1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài phong trào độc lập dân tộc ở ấn độ trong những năm 1919 1945

56 561 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đêm dài đen tối đầy bất công của các chế độ phong kiến, tư bảnthực dân, nhất là qua những năm tháng khủng khiếp của Chiến tranh thế giới thứ nhất, nhândân ở các nước thuộc địa và n

Trang 1

Đề tài

Phong trào độc lập dân tộc ở Ấn

Độ trong những năm 1919-1945

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

I Quá trình xâm lược và thống trị của thực dân Anh đối với Ấn Độ 5

1 Quá trình thực dân Anh xâm lược Ấn Độ 5

2 Chính sách cai trị của thực dân Anh đối với Ấn Độ 8

a) Chính sách về chính trị 9

b) Chính sách về quân sự 10

c) Chính sách về kinh tế 10

d) Chính sách về văn hóa-xã hội 12

II Chính sách cai trị của thực dân Anh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và tác động của những chính sách đó đến Ấn Độ .14 III Đảng Quốc Đại và đường lối đấu tranh của M.Gandhi trong phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn Độ nửa đầu thế kỉ XX 18

1 Đảng Quốc Đại và một vài nét về tiểu sử M.Gandhi 18

2 Đường lối đấu tranh của M.Gandhi trong phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn Độ nửa đầu thế kỉ XX 19

a) Bất bạo động và Ahimsa (tính bất hại) 20

Trang 3

b) Satya (Đạo/Chân lí) 21

c) Satyagraha (Sức mạnh chân lí) 21

IV Phong trào độc lập dân tộc ở Ấn Độ trong những năm 1919-1945 27

1 Phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ trong những năm 1919-1922 27

2 Phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ từ năm 1923-1928 31

* Sự ra đời của các Đảng công nông và sự phát triển của phong trào công nhân-nông dân Ấn Độ 32

3 Phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ trong những năm 1929-1939 35

a) Hoạt động đấu tranh của Gandhi và Đảng Quốc Đại 35

b) Hoạt động đấu tranh của Đảng Cộng Sản và công nhân Ấn Độ 38

4 Ấn Độ trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) 40

KẾT LUẬN 43

PHỤ LỤC 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 3-SP SỬ 2B_K37 56

Trang 4

Bồ Đào Nha , Pháp…và cuối cùng là Anh Dưới ách thống trị thực dân, các tầng lớp nhândân Ấn Độ không ngừng nổi dậy đấu tranh Nhiều cuộc khởi nghĩa khắp nơi đã nổ rachống lại thực dân Anh, đồng thời tấn công vào bọn phong kiến.

Năm 1917, Cách mạng Xã hội chủ nghĩa tháng Mười ở Nga thắng lợi, cuộc Chiếntranh thế giới thứ nhất kết thúc đã mở ra một thời kì phát triển mới trong phong trào giảiphóng dân tộc ở các nước thuộc đại và nửa thuộc địa Tiếng vang của Cách mạng thángMười Nga đã vượt qua biên giới của nó, tác động mạnh mẽ đến hầu khắp các quốc gia–dântộc trên hành tinh Trong đêm dài đen tối đầy bất công của các chế độ phong kiến, tư bảnthực dân, nhất là qua những năm tháng khủng khiếp của Chiến tranh thế giới thứ nhất, nhândân ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, những người phải chịu đựng nhiều tai họa nhấtcủa chiến tranh đã tìm thấy ở Cách mạng tháng Mười những niềm hi vọng to lớn đối vớimình, thúc đẩy họ vùng dậy đấu tranh giành quyền sống, giành độc lập dân tộc, Ấn Độcũng không ngoại lệ Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào đấu tranh chống thựcdân Anh dâng cao mạnh mẽ ở Ấn Độ

I Quá trình xâm lược và thống trị của thực dân Anh đối với Ấn Độ

Trang 5

Trước khi Chủ nghĩa tư bản phương Tây xâm lược, Ấn Độ đang trong thời kì suytàn của Đế quốc đại Môgôn Chế độ phong kiến vẫn giữ địa vị thống trị trong xã hội, ruộngđất thuộc sở hữu quốc gia phong kiến Đây cũng là thời kì công xã nông thôn Ấn Độ xuấthiện những mầm mốnga sự tan rã Là quốc gia đa dân tộc, tôn giáo cho nên mâu thuẫn dântộc, tôn giáoluôn là vấn đề nóng của Ấn Độ Những cuộc chiến tranh liên miên giữa các tậpđoàn phong kiến càng khơi sâu sự chia rẽ dân tộc và làm suy yếu đất nước cộng vớinhững tập tục lạc hậu, lễ nghi phức tạp đã làm cản trở sự thống nhất Ấn Độ Dưới thời kìsuy tàn của triều đại Môgôn, phong trào đấu tranh của Nhân dân chống lại chế độ phongkiến cùng với sự xâm lược từ bên ngoài đã đánh dấu giai đoạn mạt kì của chế độ phongkiến Ấn Độ Chính trong bối cảnh đó thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã đặt chânlên Ấn Độ và từng bước tiến hành cuộc chiến tranh ăn cướp trên bán đảo Ấn Độ.

1 Quá trình thực dân Anh xâm lược Ấn Độ

Từ thế kỉ XVI, thực dân phương Tây đã dòm ngó và từng bước xâm nhập vào thịtrường phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ Sau khi mở con đường biển đến Ấn Độ, Bồ ĐàoNha chiếm một số căn cứ quan trọng ở phía Tây Nam Trong đó, Goa là vị trí quan trọngnhất Đến nửa sau thế kỉ XVII, Hà Lan đánh bại ưu thế buôn bán của Bồ Đào Nha và cướpđược một số vùng trừ Goa, Điu và Đaman ở bờ biển phía tây

Bằng sức mạnh quân sự, thực dân Anh buộc chính quyền Môgôn trao quyền thiếtlập một đại lí tạm thời ở Xu rát, sau chuyển về Bombay Đến giữa thế kỉ XVII, lập thêmcăn cứ Mađrát, Cancutta Thực dân Pháp xuất hiện vào những năm cuối thế kỉ XVII vớicác đại lí ở Săngđecnago, Pôngđisêri Đan Mạch, Thụy Điển, Áo và nhiều nước kháccũng đặt chân lên mảnh đất phì nhiêu này Các nước châu Âu đều thực hiện âm mưu xâmlược thông qua hoạt động của các công ty Đông Ấn-một tổ chức nắm độc quyền của mỗinước trong việc buôn bán với phương Đông

Đến giữa thế kỉ thứ XVII, hoạt động của các công ty được đẩy mạnh, Pháp chiếmđược một số ưu thế nhất định ở Ấn Độ: thành lập những đội quân đánh thuê người Ấn(Xipay), đưa quân đi chiếm đóng một số nơi và được bọn phong kiến giúp đỡ, giành được

Trang 6

giành quyền bá chủ Do những cuộc chiến tranh ở châu đã gây ra cuộc chiến giữa Anh vàPháp diễn ra ở Ấn Độ (1746-1763) Kết quả, Pháp thất bại chỉ giữ được vùng Pôngđisêr và

4 thành phố ở vùng ven biển Tuy nhiên Anh cũng chưa chiếm được nhiều đất đai lắm.Sau khi chiếm được ưu thế so với các nước phương Tây khác ở Ấn Độ, thực dân Anh tăngcường bành trướng đất đai Từ Mađrat chúng biến vương quốc Cacnatich thành thuộcquốc Chúng tăng cường hoạt động ở vùng Bengan, nơi đã đặt được 150 kho hàng và 15đại lí lớn Nhưng ở đây chúng gặp phải sự kháng cự quyết liệt của dân chúng Bengan donhà vua trẻ tuổi Xirat Ut Đôilê đứng đầu Nghĩa quân đã chiếm được Cancutta, buộc bọnthực dân Anh phải bỏ chạy Sau đó, Anh điều quân về đàn áp

Trận Plêxi năm 1757 diễn ra rất ác liệt, bảy vạn quân Bengan chiến đấu ngoancường bị thất bại Xirat Ut Đôilê bị bắt và hành hình Quân Anh tàn phá Bengan, cướp đoạtnhiều tiền bạc, đốt cháy nhà cửa của nhân dân Sự đàn áp dã man đã gây nên sự căm phẫntrong nhân dân Nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra ở nhiều thành phố thuộc Bengan được sựủng hộ của vương quốc láng giềng Aođơ và đội quân Apganixtan từ Đêli tới Nhưng lựclượng nghĩa quân bị thất bại Công ty Đông Ấn của anh giành được quyền thu thuế, đóngquân, lập tòa án và thiết lập bộ máy cai trị trên mảnh đất rộng lớn nhất của Ấn Độ Vươngquốc Aođơ cũng bị lệ thuộc vào Ấn Độ

Ở phía Nam, vương quốc Haiđerabat khá rộng lớn bị Anh chinh phục

Ở phía Tây, bọn thực dân từ Bombay định bành trướng ra vùng xung quanh Thấy rõ nguy

cơ mất nước, nhà vua Haiđa Ali của vương quốc Maixuya tập hợp lực lượng kháng chiến.Sau khi Haiđa Ali chết, con trai Tipu lên ngôi vẫn tiếp tục kháng chiến, kêu gọi sự thốngnhất của các vương quốc Ấn Độ và chiến đấu rất ngoan cường Nhưng thực dân Anh xảoquyệt lôi kéo các vương quốc xung quanh, cô lập Maixuya, tiến hành áp bức buộc Tipuphải kí hòa ước năm 1792 cắt một nửa lãnh thổ cho công ty Đông Ấn Đến năm 1796,chúng nổ súng tấn công vào phần đất còn lại của Maixuya và chinh phục hoàn toàn vươngquốc này, Tipu bị tử trận

Như vậy, đến cuối thế kỉ XVIII, những vùng đất giàu có nhất của Ấn Độ nhưBengan, các nước xung quanh và toàn bộ miền Nam rơi vào tay thực dân Anh.Song song với quá trình xâm lược, thực dân Anh nhanh chóng đặt ách thống trị ở Ấn Độ

Trang 7

Cơ quan có toàn quyền cai trị ở đây là công ty Đông Ấn Các chính khách, bọn con buôn

và tập đoàn thống trị ra sức củng cố địa vị trong công ty qua đó để tăng cường bóc lột Ấn

Độ Năm 1773, Nghị viện Anh thông qua về đạo luật cai trị Ấn Độ, quy định tổng đốc củacông ty ở Cancutta đồng thời giữ chức toàn quyền trên toàn bộ lãnh địa Anh ở Ấn Độ Viêntoàn quyền cùng với một hội đồng do chính phủ Anh chỉ định nắm quyền hành chính, bêncạnh có một tòa án tối cao Đồng thời ở London thiết lập một hội đồng kiểm soát các côngviệc của công ty ở Ấn Độ do nhà vua chỉ định bao gồm một số thành viên của nội các

Tính chất của sự bóc lột trong thời kì này tương ứng với thời kì tích lũy nguyên thủycủa chủ nghĩa tư bản Anh Cho nên thủ đoạn bóc lột chủ yếu là thu thuế và vơ vét Việcbuôn bán giữa Anh và Ấn Độ được tiến hành theo một tỉ lệ thu thuế chênh lệch khá nghiêmtrọng: hàng từ Ấn Độ sang Anh đánh thuế gấp 10 lần hàng từ Anh sang Ấn Độ Hậu quả tấtnhiên của sự cướp bóc đó là tình trạng ngày càng khổ của nhân dân Ấn Độ Nạn đói xảy raliên tiếp, riêng năm 1770 đã có tới 10 triệu người chết đói

Ở Ấn Độ, thế kỉ XIX được bắt đầu bằng việc mở rộng chiến tranh xâm lược củathực dân Anh và những cuộc đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Năm 1806, các trungđoàn Xipay nổi dậy ở Benlua Năm 1816, binh lính Ấn khởi nghĩa ở Bombay Đông đảoquần chúng nông dân đứng lên chống Anh ở khắp nơi Xe6it Acmet Barenvi (1786-1831)

đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của những người theo đạo Hồi, lập căn cứ biên giới phía tâybắc Cấp tiến hơn là phong trào của Đađu Mian ở Bengan vừa chống thực dân Anh vừachống bọn quý tộc phong kiến Nhưng do tính chất phân tán, thiếu tổ chức và sự hạn chế vềthành kiến về tôn giáo nên phong trào bị thất bại

Để hoàn thành mưu đồ xâm lược, thực dân Anh chĩa mũi nhọn chủ yếu vào cácvương quốc của người Marat ở miền Trung Ấn Độ Ngay từ đầu, nhân dân Marat đã đứnglên đấu tranh chống xâm lược một cách kiên quyết Nhưng tình trạng cát cứ phong kiến,chiến tranh liên tiếp giữa các vương quốc, sự thiếu năng lực lãnh đạo và mâu thuẫn gay gắttrong các tập đoàn phong kiến tạo nên thời cơ thuận lợi cho thực dân Anh Cuộc chiếntranh năm 1803-1805 đem lại cho Anh thêm những phần đất ở miền Trung và ngay thủ đôĐeli cũng bị thất thủ Đến năm 1817, vương quốc Marat hoàn toàn bị chinh phục Từ đó

Trang 8

thực dân Anh tiếp tục bành trướng ra xung quanh và bán đảo Ấn Độ chỉ còn lại một quốcgia độc lập là Penjap.

Đầu thế kỉ XIX, do nhu cầu phát triển kinh tế và tăng cường sức mạnh chống ngoạixâm, khuynh hướng xây dựng một quốc gia tập quyền thể hiện rõ ở Penjap Ranjit Xinh làngười hoàn thành nhiệm vụ đó với một chính quyền mạnh mẽ, một quốc gia thống nhất,một đội quân hùng mạnh được nhân dân ủng hộ Tuy nhiên trong quá trình phát triểnquyền lực và mở mang bờ cõi, Penhap không tránh khỏi mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân

và bọn phong kiến ngày càng gay gắt, mâu thuẫn dân tộc giữa người Xích với các dân tộc

bị chinh phục như người Casomi, người Patan và mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thốngtrị

Sau khi Ranjit Xinh chết (1839), cuộc tranh chấp giữa các thế lực phong kiến bùng

nổ Quân đội Penjap đã nhanh chóng chặn đứng những âm mưu phản động Năm 1841 họnổi dậy giết bọn sĩ quan phản động, thành lập những ủy ban do họ cử ra gồm 5 người gọi là

“pantraiat” Pantraiat ỏ thủ đô Laho đã giành quyền kiểm soát những hành động cùa chínhphủ

Bọn phong kiến Penjap lo sợ trước sức mạnh của quần chúng nhân dân và hoạt độngcủa pantraiat đã cấu kết với thực dân Anh là kẻ đang muốn thôn tính vùng đất cuối cùngcủa Ấn Độ Cuối năm 1845, quân đội và nhân dân Penjap chiến đấu dũng cảm chống bọnthực dân Anh Nhưng do sự phản bội của bọn phong kiến, trong đó bọn sĩ quan cao cấp đãtrao cho địch kế hoạch quân sự nên nghĩa quân bị thất bại Penjap trở thành thuộc quốc củaAnh Năm 1848, nhân dân Penjap kiên cường chống lại Anh, giành được thắng lợi ban đầu,nhưng sau đó bị thất bại

Đến năm 1849, thực dân Anh đã hoàn thành việc xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ ẤnĐộ

2 Chính sách cai trị của thực dân Anh đối với Ấn Độ

Với tầm quan trọng của thuộc địa Ấn Độ nên thực dân Anh đã thực hiện chính sáchcai trị một cách toàn diện và hệ thống về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…Mục đíchcao nhất của những chính sách của Anh là để bóc lột được nhiều nhất nước này

Trang 9

a) Chính sách về chính trị

Sau khi đàn áp các cuộc khởi nghĩa trong giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX, thực dânAnh thi hành một số biện pháp củng cố và tăng cường ách thống trị của chúng Thời kì đầuAnh dùng công ti Đông Ấn thay mặt Chính phủ Anh toàn quyền cai trị và bóc lột Ấn Độ.Công ti Đông Ấn là một thứ “nhà nước trá hình trong một hội buôn” Năm 1773, Quốc hộiAnh đã bổ nhiệm một viên toàn quyền người Anh trông coi Ấn Độ và từ những năm 30 củathế kỉ XIX, Chính phủ Anh đã dần không chế công ti Đông Ấn Năm 1858, Nghị viện Anh

ra lệnh giải tán hoàn toàn công ty Đông Ấn và đặt Ấn Độ dưới quyền cai trị trực tiếp bởichính phủ Thay mặt chính phủ Anh ở Ấn Độ là một viên Phó vương với một hội độngđiều hành gồm 5 ủy viên, có quyền lực như một chính phủ Quyền lập pháp cũng ở trongtay Phó vương và một hội đồng cố vấn 12 người

Để lôi kéo bọn phong kiến, chúng tuyên bố tôn trọng quyền lợi, danh dự, tài sản vàcác đặc quyền của bọn phong kiến Đây là một hành động nhằm hợp pháp hóa chế độ đẳngcấp và các tàn dư trung cổ lỗi thời, khơi sâu sự cách biệt về chủng tộc và tôn giáo trong xãhội Ấn Độ Năm 1877, nữ hoàng Anh Victoria chính thức tuyên bố lên ngôi vua ở Ấn Độtrong một buổi lễ có đông đảo quý tộc người Ấn tham gia Nó đánh dấu bước hoàn thànhviệc chinh phục Ấn Độ thành thuộc địa của Anh và bộc lộ rõ thái độ quy phục của giai cấpphong kiến Ấn Độ

Sự thống trị của người Anh đã biến triều đại phong kiến Môgôn trở thành

bù nhìn và quyền lực thực tế nằm trong tay viên toàn quyền người Anh NgườiAnh đã triệt để lợi dụng sự khác biệt về đẳng cấp, tôn giáo, và các tiểu quốc để thựchiện chính sách “chia để trị”

Sau cuộc khởi nghĩa Xipay (1857-1859), chính quyền Anh xoá bỏ hoàn toàntriều đại phong kiến Môgôn, giải thể công ty Đông Ấn và trực tiếp cai trị Ấn Độ Thaymặt chính phủ là một phó vương người Anh với một Hội đồng gồm 5 uỷ viên cóchức năng như một Chính phủ Ngày 1/1/1874, Nữ hoàng Anh tuyên bố đồng thời là nữhoàng Ấn Độ Như vậy, Ấn Độ chính thức trở thành một bộ phận trong đế quốc Anh

Trang 10

c) Chính sách về kinh tế

Ngay từ khi đặt chân lên Ấn Độ, công ty Đông Ấn đã tiến hành cướp bóc và của cải

ùn ùn chảy về Anh “Theo tính toán của các nhà kinh tế Ấn Độ, từ năm 1757 đến 1870,người Anh đã lấy đi của Ấn Độ một khối lượng tiền, của trị giá 38 triệu bảng Anh” Người Anh đã bóc lột Ấn Độ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, công thươngnghiệp…

Trong nông nghiệp, người Anh đã đặt ra nhiều chính sách nhằm bóc lột tối đa Đặc

biệt là chính sách Daminđa được áp dụng vĩnh viễn từ năm 1793 Với chế độ này, ngườithầu có quyền sử dụng đất đai thu thuế cũng như đất đai công xã Tình hình đó đã dẫnđến hậu quả thủ tiêu các quan hệ ruộng đất và quyền thừa kế ruộng đất trong các công xãnông thôn Ấn Độ Các Daminda trở thành những địa chủ mới với quyền hành phong kiếntrước kia Trong số thuế thu được thì phải nộp cho Anh đến 9/10 nên để có thêm cho mìnhcác Daminda phải tăng cường bóc lột nhân dân Chính sách bóc lột của Anh đã dẫn đếnhậu quả người nông dân Ấn Độ ngày càng điêu đứng Kết quả của sự bóc lột đó là 26 triệungười chết đói trong 25 năm cuối của thế kỉ XIX Đây là những minh chứng tố cáo chế độthuộc địa của thực dân Anh

Trong công thương nghiệp, chính phủ Anh dùng mọi biện pháp để vơ vét bóc lột

nguyên liệu tiền của phục vụ cho nền công nghiệp Anh, biến Ấn Độ thành nơi tiêu thụhàng hóa cho công nghiệp Anh Nguyên liệu như tơ, bông thô, lông cừu ở Ấn Độ nối

Trang 11

nhau chảy về Anh giúp cho cuộc cách mạng công nghiệp ở nước này, để rồi máymóc Anh lại biến nó thành vải đưa trở lại Ấn Độ Ngành dệt vải có tiếng của Ấn Độ

đã bị bóp chết, hàng vạn thợ thủ công bị phá sản

Ấn Độ dần trở thành một thị trường tiêu thụ quan trọng nhất của nền công nghiệpAnh Trong 10 năm từ 1873-1883, thương mại giữa Anh và Ấn Độ tăng 60% trong khithương mại giữa Anh, Pháp và Đức chỉ tăng 7% Ấn Độ phải tăng cường cung cấp lươngthực và nguyên liệu cho Anh Chỉ trong vòng nửa sau thế kỉ XIX, số lượng lương thực xuấtkhẩu tăng lên hơn 10 lần thì số người dân Ấn Độ chết đói tăng lên gần 40 lần

Tài chính của Ấn Độ cũng hoàn toàn lệ thuộc Anh Ngân hàng LuânĐôn cho Chính

phủ Anh ở Ấn Độ vay từ 4 triệu bảng lên 133 triệu trong nửa sau thế kỉ XIX Số tiền đóthực dân Anh tập trung vào đầu tư ở các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, xí nghiệp chế biến… Năm1848- 1849, Anh bắt đầu xây dựng hệ thống đường sắt và đường bộ Xây dựng nhà máydệt ở Bom bay, nhà máy đay ở Băng gan, ….Thực chất đây không phải là Anh đầu tư pháttriển công nghiệp Ấn Độ mà mục đích chính là để tạo điều kiện vật chất nhằm

mở rộng khai thác nguồn tài nguyên giàu có của đất nước này

Cuộc cải cách tài chính năm 1893-1899 với đồng Rupi vàng và việc mở mang hệthống ngân hàng Anh làm cho nền tài chính Ấn Độ phụ thuộc hoàn toàn vào Anh Ấn Độcòn là thị trường đầu tư của tư bản Anh Ban đầu, hình thức xuất vốn là cho vay Từ năm1856-1900, ngân hàng Lodon cho bọn cầm quyền Anh ở Ấn Độ vay tăng từ 4 triệu lên 133triệu livrơ để chi phí vào bộ máy hành chính và quân đội, vào những cuộc chiến tranh ăncướp vào các nước phương Đông Toàn bộ món nợ và số lãi đều đè lên vai nhân dân cácnước thuộc địa

Một phần vốn xuất cảng được dùng vào việc xây dựng đường sắt và các phương tiệngiao thông liên lạc để tạo điều kiện khai thác và vận chuyển nguyên liệu ra bến cảng đưa vềAnh Những đường tàu kéo dài đến vùng hẻo lánh còn có ý nghĩa quan trọng đối với việcchuyển quân nhanh chóng, kịp thời đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Đến năm

1891, đường sắt Ấn Độ dài 28.000km Một số xí nghiệp công nghiệp bắt đầu được xâydựng, chủ yếu là những ngành vải sợi, chế biến nguyên liệu địa phương như đay, bông

Trang 12

Việc tăng cường xuất cảng nguyên liệu làm cho tính chất hàng hóa nông nghiệpthêm đậm nét Nhiều vùng được chuyên môn hóa sản xuất: Bengan trồng đay, Bombay vàTrung Ấn trồng bông, Atxam trồng chè, Mađrat trồng cây có dầu, Penjap trồng tiểu mạch.Tính chất hàng hóa nông nghiệp tăng lên trong điều kiện chế độ sở hữu về ruộng đất phongkiến vẫn được duy trì, bãi chăn nuôi, đất đai và rừng của công xã bị chiếm đoạt, nợ nầnchồng chất buộc người nông dân phải gán mảnh đất cuối cùng của mình và chịu lĩnh canhvới điều kiện nộp tô đến 60% hoa lợi Tình trạng đó sẽ dẫn tới chỗ sức sản xuất thấp kém,đời sống nông thôn khốn quẫn, nạn đói trở thành một điều tất yếu

d) Chính sách về văn hóa-xã hội

Thực hiện nền văn hoá giáo dục ngu dân nhằm phục vụ cho công cuộc cai trị và bópchết nền văn hoá dân tộc Ấn Độ Họ mở một số trường trung học với tiêu chí là “cải cáchgiáo dục” nhưng thực chất là để đào tạo đội ngũ tay sai Chỉ một số ít con em nhà giàu theohọc để phục vụ cho chính quyền Anh còn lại đa số người dân Ấn Độ bị mù chữ Chính phủAnh luôn duy trì sự phân chia đẳng cấp để gây mâu thuẫn giữa các tầng lớp giai cấp ở Ấn

Độ, khuyến khích những tập quán cổ xưa phản động của tôn giáo Ấn Độ và tích cực truyền

bá đạo Thiên Chúa vào Ấn Độ Tất cả mọi hành vi chống đối lại đạo Thiên Chúa đều bịđàn áp

Với chính sách cai trị về văn hoá xã hội như vậy đã dẫn đến hậu quả đưa xã hội Ấn

Độ vào vòng ngu tối và tạo nên một tầng lớp tay sai đắc lực cho chúng để dễ bề cai trị

Những chính sách khai thác của thực dân Anh cũng đã làm cho xã hội Ấn Độ cóchuyển biến mạnh mẽ Đó là sự phân hoá giai cấp trong xã hội ngày càng sâu sắc, cơcấu giai cấp thay đổi Trước hết, đó là sự hình thành hai giai cấp cơ bản của xã hội hiệnđại, giai cấp tư sản và vô sản Tư sản Ấn Độ có nguồn gốc từ các Damindar, người cho vaylãi, thương gia và các vương công Mặc dù bị sự chèn ép nhiều mặt của tư bản Anh nhưng

về cơ bản tư sản Ấn Độ đã trưởng thành khá nhanh chóng và vững chắc vào nửa sau thế kỷXIX với việc xây dựng được một nền công nghiệp dân tộc và có một vị thế không thể chốicãi đối với sự phát triển của Ấn Độ (Trong số 35,5 triệu bảng Anh vốn cổ phần vào năm

1898, ít nhất có 10 triệu bảng là thuộc về người Ấn)

Trang 13

Như vậy, cho đến giữa thế kỉ XIX, thực dân Anh đã hoàn thành cuộc xâm lược Ấn

Độ Sự áp bức, bóc lột nhân dân đè nặng lên nhân dân Ấn Độ Nền độc lập của Ấn Độ bịchà đạp, quyền lợi sống còn của đại bộ phận dân tộc bị đe doạ Mâu thuẫn cơ bản nổi lênhàng đầu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Ấn Độ với thực dân Anh xâm lược Nhiệm vụcủa cả dân tộc Ấn Độ là phải đứng lên đánh đuổi thực dân Anh giành độc lập dân tộc

Ngay trong buổi đầu của công cuộc chinh phục Ấn Độ thực dân Anh đã phải đónnhận những đợt giông tố ập tới đó là những cuộc khởi nghĩa chống xâm lược diễn ra sôinổi vào các năm 1807 ở Đêli, những năm 1813 và 1831 ở Bắc Xinêcara, 1817 - 1818 ởÔritxa, 1825 - 1829 ở Maixo, 1846 - 1847 ở Cacnan, 1844 ở BomBay, Tuy nhiên nhữngcuộc khởi nghĩa này đều mang tính tự phát, thiếu một tổ chức chặt chẽ, thiếu một đường lối

và phương pháp đấu tranh phù hợp, cho nên dù rất quyết liệt song cuối cùng đều thất bại và

bị đàn áp đẫm máu

Yêu cầu lịch sử dân tộc đang đặt ra cho nhân dân Ấn Độ, cho các giai cấp tiên tiếnphải lựa chọn con đường đấu tranh đúng đắn, phải có một đường lối cách mạng phù hợp đểlãnh đạo phong trào đấu tranh đi đến thắng lợi

Có thể nói rằng, trong một đất nước rộng lớn đông dân và nhiều thành phần dân tộc,ngôn ngữ, tôn giáo đa dạng và vấn đề đẳng cấp phức tạp như Ấn Độ thì việc đoàn kết toàndân, "thức tỉnh" ý thức dân tộc có ý nghĩa quyết định thắng lợi cho một cuộc đấu tranhgiành độc lập dân téc Đặc biệt vấn đề đó càng quan trọng hơn khi ở Ấn Độ, Anh đã thihành " mét chính sách trên thực tế đã nuôi dưỡng và kéo dài những sự chia rẽ và lạc hậucủa một dân tộc bị nô dịch" Trong đó, thực dân Anh luôn lợi dụng tình trạng chia rẽ bấtđồng giữa người Hinđu và người Hồi giáo Vì thế yêu cầu của lịch sử Ấn Độ để đấu tranhgiải phóng dân tộc khỏi sự thống trị của thực dân Anh phải đoàn kết yếu tố cộng đồngthống nhất Đó cũng chính là một thách thức lịch sử của nhân dân Ấn Độ

Trang 14

II Chính sách cai trị của thực dân Anh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và tác động của những chính sách đó đến Ấn Độ

Nền thống trị của Anh ở Ấn Độ hết sức đặc biệt, một mặt làm cho đời sống nhân dânngày càng trở nên bần cùng, song mặt khác, nó đã tạo ra những thay đổi lớn lao trong xãhội Ấn Độ Kinh tế tư bản chủ nghĩa xâm nhập vào các cộng đồng, liên kết người dân Ấn

Độ thành một khối trong ý thức dân tộc, giai cấp tư sản Ấn Độ ngày càng lớn mạnh, vươnlên lãnh đạo cuộc đấu tranh đòi độc lập dân tộc thông qua chính đảng của nó-Đảng QuốcĐại Cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn Độ càng trở nên mạnh mẽ hơn kể từ sau Chiến tranhthế giới lần thứ nhất

Năm 1914, chiến tranh bùng nổ ở châu Âu và nhanh chóng trở thành cuộc chiến tranhthế giới Sự tuyên chiến của nước Anh đế quốc với chủ nghĩa quân phiệt Đức đã đưa Ấn

Độ vào hàng ngũ các nước tham chiến, trong phe Anh Từ đó cuộc chiến tranh đã trực tiếptác động đến đời sống xã hội Ấn Độ nói chung, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhândân Ấn Độ nói riêng

Trong chiến tranh, đế quốc Anh đã tìm mọi cách huy động sức người, sức của của

Ấn Độ nhằm phục vụ cho cuộc chiến tranh đế quốc của chúng Chúng đã cướp đi của nhândân Ấn Độ 36 triệu tấn trang thiết bị vật tư các loại, 5 triệu tấn lương thực và 1,5 triệungười Điều này làm cho đời sống người dân càng trở nên cùng cực Trong những năm1918-1919 hơn 12 triệu người Ấn Độ bị chết đói

Sự bần cùng hoá đời sống nhân dân làm cho làn sóng công phẫn dâng lên khắp nơi

Do vậy, thực dân Anh đã áp dụng một chế độ cai trị hà khắc được quy định bằng “Đạo luậtphòng thủ Ấn Độ” (Defence of India Act) vào năm 1915 Dựa vào Đạo luật này chínhquyền thực dân đã bỏ tù hàng loạt những người yêu nước Ấn Độ mà không cần thông quađiều tra hay toà án Những chính sách này đã làm cho “Nỗi lo âu của quần chúng nhân dântăng lên trong khắp Ấn Độ, cuộc sống ra khỏi những nề nếp bình thường và thật là khókhăn để nhìn về tương lai với một hy vọng nào đó”

Sự bóc lột và thống trị hà khắc của chính quyền thực dân Anh làm cho ý thức dântộc nhanh chóng phát triển ở Ấn Độ Đây chính là cơ sở để Đảng Quốc Đại có điều kiệnđưa cuộc đấu tranh đòi quyền tự trị Ấn Độ lên một giai đoạn mới và đây cũng là nguyên

Trang 15

nhân để thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh của quần chúng nhân dân Ấn Độ ngay sau khichiến tranh kết thúc.

Bên cạnh việc tăng cường vơ vét sức người, sức của của Ấn Độ và trấn áp quầnchúng nhân dân, thực dân Anh đã thực hiện những nhượng bộ nhất định với tư sản Ấn Độ

Có thể nói, chiến tranh đã đẩy nhân dân Ấn Độ vào cuộc sống khốn cùng, nhưng mặt khác

nó đã kích thích sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp Ấn Độ, đặc biệt là các ngành côngnghiệp phục vụ chiến tranh Các nhà máy luyện kim Tata đã trở thành cơ sở luyện kim chủchốt của cả nước nhờ nhận được nhiều đơn đặt hàng từ chính quốc

Cùng vào thời kỳ này sự thâm nhập của tư bản nước ngoài, đặc biệt là Mỹ và Nhật,vào Ấn Độ, ngày càng được tăng cường Gánh nặng của cuộc chiến tranh làm cho nướcAnh không còn đủ sức ngăn cản các nhà tư bản độc quyền của các nước đế quốc khác Vìvậy, tư sản Anh quyết định lôi kéo tư sản Ấn Độ về phía mình, bảo vệ nó khỏi sự cạnhtranh với các đế quốc khác Do đó, chính sách kinh tế của Anh buộc phải khôi phục lạiđáng kể nền kinh tế Ấn Độ, phát triển công nghiệp dân tộc, tăng cường vị trí của tư sản Ấn

Độ Chính phủ Anh đã tuyên bố:

1 Nếu Ấn giúp Anh đánh Đức, sau chiến tranh Anh sẽ để cho người Ấn tổ chức lấychính phủ tự trị

2 Từ năm 1916, mức thuế nhập cảng bông sẽ giảm xuống còn 3%

Với sự nhượng bộ của thực dân Anh, “giai cấp tư sản Ấn Độ đã thu được rất nhiềulợi Tính ra đến năm 1917 số vải Ấn Độ bán ra ngoài có tới 94,6 % là vải do các nhà máycủa người ấn làm ra (trước chiến tranh chỉ có 42% và ít hơn nữa)”

Sự nhượng bộ của chính phủ Anh với tư sản Ấn Độ không chỉ riêng trong lĩnh vựckinh tế mà cả lĩnh vực chính trị Lord Harding–người thay Minto giữ chức Phó vương ẤnĐộ–ngay từ những ngày trước Chiến tranh thế giới thứ nhất đã quyết định đưa ra những lờihứa hẹn về một tương lai tốt đẹp cho Ấn Độ, với điều kiện Ấn Độ phải tăng cường sự giúp

đỡ vào cuộc chiến tranh của nước Anh Thủ tướng Anh cũng đưa ra những hứa hẹn chínhtrị cho Ấn Độ theo hướng này Đúng như K.R.Bomwall, trong cuốn Indian polities andgovernment (Since 1885), đã nhận xét khi nghiên cứu tình hình chính trị Ấn Độ trong thời

Trang 16

gian chiến tranh: Ngay trước cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, chính sách của Anh đốivới Đảng Quốc Đại và các lãnh tụ của nó đã trở nên mềm mỏng hơn.

Việc chính quyền thực dân thay đổi thái độ đối với tư sản Ấn Độ, trao cho nó nhữngquyền lợi kinh tế và những lời hứa hẹn chính trị là nhằm mục đích giữ vững sự kiểm soát

Ấn Độ trong thời gian chiến tranh và thời kỳ bất ổn định sau chiến tranh Nước Anh muốn

có một hậu phương ổn định để tiến hành chiến tranh và nó đã đưa ra những nhân nhượng

và cải cách kinh tế, chính trị nhằm tạo ra khả năng tư sản Ấn Độ hứa hẹn trước sự giúp đỡcủa mình đối với nước Anh Chính sự nhượng bộ này từ phía chính quyền Anh đã mở ramột con đường cho các lãnh tụ Đảng Quốc Đại trong cuộc đấu tranh đòi quyền tự trị cho

Ấn Độ Họ hy vọng rằng nước Anh sẽ trao quyền tự trị cho Ấn Độ sau khi chiến tranh kếtthúc nếu như Ấn Độ giúp đỡ cho nước Anh chiến thắng trong cuộc chiến tranh này Khôngchỉ những người ôn hoà mà ngay cả những lãnh tụ cực đoan của Đảng Quốc Đại cũng đãtin tưởng, hy vọng điều này B.G.Tilak đã viết trên tờ Maharatta rằng: “Nghĩa vụ của mọingười Ấn, dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, là ủng hộ giúp đỡ Chính phủ của Bệ hạ với khảnăng tốt nhất của mình” và tư tưởng của ông là nhấn mạnh tầm quan trọng của tự trị vàothời điểm Ấn Độ được đền đáp trước “sự phục vụ huy hoàng” cho Đế quốc Anh A Besantcũng đã nhìn thấy trong hoàn cảnh chiến tranh một cơ hội để nhấn mạnh lại một lần nữađối với quyền Ấn Độ về tự trị… Chính những tư tưởng này sẽ góp phần giải thích vì saotrong những năm chiến tranh Đảng Quốc Đại Ấn Độ đã cổ động tích cực cho sự giúp đỡ

Đế quốc Anh

Vấn đề tự trị (Swaraj) đã được Đảng Quốc Đại Ấn Độ xem là một trong nhữngnhiệm vụ chính trị cơ bản của Đảng từ năm 1906 Tuy nhiên, khái niệm tự trị ở đây mangnặng ý nghĩa của việc tiến hành cải cách từng phần bộ máy chính quyền hiện hành, đồngthời sự suy yếu của Đảng Quốc Đại do bị chia rẽ làm cho vấn đề tự trị chỉ là vấn đề nằmtrên giấy tờ trong những năm tiếp theo Khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra, cuộcđấu tranh đòi quyền tự trị của Đảng Quốc Đại đã trở nên sôi động hơn dưới tác động củanhững nhân tố mới, đặc biệt là thông qua Phong trào tự trị (Home rule Movement) Việcthực dân Anh đưa ra những hứa hẹn chính trị và tiến hành một số nhượng bộ về chính trị

và kinh tế cho người ấn trước hết là để huy động tối đa sức người và sức của của Ấn Độ,

Trang 17

phục vụ cho cuộc chiến tranh đế quốc, sau đó là để giữ Ấn Độ–một hậu phương quan trọngcủa Anh được yên ổn Chính những hứa hẹn và nhượng bộ này đã gợi ra cho các lãnh tụphong trào dân tộc Ấn Độ một cách thức, một con đường để đạt đến nền tự trị cho dân tộc,

đó là giúp cho nước Anh thắng trận và chuẩn bị tiếp nhận nền tự trị sau khi chiến tranh kếtthúc

Dù rằng con đường đó, cách thức đó phản ánh sự “ngây thơ” của tư sản Ấn Độ và

nó đã không đem lại hiệu quả thực tiễn nhưng cuộc đấu tranh này có một ý nghĩa lớn trongcuộc đấu tranh vì tự trị của dân tộc Ấn Độ Trên cơ sở cuộc đấu tranh này, năm 1920M.Gandhi đã kế thừa để đề ra đường lối mới cho dân tộc: Huy động quần chúng nhân dântiến hành đấu tranh đòi quyền tự trị trên cơ sở bất hợp tác, bất bạo động Có thể dễ dàngnhận thấy rằng, đường lối bất hợp tác, bất bạo động của Gandhi vẫn tuân thủ theo nguyêntắc sử dụng các biện pháp hòa bình và hợp pháp

Cuộc đấu tranh đòi quyền tự trị của nhân dân Ấn Độ trong những năm Chiến tranhthế giới lần thứ nhất đã có bước phát triển mới về quan niệm, khái niệm tự trị được mởrộng thêm Đúng như A Bessant, một lãnh tụ của Đảng Quốc Đại đã viết trong số báo đầutiên trên tờ New India, ra ngày 14/7/1914, rằng: Từ Swaraj (tự trị) vào năm 1906 có nghĩa

là thực hiện cải cách từng phần, còn từ Home rule (tự trị) trong những năm chiến tranh cónghĩa là yêu cầu quyền tự trị, “từ Home rule đã được sử dụng như một khẩu hiệu quầnchúng với ý nghĩa là điều khiển cuộc đấu tranh không chống lại nước Anh và vì sự tự dotrong thành phần của Đế quốc”

Trang 18

III Đảng Quốc Đại và đường lối đấu tranh của M.Gandhi trong phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn Độ nửa đầu thế kỉ XX

1 Đảng Quốc Đại và một vài nét về tiểu sử M.Gandhi

Qua nhiều thế kỉ bị chinh phục, nhân dân Ấn Độ không ngừng đấu tranhgiành độc lập dân tộc nhưng trong buổi đầu các phong trào đấu tranh ấy đều bị đàn áp thấtbại Phải đến năm 1885, khi Đảng Quốc đại của giai cấp tư sản ra đời và đặc biệt đếnnhững năm 1917-1920 với sự xuất hiện của Gandhi thì phong trào giải phóng dân tộc mới

có đường lối đúng đắn phù hợp và kết quả là đã giành độc lập vào năm 1947

Năm 1885, Đảng Quốc Đại ra đời theo "ý muốn" của chính quyền thực dân nhưngngay 10 năm sau đó nó đã bắt đầu nói tiếng nói của riêng mình và đến những năm 1917-

1920, nó đã có một đường lối chính trị vững chắc-đó là chủ nghĩa Gandhi

Lòng căm thù của nhân dân lao động Ấn Độ đối với ách ngoại xâm đã tạo nên nhữngkhả năng để Đảng Quốc Đại hướng họ vào mục đích đấu tranh của mình Đường lối chínhtrị của M.Gandhi dần dần chi phối hoạt động của Đảng Quốc Đại Điều này được thể hiệntại Hội nghị thường niên của Đảng họp vào tháng 12/1920 ở Nagpur Tuy nhiên còn cầnphải thấy rằng: "Đảng Quốc Đại bị chi phối bởi M.Gandhi, nhưng đó chỉ là sự chi phối đặcbiệt, vì Đảng Quốc Đại là một tổ chức hành động, bạo loạn, mang nhiều sắc thái rất khácnhau" Mặc dù vậy, thông qua Đảng Quốc Đại, đường lối đấu tranh của M.Gandhi đã đượcnhân dân Ấn Độ tiếp nhận và nó đã góp phần tạo nên con đường riêng của Ấn Độ trongcuộc đấu tranh đòi độc lập dân tộc

Dưới sự thúc đẩy của Gandhi, Đảng Quốc Đại đã trở thành một chính đảng có hệthống tổ chức ở Trung ương và khắp các địa phương, trở thành một chính đảng mang tínhquần chúng có người thành thị và người thôn quê tham gia; sự đấu tranh từ trong vòng nhỏhẹp của các phần tử tầng lớp trên đã mở rộng ra đến quảng đại quần chúng

Mahātmā Gāndhī (2/10/1869–30/1/1948), nguyên tên đầy đủ là MohandasKaramchand Gandhi (Devanagari: ममहनददस करमचननद गदगधध; Gujarati: મમહનદદસ કરમચચદગદચધધ), là anh hùng dân tộc Ấn Độ, đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của

Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người

Trang 19

dân Trong suốt cuộc đời, ông phản đối tất cả các hình thức khủng bố bạo lực và thay vào

đó, chỉ áp dụng những tiêu chuẩn đạo đức tối cao

Từ lúc lãnh đạo cuộc đấu tranh giành tự do và đứng đầu Đảng Quốc dân Đại hội Ấn

Độ (Indian National Congress) năm 1918, ông được hàng triệu dân Ấn Độ gọi một cáchtôn kính là Mahātmā, nghĩa là "Linh hồn lớn", "Vĩ nhân" hoặc "Đại nhân" Danh hiệu cógốc tiếng Phạn này được triết gia và người đoạt giải Nobel văn chương RabindranathTagore dùng lần đầu khi đón chào Gandhi tại Mumbai (hay Bombay) ngày 9/1/1915 Mặc

dù Gandhi không hài lòng với những cách gọi tôn vinh nhưng đến ngày nay, danh hiệuMahātmā Gāndhī vẫn thường được dùng hơn tên Mohandas Gāndhī trên thế giới Ngoàiviệc được xem là một trong những môn đồ Ấn Độ giáo và những nhà lãnh đạo Ấn Độ vĩđại nhất, ông còn được nhiều người Ấn tôn kính như một Quốc phụ (gọi theo tiếng Hindi làBapu) Ngày sinh của ông, 2/10, là ngày lễ quốc gia của Ấn Độ Năm 2007, Liên HiệpQuốc ra nghị quyết lấy ngày 2/10 là Ngày Quốc tế Bất Bạo động

Bằng phương tiện bất hợp tác, Gandhi đã dần đưa đến nền độc lập cho Ấn Độ, đưanước mình thoát sự đô hộ của Anh, khích lệ những người dân bị đô hộ khác phấn đấu chonền độc lập của nước nhà và đả đảo triệt để Đế quốc Anh

2 Đường lối đấu tranh của M.Gandhi trong phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn Độ nửa đầu thế kỉ XX

Mohandas Karamchand “Mahatma” (“Thánh nhân”) Gandhi đi vào lịch sử bằngcuộc đấu tranh chống lại chính quyền Anh Quốc ở Nam Phi và kế tiếp là vai trò lãnh đạocủa ngài trong phong trào đòi độc lập cho Ấn Độ Bất bạo động là nền tảng cho tất cả cácchiến dịch vận động đấu tranh của ngài, điều đó thể hiện các chiều sâu đạo đức trong hoạtđộng chính trị của Gandhi Hoạt động chính trị của Gandhi chỉ đơn thuần là sự áp dụng các

ý tưởng xã hội và đạo đức vào trong hành động, và các ý tưởng này mới chính là mối quantâm thực sự của ngài Ba triết lý nền tảng trong tư tưởng của Gandhi là Ahimsa, Satya vàSatyagraha

Trang 20

a) Bất bạo động và Ahimsa (tính bất hại)

“Tín điều của ta là bất bạo động trong mọi trường hợp Phương pháp của ta là cảibiến tâm tính con người chứ không dùng sự áp chế; là tự chịu khổ nạn chứ không phải gâykhổ nạn cho kẻ nắm bạo quyền” Tuyên cáo này của Gandhi kết tinh các nguyên tắc cănbản nhất của triết lý bất bạo động

Triết lý bất bạo động là một trong những di sản quan trọng nhất trong tư tưởng củaGandhi, và nó là nền tảng cho nhiều di sản tư tưởng khác của ngài, đặc biệt là Satyagraha(sức mạnh của chân lý) Tính kiên định của Gandhi đối với nguyên tắc bất bạo động tronglĩnh vực chính trị là biểu hiện về sự hiến thân của ngài cho một nguyên tắc tinh thần sâusắc hơn thế và hướng đến việc cải đổi cuộc sống của từng con người

Theo Gandhi, bất bạo động là một hành vi “tẩy uế bản thân mình” Khái niệm “bấtbạo động” thực ra là một từ Sanskrit, ahimsa (tính bất hại) Ahimsa nghĩa đen là sự thươngyêu hoặc sự thống nhất trọn vẹn của bất bạo động trong cả ý nghĩ và hành động Gandhinói rằng “không có gì mới về tính bất hại cả Triết lý này cổ xưa như núi đồi” Điều nàykhá chính xác vì triết lý về tính bất hại là trung tâm của nhiều tôn giáo gốc Ấn Độ, thí dụnhư đạo Giai-na, đạo Hindu và đạo Phật

Gandhi định nghĩa tinh tuý của tính bất hại là: “bất hại đích thực phải có nghĩa là sự

tự do hoàn toàn khỏi tất cả các ý muốn tối tăm, sự giận dữ và bao gồm một tấm lòng yêuthương đích thực chảy mênh mang đối với mọi loài” Triết lý của Gandhi về “tính bất hạitích cực” (active ahimsa) bao gồm không chỉ việc xa lánh tất cả các hình thức bạo lực, màcòn dành tình yêu thương đến ngay cả kẻ thù của mình Nó đòi hỏi “sự tự chịu khổ nạn mộtcách có chủ tâm” và vì thế “cần đến đức vô uý (không khiếp nhược) ” Một tông đồ củathuyết bất hại “dùng tâm linh của mình đối chọi với nhục thể của đối phương” Cuối cùng,

sự tự chịu đựng của một người đi theo thuyết bất hại là nhằm đánh thức và lay chuyển tâmtính của kẻ thù, người này sau đó sẽ bị chế ngự bởi lòng trắc ẩn và tình thương yêu

Trang 21

b) Satya (Đạo/Chân lí)

Gandhi đặt ngang hàng Satya (Đạo) với Đức Chúa Trời Ngài nói rằng “Chân lý làĐức Chúa Trời của ta Bất bạo động là phương tiện để đạt được ngài” Gandhi giới thiệucuốn tự truyện của mình bằng “ta chỉ muốn kể lại câu chuyện về những trải nghiệm của đờimình với chân lý, vì cuộc sống này của ta không có gì khác hơn ngoài những trải nghiệmđó.” Với việc theo đuổi Chân lý như là “mục đích duy nhất”, Gandhi đã tiến hành các thínghiệm suốt đời này trong tiểu thế giới là cuộc đời ngài và đại thế giới là cả xã hội nóichung

Dựa trên những huấn dụ trong Chí tôn ca (Bhagavad Gita), Gandhi xác định rằngChân lý chỉ có thể đạt được qua bất bạo động Không thể ngộ ra Chân lý đích thực và nóchỉ được dùng như một thứ vũ khí thay vì một nguồn gốc của tri thức, trừ phí Chân lý đượctách khỏi những động cơ ích kỷ Cuộc kiếm tìm Chân lý của Gandhi đòi hỏi những thửthách liên tiếp về các động cơ cá nhân của ngài Qua những cuộc thử thách như thế, ngài đãthể nghiệm một cách sâu sắc đức hi sinh cá nhân và quên mình Gandhi nhận ra rằng Chân

lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Ngài tin rằng một khi ngộ ra tính đa nghĩacủa Chân lý, tất cả các động cơ ích kỷ sẽ biến mất Chúng sẽ được thế chỗ bởi lòng trắc ẩn,

sự dấn thân cho triết lý bất bạo động, và khả năng tự hi sinh cá nhân vô hạn Gandhi cũngtin rằng trong khi mưu cầu Chân lý, phải thường xuyên từ bỏ những tà tín (conviction),cũng như thường phải từ bỏ các điều phi lý Ngài nói: “Nếu nhãn quan của ta được minhđịnh là lầm lạc, ta sẽ sẵn sàng từ bỏ chúng”

c) Satyagraha (Sức mạnh chân lí)

Satyagraha có nghĩa đen là “bám vững vào Chân lý” Cũng có thể giải nghĩa từ này

là “sức mạnh của lòng thương yêu, sức mạnh của tâm linh, và được biết đến nhiều hơnnhưng kém chính xác hơn, là phản kháng thụ động” Gandhi mô tả khởi nguyên của kháiniệm này khi còn ở Nam Phi:

“Sadagrah có nghĩa là kiên định với lý tưởng chính đáng Ta thích từ này nhưng nókhông diễn đạt hoàn toàn chính xác những gì ta muốn nói đến Vì thế, ta hiệu chỉnh lại

Trang 22

(Agraha) sinh ra và vì thế được dùng làm từ đồng nghĩa cho sức mạnh… nói thế tức là, Sứcmạnh được sinh ra bởi Chân lý và Tình yêu thương hoặc Bất bạo động”.

Với Gandhi, Sức mạnh chân lý là “con đường duy nhất” để đạt được swaraj (tự trị)

Nó liên quan mật thiết đến tính bất hại (ahimsa) vì Sức mạnh chân lý bản chất là tính bấthại “trong hành động” Sức mạnh chân lý dẫn đến bất bạo động, bất hợp tác với cái ác và

tự hi sinh Tấm lòng sẵn sàng hi sinh và chịu khổ nạn tràn đầy yêu thương của một tông đồcủa Sức mạnh chân lý là nhằm khơi dậy giao cảm và đánh thức tính bất hại trong tâm(heart) và thức (mind) của đối phương

Gandhi giải thích rằng “tính tự chịu khổ nạn, được sinh ra bởi lòng can đảm, có thểlàm tan chảy ngay cả trái tim của đá… đó là chìa khoá dẫn tới Sức mạnh chân lý” Nóicách khác, “hành vi bất bạo động có nghĩa là việc chịu khổ nạn tự nguyện… chống đốiphải được chuyển thành đồng cảm, vì trong sâu thẳm mỗi người, cho dù bị che giấu thếnào, vẫn ẩn chứa sự giác ngộ về tính thiện của con người” Sức mạnh chân lý phải đượcthực hành không chỉ đơn thuần bằng tính bất hại và tự hi sinh; chúng phải luôn tuân thủ

“đức thanh tịnh tuyệt đối, chấp nhận sự nghèo túng, đi theo Chân lý và gieo trồng đức vôuý”

Trong khi tính bất hại là động lực dẫn đường, bất hợp tác với cái ác là hành vi chủyếu của phong trào Sức mạnh chân lý Phần tinh tuý của “bám vững vào Chân lý là nhằm

từ bỏ việc tiếp tay cho những điều phi lý Nếu có đủ số người làm như vậy nếu… thậm chíchỉ có một người làm như vậy với công phu đủ thâm sâu- cái ác sẽ phải sụp đổ vì khôngcòn chỗ nương tựa” Như Gandhi đã từng khẳng định, “khi ta từ chối không thực hiện mộtviệc làm trái với lương tri của mình, ta sử dụng sức mạnh của tâm” Gandhi đưa ra ngụ ýchính trị của nguyên tắc này khi ngài nói rằng “Chính quyền sẽ không thể điều khiển chúng

ta nếu chúng ta bất hợp tác”

Lúc ngài còn sinh thời, người ta thường lẫn lộn giữa Sức mạnh chân lý với phảnkháng thụ động Gandhi đã làm sáng tỏ sự khác biệt này: “Có sự khác biệt rất lớn và cănbản giữa phản kháng thụ động và Sức mạnh chân lý… Nếu ta tiếp tục tin, và để người kháccũng tin, rằng ta yếu đuối và tuyệt vọng, và vì thế phản kháng một cách thụ động, sự phảnkháng này sẽ không khi nào làm chúng ta mạnh lên được, và khi bất cứ cơ hội nào khác

Trang 23

xuất hiện, ta sẽ chụp lấy nó và từ bỏ phản kháng thụ động vì nó là vũ khí của kẻ yếu Mặtkhác, nếu chúng ta là những người có sức mạnh của Chân lý, và vì thế, thực hiện Sức mạnhchân lý, tin tưởng rằng chúng ta có sức mạnh… thì chúng ta sẽ mạnh lên từng ngày… Phảnkháng thụ động thường được nhìn nhận như là một sự chuẩn bị để sử dụng vũ lực, trongkhi Sức mạnh chân lý không bao giờ được sử dụng theo cách ấy… Sức mạnh chân lý hàm

ý việc chinh phục đối phương được thực hiện bởi sự tự chịu khổ nạn của bản thân”

Tuy nhiên, Gandhi vẫn thường dùng hai khái niệm này thay thế cho nhau: “Phảnkháng thụ động, đó là sử dụng tâm lực, là phương pháp không có đối thủ” Gandhi nhìnnhận Sức mạnh chân lý không chỉ là một sức mạnh hơn hẳn sức mạnh của súng đạn, màngài còn coi đó là sức mạnh dẫn dắt cả vũ trụ Gandhi nói, “sức mạnh của tình yêu cũnggiống như sức mạnh của tâm hồn hoặc chân lý… Vũ trụ sẽ chẳng còn nếu không có sứcmạnh ấy” Tương tự, ngài tuyên bố rằng “ví dụ rõ ràng nhất và không thể chối cãi được vềsức mạnh này của chân lý hoặc tình yêu sẽ được tìm thấy trong sự thật là, mặc cho đã trảiqua bao nhiêu cuộc chiến tranh trên thế giới này, sức mạnh ấy vẫn còn sống mãi”

Vì Gandhi nhìn nhận Sức mạnh chân lý là sức mạnh dẫn dắt của tình yêu và chân lýtrong vũ trụ, tầm nhìn của Gandhi khi lãnh đạo các phong trào Sức mạnh chân lý không chỉhướng tới sự thay đổi chính trị, mà còn hướng tới sự thay đổi đạo đức và tâm hồn của từng

cá nhân Ngài khẳng định “sự kết thúc của phong trào Sức mạnh chân lý chỉ có ý nghĩa khi

nó khiến những tông đồ của Sức mạnh chân lý trở nên mạnh mẽ hơn so với lúc ban đầu”

Người soạn tiểu sử cho Gandhi đã nắm bắt được tinh tuý trong các phong trào Sứcmạnh chân lý: “Sức mạnh chân lý không nhằm ‘đoạt’ lấy một đối tượng nào, cũng khôngnhằm ‘nghiền nát’ một đối thủ nào, mà để kích hoạt các sức mạnh có thể dẫn tới sự cảibiến tâm tính; bằng chiến lược này, hoàn toàn có thể thua ở tất cả các trận đánh nhưng vẫn

là người chiến thắng trong cuộc chiến Thực ra, chiến thắng hoặc thua cuộc không mô tảchính xác mục đích của phong trào Sức mạnh chân lý: một nền hoà bình đáng trân kính cho

cả hai bên.”

Nguyên lí bất bạo lực được ông đề xướng với tên Chấp trì chân lí (hay Sức mạnhchân lí) (sa Satyāgraha) Đó là cốt lõi của đường lối đấu tranh do Gandhi đề xướng Nó đã

Trang 24

nay, bao gồm phong trào Vận động Quyền công dân tại Hoa Kỳ (American Civil RightsMovement) được dẫn đầu bởi Martin Luther King, Jr

Nguyên lí Chấp trì chân lí của Gandhi (có gốc tiếng Phạn: satya là "chân lí" và graha là "nắm lấy", "nắm chặt"), cũng thường được dịch là "con đường chân thật", "truytầm chân lí", đã cảm kích những người chủ trương hành động giành tự do như ĐạtlạiLạtma Đăngchâu Giamụcthố (Tenzin Gyatso), Lech Wałęsa, Stephen Biko, Aung San SuuKyi và Nelson Mandela Tuy nhiên, không phải tất cả những nhà lãnh đạo nêu trên đềutheo nguyên tắc bất bạo lực và bất kháng cự khắt khe của Gandhi

ā-Gandhi thường nói là nguyên tắc của ông đơn giản, lấy từ niềm tin truyền thống của

Ấn Độ giáo: Chân lí (satya) và bất bạo lực (ahiṃsā) Chính ông nói rằng: "Tôi chẳng có gìmới mẻ để dạy đời Chân lí và bất bạo lực đều có từ xưa nay"

Điều chú ý là Gandhi kiên quyết chống lại việc áp dụng cho thuật ngữ Satyagrahabằng thuật ngữ "phản kháng thụ động", bởi chúng khác nhau "như cực Bắc khác với cựcNam", đó là sự khác nhau giữa một "vũ khí mạnh mẽ nhất" với một vũ khí yếu ớt TheoGandhi, người Ấn Độ cần sử dụng phương thức đấu tranh bất bạo lực, vì: "Nếu chúng tađối xử với người Anh một cách công bằng và hợp lý, thì ngày giải phóng đất nước Ấn Độchúng ta càng sớm đến Trái lại, nếu ta coi họ như thù nghịch, thì ngày đó chưa biết đếnbao giờ", vả lại "bản ngã của con người là sự ôn hoà, mực thước" và "người Ấn Độ cònnhiều sứ mệnh cao cả phải theo đuổi chứ đâu chỉ có mục đích trừng trị những kẻ độc áctrên trái đất này", hơn nữa "tôn giáo không dạy ta ghét bỏ người ngoại quốc Tôi còn đểlòng nhân lên trên lòng yêu nước của tôi"

Cùng với tư tưởng bất bạo lực, Gandhi đề ra tư tưởng "bất hợp tác" và xem đó là mộttrong những biện pháp đảm bảo sự thắng lợi của cuộc đấu tranh Tẩy chay hàng hoá củangười Anh chưa đủ, còn phải tẩy chay các học đường, các toà án, các công sở, tư sở, cáchuy chương khen tặng của người Anh Tóm lại, bất hợp tác trong tất cả mọi ngành Bởi vì

"phong trào bất hợp tác không có tính cách tranh đấu tích cực như hội họp và kích thíchdân chúng công nhiên kháng Anh, nên không thể gây ra đổ máu được

Trang 25

Để đảm bảo cho công cuộc giải phòng Ấn Độ theo đường lối "bất hợp tác trong bấtbạo lực”, Gandhi chủ trương tiến hành đoàn kết các lực lượng dân tộc Ông luôn đấu tranhcho sự hoà hợp dân tộc, đặc biệt là vấn đề đẳng cấp và tôn giáo.

Học thuyết của Gandhi về bất bạo lực thể hiện tính chất phức tạp và hai mặt tronglập trường của tư sản Ấn Độ Một mặt tư sản Ấn Độ muốn thoát khỏi sự lệ thuộc vào tưbản Anh nên ban đầu huy động quần chúng đấu tranh, mặt khác tư sản Ấn Độ cũng khôngmuốn quyền lợi của mình bị đe dọa nên họ đã hạn chế cuộc đấu tranh này trong phạm vibất bạo lực Tuy nhiên, trong một xã hội mà sự phân chia đẳng cấp và tôn giáo cùng vớiách thống trị thực dân đã làm mờ đi những mâu thuẫn về giai cấp thì đường lối của Gandhi

đã được chấp nhận

Ông là người đã tiến hành "Tổng kết hệ thống qua điểm triết học và đường lối chínhtrị, xã hội của tư sản Ấn Độ” và được toàn thể nhân dân Ấn Độ gọi bằng cái tên trìu mếnMahatma (Tâm hồn vĩ đại)

Dưới sự thúc đẩy của Gandhi, Đảng Quốc Đại đã trở thành một chính đảng có hệthống tổ chức ở Trung ương và khắp các địa phương, trở thành một chính đảng mang tínhquần chúng có người thành thị và người thôn quê tham gia; sự đấu tranh từ trong vòng nhỏhẹp của các phần tử tầng lớp trên đã mở rộng ra đến quảng đại quần chúng

Kiên trì đấu tranh cho mục đích của mình bằng phương pháp hoà bình là nét quánxuyến nổi bật nhất của Đảng Quốc Đại trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhândân Ấn Độ giai đoạn (1919-1950) Đây là thời điểm đặc sắc nhất trong lịch sử phong tràogiải phóng dân tộc của Ấn Độ Tư tưởng đấu tranh hoà bình phản ánh một cách đi riêng,một cách hiểu riêng của người Ấn Độ và con đường tiến tới tự do và tất nhiên cách đi riêng

ấy, cách hiểu riêng Ấn Độ được quy định bởi những truyền thống văn hoá, lịch sử của dântộc Ấn Độ

Từ đối sánh lực lượng tư tưởng đấu tranh bất bạo lực, sự lãnh đạo của tư sản Ấn Độ(Đảng Quốc Đại) đã quy định con đường đấu tranh của nhân dân Ấn Độ-con đường đó là:

tự trị-độc lập hoàn toàn Đó là bước chuyển hoá tuần tự Đồng thời, chính con đường tiêntiến này (tự trị-độc lập; Swaraj-Purna Swarij) cũng là điều kiện đảm bảo cho nhân dân Ấn

Trang 26

cấp, tầng lớp trong xã hội vào cuộc đấu tranh chung-đó là nhân tố cơ bản để tư sản Ấn Độ

có thể đảm nhận sứ mệnh giải phóng dân tộc

Đảng Quốc Đại-chính đảng của giai cấp tư sản Ấn Độ dù có những hạn chế nhất định

đã đóng vai trò của một tổ chức lãnh đạo có thế lực nhất và có ảnh hưởng nhất trong nhândân, giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng yêu nước Ấn Độ đã tham giatích cực vào sự nghiệp của toàn dân tộc chống thực dân Anh Thành tựu vẻ vang của sựnghiệp đấu tranh giải phóng Ấn Độ là kết quả thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước dưới ngọn

cờ của Đảng Quốc Đại

Trang 27

IV Phong trào độc lập dân tộc ở Ấn Độ trong những năm 1919-1945

1 Phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ trong những năm 1919 -1922

Như đã thực hiện trong cuộc chiến Nam Phi, Gandhi khuyến khích việc ủng hộngười Anh trong cuộc chiến (Thế chiến thứ nhất) và chủ động khích lệ người Ấn tham giaquân đội Khác với quan niệm của nhiều người khác, cách biện luận duy lí của ông chotrường hợp này là quyền công dân đầy đủ, tự do và quyền lợi trong Đế quốc Anh, và nhưvậy thì việc giúp nó phòng vệ không có gì sai Ông thuyết trình trước Quốc dân Đại hội Ấn

Độ, nhưng phần lớn ông cũng chịu ảnh hưởng từ Gopal Krishna Gokhale, nhà lãnh đạođược tôn trọng nhất của Đảng Quốc dân Đại hội bấy giờ

Những thành tích lớn đầu tiên của Gandhi xảy ra vào năm 1918 với cuộc kích độngtại Champaran và phong trào Chấp trì chân lí tại Kheda mặc dù ông chỉ thực hiện trên mặtdanh nghĩa trong trường hợp thứ hai và người chính chủ đạo là Sardar Vallabhbhai Patel,cánh tay phải của Gandhi Tại Champaran, một khu vực nằm trong tiểu bang Bihar, ông tổchức cuộc kháng cự cùng với hơn 10.000 nông dân không có đất, nông nô và những nônggia nghèo khổ có số lượng đất không đáng kể Họ bị ép buộc phải trồng indigo và nhữngnông sản bán được trên thị trường thay vì gieo trồng những loại cung cấp thực phẩm cầnthiết cho sự sinh tồn của họ Bị đàn áp bởi dân binh của điền chủ (phần lớn là người Anh),

họ được trả công rất ít nên cuộc sống rất vất vả cơ hàn Thôn làng của họ rất dơ bẩn, thiếu

vệ sinh Những vấn đề như uống rượu, kì thị dân ti tiện (untouchable) và khăn che (purdah)ngày càng lan tràn Giờ đây, ngay trước một cuộc chống đói kinh hoàng, thực dân Anh lạiđưa ra một loại thuế tàn ác, cứ y vào sự gia tăng theo chu kì mà thu thuế Tình thế rất tuyệtvọng và tại Kheda, bang Gujarat thì sự việc nhìn chung cũng không khác

Gandhi đã tổ chức một công trình nghiên cứu để có được một tổng quan về các thônlàng, xem xét những sự tàn bạo và những tình tiết thống khổ bao gồm những trạng tháithoái hóa của cuộc sống nói chung Lập cơ sở trên lòng tự tin của người làng, Gandhi bắtđầu chỉnh lí các thôn xóm, lập trường học và bệnh viện, khuyến khích chủ làng xoá bỏnhững việc hủ nát như phân biệt tiện dân, bắt phụ nữ mang khăn che và áp chế họ

Trang 28

Nhưng cuộc phát động có tổ chức đầu tiên của Gandhi xảy ra khi ông bị cảnh sát bắtgiam với lí do gây bạo động và được yêu cầu rời địa phương này Hàng trăm nghìn ngườibiểu tình chống đối, vây quanh nhà giam, các trạm cảnh sát và quan tòa đòi trả tự do lạicho ông, một sự việc pháp tòa không muốn nhưng sau cũng phải thực hiện Gandhi đứngđầu những cuộc biểu tình có tổ chức chống lại điền chủ, và họ, dưới sự lãnh đạo của chínhquyền Anh, đã kí một hiệp định đảm bảo trả lương cao hơn và kiểm soát việc cho nông dânnghèo địa phương thuê đất, xoá bỏ việc tăng thuế cũng như việc thu thuế đến khi nạn đóichấm dứt Chính trong thời gian kích động này, Gandhi được quần chúng tôn xưng là Bapu(người cha già dân tộc) và Mahātmā (tâm hồn vĩ đại) Tại Kheda, Patel đại diện các nônggia trong những cuộc thương lượng với chính quyền Anh với kết quả là họ tạm dừng thuthuế, đảm bảo trợ cấp Tất cả những người bị tù đều được thả ra Danh tiếng Gandhi từ đâynhư một ngọn lửa lan truyền khắp nước và ông đã trở thành năng lực ảnh hưởng nhất địnhtrong phong trào chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ.

Dự thảo pháp luật Rowlatt được duyệt năm 1919, cho phép chính phủ bắt giamnhững người bị vu khống gây loạn mà không cần đưa ra tòa duyệt Khi Gandhi bắt đầu đề

ra phong trào bất hợp tác chống lại Đạo luật Rowlatt, Hội nghị Đảng Quốc Đại ở Calcutta

đã thảo luận sôi nổi vấn đề này và tại Hội nghị Nagpur (12/1920) đã thông qua chươngtrình bất hợp tác theo dự án của M.Gandhi

Gandhi và đảng Quốc dân Đại hội tổ chức những cuộc biểu tình lớn phản đối vàđình công, và tất cả những cuộc phản đối này đều được tổ chức rất hòa bình trên khắpnước Tất cả những thành phố và thị xã lớn đều đóng cửa; các hoạt động cơ quan chính phủđều phải được quân đội đảm nhiệm Hàng nghìn người bị bắt giam, lệnh giới nghiêm được

áp dụng ở nhiều vùng của Ấn Độ Tại Punjab, cuộc đại tàn sát ở Amritsar với 379 ngườidân bị giết bởi quân đội Anh và Ấn Độ đã gây chấn thương nặng nề cho đất nước, gia tăngphẫn oán nơi quần chúng cũng như những hành vi bạo lực

Gandhi phê bình cả hai hành vi của người Anh và bạo lực phục thù của người Ấn.Ông viết một bài phân ưu cùng với những nạn nhân Anh và lên án những cuộc bạo động.Bài này ban đầu bị phản đối trong đảng, nhưng được chấp thuận sau một bài thuyết giảngcủa Gandhi mà trong đó, ông đề cao nguyên tắc là tất cả những hành vi bạo lực đều có hại,

Ngày đăng: 06/12/2015, 12:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w