớm một chyều Tóm lại sự hỗ trợ của nhà nước là rất cần thiết đối vớicác DN, thông qua sự hỗ trợ này là nhân tố thúc đẩy hoạt động XK của DN,tuy vậy chúng ta đã là thành viên của WTO vì vậy mọi sự hỗ trợ của nhà nướcphải tuân thủ các quy định của WTO, nếu sự hỗ trợ cũng như các biện phápthúc đẩy xk này của nhà nước quy định các kí kết thì mô hình chung nó lại làyếu tố cản trợ chính hoạt động thúc đẩy xk của DN khi họ phải chịu sự áp đặtcủa phía nước ngoài.
Trang 12nghiên cứu tìm hiểu thị trường DN lựa chọn cho mình những thị trường trọngđiểm tại đó DN có thể phát huy tối đa lợi thế của mình Với một tiềm lựccũng như khả năng nhất định bản thân DN không thể thâm nhập một lúc tất cảcác thị trường, tính cạnh tranh của họ không thể là số một ở tất cả các thịtrường (trừ các tập đoàn kinh tế mạnh với tiềm lực khổng lồ) vì vậy các DNcần nghiên cứu các thị trường qua đó lựa chọn cho mình những thị trường,những đoạn thị trường phù hợp tại đó DN có thể phat huy tối đa khả năng củamình Với việc nghiên cứu tìm hiểu thị trường qua đó lựa chọn thị trườngtrọng điểm thích hợp cũng như có những thay đổi hợp lý thì đây chính là mộtbiện pháp hữu hiệu thúc đẩy hoạt động xk, bởi vì một khi có sự nghiên cứu kỹlưỡng về thị trường, một khi đã chọn cho mình một thị trường trọng điểmđúng đắn thì việc xk sang thị trường đó sự thành công là rất lớn.
+ Xây dựng chương trình xúc tiến quãng bá phù hợp và dài hạn
Một thực tế hiện nay là các chương trình xúc tiến và quãng bá của các doanh nghiệp VN còn chưa mang tính dài hạn, nó thường gắn với với mỗi vụ làm
ăn nhất định Xúc tiến quãng bá là việc làm đầu tiên khi bắt đầu thâm nhập thị trường đây là việc có tầm ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của hoạt động xk sau này Một chiến lược xúc tiến dài hạn là chiến lược xúc tiến có sự tính toán đến yếu tố tương lai Chính vì vậy xây dựng chương trình xúc tiến quãng bá phù hợp và dài hạn là một biện pháp quan trọng thúc đẩy hoạt động xk của DN
+ Tìm hiểu đối thủ cạnh tranh qua đó có những phản ứng thích hợp.Với việc hội nhập sâu rộng nền kinh tế thế giới như hiện nay thì việc cạnhtranh trở nên rất khốc liệt trong cuộc cạnh tranh đó đối thủ của các công ty xkkhông chỉ là các công ty bản địa mà còn một đội ngũ hùng hậu các DN nướcngoài khác, mặc dù dưới áp lực cạnh tranh buộc các DN phải tự đổi mới mìnhsong đây cũng là yếu tố ảnh hưởng kìm hãm khả năng xk của các DN Tục
Trang 13ngữ có câu ‘biết mình biết ta trăm trận trăm thắng’ chính vì vậy để xk thànhcông sang một thị trường nào đó, để sản phẩm của mình không thua kém sảnphẩm của đổi thủ cạnh tranh thì các DN cần nghiên cứu tìm hiểu đổi thủ cạnhtranh hiện có, tiềm năng của mình trên thị trường Nghiên cứu đối thủ cạnhtranh là nghiên cứu về sản phẩm, chũng loại, giá cả cũng như cách xúc tiếnkhuyết trương của họ qua đó có những hành động cụ thể tăng sức cạnh tranhcủa hàng hóa mình Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh là một trong những biệnpháp thúc đẩy hoạt động xk của công ty.
+ Đổi mới, hoàn thiện quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng sảnphẩm, mẫu mã chủng loại, giá thành sản phẩm theo hướng cạnh tranh hơn.Muốn hoạt động xk được thành công và phát triển thì nhất thiết phải tiến hànhcác hoạt động thúc đẩy xk, thực chất của các hoạt động thúc đẩy xk là giatăng tính cạnh tranh của hàng hóa công ty mình Thông qua việc đổi mới,hoàn thiện quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã chủngloại, giá thành sản phẩm thì sản phẩm của công ty sẽ trở nên cạnh tranh hơn
do đó khả năng sản phẩm đó xk thành công và có thị phần tương đối trên thịtrường là rất lớn Phải nói rằng đây là một biện pháp chủ lực và có tác dụngrất lớn đến việc thúc đẩy hoạt động xk của DN, biện pháp này còn có ý nghĩahơn trong tình hình hiện nay khi mà lạm phát đang có dấu hiệu leo thang trênthế giới, khi mà dưới áp lực của tiến bộ khoa học công nghệ chu ky sống củasản phẩm được rút ngắn
+ Tạo nguồn hàng xk Đây là một trong những hoạt động thúc đẩy xk.Thông qua hoạt động này sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc cungứng nguồn hàng xk, đối phó với những biến động của thị trường có thể xẩy ra.Tạo nguồn hàng xk bao gồm các hoạt động từ việc xây dựng kế hoạch cungcấp nguyên vật liệu trong dài hạn và đảm bảo chất lượng, kế hoạch dự trữ sảnphẩm…
Trang 14+ Quan tâm hơn nữa vấn đề thương hiệu sản phẩm Thương hiệu sảnphẩm từ lâu đã trở thành một tài sản vô hình của mọi DN Một DN có thươnghiệu mạnh, nổi tiếng đồng nghĩa với khả năng thâm nhập và xk thành côngsang một thị trường là rất lớn Xây dựng và quãng bá thương hiệu ra thịtrường xk là một việc làm có từ lâu của các DN xuất khẩu của nước ngoài.Đối với họ xây dựng và quãng bá thương hiệu là một biện pháp không thểthiếu để thúc đẩy hoạt động xk của mình Song thực tế hiện nay thì điều này
là rất bất cập đối với các DN Việt Nam, vì nhiều lý do khác nhau trong đó có
lý do tài chính nên một số DN Việt Nam chưa có sự quan tâm đúng mức đếnvấn đề này và chình điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng xk của các DNnước ta
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thúc đẩy xk của các doanh
nghiệp
1.1.4.1 Các nhân tố bên ngoài DN
Đây là các nhân tố thuộc tầm vĩ mô của nhà nước nó nằm ngoài phạm vi kiểmsoát của doanh nghiệp, thay vì trực tiếp tác động nên nó thì các doanh nghiệpchỉ có thể theo dõi, dự báo các yếu tố này qua đó có những điều chỉnh và conhững thích nghi cần thiết Cụ thể một số nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến hoạtđộng thúc đẩy xk của doanh nghiệp sau:
+ Các biến động chính trị xã hội của thị trường trong và ngoài nước.
Môi trường chính trị xã hội của thị trường trong và ngoài nước thay đổi ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động thúc đẩy xk của doanhnghiệp Muốn hoạt động thúc đẩy xk của các DN diễn ra thuận lợi thu đượchiệu quả thì môi trường chính trị xã hội phải được ổn định, ngược lại hoạtđộng thúc đẩy xk sẽ khó khăn và hiểu quả thu được là không lớn nếu môitrường chính trị xã hội có những bất ổn Vì vậy với điều kiện hiện nay các
Trang 15DN cần nghiên cứu cũng như nắm bắt xu thế biến động của môi trường chínhtrị xã hội qua đó xây dựng và tiến hành những hoạt động thúc tiến xk hợp lý.
+ Môi trường kinh tế: ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường
kinh tế tới hoạt động thúc đẩy xk của doanh nghiệp là rất lớn Xu thế vậnđộng hoặc bất kỳ sự biến động nào của môi trường này đều có thể tạo ra cơ hội
mở rộng thị trường hoặc nguy cơ thu hẹp thị trường phá sản doanh nghiệp Mỗi yếu
tố thuộc môi trường kinh tế có tác động theo chiều hướng khác nhau tới hoạt độngthúc đẩy xk của doanh nghiệp cụ thể:
_ Tiềm lực kinh tế: Đây là các yếu phản ánh nguồn lực của đất nước
là lợi thế của đất nước đối với những mặt hàng xk nào đó, Các yếu tố phảnánh tiềm năng của đất nước như: tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu đầu vào,
vị trí địa lý, nguồn lực con người…) Xét về mặt hàng gốm sứ chúng ta thấynước ta có một nguồn nguyên liệu dồi dào phong phú với nhiều mỏ đất lớnnằm trải rộng khắp cả nước, chúng ta có một đội ngũ nghệ nhân tâm huyết cótrình độ tay nghề đạt độ chính muồi, chúng ta có một lực lượng lao động thủcông hùng hậu, chúng ta có một vị trí địa lý hết sức thuận lợi là cửa ngõ thôngthương của đông nam Á từ đây hàng hoá có thể được chuyển đến các quốc giakhác trên thế giới bằng nhiều đường khác nhau đặc biệt là đường biển Tất cảnhững điều ấy cho thấy chúng ta có một tiềm năng lớn trong việc sản xuất và
xk mặt hàng gốm sứ truyền thống Mặc dù trong những năm gần đây hànggốm sứ của VN đã có mặt ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới song nhìnchung kết quả đó vẫn chưa xứng đáng với tiềm năng của đất nước về mặthàng này Ảnh hưởng của tiềm năng kinh tế đến hoạt động thúc đẩy xk của
DN thể hiện ở chổ nếu một quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh ( Mỹ, Nhật,Đức…) với cơ sở hạ tầng hiện đại, với đội ngũ lao động dồi dào có trình độtay nghề thì các DN thuộc các quốc gia này sẽ gặp thuận lợi rất lớn với hoạtđộng thúc đẩy xk của họ Mô hình chung hoạt động thúc đẩy của họ có sự hỗ
Trang 16trợ rất lớn từ tiềm lực đất nước, với các doanh nghiệp thuộc các quốc gia cótiềm lực kinh tế mạnh thì lợi thế chổ đứng của họ trong quá trình đàm phám làrất lớn Ngược lại một quốc gia có tiềm lực kịnh tế yếu kém với cơ sở hạ tầnglạc hậu, trình độ lao động chưa cao, tiếng nói của nền kinh tế quốc gia trêntrường quốc tế là không lớn thì chính điều này cản trở kìm hãm hoạt độngthúc đẩy xk của các DN thuộc quốc gia đó.
_ Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Chỉ tiêu này thể hiện ở tốc độ tăng
trưởng của các chỉ số như: GDP, GNP, thu nhập bình quân đầu người… Nóphản ánh tốc độ phát triển hàng năm của mỗi quốc gia Sẽ là một nhân tố thúcđẩy hoạt động xk của doanh nghiệp nếu thị trường mà doanh nghiệp xk đangthâm nhập có tốc độ phát triển kinh tế cao, bền vững, một quốc gia có tốc độphát triển kinh tế cao đồng nghĩa với việc sức mua, dung lượng thị trường lớn
và đây trở thành một thị trường tiềm năng cho mọi doanh nghiệp xk Châu Âu
là một thị trường có tốc độ phát triển cao bền vững qua hàng năm, thu nhậpbình quân đầu người vào loại cao của thế giới, đây chính là những yếu tốthuận cho các doanh nghiệp VN nói chung và các doanh nghiệp xk gốm sứnói riêng xk vào thị trường này Một quốc gia có tăng trưởng kinh tế cao đồngnghĩa với việc quốc gia đó có chiến lược xk hợp lý đạt hiệu quả, và để làmđược điều này ngoài việc tư đổi mới của các DN thì nhà nước chắc chắn đã cóđịnh hướng và sự hỗ trợ hợp lý Vì vậy có thể nói tốc độ tăng trưởng kinh tế
là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thúc đẩy xk của DN
- Tỷ giá hối đoái và trợ cấp xuất khẩu
Đồng tiền thanh toán trong hoạt động xk là ngoại tệ của ít nhất mộtbên chính vì vậy tỷ giá hối đoái ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thúc đẩy xkcủa doanh nghiệp Sự thay đổi tỷ giá hối đoái (sự tăng giảm của các đồngtiền) có thể dẫn đến sự tăng hay giảm quy mô số lượng hàng hoá xk, nó ảnh
Trang 17hưởng đến doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động xk của mình Cụ thể ta thấyđồng ero là một đồng tiền mạnh có độ ổn định cao và nó có trị giá lớn hơn rấtnhiều so với VND ( ví dụ 1ero ở châu âu có thể chỉ mua được một cái ấmsong với số tiền đó ở VN có thể mua được nhiều hơn một cái ấm cùng loại)những điều trên là thuận lợi rất lớn cho các doanh nghiệp nói chung và cácdoanh nghiệp sản xuất gốm sứ nói riêng của VN khi tham gia xk vào thịtrường này Ngoài tỉ giá hối đoái thì trợ cấp xk cũng ảnh hưởng rất lớn đếnhoạt động xk, hoạt động thúc đẩy xk, trợ cấp xk ở đây là những trợ giúp củachính phủ như cho vai vốn ưu đãi miễn giảm thuế xk, cấp tín dụng xk với lãisuất ưu đăi… những trợ giúp này của chính phủ sẽ tạo điều kiện thúc đẩy hoạtđộng xk của doanh nghiệp Chúng ta đã là thành viên thứ 150 của tổ chứcthương mại thế giới WTO việc trợ cấp mặt hàng nào, trợ cấp như thế nào đã
có sự ràng buộc của các cam kết, tuy vậy chúng ta đang trong thời kỳ thựchiện cam kết theo lộ trình chính vì vậy các doanh nghiệp VN cận tận dụngtriệt để lộ trình này dưới những biện pháp trợ cấp hợp lý của chính phủ đểtranh thủ khẳng vị thế sản phẩm trên trường quốc tế
- Các xu hướng liên kinh tế khu vực và thế giới
Thế giới ngày nay đang có xu hướng xích lại thành một khối, với việcthành lập nhiều tổ chức kinh tế chính trị mang tính chất toàn cầu, quan hệkinh tế chính trị của các quốc gia ngày càng phát triển theo cả chiều rộng lẫnchiều sâu Tuy vậy trong mối quan hệ đó không ngoài trừ hàm chứa nhữngmâu thuẫn căng thẳng, trã đũa lẩn nhau Thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩucủa doanh nghiệp là những hoạt động hàm chứa những yếu tố quốc tế rất lớn,chịu sự chi phối rất lớn của các mối quan hệ vĩ mô của các quốc gia Doanhnghiệp sẽ thuận lợi hơn, tính rủi ro thầp hơn khi xk sang những quốc gia cómối quan hệ thân thiết lâu đời, hữu nghị với quốc gia mình và ngược lại mốiquan hệ kinh tế giữa các nước thể hiện qua các hiệp định, các ưu đãi, các tối
Trang 18huệ quốc mà các quốc gia dành cho nhau Sự ảnh hưởng tác động của mốiquan hệ kinh tế giữa các quốc gia đến hoạt động thúc đẩy xk của DN ở chổnếu quốc gia sở tại và quốc gia mà DN chủ định thâm nhập có mối quan hệlâu đời tốt đẹp thì đây là một động lực giúp DN tự tin khi tiên hành các hoạtđộng thúc đẩy xk và các hoạt động thúc đẩy này xác suất thành công là lớnhơn khi tiền hành ở các thị trường đang có mâu thuẫn VD trước đây trongthời kỳ đang có sự xung đột lớn giữa Nga và Mỹ thì hoạt động thúc đẩy xkcủa các DN Nga tiến hành khi thâm nhập thị trường Mỹ là không hiệu quả vàhàm chứa nguy cơ thất bại hơn so với cùng hoạt động của một công ty ởTrung Quốc và Ấn Độ Một hoạt động thúc đẩy xk của DN được coi là phùhợp và mang lại hiệu quả nhất định khi quốc gia chưa gia nhập khối liên kết,song chưa chắc nó đã mang lại hiệu quả nhất định khi quốc gia đó gia nhậpkhối liên kết Một khi quốc gia tham gia vào khối liên kết thì hàng rào thếquan sẽ dần được dỡ bỏ vì thế cạnh tranh sẽ trở nên khốc liệt hơn lúc này hoạtđộng thúc đẩy xk cũng có sự thay đổi sâu sắc, tập trung vào sản phẩm hànghoá hàm chứa yếu tố công nghệ cao nhiều hơn
1.1.4.2 Các nhân tố bên trong DN
Nếu như các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng vĩ mô lên hoạt động thúcđẩy xk của DN, và DN chỉ có thể dự báo nghiên cứu và có những phản ứngthích nghi phù hợp thi các nhân tố nội tại bên trong của DN là những nhân tố
mà chính bản thân DN có thể điều chỉnh, tác động, thay đổi theo chiều hướngtốt đến hoạt động thúc đẩy sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động thúcđẩy xk nói riêng Cơ hội và chiến lược kinh doanh của công ty luôn phụ thuộcchặt chẽ và bắt nguồn từ tình hình hiện tại, từ tiềm lực của công ty Một thayđổi có thể là hấp dẫn đối với công ty này nhưng lại có thể là nguy cơ đối vớicông ty khác, một thị trường có thể là tiềm năng, lợi thế đối với công ty nàynhưng có thể là khó khăn thách thức đối với công ty khác Sở dĩ có sự khác
Trang 19nhau này là do tiềm lực của các công ty khác nhau về tiềm lực, cách hànhđộng của các công ty là khác nhau Một hoạt động thúc đẩy có thể phù hợp vàphát huy hiệu quả đối với DN này song chưa chắc đã hiệu quả đối với DNkhác Sau đây là một số yếu tố thuộc về tiềm lực công ty ảnh hưởng đến hoạtđộng thúc đẩy xk của công ty.
+ Tiềm lực tài chính.
Đây là nhân tố phản ánh sức mạnh của công ty thông qua các chỉ sốnhư nguồn vốn (vốn chủ sở hữu, vốn vai), lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, khảnăng trả nợ ngắn hạn, vòng quay vốn…tất cả những chỉ tiêu đó phản ánh khảnăng trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh, khả năng trong việc thâm nhậpthị trường, khả năng sử dụng hiệu quả nguồn vốn của mình, khả năng dámchấp nhận rủi ro Đối tác sẽ muốn đặt hàng, muốn thiết lập quan hệ làm ănvới một công ty có nguồn tài vững mạnh, minh bạch so với các công ty cónguồn vốn nhỏ, không rõ ràng Tiềm lực tài chính là một lợi thế rất lớn củacông ty trong trong hoạt động thúc đẩy xk hàng hoá, một công ty có tiềm lựctài chinh mạnh không những là yếu tố thu hút đối tác khách hàng mà nó còn
có khả năng xúc tiến thâm nhập thị trường Tài chính có thể là hạn chế củacác doanh nghiệp vừa và nhỏ của VN điều này sẽ là hạn chế của các doanhnghiệp trong việc thâm nhập thị trường nước ngoài, song với việc có thể huyđộng vốn từ nhiều nguồn, với việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có, vớiviệc tích luỹ vốn theo thời gian nhất định khó khăn hạn chế này sẽ được tháo
gỡ dần trong thời gian tới Như vậy tiềm lực tài chính của DN ảnh hưởng rấtlớn đến chính hoạt động thúc đẩy xk của DN đó, tài chính là yếu tố không thểthiếu để các DN tiến hành thực hiện những hoạt động thúc đẩy của mình, tiềmlực tài chính mạnh sẽ là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của cáchoạt động thúc đẩy xk mà DN tiến hành Tiềm lực tài chính quyết định đếnquy mô của hoạt động thúc đẩy XK mà DN tiến hành, nếu các DN có nguồn
Trang 20tài chính hùng hậu thì họ có thể tiến hành hoạt động thúc đẩy XK của mìnhtrên phạm vi rộng lớn và ngược lại các DN có nguồn tài chính nhỏ thì chỉ cóthể tiến hành các hoạt động thúc đẩy hoạt động XK của mình trong phạm vihẹp và quy mô tiến hành nhỏ hơn.
+ Tiềm lực con người.
Con người luôn là tài sản quý nhất và quan trọng nhất của mỗi công ty,
là nhân tố quan trọng để đảm bảo sự thành công bền vững của công ty Conngười là đối tượng trực tiếp quản lý và sử dụng các tài sản khác( nguồn vốn,công nghệ, thiết bị…) tiềm lực con người của công ty thể hiện ở chất lượng,trình độ, kỹ năng của đội nguồn nhân lực Đặc biệt trong thời đại ngày naynguồn nhân lực càng có vai trò cấp thiết hơn bao giờ hết, một DN có tiềm lựccon người mạnh thì là một lợi thế rất lớn trong việc thúc đẩy hoạt động xk củachính doanh nghiệp đó Sự ảnh hưởng của tiềm lực con người tới hoạt độngthúc đẩy xk của doanh nghiệp là tác động cùng chiều, sự tác động cùng chyềucủa tiềm lực con người và hoạt động thúc đẩy xk của DN thể hiện ở chổ nếu DN
có đội ngũ lao động dồi dào trình đọ và chất lượng cao đồng nghĩa với thànhcông mang lại của các hoạt đông thúc đẩy mà DN đó tiến hành Với nhữngnguồn lực như nhau với các hoạt động thúc đẩy xk như nhau thì kết quả manglại của các hoạt động thúc đẩy đó là khác nhau với các DN có tiềm lực lao độngkhác nhau Tóm lại tiềm lực lao động ảnh rất lớn đến hoạt động thúc đẩy mà DNtiến hành, đến hiệu quả thu được của các hoạt động thúc đẩy với thực tế đó đòicác DN Việt Nam phải không ngừng nâng cao tiềm lực con người của mình đây
là việc làm cần tiến hành trong dài hạn không thể thuwch hiện một sớm mộtchyều, đây là các chiến lược về thu hút và sử dụng người tài đây là các chiếnlược về đào tạo đãi ngộ và giữ chân người tài
Trang 21Ngoài những nhân tố trên các yếu tố về trình độ tổ chức quản lý, vị tríđịa lý… cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thúc đẩy xk của các doanhnghiệp.
Tóm lại: Hoạt động thúc đẩy xk mặc dù mang lại lợi ích rất lớn chodoanh nghiệp, tuy vậy nó hàm chứa sự phức tạp khó khăn, và những rủi ronhất định Có nhiều yếu tố tác động đến hoạt động xk của doanh nghiệp,ngoài những nhân tố thuộc môi trường vĩ mô nằm ngoài sự tác đông trực tiếpcủa doanh nghiệp là các nhân tố thuộc về bản thân nội tại doanh nghiệp.Chính vì vậy để hoạt động thúc đẩy xk của mình đạt hiệu quả, từng bướckhẳng định vị thế của mình trên thị trường thì DN cần nghiên cứu kỹ càng cácnhân tố có thể ảnh hưởng, các tác động có thể có lên hoạt động thúc đẩy xkqua đó có những hành động và chiến lược hợp lý Qua việc nghiên cứu cácnhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thúc đẩy xk này mỗi DN sẽ tiến hành nhữnghoạt động thúc đẩy xk phù hợp với chính DN mình, thông qua các yếu tố ảnhhưởng đến hoạt động thúc đẩy xk này các DN dự báo các khả năng có thể xẩy
ra qua đó xây dựng những hành động đối phó trong tương lai
1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động thúc đẩy XK
Hoạt động thúc đẩy xk là những hoạt động mang tính chất chiến lượcqua đó làm cho xk phát triển theo cả chyều rộng lẫn chyều sâu Có nhiều tiêuchí để đánh giá sự thành công hay thất bại của một hoạt động thúc đẩy xk, nóbao gồm các chỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng
1.2.5.1 Các chỉ tiêu định tính
Đây là chỉ tiêu đánh giá hoạt động thúc đẩy xk dựa trên mục tiêu mà mà
DN đặt ra liên quan quan đến hoạt động xk, có nghĩa là từ các chỉ tiêu nàythông qua việc so sánh nó với các mục tiêu liên quan đến hoạt động xk đểđánh giá kết quả đạt được của hoạt động thúc đấy xk mà DN tiến hành cụ thểsau đây là một số chỉ tiêu định tính đánh giá hoạt động thúc đẩy xk của DN:
Trang 22+ Thị trường xk
Thị trường xk luôn là yếu tố quan trọng thể hiện sự thành công hay thất bạicủa hoạt động thúc đẩy xk Khi mà DN thực hiện mục tiêu mở rộng thị trườngcho một số chũng loại sản phẩm nào đó thì kết quả mà họ mong đợi là sốlượng thị truờng mới được mở rộng và tăng thêm Để đạt được điều này thìcác DN tiến hành những hoạt động thúc đẩy xk của mình
Như vậy thông qua tiêu chí thị trường cụ thể là số thị truờng mới tăngthêm là tiêu chí định tính quan trọng đánh giá hiệu quả của hoạt động thúcđẩy xk mà DN tiến hành Thông qua việc mở rộng thị truờng thì doanh thu xktăng lên mở ra cơ hội làm ăn mới cho các DN Đây là một chỉ tiêu quan trọngtrong việc đánh giá sự thành công hay thất bại của một hoạt động xk, mục tiêuquan trọng của hoạt động thúc đẩy xk là thị trường và khách hàng Thông quahoạt động thúc đẩy xk của mình công ty luôn muốn thâm nhập thành côngnhững thị trường mới, công ty luôn muốn có những khách hàng mới cũng nhưcũng cố những khách hàng hiện tại Một hoạt động thúc đẩy xk không đượccoi là thành công nếu thông qua hoạt động thúc đẩy đó công ty thất bại trongviệc tiếp cận thị trường mới, nếu sản phẩm của công ty không được kháchhàng biết đến và chấp nhận Thông qua các chỉ số khách hàng như số lượngkhách hàng, thông qua thông số thị trường như các thị trường mà công tyvươn đến tăng lên sau hoạt động thúc đẩy xk để đánh giá tính hiệu quả vàthánh công của hoạt động thúc đẩy xk
+ Hình thức xk
Hình thức xk là các cách thức xk mà DN có thể tiến hành Mỗi hìnhthức có một ưu nhược điểm và phù hợp với điều kiện nhất định Sẽ là rất rủi
ro cho các DN lựa chọn và tiến hàng độc tôn một hình thức xk, vì nếu lựachọn duy nhất một hình thức xk lúc này nếu có sự biến động nào liên quanđến hình thức xk này thì thiệt hại cho DN là rất lớn và DN bị động trong việc
Trang 23đối phó với biến động này Vì vậy để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thúcđẩy xk của mình một số DN đặt ra mục tiêu đa dạng hoá hình thức xk.
Với các DN đặt ra mục tiêu đa dạng hoá hình thức thúc đẩy xk thì mộttrong những tiêu chí đánh giá hoạt động thúc đẩy xk của một DN là số lượngcác hình thức xk mà DN sử dụng, hiệu quả đạt được và kim nghạch xk cótăng lên khi DN thực hiện mục tiêu này hay không
+Quảng cáo và xúc tiến thương mại
Quảng cáo và xúc tiến thương mại luôn là một việc không thể thiếutrong hoạt động xk Trước khi quyết định thâm nhập và xk sang một thịtrường, cũng như giữ thị trường thì mỗi công ty đều xây dựng cho mìnhnhững chiến lược xúc tiến cũng như chương trình quảng cáo, quảng bá nhấtđịnh Quảng cáo và xúc tiến thương mại quyết định rất lớn đến sự thành côngcủa hoạt động xk, không những đây là những việc cần tiến hành nằm trongcác hoat động thúc đẩy mà nó còn là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đếncác nhân tố khác Việc công ty xây đựng được cho mình một chương trìnhquảng cáo thích hợp, một chiến lược xúc tiến thương mại hợp lý thi có thể nóicông ty đã phần nào thành công trong hoạt động thúc đẩy của mình Một thực
tế hiện tại không khả quan là các doanh nghiệp VN còn những khó khăn nhấtđịnh trong việc xây dựng các chương trình quảng cáo cung như các chiếnlược xúc tiến thương mại Sở dĩ có điều này là do các doanh nghiệp VN cònkhó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, với số vốn tự có không lớn họ khôngdám chịu rủi ro khi bỏ ra những khoảng lớn để xây dựng những chương trìnhquảng cáo những chiến lược xúc tiến quy mô Chính vì vậy trong những nămtới các doanh nghiệp VN cần quan tâm hơn nữa, dám chịu rủi ro hơn nữa qua
đó từng bước xây dựng cho mình những chiến lược xúc tiến hợp lý và dàihạn
1.2.5.2 Các chỉ tiêu định lượng.
Trang 24Khác với chỉ tiêu định tính là dựa vào việc so sánh kết quả đạt được vớimục tiêu đề ra thì chỉ tiêu định lượng có thể tính toán rõ ràng với những con
số cụ thể, các con số cụ thể được tính toán dựa trên các báo cáo kinh doanhcủa các DN Đây là các chỉ tiêu đánh giá một cách trực tiếp kết quả của hoạtđộng thúc đẩy xk mà DN tiến hành Cụ thể sau đây là 2 chỉ tiêu cơ bản mà các
DN xk thường dựa vào đó để đánh giá kết quả của hoạt động thúc đẩy xk mà
DN mình tiến hành
+ Tốc độ tăng kim nghạch xk.
Kim ngạch xk là tiêu chí phán ánh kết quả KD của DN, kim ngạch xkđồng nghĩa với giá trị hàng hoá xk của DN Một DN khi xk vào một thịtrường nào đó luôn muốn kim ngạch xk lớn Song để đạt được mức kim ngạch
xk lớn đòi hỏi họ phải tiến hành các hoạt động thúc đẩy xk của mình Một DNđược coi là phát triển, cũng như hoạt động thúc đẩy xk mà họ tiến hành làđúng đắn và mang lại hiểu quả thì kim ngạch xk của DN sang thị trường đóphải có sự gia tăng qua các năm Tuỳ mức độ gia tăng kim ngạch để đánh giámức độ thành công của hoạt động thức đẩy xk sau đây là công thức tính tốc
độ tăng kim ngạch xk
Ta kí hiệu:
Yo: Kim ngạch xk Năm trước
Y1 : Kim ngạch xk năm liền sau
T: Tốc độ tăng kim ngạch xk
T = ( Y1 – Y0 ) / Y0 100%
Hoạt động được coi là đạt hiệu quả nếu T>O và ngược lại
+ Thị phần và tốc độ tăng thị phần của thị trường xk
Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như ngày nay thì cạnh tranh trở nênkhốc liệt hơn, cùng một chũng loại sản phẩm, trên cùng một thị truờng nhấtđịnh sẽ có rất nhiều DN tham gia cung ứng Vì vậy tại đây diễn ra cuộc cạnh
Trang 25tranh gay gắt giữa các DN trong việc lôi kéo khách hàng Dưới áp lực củacạnh tranh các DN sử dụng chính sách giá mền dẻo, tận dụng tính kinh tế theoquy mô, gia tăng mẫu mã chũng loại sản phẩm, khi đó hàng hoá của DN sẽđược tiêu thụ nhiều và chiếm thị phần lớn trên thị trường Vì vậy để đánh giáhiệu quả của hoạt động thúc đẩy xk của DN người ta dựa vào tỷ lệ thị phầnsản phẩm của DN trên thị trường cũng như tốc độ tăng trưởng của thị phần.Tốc độ tăng thị phần được xét trong một thị truờng cụ thể và trong thời giannhất định Nếu thị phần của DN tại một thị truờng nhất định lớn, tốc độ tăngtrưởng thị phần là dương qua các năm thì hoạt động thúc đẩy xk của DNnhằm thực hiện mục tiêu gia tăng thị phần là hiệu quả và ngược lại.
Các chỉ tiêu này được tính toán một cách tương đối do không biết chínhxác được khối lượng sản phẩm mà đối thủ cạnh tranh bán trên thị trường Sau đây là công thức tính thị phấn của DN trên thị trường cũng như tốc
độ tăng thị phần qua các năm
K: Thị phần của sản phẩm
K = Số lượng sp tiêu thụ trên thị trường của công ty
Tổng sp tiêu thụ trên thị trường
ty nói chung khi tham gia xk trong đó có công ty gốm sứ phomex Trong
Trang 26những năm gần đây công ty phomex đă và đang có những bước tiến dài vàquan trọng trong quá trình đưa sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài,công ty hướng đến EU như một thị trường tiềm năng Tuy vậy với thực tếhiện tại công ty còn gặp những khó khăn hạn chế nhất định và chính điều nàyảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thu được của công ty Mặc dù doanh thu xk,thị trường nước ngoài đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây,tuy vậy với thực lực hiện có cũng như sự tiềm năng của thị trường thế giớirộng lớn (đặc biệt là thị trường EU) thì những con số này là chưa thực sựđáng kể Chính vì vậy hơn lúc nào hết lúc này công ty phomex cần tiến hànhngay những hoạt động thúc đẩy xk của mình, các hoạt động thúc đẩy mà công
ty tiến hành cần phải có sự nghiên cứu cũng như tính toán lâu dài và kỹ lưỡngsao cho các hoạt động thúc đẩy này phù hợp và mang lai hiệu quả cho công
ty Quy mô thị trường xk của công ty phomex sang các thị trường là còn nhỏ,kim ngạch xk mặc dù tăng qua các năm song nếu quy về giá trị thì phần tăngnày là không đáng kể Cụ thể theo số liệu thông kê thì doanh thu xk của công
ty trong năm 2005 là 2,019 tỷ đồng, năm 2006 là 2,79 tỷ đồng, năm 2007 là4,29 tỷ đồng đây là những con số kiêm tốn đối với một công ty có hoạt động
XK chiếm thị phần lớn trong hoạt động của mình Với mức doanh thu XKhàng năm mà công ty phomex đạt được như trên thì tốc độ tăng trưởng doanhthu xk, kim ngạch mặc dù tương đối lớn song giá trị tính bằng tiền tăng thêm
là không đáng kể, sỡ dĩ có điều này thì một phần nguyên nhân là trong nhữngnăm vừa qua công ty đã chưa có sự quan tâm đúng mức đến hoạt động thúcđẩy xk của mình, các hoạt động thúc đẩy của công ty chưa nhắm đến các thịtrường cụ thể và tiềm năng Với thực tế này buộc công ty quan tâm hơn nữamạnh tay hơn nữa trong việc xây dựng và tiến hành các hoạt động thúc đẩy xkcủa mình Công ty cần nhận thức vai trò cấp bách của việc tiến hành các hoạtđộng thúc đẩy xk sang các thị trường mới đầy tiềm năng như EU và một số
Trang 27thị trường khác, không ngừng quan tâm đến các thị trường lâu đời của mình.Bằng việc nghiên cứu và tiến hành các hoạt động thúc đẩy xk này chắc chắn
sẽ mang lại hiệu quả nhất định cho hoạt động xk nói riêng và hoạt động sảnxuất kinh doanh nói chung của công ty trong những năm tiếp theo
Trang 28CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG THÚC ĐẨY XK CỦA CÔNG TY TNHH GỐM SỨ BÁT TRÀNG PHOMEX SANG THỊ TRƯỜNG EU 2.1 Khái quát chung về công ty TNHH gốm sứ bát tràng
2.1.1 Lịch sử hình thành, phát triển của công ty
Tên doanh nghiệp Bat Trang ceramic Porcelain Co.,LTD
Tên giao dịch nước ngoài Bat Trang ceramic Porcelain Co.,LTD
Trụ sở chính Đa Tốn – Gia Lâm- Hà Nội
Trang 29+ Ngành nghề kinh doanh: sản xuất hàng gốm sứ truyền thống BátTràng, xuất những mặt hàng do công ty sản xuất kinh doanh, đại lý mua bán
và ký gửi hàng hoá
+Vốn điều lệ: 329.000.000 đ
Trong quá trình kinh doanh đã có những thay đổi, công ty đã thay đổiđăng ký kinh doanh ngày 03-08-2004, theo quyết định thành lập công ty số0404488:
+ Ngành nghề kinh doanh:
* Sản xuất hàng gốm sứ
* Xuất khẩu hàng hoá do công ty sản xuất
* Đại lý mua, bán và ký gửi hàng hoá
* Buôn bán, sản xuất máy móc dụng cụ, nguyên vật liệu ngành gốmsứ
* Kinh doanh cơ sở lu trú khách du lịch
( Doanh nghiệp chỉ kinh doanh khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật)
+ Vốn điều lệ: 3.000.000.000 đ ( ba tỷ đồng Việt Nam- Trong đó vốnbằng tài sản là 172.000.000 đ)
Công ty đặt tại làng Đa Tốn với diện tích là 8000m2 trong đó : 4000m2 chosản xuất nguyên liệu, 3000m2 cho sản xuất, 1000m2 cho nhà kho Công tycòn có 4000m2 cho sân đóng container
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty TNHH gốm sứ Bát Tràng Phomex
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đạt hiệu quả và
không đi chệch hướng mục tiêu đã đề ra thì công ty đã xây dựng cho mìnhnhững chức năng và nhiệm vụ cụ thể mang tính dài hạn Các chức năng vànhiệm vụ này được công ty đưa vào bản quy ước của DN cụ thể sau đây là
Trang 30những chức năng và nhiệm vụ hoạt động của công ty TNHH gốm sứ bát tràngphomex.
2.1.2.1 Chức năng của công ty
+ Công ty có chức năng sản xuất và cung ứng các loại hàng gốm sứ rathị trường theo đăng ký kinh doanh Đây là chức năng đầu tiên và hết sứcquan trọng với chức năng này công ty phản ánh mặt hàng chiến lược và cốtlõi của mình
+ Công ty phải thực hiện chức năng phân phối theo hai hướng cơ bảnsau:
* Tìm ra các kênh phân phối và luồng tiêu thụ hàng hoá của mìnhmột cách hợp lý nhất
* Phân phối công bằng và hợp lý mọi kết quả sản xuất kinh doanh đạtđược sụ công bằng này thể hiện ở chế độ đãi ngộ người lao đông của công ty
Ngoài 2 chức năng cơ bản trên thì doanh nghiệp còn có một số chức năngkhác nhau: chức năng hậu cần kinh doanh, chức năng tài chính , chức năngquản trị…
2.1.2.2 Nhiệm vụ của công ty: Công ty có nghĩa vụ
* Kinh doanh theo ngành nghề ghi trong giấy phép
* Ưu tiên sử dụng lao động trong nước, đảm bảo quyền và lợi íchcủa người lao động theo quy định của pháp luật lao động, tôn trọng quyền tổchức công đoàn
* Bảo đảm chất lượng hàng hoá theo tiêu chuẩn đã đăng ký
*Tuân thủ quy định của nhà nước về bảo vệ môi trường , bảo vệ
di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh và trật tự an toàn xã hội
* Ghi chép sổ sách kế toán, thống kê và chịu sự kiểm tra của cơquan tài chính
* Nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Trang 31* Trích 5% lãi ròng hàng năm để lập quỹ dự trữ bắt buộc cho đến
10% vốn điều lệ của công ty
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội của công ty
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty
Sơ đồ 1: Cấu tố chức công ty gốm sứ Bát Tràng
(Nguồn: phòng tổ chức công ty năm 2006)
Phòng
kế toán
Phòng hành chính
Phân xưởng tạo hình
Phân xưởng vẽ
Phân xưởng lò
Kho chứa hàng
Trang 32Trên sơ đồ ta thấy tổ chức của công ty Phomex gồm hai cấp là cấp công
ty và cấp phân xưởng ở cấp công ty, cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị được bốtrí theo kiểu trực tuyến chức năng Đây là kiểu cơ cấu kết hợp hai kiểu trựctuyến và chức năng Theo kiểu này người thủ trưởng được sự giúp sức, thammưu của các phòng ban chức năng, các bộ phận tư vấn, có sự trao đổi bàn bạctìm ra phương pháp giải quyết hiệu quả nhất cho những vấn đề phức tạp, tuyvậy người có quyền quyết định sau cùng vẩn là thủ trưởng Những quyết địnhquản lý do các phòng ban chức năng nghiên cứu đề xuất và được thủ trưởngđồng ý biến thành mệnh lệnh hành động từ trên xuống Kiểu cơ cấu tổ chứcnày vừa phát huy năng lực chuyên môn của các phòng ban chức năng vừađảm bảo quyền chỉ huy của hệ thông trực tuyến Do ưu điểm của mô hình này
là phù hợp với công ty có quy mô vừa và nhỏ, đồng thời kết hợp được với ưuđiểm của cấu trực tuyến và cơ cấu chức năng với nhau Trong hệ thống trựctuyến – chức năng đồng quản trị từ trên xuống dưới vẫn tồn tại những ở cấp
độ công ty người ta bố trí xây dựng thêm các điểm chức năng theo các lĩnhvực công tác
Công ty Phomex có ban giám đốc và các phòng ban chức năng
Trang 33* Phó giám đốc là người được cử ra để giúp cho giám đốc trong lĩnhvực sản xuất và kinh doanh Cụ thể là chịu trách nhiệm giám sát việc điềuhành sản xuất, đảm bảo hoạt động sản xuất đạt chất lượng và đúng kế hoạch
đề ra, điều hành công ty khi giám đốc vắng mặt
Ban giám đốc là nơi đề ra các quyết định, còn các phòng ban phải thựcthi quyết định đó và có quyền đề xuất ý kiến hay tham mưu cho giám đốctrong phạm vi chuyên môn của mình để giúp ban giám đốc ra quyết định kịpthời đầy đủ và chính xác
+ Các phòng ban chức năng :
* Phòng tổ chức: giúp ban giám đốc về các mặt
. tổ chức Công tác tổ chức cán bộ, lao động tiền lương
Soạn thảo các nội quy, quy chế quản lý và các quyết định
Điều động, tuyển dụng lao động
Công tác đào tạo : phát triển trình độ, tay nghề ngngười lao độngđáp ứng yêu cầu của công việc
Công tác nhân sự : tính toán về nhu cầu lao động trong công ty,
có biện pháp chính sách trong phát triển và thu hút nhân sự
* Phòng kỹ thuật: giúp ban giám đốc về các mặt kỹ thuật
Các công việc mà phòng kỹ thuật của công ty thực hiện bao gồm :
Quản lý kỹ thuật sản xuất
Quản lý và xây dựng kế hoạch, lịch trình tu sữa máy móc thiết bị Giải quyết các sự cố máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất
Tham gia đào tạo công nhân, đặc biệt là các công nhân đứng máy và tu sữamáy móc thiết bị
* Phòng kế toán: giúp ban giám đốc về công tác kế toán – thống kê –tài chính
Trang 34Phòng kế toán với nhiệm vụ hạch toán các hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty, cung cấp những thông tin tài chính về kết quả kinh doanhlàm cơ sở cho việc ra quyết định của ban giám đốc Phòng kế toán cung cấpthông tin chính xác và toàn diện về tình hình cung ứng và dự trữ, sử dụng tàisản từng loại (tài sản cố định, nguyên vật liệu, vốn bằng tiền) cùng với nguồnhình thành lên từng loại tài sản đó, góp phần bảo vệ và sử dụng tài sản mộtcách hợp lý nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.
Phòng kế toán có nhiệm vụ giám sát tình hình kinh doanh của công ty,góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, tổ chức công tác kế toán khoa họchợp lý vừa phù hợp với chế độ theo điều lệ hiện hành về kế toán của nhànước, vừa phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý củacông ty, theo dõi tình hình sử dụng vốn, giám sát tình hình thực hiện các hợpđồng kinh tế , các nghĩa vụ với nhà nước với cấp trên, với các đơn vị bạn.Phòng kế toán với nhiệm vụ chuyên môn của mình có trách nhiệm tham mưucho ban giám đốc về lĩnh vực tài chính của công ty
* Phòng hành chính
Phòng hành chính giúp ban giám đốc về các mặt công tác hành chínhhàng ngày trong công ty, quản lý điều độ sản xuất hàng ngày
2.1.2.2 Cơ cấu sản xuất
Xưởng là nơi trực tiếp sản xuất và chiếm đa số nguồn lực trong công ty.
Xưởng sản xuất gồm có năm phân xưởng khác nhau, mỗi phân xưởng cónhững hoạt động riêng biệt, và việc tổ chức giám sát sản xuất được ban giámđốc phụ trách Trong các công đoạn của dây truyền sản xuất gốm sứ có cử raquản đốc chịu trách nhiệm trước giám đốc về tình hình sản xuất và hiệu quảcủa phân xưởng mình Mọi hoạt động diễn ra một cách dây truyền, liên hoànkhép kín từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình sản xuất Mỗi phân xưởngđều có các cán bộ để kiểm tra chất lượng sản phẩm làm ra
Trang 35● Phân xưởng nguyên liệu chịu trách nhiệm nghiền đất, khuấy đất, lọcthô làm ra đợc các loại đất theo yêu cầu.
● Phân xưởng khuôn mẫu chịu trách nhiệm làm ra các loại khuôn vớikiểu dáng , kích cỡ khác nhau
● Phân xưởng tạo hình: Chịu trách nhiệm tạo ra các sản phẩm mộc theokhuôn đã có và tiến hành sửa chữa nếu có sự khác biệt so với khuôn mẫu đãcó
● Phân xưởng trang trí: Chịu trách nhiệm trang trí các loại hoa văn theoyêu cầu
● Phân xưởng lò: Chịu trách nhiệm vào lò, đốt lò, ra lò và kiểm tra cácloại sản phẩm đã được đun đốt Sau đó đa ra các loại sản phẩm đạt tiêu chuẩnvào nhập kho
Sau đây là quy trình sản xuất sản phẩm gốm sứ của công ty được thểhiện bằng sơ đồ:
Sơ đồ 2 :Quy trình sản xuất đồ sứ các loại.
(Nguồn: phòng kỹ thuật năm 2007)
Trang 362.1.2.3 Về nhân sự
Lao động là nguồn đầu vào quan trọng của công ty, có ý nghĩa quyếtđịnh đến năng lực sản xuất của công ty Các yếu tố khác chỉ là yếu tố vật chấtđơn thuần mà hiệu quả của nó phụ thuộc vào hiệu quả lao động của con -người Do vậy đây là yếu tố duy nhất có tính chủ động sáng tạo ra sản phẩm
và chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinhdoanh Đây là đối tượng phức tạp, khó quản lý và sử dụng có hiệu quả lựclượng lao động là một vấn đề khó khăn Lao động của công ty chủ yếu tậptrung ở phân xưởng sản xuất, lực lượng lao động ở các phòng ban chức năngthì phần lớn đều có trình độ cao đẳng và đại học
Lực lượng lao động của công ty chủ yếu là những ngời có tay nghề đượchuy động được từ các vùng lân cận như : Gia Lâm, Đông Anh, Hải Dương, HảiPhòng, Hưng Yên…Lực lượng lao động này làm việc theo hợp đồng có thời hạn,hợp đồng lao động được ký kết giữa giám đốc và ngngười lao động
Hiện nay công ty có trên 80 cán bộ công nhân làm việc tại công ty,thêm vào đó có từ 300 đến 400 công nhân thời vụ Tất cả lao động đều đượctham gia khoá đào tạo liên quan đến quá trình sản xuất của công ty Ngoài racác nhân viên chủ được tham gia các khoá đào tạo về tiếng anh làm cho họ cóthể giao tiếp bằng tiếng anh
Bên cạnh lực lượng lao đông tay chân thi công ty con tập trung và thuhút số lượng lớn nguồn nhân lực có trình độ cao, đội ngũ này chủ yếu tốtnghiệp đại học và sau đại học của một số trường phù hợp chuyên ngành như:Kinh tế quốc dân, thương mại, ngoại ngữ, nông nghiệp…hầu hết đây là độingũ tuổi đời còn khá trẻ do đó tính năng động và khả năng xông pha là rấtlớn
Như vậy có thể nói công ty có một tiềm lực lớn về nhân sự Bên cạnhđội ngữ công nhân có tay nghề, kỹ năng và sức khỏe là một lực lượng không
Trang 37nhỏ đội ngũ lao động trẻ có trình độ kiến thức Chính sự kết hợp của hai lựclượng này sẽ là một lợi thể không nhỏ trong việc thúc đẩy hoạt đông xk củacông ty ra thị trường nước ngoài nói chung và thị trường EU nói riêng.
2.1.2.4 Nguồn nguyên liệu
Bất kỳ một sản phẩm nào được sản xuất ra đều có một hoặc nhiềunguyên vật liệu kết hợp với nhau tạo thànhvà để sản xuất các loại gốm sứcông ty sử dụng một số nguyên vật liệu chính sau: đất men, bột màu, ôxít,trường thạch, zecon Silicon, thạch cao, gas, than, củi, bao bì…
Để đảm bảo nguyên liệu đúng về chất lượng, đủ về số lượng, kíchthước, chủng loại và khả năng cung cấp kịp thời với chi phí thấp nhất công tythường lập trước một bản kế hoạch mua sắm, lựa chọn, vật tư một cách chitiết mang tình cụ thể trong từng lô hàng cũng như dài hạn và chủ động của cả
kế hoạch sản xuất các loại vật tư này thông thường được mua từ một số nguồnchính sau:
- Mỏ đất Cao lanh Hải Hưng
- Trường thạch được mua ở Vĩnh Phúc
- Shellgas Hải Phòng
- Than của xí nghiệp than Hồng Gai
Còn một số nguyên liệu mua từ các cửa hàng chuyên bán màu nhập khẩu
từ nước ngoài như: ôxít cobon, bột nhôm, màu đại thanh và zecon Silicon
Đối với những nguyên liệu chiếm tỷ trọng lớn và có tính quyết địnhđến tình hình sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm công ty thường chủđộng mua với số lượng lớn theo hợp đồng cả năm Nhờ đó mà vẫn đảm bảođược tính chủ động trong sản xuất vừa góp phần hạ giá thành sản phẩm Vớimột số loại vật tư khác ít quan trọng hơn thì công ty tính toán cụ thể từng loạimột và đặt mua theo kế hoạch từng quý thậm chí từng tháng ở các đơn vịcung ứng nhờ vậy mà tránh được tình trạng ứ đọng vốn, giảm chi phí bảo
Trang 38quản không cần thiết, bám sát giá trên thị trường nhờ đó mà làm tăng sứccạnh tranh của sản phẩm.
2.1.2.5 Về nguồn tài chính
Ngày 04-01-1992, UBND thành phố Hà Nội quyết định cho phép
thành lập công ty với tên là Công ty TNHH gốm sứ Bát Tràng Phomex theoquyết định thành lập công ty số 574/QĐ-UB Với số vốn điều lệ ban đầutương đối ít với 329.000.000đ Tuy vậy trong Trong quá trình kinh doanhcông ty đã có những thay đổi, công ty đã thay đổi đăng ký kinh doanh ngày03-08-2004, theo quyết định thành lập công ty số 0404488, với thay đổi nàycông ty đã tăng vốn điều lệ lên 3.000.000.000 đ (ba tỷ đồng Việt Nam Trong
đó vốn bằng tài sản là 172.000.000 đ) Ngày nay do yêu cầu của việc sản xuấthinh doanh nên công ty đang có phương hướng tăng số vốn điều lệ, đặc biệtsắp tới công ty đang có dự án liên doanh với một doanh nghiệp lớn của HàLan đây chính là cơ hội cũng như áp lực buộc công ty phải tăng vốn điều lệtrong thời gian tới Tuy vậy xét về điều kiện hiện tại thì công ty còn có nhữnghạn chế nhất định với điều kiện tài chính hiện tại Với điều kiện tài chính hiệntại này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thúc đẩy xk của chính công tytrong thời gian tới
2.1.2.6 Sản phẩm, khách hàng và thị trường của công ty
+ Về sản phẩm: Sản phẩm chủ yếu của công ty là các mặt hàng tiêu
dùng gia đình và một số sản phẩm trang trì như: Ang, Âu, ấm chén các loại,tượng, đồ ăn uống, đồ trang trí…Công ty đang từng bước hoàn thiện dâychuyền sản xuất qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như mẫu mãchũng loại, tuy vậy do tính chất tay chân cũng như thủ công trong quá trìnhsản xuất do đó chất lượng sản phẩm còn chưa đồng đều giữa các lô sản xuất,mẫu mã sản phẩm còn tương đối đơn điệu chưa có nhiều sản phẩm mới trongmỗi lô xk Có thể nói bên cạnh những mặt đạt được thì công ty còn có những
Trang 39hạn chế nhất định về mặt sản phẩm, những hạn chế này liên quan đến chấtlượng sản phẩm kiểu dáng mẫu mã sản phẩm cũng như giá thành của sảnphẩm Chính vì cải tiến mọi mặt về sản phẩm là công việc cần thiết hiện naytrong hoạt động thúc đẩy xk của công ty.
+ Về khách hàng: Do sản phảm chủ yếu của công ty là đồ tiêu dùng bằng
sứ cũng như một số sản phẩm trang trí do đó khách hàng chủ yếu của công ty
là các hộ gia đình, tuy vậy do những khó khăn nhất định về nguồn tài chínhcũng như đội ngũ bán hàng nên công ty chưa có các đại lý phân phối bán hàngcủa riêng mình mà chủ yếu phân phối đến tay người tiêu dùng qua các công ty,
tổ chức phân phối khác
+ Về thị trường: Thị trường trong nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn so
với thị trường nước ngoài Sản phẩm của công ty đã có mặt ở rất nhiều tỉnhthành trong đó tập trung phân phối nhiều ở các thành phố lớn như: ( Hà Nộichiếm 14,5% thị phần tiêu thụ trong nước, TP HCM chiếm 12,1%) Ngoài thịtrường trong nước thì công ty cũng đang từng bước thâm nhập và xk sanphẩm của mình ra thị trường nước ngoài, trong những năm vừa qua thị trườngnước ngoài liên tục được mở rộng ngoài những thị trường truyền thống nhưHàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Philippin thì trong những năm gần đây công
ty còn xk sang các nước: Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển, Đan Mạch…
Nếu như trước đây thị trường xuất khẩu nước ngoài của công ty chủyếu là một số nước Châu Á thì trong những năm gần đây công ty đã chủ động
xk sang nhiều khu vực thị trường khác nhau (trong đó EU nổi nên như là mộtthị trường đầy tiềm năng mà công ty đã khai thác khá thành công trongnhững năm gần đây)
Trang 402.2 Thực trạng chung về hoạt động thúc đẩy XK của công ty trong
những gần đây
2.2.1 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
2.2.1.1 Kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng 1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
phomex từ năm 2005 đến năm 2007
Năm 2007
(Nguồn: phòng kế toán năm 2007)
Qua bảng trên ta thấy tình hình sản xuất kinh doanh của công ty diễn ra
theo chiều hướng tích cực, doanh thu năm sau cao hơn năm trước, năm 2006
so với năm 2005 tăng 29,77% Năm 2007 so với năm 2006 tăng 30,68%, công
ty hoàn thành mục tiêu tăng trưởng đề ra với doanh thu là sự gia tăng của lợi