Trong thời đại ngày nay, tiềm năng trí tuệ trở thành động lực chính cho sự phát triển, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Mỗi con người lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội thông qua các con đường giáo dục. Giáo dục được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia và mỗi con người trong cuộc sống của mình. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng công tác giáo dục và đào tạo. Trong đường lối chiến lược, Đảng ta luôn xác định GDĐT là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, của Đảng đã chỉ rõ: “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội của đất nước”. 12, tr.29.Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, BCH Trung ương khoá VIII cũng xác định chiến lược phát triển GDĐT thời kỳ CNH HĐH đất nước: “Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục...khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” 14, tr.33. Nghị quyết nêu rõ: “Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và số đông học sinh, sinh viên có những cố gắng rất lớn; đại bộ phận thầy, cô giáo có tâm huyết, gắn bó với nghề” song “chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo còn thấp” và “công tác quản lý gáo dục đào tạo có những yếu kém, bất cập” 14, tr.25. Đổi mới công tác quản lý giáo dục là một trong bốn giải pháp lớn để phát triển giáo dục mà Nghị quyết đã đề ra. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, phương pháp dạy và học”. 12, tr.108. Từ những năm đầu của thế kỷ XXI đến nay, giáo dục Việt Nam đã có nhiều đổi mới và thu được những thành tựu quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạng hoá hình thức giáo dục và nâng cấp cơ sở vật chất cho nhà trường. Trình độ dân trí không ngừng được nâng cao. Chất lượng giáo dục có những chuyển biến bước đầu. Một hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng hoá loại hình giáo dục đào tạo đã được hình thành với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo từ Mầm Non đến sau Đại học.Giáo dục Tiểu học là một bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, là “bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân” 30, tr.167. Như vậy, giáo dục tiểu học có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hiệu trưởng các trường tiểu học là những người thay mặt ngành Giáo dục quản lý trực tiếp mọi hoạt động của nhà trường. Vì vậy, bậc học Tiểu học muốn vững chắc trước hết những người làm công tác quản lý nhà trường (tức là Hiệu trưởng) phải có năng lực, có tinh thần trách nhiệm cao và đặc biệt phải là người quản lý giỏi.Thực tiễn cho thấy phần lớn hiệu trưởng các trường tiểu học được đề bạt từ những giáo viên giỏi ở các cơ sở giáo dục, sau đó được bồi dưỡng nghiệp vụ trong một thời gian ngắn, do đó “đội ngũ cán bộ quản lý chưa được đào tạo một cách hoàn chỉnh, kinh nghiệm còn yếu”14, tr.93. Cho nên cần phải bồi dưỡng, bổ sung cả về lý luận và kinh nghiệm quản lý cho đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học. Đó là một nhu cầu rất cấp thiết của các nhà quản lý ở các trường học. Năm học 20142015 là năm học toàn ngành tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động: “Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, là năm đầu thực hiện Nghị quyết số 29NQTW ngày 04112013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nâng cao chất lượng dạy học luôn là nhiệm vụ trọng tâm của mỗi nhà trường, chất lượng dạy học là kết quả của nhiều hoạt động giáo dục, trong đó có vai trò quản lý của Hiệu trưởng, quyết định việc nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Đội ngũ Hiệu trưởng trẻ ở các trường Tiểu học hiện nay nhìn chung được đào tạo chuẩn về chuyên môn nhưng phần đông chưa được đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý. Số cán bộ quản lý có tuổi đời, tuổi nghề cao nhưng năng lực hạn chế, bằng cấp không đạt chuẩn, chủ yếu quản lý theo kinh nghiệm. Trước sự thay đổi không ngừng của xã hội, giáo dục cũng cần phải có sự đổi mới, mà trọng tâm là đổi mới QLGD, Quản lý HĐDH trong nhà trường.Từ năm học 2012 – 2013 Bộ GDĐT áp dụng mô hình trường tiểu học mới (Dự án GPEVNEN, Global Partnership for Education – Viet Nam Escuela Nueva). Về mục tiêu dạy học, mô hình trường học mới đảm bảo cho HS được rèn luyện một cách toàn diện, không phải chỉ có học kiến thức mà được rèn luyện nhiều hơn về kỹ năng sống, trang bị năng lực tự quản, tự phục vụ…Nội dung dạy học được thiết kế theo quy trình đảm bảo cho HS có khả năng tự học, chuyển quá trình dạy học thành quá trình hướng dẫn HS tự học, tự vận dụng kiến thức.Mô hình này cũng coi trọng việc kiểm tra đánh giá trong suốt quá trình học đi đôi với việc kiểm tra kết quả học tập. Việc đánh giá HS ngay trong quá trình học để kịp thời động viên các em, phát hiện các em gặp khó khăn để giúp đỡ một cách kịp thời. Với cách làm này GV sẽ giúp đỡ riêng được từng em, phát huy được năng lực riêng của từng em khác nhau, không phải ứng xử một cách đồng loạt. Mô hình trường học mới là những thể nghiệm bước đầu cho việc triển khai đổi mới chương trình và sách giáo khoa cấp Tiểu học sau năm 2015.Là cán bộ đang công tác tại Sở GDĐT, nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý (QL) hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo mô hình mới của các trường tiểu sẽ là tiền đề cho những quyết sách đảm bảo sự vận hành chất lượng và hiệu quả công tác GD. Việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp QL sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác QL GD theo mô hình trường tiểu học mới. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo mô hình trường học mới ở các trường tiểu học tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN NGỌC HIẾN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN) Ở CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC TỈNH TUYÊN QUANG
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Quản Lý Giáo Dục
Mã ngành : 60.14.01.14
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hồng Quang
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, tiềm năng trí tuệ trở thành động lực chính cho sự pháttriển, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Mỗi con người lĩnh hội tri thức, kinhnghiệm lịch sử - xã hội thông qua các con đường giáo dục Giáo dục được coi là nhân
tố quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia và mỗi con người trong cuộc sống củamình Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng công tác giáo dục và đào tạo.Trong đường lối chiến lược, Đảng ta luôn xác định GD&ĐT là một bộ phận quantrọng của sự nghiệp cách mạng Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, của
Đảng đã chỉ rõ: “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” [12, tr.29].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, BCH Trung ương khoá VIII cũng xác định chiến
lược phát triển GD&ĐT thời kỳ CNH - HĐH đất nước: “Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” [14, tr.33] Nghị quyết nêu rõ: “Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản
lý giáo dục và số đông học sinh, sinh viên có những cố gắng rất lớn; đại bộ phận thầy,
cô giáo có tâm huyết, gắn bó với nghề” song “chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo còn thấp” và “công tác quản lý gáo dục - đào tạo có những yếu kém, bất cập” [14,
tr.25] Đổi mới công tác quản lý giáo dục là một trong bốn giải pháp lớn để phát triểngiáo dục mà Nghị quyết đã đề ra
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, phương pháp dạy và học” [12,
tr.108]
Trang 4Từ những năm đầu của thế kỷ XXI đến nay, giáo dục Việt Nam đã có nhiều đổimới và thu được những thành tựu quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạng hoá hìnhthức giáo dục và nâng cấp cơ sở vật chất cho nhà trường Trình độ dân trí không ngừngđược nâng cao Chất lượng giáo dục có những chuyển biến bước đầu Một hệ thốnggiáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng hoá loại hình giáo dục
- đào tạo đã được hình thành với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo từ Mầm Nonđến sau Đại học
Giáo dục Tiểu học là một bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, là “bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân” [30, tr.167] Như vậy, giáo dục tiểu học
có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Hiệu trưởng các trườngtiểu học là những người thay mặt ngành Giáo dục quản lý trực tiếp mọi hoạt động củanhà trường Vì vậy, bậc học Tiểu học muốn vững chắc trước hết những người làmcông tác quản lý nhà trường (tức là Hiệu trưởng) phải có năng lực, có tinh thần tráchnhiệm cao và đặc biệt phải là người quản lý giỏi
Thực tiễn cho thấy phần lớn hiệu trưởng các trường tiểu học được đề bạt từnhững giáo viên giỏi ở các cơ sở giáo dục, sau đó được bồi dưỡng nghiệp vụ trong một
thời gian ngắn, do đó “đội ngũ cán bộ quản lý chưa được đào tạo một cách hoàn chỉnh, kinh nghiệm còn yếu”[14, tr.93] Cho nên cần phải bồi dưỡng, bổ sung cả về lý
luận và kinh nghiệm quản lý cho đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học Đó là mộtnhu cầu rất cấp thiết của các nhà quản lý ở các trường học
Năm học 2014-2015 là năm học toàn ngành tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động:
“Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, là năm đầu thực hiện Nghị
quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nâng cao chất lượng dạy học luôn lànhiệm vụ trọng tâm của mỗi nhà trường, chất lượng dạy học là kết quả của nhiều hoạtđộng giáo dục, trong đó có vai trò quản lý của Hiệu trưởng, quyết định việc nâng cao
Trang 5chất lượng dạy học trong nhà trường Đội ngũ Hiệu trưởng trẻ ở các trường Tiểu họchiện nay nhìn chung được đào tạo chuẩn về chuyên môn nhưng phần đông chưa đượcđào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Số cán bộ quản lý có tuổi đời, tuổi nghề caonhưng năng lực hạn chế, bằng cấp không đạt chuẩn, chủ yếu quản lý theo kinh nghiệm.Trước sự thay đổi không ngừng của xã hội, giáo dục cũng cần phải có sự đổi mới, màtrọng tâm là đổi mới QLGD, Quản lý HĐDH trong nhà trường.
Từ năm học 2012 – 2013 Bộ GD&ĐT áp dụng mô hình trường tiểu học mới (Dự
án GPE-VNEN, Global Partnership for Education – Viet Nam Escuela Nueva) Vềmục tiêu dạy học, mô hình trường học mới đảm bảo cho HS được rèn luyện một cáchtoàn diện, không phải chỉ có học kiến thức mà được rèn luyện nhiều hơn về kỹ năngsống, trang bị năng lực tự quản, tự phục vụ…
Nội dung dạy học được thiết kế theo quy trình đảm bảo cho HS có khả năng tựhọc, chuyển quá trình dạy học thành quá trình hướng dẫn HS tự học, tự vận dụng kiếnthức
Mô hình này cũng coi trọng việc kiểm tra đánh giá trong suốt quá trình học điđôi với việc kiểm tra kết quả học tập Việc đánh giá HS ngay trong quá trình học đểkịp thời động viên các em, phát hiện các em gặp khó khăn để giúp đỡ một cách kịpthời Với cách làm này GV sẽ giúp đỡ riêng được từng em, phát huy được năng lựcriêng của từng em khác nhau, không phải ứng xử một cách đồng loạt Mô hình trườnghọc mới là những thể nghiệm bước đầu cho việc triển khai đổi mới chương trình vàsách giáo khoa cấp Tiểu học sau năm 2015
Là cán bộ đang công tác tại Sở GD&ĐT, nhận thức được tầm quan trọng củacông tác quản lý (QL) hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo mô hình mớicủa các trường tiểu sẽ là tiền đề cho những quyết sách đảm bảo sự vận hành chất lượng
và hiệu quả công tác GD Việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp QL sẽ góp phầnnâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác QL GD theo mô hình trường tiểu học
mới Vì vậy, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Trang 6theo mô hình trường học mới ở các trường tiểu học tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài
nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động kiểmtra, đánh giá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động quản lý trường tiểu họctheo mô hình trường học mới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý kiểm tra, đánh giá tại các trường Tiểu học thí điểm dạy học theo
mô hình VNEN tại tỉnh Tuyên Quang
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinhtheo mô hình VNEN
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh tại cáctrường tiểu học đang thí điểm chương trình VNEN còn nhiều bất cập Nếu nghiên cứuđánh giá đúng thực trạng và đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra,đánh giá kết quả học tập của hoc sinh một cách khoa học sẽ góp phần nâng cao chấtlượng dạy học, góp phần thực hiện thành công dự án xây dựng mô hình trường tiểuhọc mới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả họctập của hoc sinh ở các trường tiểu theo mô hình trường học mới VNEN
5.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập củahọc sinh theo mô hình VNEN ở các trường tiểu học tỉnh Tuyên Quang
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tậpcủa học sinh theo mô hình VNEN ở các trường tiểu học tỉnh Tuyên Quang
Trang 75.4 Tổ chức khảo nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn
6.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
6.2.4 Phương pháp chuyên gia
6.2.5 Phương pháp khảo nghiệm
6.3 Phương pháp xử lý số liệu
7 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinhtại trường Tiểu học thí điểm dạy học theo mô hình VNEN tỉnh Tuyên Quang
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục; cấu trúc
đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kếtquả học tập của học sinh ở các trường tiểu học theo mô hình VNEN
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của họcsinh ở các trường tiểu học theo mô hình VNEN
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của họcsinh theo mô hình VNEN ở các trường tiểu học tỉnh Tuyên Quang
Kết luận và kiến nghị
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP THEO MÔ HÌNH VNEN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý (QL) là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xét trênnhiều phạm vi: cá nhân, tập đoàn, quốc gia hoặc nhóm quốc gia Hoạt động QL xuấthiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm Qua lao động, để duy trì sự sống, đòihỏi sự phối hợp hoạt động giữa các cá nhân con người Hoạt động QL là một hiệntượng tất yếu phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kếtnhau lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung
- Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay laođộng cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiềuhay ít sự QL, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiệnnhững chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với
sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điềukhiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy”.[Các-Mác, Ph Angghen toàn tập(1993), Bản tiếng Việt, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.38]
Các Mác đã nói lên được bản chất của QL là một hoạt động lao động điều khiểnquá trình lao động, một hoạt động tất yếu của xã hội loài người
Hoạt động lao động là khá phức tạp, phong phú và đa dạng, QL là một hiệntượng lịch sử, xã hội Có nhiều nhà nghiên cứu về QL đã nêu lên các khía cạnh khácnhau của khái niệm “QL”
- Theo Ômaror (Liên Xô) - 1983: QL là sự tính toán sử dụng hợp lý các nguồnlực nhằm thực hiện các nhiệm vụ của sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu
- Theo W Taylor - Người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộphận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao
Trang 9động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suấtlao động thì QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đóthế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất QL là các hoạt động được thực hiệnnhằm bảo vệ sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác.
Theo Harold Koontz thì QL là một “hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợpnhững nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà
QL là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được cácmục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn của cá nhân ít nhất” [M.I.Kônđacov (1984), Cơ sở lý luận Khoa học QL GD, Bản tiếng Việt - Trường Cán bộ
QL GD và Viện Khoa học GD, tr.32]
Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm về QL Đó là:
- Theo Bùi Trọng Tuân - Nguyễn Kì: “QL là chức năng của những hệ thống có tổchức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội), thực hiện những chươngtrình mục đích hoạt động” [Bùi Trọng Tuân - Nguyễn Kỳ (1984), Một số vấn đề QL GD,Trường cán bộ QL GD & ĐT, Hà Nội, tr.19]
- Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QL nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, saocho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [Trần Kiểm(1997), QL GD và trường học, Viện Khoa học GD, Hà Nội, tr.32]
Tóm lại, có thể nói QL là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đờisống xã hội, và được hiểu dưới những góc độ, quan điểm khác nhau Nhưng dù ở lĩnhvực hay góc độ nào đi nữa thì, theo chúng tôi, QL cũng là sự tác động có định hướng,mang tính hệ thống, được thực hiện có ý thức, có tổ chức của chủ thể QL lên đối tượng
QL, bằng cách vạch ra mục tiêu của tổ chức đồng thời tìm kiếm các biện pháp, cáchthức tác động vào tổ chức nhằm đạt mục tiêu đề ra QL là sự điều khiển có tổ chức vàthoả mãn yêu cầu, mục tiêu đã đề ra, chứ không mang tính áp đặt, cai trị; Nhưng tuỳtheo những trường hợp cụ thể mà có những chính sách, biện pháp QL cứng rắn haymềm mỏng phù hợp nhất để luôn đạt được kết quả như mong muốn đồng thời phải làmcho tổ chức ngày càng phát triển
1.2.1.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Trang 10Cũng như khái niệm QL nói chung, khái niệm Quản lý Giáo dục (QLGD) chođến nay được nhiều tác giả ở trong lẫn ngoài nước nêu ra và bàn luận như:
GD là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là quá trình truyền đạt vàlĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người
GD có vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là sản phẩm xã hội mà còn là nhân
tố tích cực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Trong xã hội hiện đại khi các quốc gia đua tranh về khoa học và công nghệ thì
GD có vai trò quyết định giúp các quốc gia thắng lợi trong cuộc tranh đua đó Pháttriển GD trở thành quốc sách hàng đầu thể hiện trong chiến lược và mọi chính sách củamỗi quốc gia
Trong các nước phát triển người ta vận dụng lý luận QL GD bắt nguồn từ lý luận
QL xã hội Trong cuốn sách nổi tiếng “Con người trong QL xã hội” A.Gafanaxép(Viện sĩ Liên Xô) chia xã hội thành 3 lĩnh vực: “Chính trị - Xã hội”, “Văn hoá - Tưtưởng” và “Kinh tế” và từ đó có 3 loại QL: “QL chính trị - xã hội”, “QL văn hoá - tưtưởng” và “QL kinh tế” QLGD nằm trong QL văn hoá - tư tưởng [A.G.Affanaxep(1979), Con người trong QL xã hội, Bản tiếng Việt - NXB Khoa học và xã hội, HàNội, tr.97] Trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học QLGD” thì M.I.Kôndakov viết:
“Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh thì chúng ta không hiểu QL nhà trường(công việc nhà trường) là hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏinhững tác động có ý thức, có khoa học và có hướng chủ thể QL trên cơ sở các mặt củađời sống nhà trường để bảo đảm sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sưphạm của quá trình dạy học và GD thế hệ đang lớn lên” [M.I Kônđacov (1984), Cơ
sở lý luận Khoa học QLGD, Bản tiếng Việt - Trường Cán bộ QLGD và Viện Khoa học
Trang 11Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, GD thế hệ trẻ, đưa GD tới mục tiêu
dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: “QL nhà trường là thực hiện đường lối của Đảngtrong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý GD đểtiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với từngHS ”
“QLGD nói chung (và QL trường học nói riêng) là hệ thống những tác động cómục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể QL (hệ GD) nhằm làm cho hệ vậnhành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhàtrường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - GD thế hệ trẻ, đưa
hệ thống GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.” [Bùi Trọng Tuân(1999), Tổ chức và QL nhân lực, Trường Cán bộ QL, tr.12]
QL nhà trường phổ thông là QL hoạt động dạy và học tức là đưa hoạt động đó từtrạng thái này đến trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu GD [Bùi Trọng Tuân(1999), Tổ chức và QL nhân lực, Trường Cán bộ QL, tr.8]
Như vậy, công tác QL trường học bao gồm QL các quan hệ giữa trường học và
xã hội và QL chính nhà trường
QLGD chính là một quá trình tác động có định hướng của nhà QLGD (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học QL vào lĩnh vực GD nhằm đạt những mục tiêu GD đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy học - GD theo mục tiêu đào tạo.
QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng GD nhằm đẩy mạnh công tác GD & ĐT thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển XH Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QLGD, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng QL quan trọng nhất nhưng đồng thời là chủ thể trực tiếp QL quá trình GD.
1.2.2 Khái niệm về mô hình VNEN
Trang 12Mô hình trường học mới tại Việt Nam (Viet Nam Escuela Nueva - VNEN) làmột kiểu mô hình nhà trường hiện đại, tiên tiến, phù hợp với mục tiêu đổi mới và đặcđiểm của GD Việt Nam Mô hình VNEN xuất phát từ mô hình EN là mô hình nhàtrường kiểu mới được thực hiện tại nước Cộng hòa Côlômbia Mô hình EN đã đưa rađược một giải pháp GD cụ thể để thay đổi nhà trường, phù hợp với xu thế phát triểncủa GD hiện đại [Bộ GD&ĐT, Vụ GD Tiểu học, Dự án mô hình trường học mới ViệtNam, Tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới Việt Nam, tr.5].
Mô hình trường học mới ở cấp tiểu học là một phương thức sư phạm mang tính chuyển đổi hướng vào người học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục ở các nhà trường
Mô hình VNEN mang lại cơ hội lớn để từng HS nhận ra tiềm năng đầy đủ củamình Mô hình VNEN được xây dựng theo một chương trình hoàn chỉnh dựa trên triếtlí: Mỗi đứa trẻ đều có thể học và phải học, mọi đứa trẻ đều đặc biệt và loài ngườichúng ta được sinh ra để học hỏi, để làm cho mọi thứ có ý nghĩa.[ Bộ GD&ĐT, Vụ
GD Tiểu học, Dự án mô hình trường học mới Việt Nam, Tổ chức lớp học theo môhình trường học mới Việt Nam, tr.3]
1.2.3 Kiểm tra, đánh giá
"Đánh giá" là thuật ngữ có phạm vi ứng dụng rất rộng rãi và có rất nhiều định
nghĩa khác nhau Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “đánh giá là nhận định giá trị” [48,tr.278] Theo quan điểm triết học, đánh giá là một thái độ đối với hiện tượng xã hội,hoạt động hành vi của con người, xác định những giá trị của chúng tương xứng vớinhững nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức nhất định (khen ngợi, lên án, đồng tình hayphê phán…) được xác định bằng vị trí xã hội, thế giới quan, trình độ văn hóa… Nhưvậy, đánh giá được chấp nhận là “việc có giá trị với ý nghĩa cuối cùng dẫn đến sự cảitiến hoạt động của cá nhân và tập thể” [18, tr.163]
Theo GS.TS Nguyễn Bá Kim, "Đánh giá là quá trình hình thành những nhậnđịnh, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được,đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp