1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu học nhóm của học sinh lớp 11 trường Trung học phổ thông Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà Nội

23 286 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 66,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xã hội hiện nay, với sự toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, khối lượng kiến thức của nhân loại càng gia tăng thì yêu cầu làm việc nhóm là một xu thế làm việc phát triển và hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động. Bởi lẽ không ai tự mình có thể nắm vững mọi thông tin của tất cả các lĩnh vực, điều đó có nghĩa không phải công việc nào, vấn đề nào hay tình huống nào chúng ta đều có thể tự mình giải quyết có hiệu quả. Nhất là trong quy trình lao động, sản xuất cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên trong các nhóm và giữa các nhóm với nhau. Nhóm không chỉ là môi trường giúp cho các nhân phát triển mà nó còn là công cụ đổi mới và phát triển xã hội. Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc đã nói: “ Nhà trường hiện đại ngày nay là nhà trường hoạt động.dùng phương pháp hoạt động…Hoạt động cùng nhau, hoạt động hợp tác giữa thầy và trò…có tác dụng rất lớn”. Nhà trường hiện nay phải coi trọng việc tổ chức cho học sinh, sinh viên hoạt động độc lập theo nhóm. Hoạt động nhóm trong và ngoài giờ học là hoạt động thiết thực, giúp học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập, giúp các em nắm vững và đào sâu tri thức, biết lắng nghe và học cách suy nghĩ về những ý kiến, quan điểm khác nhau của mọi người, biết chia sẻ kinh nghiệm, đưa ra ý kiến và cùng nhau giải quyết những vấn đề chung. Hoạt động nhóm là nơi mọi người thỏa mãn nhu cầu học hỏi, khuyến khích sự độc lập, tự chủ, thái độ có trách nhiệm, kích thích tinh thần hợp tác, giúp học sinh nâng cao và chia sẻ nhận thức của mình. Hoạt động nhóm còn phát huy tinh thần tập thể: công việc được hoàn thành nhanh hơn, tốt hơn, sáng tạo hơn và phong phú hơn, nâng cao khả năng làm việc của từng cá nhân, phát huy tối đa ưu thế của mỗi người. Nhà trường phổ thông hiện nay đang thực hiện theo quan điểm lấy người học làm trung tâm: phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học nghĩa là phải thay đổi vai trò của người thầy và cách học của học sinh. Chính người học phải tự thể hiện mình và hợp tác với bạn, học từ bạn và xã hội hóa việc học của mình. Hoạt động học tập được tiến hành theo nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công, hợp tác trong lao động xã hội, tính cách của mỗi cá nhân được bộc lộ, được uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức kỷ luật, tinh thần tương trợ, ý thức cộng đồng…nhờ đó mà hiệu quả học tập sẽ tăng lên, bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và của cả lớp. Như vậy, hiệu quả của hoạt động nhóm trong học tập là không thể phủ nhận, nhưng không phải học sinh nào cũng đạt hiệu quả cao khi học và làm việc theo nhóm. Bởi các em chưa hiểu hết giá trị của hoạt động nhóm nên chỉ hoạt động mang tính hình thức hay do chưa biết cách tổ chức, tiến hành nên hoạt động chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Chất lượng của hoạt động nhóm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: môi trường học tập, vốn sống, kinh nghiệm, trình độ nhận thức và kiến thức về hoạt động nhóm… Học sinh trường trung học phổ thông Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà Nội cũng nằm trong tình trạng chung đó. Các em mong muốn có những nhóm học tập học chuyên sâu vào những môn học theo phân ban mà các em đã định hướng để thi vào đại học. Được hoạt động và học tập theo một phương pháp mới mà mình được tự chủ về kiến thức là điều các em rất quan tâm. Các em đã nhờ đến sự tư vấn, hướng dẫn của các thầy cô nhưng đa số các hoạt động nhóm diễn ra còn mang tính tự phát cao nên hoạt động không được lâu và chất lượng của nhóm chưa đạt hiệu quả đúng mức. Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu học nhóm của học sinh lớp 11 trường Trung học phổ thông Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà Nội”.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

Đề tài: Nhu cầu hoạt động nhóm trong học tập của học sinh lớp 11 trường

Trung học phổ thông Trương Định - Hoàng Mai - Hà Nội

A- LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xã hội hiện nay, với sự toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, khoa học kĩ

thuật ngày càng phát triển, khối lượng kiến thức của nhân loại càng gia tăng thì yêucầu làm việc nhóm là một xu thế làm việc phát triển và hiệu quả trong mọi lĩnh vựchoạt động Bởi lẽ không ai tự mình có thể nắm vững mọi thông tin của tất cả cáclĩnh vực, điều đó có nghĩa không phải công việc nào, vấn đề nào hay tình huốngnào chúng ta đều có thể tự mình giải quyết có hiệu quả Nhất là trong quy trình laođộng, sản xuất cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên trong các nhómvà giữa các nhóm với nhau Nhóm không chỉ là môi trường giúp cho các nhân pháttriển mà nó còn là công cụ đổi mới và phát triển xã hội

Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc đã nói: “ Nhà trường hiện đại ngày nay là nhàtrường hoạt động.dùng phương pháp hoạt động…Hoạt động cùng nhau, hoạt độnghợp tác giữa thầy và trò…có tác dụng rất lớn” Nhà trường hiện nay phải coi trọngviệc tổ chức cho học sinh, sinh viên hoạt động độc lập theo nhóm Hoạt độngnhóm trong và ngoài giờ học là hoạt động thiết thực, giúp học sinh tham gia tíchcực vào quá trình học tập, giúp các em nắm vững và đào sâu tri thức, biết lắngnghe và học cách suy nghĩ về những ý kiến, quan điểm khác nhau của mọi người,biết chia sẻ kinh nghiệm, đưa ra ý kiến và cùng nhau giải quyết những vấn đềchung Hoạt động nhóm là nơi mọi người thỏa mãn nhu cầu học hỏi, khuyến khíchsự độc lập, tự chủ, thái độ có trách nhiệm, kích thích tinh thần hợp tác, giúp họcsinh nâng cao và chia sẻ nhận thức của mình Hoạt động nhóm còn phát huy tinhthần tập thể: công việc được hoàn thành nhanh hơn, tốt hơn, sáng tạo hơn và phongphú hơn, nâng cao khả năng làm việc của từng cá nhân, phát huy tối đa ưu thế củamỗi người

Nhà trường phổ thông hiện nay đang thực hiện theo quan điểm lấy người họclàm trung tâm: phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học nghĩa làphải thay đổi vai trò của người thầy và cách học của học sinh Chính người họcphải tự thể hiện mình và hợp tác với bạn, học từ bạn và xã hội hóa việc học củamình Hoạt động học tập được tiến hành theo nhóm sẽ làm cho từng thành viênquen dần với sự phân công, hợp tác trong lao động xã hội, tính cách của mỗi cá

Trang 2

nhân được bộc lộ, được uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức kỷ luật, tinh thần tươngtrợ, ý thức cộng đồng…nhờ đó mà hiệu quả học tập sẽ tăng lên, bài học vận dụngđược vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và của cả lớp

Như vậy, hiệu quả của hoạt động nhóm trong học tập là không thể phủ nhận,nhưng không phải học sinh nào cũng đạt hiệu quả cao khi học và làm việc theonhóm Bởi các em chưa hiểu hết giá trị của hoạt động nhóm nên chỉ hoạt độngmang tính hình thức hay do chưa biết cách tổ chức, tiến hành nên hoạt động chưađem lại hiệu quả như mong muốn Chất lượng của hoạt động nhóm còn phụ thuộcvào nhiều yếu tố: môi trường học tập, vốn sống, kinh nghiệm, trình độ nhận thứcvà kiến thức về hoạt động nhóm…

Học sinh trường trung học phổ thông Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà Nộicũng nằm trong tình trạng chung đó Các em mong muốn có những nhóm học tậphọc chuyên sâu vào những môn học theo phân ban mà các em đã định hướng để thi

vào đại học Được hoạt động và học tập theo một phương pháp mới mà mình được

tự chủ về kiến thức là điều các em rất quan tâm Các em đã nhờ đến sự tư vấn,hướng dẫn của các thầy cô nhưng đa số các hoạt động nhóm diễn ra còn mang tínhtự phát cao nên hoạt động không được lâu và chất lượng của nhóm chưa đạt hiệuquả đúng mức

Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu học nhóm của học sinh lớp 11 trường Trung học phổ thông Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà Nội”.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận việc học nhóm của học sinh lớp 11 THPT và điều tra thựctrạng để từ đó xác định tác động của việc học nhóm tới kết quả học tập của họcsinh lớp 11 trường THPT Trương Định, trên cơ sở đó đề xuất một số biện phápnhằm nâng cao hiệu quả học tập với hình thức học nhóm của học sinh

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu học nhóm của học sinh trường THPT

Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà Nội

3.2 Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 11 trường THPT Trương Định,

quận Hoàng Mai, Hà Nội

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận nhu cầu học nhóm của học sinh lớp 11

trườngTHPT

Khảo sát thực trạng nhu cầu học nhóm của học sinh lớp 11 trường

4.2 THPT Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà Nội

Trang 3

4.3 Đề xuất một số biện pháp cải tiến hoạt động học nhóm nhằm đáp ứng

nhu cầu của học sinh trường THPT Trương Định, quận Hoàng Mai, HàNội

5 Giới hạn đề tài

- Đối tượng: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tác động của việc học nhóm

tới kết quả học tập

- Khách thể: học sinh lớp 11A3 và 11C trường THPT Trương Định, quận

Hoàng Mai, Hà Nội

- Thời gian: Từ ngày 25/12/2013 đến ngày 25/5/2014

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích và tổng hợp tài liệu; phân loại hệ thống hóa lý thuyết; nghiên cứusách, báo và các công trình nghiên cứu khoa học về nhu cầu nói chung và nhu cầuhọc nhóm nói riêng để làm cơ sở lý luận cho đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Đây là phương pháp chủ yếu để chúng tôi thực hiện nhiệm vụ, mục đích của đềtài Chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến của học sinh (bằng phiếu hỏi) nhằm mụcđích tìm hiểu về thực trạng, mức độ, nội dung nhu cầu học nhóm của học sinh lớp

11, trường THPT Trương Định Phương pháp được thực hiện với một hệ thống cáccâu hỏi đặt ra cho từng học sinh được đặt ra trả lời Các câu hỏi trong bảng là câuhỏi đóng, yêu cầu sinh viên lựa chọn một trong các câu trả lời đã cho sẵn Điều nàytạo điều kiện thuận lợi cho việc thống kê, xử lý số liệu và tìm mối quan hệ chặt chẽgiữa các biến số với nhau Ưu điểm của phương pháp này là giúp người điều trathu được những thông tin chỉ tiêu về số lượng Tuy nhiên nhược điểm của phươngpháp này là chỉ thu được những câu trả lời riêng lẻ của từng khách thể mà khôngphản ánh được đầy đủ tâm lý chung của nhiều người hoặc có thể gặp những câu trảlời không đạt do thái độ của người được điều tra

Ngoài ra, chúng tôi tiến hành song song với các phương pháp khác như quansát các hoạt động của học sinh kết hợp với phỏng vấn sâu… trong quá trình điềutra để hỗ trợ và đảm bảo tính khách quan trong quá trình nghiên cứu

6.2.2 Phương pháp quan sát

Quan sát các hoạt động của học sinh đặc biệt trong các giờ học mà các em cólàm việc theo nhóm hay các buổi học nhóm vào giờ phụ đạo để thấy được thựctrạng, cách tổ chức, tiến hành ra sao Phương pháp này hỗ trợ chúng tôi thấy đượcmức độ tích cực, hứng thú của các em khi tham gia học nhóm để nhận biết đượcnhu cầu học nhóm của các em

6.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Trang 4

Phương pháp này giúp bổ sung cho những thông tin còn thiếu ở phương phápđiều tra bằng phiếu hỏi Phương pháp này giúp người điều tra thâm nhập được vàothực tế nhu cầu học nhóm của học sinh hiện nay để thu được những thông tin chínhxác hơn về nhu cầu học nhóm cũng như thực trạng của nó Cuộc phỏng vấn có thểđược tiến hành dưới nhiều hình thức như trò truyện tự do hoặc được chuẩn hóabằng những câu hỏi đưa trước để người hỏi được trả lời một cách có chuẩn bị.

6.2.4 Phương pháp thống kê toán học

Để lượng hóa kết quả nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kêtoán học Phương pháp này được thực hiện nhằm sử lý số liệu điều tra, tìm ra vàphân tích mối tương quan giữa các yếu tố được đặt ra trong bảng hỏi

Trang 5

B- PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1 Lịch sử phát triển về nhu cầu

1.1 Lịch sử nghiên cứu về nhu cầu của các nhà tâm lý học ngoài nước

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa hành vi

Chủ nghĩa hành vi do nhà tâm lý học người Mỹ J.watson (1878-1858) sáng lập.Ông cho rằng: tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉnghiên cứu hành vi cơ thể Hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài,nảy sinh lại cơ thể nhằm đáp ứng lại một số kích thích nào đó, nó được thể hiện

bằng công thức hành vi nổi tiếng: S  R

(kích thích) (phản ứng)

Tuy nhiên tâm lý học hành vi đã không xét đến yếu tố tâm lý ẩn đằng sau mỗihoạt động, thúc đẩy hoạt động xảy ra Hơn thế nữa lại không đề cập đến tính chủthể trong đời sống của mỗi con người Họ coi con người là một cái máy tạo ra cácphản ứng khi có kích thích tới mình Chính vì vậy họ đã không giải thích đượcnhiều hiện tượng xảy ra trong thực tế

Khắc phục được sai lầm đó, E.Tolman người khởi xướng ra chủ nghĩa hành vi mới đã đề cập tới vấn đề mà chủ nghĩa hành vi cổ điển đã bỏ qua, đó là cái

trung gian giữa S và R các yếu tố trung gian này can thiệp vào quá trình tạo raphản ứng Bởi vì, các quy định phản ứng không chỉ có các kích thích vật lý ở bênngoài mà bao gồm cả những yếu tố bên trong - đó là nhu cầu của cơ thể tiếp nhậnkích thích đó Năm 1932, E.Tolman đã đưa ra khái niệm “Những ham muốn thứnhất thúc đẩy hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu bản năng sinh vật để tồn tại củacon người như: thức ăn, quần áo, nhà cửa…còn nững ham thích thứ hai là nhữngkích thích sinh ra từ hoàn cảnh xã hội bên ngoài như: tính tò mò, lòng tự trọng…” Năm 1951, ông đưa ra hệ thống mới của nhu cầu gồm ba loại:

- Loại 1: Nhu cầu thỏa mãn sự đói khát, tình dục, tránh đau đớn và chết.

- Nhu cầu có quan hệ với xã hội, bao gồm: tính bầy đàn, sự thống trị, sự

phụ thuộc…

- Loại 3: Nhu cầu riêng mang tính cá thể như những mong muốn, mục

đích, tính thẩm mỹ, tính sáng tạo…

1.1.2 Quan điểm của tâm lý học Gestal (hay còn gọi là tâm lý học cấu trúc)

Học thuyết”Tâm lý học Gestal” ra đời ở Đức thuộc trường phái tâm lý học duy

tân khách quan Các tâm lý học cấu trúc cho rằng bản chất của các hiện tâm lý đều

Trang 6

vốn có tính cấu trúc, vì vậy ngiên cứu tâm lý phải theo hướng tổng thể với cả mộtcấu trúc chỉnh thể Thực chất, tính cấu trúc của hiện tâm lý chỉ là sự phản ánh cấutrúc của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan chứ không phải vốn có.Trên cơ sở thực nghiệm của các nhà tâm lý học, Gestal đã khẳng định rằng tâm lý,ý thức của con người được nảy sinh do sự biến động của “sự phân phối lựctrường” vốn có sẵn ở não người, không có quan hệ gì với ngôn ngữ, với hiện thựckhách quan và hoạt động của con người.

Với các nhà nghiên cứu tâm lý nổi tiếng: W.Wertheimer, Kohler, Kolka, đặcbiệt là Kutrtlevan với các nghiên cứu của ông về vấn đề động cơ và nhân cách, tâmlý học xã hội đều có đề cập đến nhân tố thúc đẩy hoạt động của con người, khôngchỉ có xung năng mà còn có cả nhu cầu xã hội Khi xuất hiện một nhu cầu nào đó,xuất hiện đồng thời liên tưởng có liên quan đến các nhu cầu đó của chủ thể Vớimọi ý nghĩ của con người đều có liên quan đến các nhu cầu khác nhau, vì vậy, tạo

ra một chuỗi những căng thẳng là nguồn gốc tính cực của hoạt động, đồng thờimang tính tích cực hoạt động, giảm trạng thái căng thẳng đó

1.1.3 Quan điểm của phân tâm học

Với đại diện là S.Freud (1956 - 1939), ông cho rằng đời sống tâm lý của conngười bao gồm ba khối: cái ấy, cái tôi và cái siêu tôi Ông khẳng định phân tâmhọc coi trọng nhu cầu tự do cá nhân như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầutình dục (cái ấy) Việc thoả mãn nhu cầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tựnhiên, và như thế, tự do cá nhân thực sự được tôn trọng, kìm hãm nhu cầu này sẽdẫn đến hành vi mất định hướng của con người “Khát dục trong Phân tâm họckhông có ý nói đến việc thoả mãn những khát khao thông thường mà là sự đòi hỏithoả mãn những khát khao mãnh liệt Những mong muốn này được thoả mãn sẽđem lại cho con người những khoái cảm đặc biệt và sẽ tạo ra một trạng thái tâm lýsung sướng, khoan khoái, dễ chịu Khi một khát vọng nào đó chưa được thoả mãnthì sự căng thẳng về mặt tâm lý lên đến tột đỉnh”

Nhưng theo E.Fromm, thuộc trường phái tâm lý học nhân văn thì ông lại quantâm đến mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố tâm lý và xã hội Theo ông hoạt động

vô thức bẩm sinh được xác định bởi các nguyên nhân tâm lý xã hội, khác với Freudcho rằng nó được xác định bởi các nhu cầu sinh vật

Ông quan niệm rằng: “nhu cầu tạo ra cái tự nhiên của con người” Đó là nhữngnhu cầu:

 Nhu cầu quan hệ người - người

 Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người

 Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo

 Nhu cầu về sự bền vững và hài hoà

 Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu

Những nhu cầu này tạo là thành phần tạo nên “nhân cách”

Trang 7

1.1.4 Quan điểm của tâm lý học Macxit

Được khởi xướng bởi 3 nhà tâm lý học Nga là Vugotski, Leonchiev,

Rubinstein, tâm lý học Macxit khẳng định rằng về bản chất, con người là một thựcthể xã hội, nghĩa là thông qua hoạt động và giao tiếp thì nhân cách con người mớiđược hình thành và phát triển Sự hình thành nhu cầu và hành vi có liên quan đếnbản chất xã hội của tâm lý người, kể cả nhu cầu sinh vật của con người (trong đócó bản năng và ham muốn) cũng được xã hội hóa theo mức độ phát triển của xã hộiloài người

D.N.Unadze - người sáng lập ra thuyết tâm thế đã đề cập đến khái niệm nhucầu và ý nghĩa của nó đối với hoạt động sống của sinh vật Theo ông, nhu cầu lànguồn gốc của tính tích cực Với khái niệm này thì khái niệm nhu cầu rất rộng, nóđề cập đến tất cả mọi cái mà cơ thể sống cần đến cho sự tồn tại và phát triển củamình Ông cho rằng, chủ thể hướng vào môi trường bên ngoài nhằm mục đích thỏamãn nhu cầu trước mắt thì một tình trạng nhất định xuất hiện, gây ra một chủ thểtâm thế nhất định và thông qua tâm thế này hướng dẫn toàn bộ hành vi tiếp theo.Đồng thời với những nhu cầu mang tính bản năng sinh vật (đói, rét…) mà ông gọilà những “nhu cầu bậc thấp”, thì con người còn có những nhu cầu bậc cao phụthuộc vào hoàn cảnh sống, giáo dục và phụ thuộc vào những nghiệm thể mà conngười thấy có ý nghĩa

A.N.Leonchiev đã đưa ra khái niệm về động cơ và nhu cầu Ông nói: “…trước khi thỏa mãn lần đầu tiên thì nhu cầu “chưa được biết đến” đối tượng của nó, đối tượng này còn cần phải được phát lộ ra Chỉ nhờ có sự phát lộ ra vậy thì nhu cầu mới có được tính vật thể của nó, còn vật được nhận ra thì có chức

năng thúc đẩy, chức năng hướng dẫn hoạt động…” Ông cho rằng cái bị biến mấttrong tâm lý học không phải là nhu cầu mà là cái trìu tượng về nhu cầu, nhữngtrạng thái “trần trụi” của chủ thể không chứa đựng đối tượng của mình Từ đó ôngđưa ra sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động:

Nảy sinh Thúc đẩy

Hoạt động  Nhu cầu  Hoạt động

Sơ đồ này đáp ứng quan niệm của Tâm lý học Macxit về nhu cầu Từ sơ đồ này

ta thấy chính hoạt động của con người làm nảy sinh nhu cầu, cũng từ những nhucầu này mà thúc đẩy con người hoạt động để thỏa mãn nó Chính vì thế, cuộc sốngcủa con người là một chuỗi các hoạt động kế tiếp nhau ngày càng phát triển để thỏamãn nhu cầu ngày càng cao của con người

1.2 Lịch sử nghiên cứu về nhu cầu của các nhà tâm lý học trong nước

Những quan điểm về nhu cầu của các nhà tâm lý học trong nước có ở những tậpsách tiêu biểu như: Tâm lý học Liên Xô - Tuyển những bài báo, Nxb Tiến Bộ năm

Trang 8

1978, Tâm lý học Vưgôtxki, Nxb ĐHSPHN năm 2000 của tác giả Bùi Văn Huệ,Tâm lý học đại cương, Nxb ĐHSPHN năm 2003 của tác giả Nguyễn Quang Uẩn,Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang, Tâm lý học đại cương, Nxb Giáo Dục 1989 củatác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy.

Theo tác giải Nguyên Quang Uẩn: “Nhu cầu là sự đồi hỏi tất yếu mà con ngườithấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển”

Các tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh và Trần Trọng Thủy lại viết rằng: “Đểtồn tại và phát triển các nhân phải đòi hỏi ở môi trường xung quanh những cái cầnthiết (không thể thiểu) cho mình Sự đòi hỏi ấy là nhu cầu của cá nhân Nói đếnnhu cầu là nói đến sự đòi hỏi của cá nhân về một cái gì đó ở ngoài nó, cái đó có thểlà một sự vật, một hiện tượng hoặc một cái khác Trong ý nghĩa đó nhu cầu biểu lộsự gắn bó của cá nhân đối với thế giới xung quanh, sự phụ thuộc của cá nhân vàothế giới đó” Mặt khác “khi xuất hiện một nhu cầu thì chủ thể sẽ hướng trí lực củamình vào việc tìm kiếm các phương thức, điều kiện để thỏa mãn nhu cầu đó, vì vậynảy sinh đòi hỏi với tư cách là phương thức thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu xuất hiệnvới cường độ mạnh, thúc đẩy con người hoạt động nhằm thỏa mãn nó Khi nhu cầukhông được thỏa mãn ở chủ thể sẽ xuất hiện trạng thái căng thẳng, cảm xúc âmtính”

Như vậy, các nhà Tâm lý học trong nước đã khẳng định nhu cầu là hình thứctồn tại giữa cơ thể sống và thế giới xung quanh, là nguồn gốc của tính tích cực.Mọi hoạt động của con người đều là quá trình tác động vào đối tượng nhằm thỏamãn nhu cầu Với ý nghĩa đó, nhu cầu được hiểu là trạng thái cảm nhận được sựcần thiết của đối tượng đối với sự tồn tại và phát triển của mình và xuất hiện như lànguồn gốc tạo ra tính tích cực của hoạt động Nhu cầu được thỏa mãn sẽ tạo ra nhucầu mới ở mức độ cao hơn, con người sau khi hoạt động để thỏa mãn nhu cầu nàysẽ làm phát triển nó và nảy sinh ra nhu cầu khác cao hơn nữa

1.3 Một số khái niệm cơ bản của nhu cầu

1.3.1 Khái niệm chung về nhu cầu

1.3.1.1 Định nghĩa về nhu cầu

Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cần có những điều kiện và phương tiện

nhất định, không thể thiếu do môi trường bên ngoài mang lại cho mình, sự cầnthiết đó chính là nhu cầu Nói đến nhu cầu là nói đến sự đòi hỏi của một cá nhân vềmột cái gì đó ở ngoài nó, cái đó có thể là một sự vật, một hiện tượng…

Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên) cho rằng: Nhu cầu là đòi hỏi củađời sống, tự nhiên, xã hội

Nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động người ta thấy một sự cần thiết nhấtđịnh nào đó về một cái gì đó A.V.covaliov đã đưa ra định nghĩa nhu cầu với tưcách là nhu cầu của nhóm xã hội: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và củanhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát triển

Trang 9

Nhu cầu quy định sự hoạt động xã hội của các cá nhân,các giai cấp và tập thể”.Chính nhu cầu đã thúc đẩy con người hành động một cách nhất định và theo mộthướng nhất định Khi phân tích nhu cầu với tư cách là một phần trong xu thế nhâncách, các nhà Tâm lý học Liên Xô coi nhu cầu là: “tồn tại cái cá thể của các quanhệ xã hội”, nhu cầu nói lên sự gắn bó của con người với thế giới xung quanh và sựphụ thuộc của nó vào thế giới đó.

Trong từ điển Xã hội học do G.S Nguyễn Khắc Viện làm chủ biên đã đưa rakhái niệm về nhu cầu: Mọi hành vi của “con người đều do sự thúc đẩy những nhucầu nào đó Nhu cầu thể hiện sự lệ thuộc của một cơ thể sống vào môi trường bênngoài, thể hiện những ứng xử tìm kiếm khi cơ thể thiếu những điều kiện để tồn tạivà phát triển Có rất nhiều tư tưởng cho rằng: Xã hội chỉ đạt được hạnh phúc khinhu cầu con người được thỏa mãn C.Mác cho rằng: Xã hội cộng sản là Xã hội ghitrên lá cờ của nó dòng chữ làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, vì nền sảnxuất xã hội có thể tạo ra nguồn của cải dồi dào để thỏa mãn nhu cầu của mọingười A.H.Maslow - nhà phân tâm học người Mỹ cho rằng nhu cầu là động cơthúc đẩy hành vi của con người một cách mạnh mẽ nhất Tính xã hội nằm trongbản năng của con người, tính người của nhu cầu và xung đột của con người đượchình thành và phát sinh trong quá trình phát sinh chủng loại Các nhu cầu đều dựatrên cơ sở di truyền nhất định

Xét cho cùng nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của con người là động lực thúcđẩy hoạt động, điều chỉnh hành vi của từng cá nhân trong xã hội, trong nhóm xãhội, đồng thời nó xác định hướng suy nghĩ, tình cảm, ý chí của cá nhân đó trongquá trình sống

1.3.1.2 Đặc điểm của nhu cầu

Theo C.Mac: “Sự tồn tại của cái mà tôi yêu thực sự, tôi cảm thấy là cần thiết,

tôi cảm thấy nhu cầu về sự tồn tại đó” Nhu cầu, đó là sự cần thiết, song khôngphải mọi sự cần thiết đều là nhu cầu Điều này một lần nữa khẳng định rằng nhucầu không tách rời khỏi hoạt động, nhờ có hoạt động mà một sự cần thiết trừutượng nào đó mới được vật chất hóa, mới trở thành có máu, có thịt Nảy sinh trongquá trình hoạt động, nhu cầu đồng thời trở thành nhân tố kích thích trực tiếp đốivới hoạt động

Do vậy, nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng Đối tượng của nhu cầu là tấtcả những yếu tố vật chất và tinh thần trong thế giới hiện thực có thể thỏa mãn đượcyêu cầu để tồn tại và phát triển của các nhân Nhu cầu không tách rời khỏi hoạtđộng, mà hoạt động của con người luôn có đối tượng Khi chưa có đối tượng, nhucầu chưa tồn tại theo đúng nghĩa của nó, lúc ấy ở cá nhân chỉ tồn tại trạng tháithiếu thốn hoặc mong muốn một cách mơ hồ Khi bắt gặp sự vật, đối tượng cóchứa đựng đối tượng có khả năng thỏa mãn trạng thái thiếu thốn của cơ thể, khinhu cầu mới thực sự xuất hiện

Trang 10

Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quyếtđịnh Mỗi các nhân đều được đặt trong một điều kiện sống nhất định, rộng hơn làmột điều kiện xã hội lịch sử cụ thể.

Điều kiện sinh hoạt vật chất là cơ sở tạo nên nội dung của nhu cầu Vì thế xemxét nội dung của nhu cầu có thể cho ta thấy được những điều kiện sống bên ngoàicủa cá nhân đó Mặt khác, thông qua phương thức thỏa mãn nhu cầu chúng ta cũngcó thể đánh giá được điều kiện sống, điều kiện lịch sử xã hội mà chủ thể của nhucầu đại diện C.Mac viết: “đói là đói, song cái được thỏa mãn bằng thịt chín vớicách dùng dao và dĩa khác hẳn với cái đói buộc phải nuốt bằng thịt sống với dùngtay, móng và răng”

Nhu cầu của con người được nảy sinh và phát triển qua hoạt động và nhờ vàohoạt động: “muốn sống trong thế giới xung quanh, con người phải tạo ra các hoạtđộng đối với thế giới đó, sản xuất ra các đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu này haynhu cầu khác Đó chính là cuộc sống của con người” Về mối quan hệ tượng sinhgiữa nhu cầu và hoạt động F.Ăngghen đã viết: “Hoạt động lịch sử bản chất nhấtcủa người ta là hoạt động để tạo nên cơ sở vật chất cho tất cả các hoạt động kháccủa con người, đó là sự sản xuất nhàm thỏa mãn nhu cầu sinh sống của người ta” Nhu cầu của con người có tính chu kỳ Một khi nhu cầu được thỏa mãn thìđiều đó đồng nghĩa với việc triệt tiêu của nhu cầu đó, nó sẽ lại xuất hiện trở lại khinào những điều kiện gây nên nhu cầu ấy diễn ra Nếu nhu cầu về một điều gì đó chỉdiễn ra một lần đơn lẻ và không bao giờ lặp lại thì về bản chất đó không phải lànhu cầu

Nhu cầu của con người khác xa về về chất so với nhu cầu của con vật

Ở con người cũng tồn tại những nhu cầu mang tính bản năng, nhưng tất cả đềuđược xã hội hóa, được chế ước bởi xã hội Một trong những sự khác biệt về chấtgiữa nhu cầu của con người và của con vật là sự khác biệt về điều kiện và phươngthức thỏa mãn Ở con người những yếu tố này ngày càng nâng lên trình độ caohơn, tốt hơn, văn minh hơn nhờ vào khả năng lao động, sáng tạo Còn ở con vật,điều kiện và phương thức thỏa mãn về bản chất vẫn là thuần túy bản năng, nếu cómột sự thay đổi nhất định nào đó cũng do con người chủ động tạo ra

1.2.1 Phân loại nhu cầu

Có rất nhiều cách phân loại nhu cầu:

- Nếu căn cứ vào tính chất và nguồn gốc phát sinh nhu cầu, người ta phân ralàm hai loại: nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội

Nhu cầu tự nhiên là những nhu cầu bẩm sinh , di truyền như nhu cầu ăn uống, antoàn, hít thở, tình dục, sinh sản…

Nhu cầu xã hội là những nhu cầu tập nhiễm Trong quá trình sống của conngười làm nảy sinh những nhu cầu mới: Nhu cầu học tập, nhu cầu lao động, nhucầu sáng tạo, nhu cầu làm thêm…

Trang 11

- Nếu căn cứ vào mức độ của nhu cầu thì có hai loại: nhu cầu bậc thấp vànhu cầu bậc cao.

Nhu cầu bậc thấp là những nhu cầu có mức độ thỏa mãn thấp, ví dụ như được

ăn no, mặc ấm…

Nhu cầu bậc cao thì đòi hỏi đối tượng và phương thức thỏa mãn rất cao: ănphải ngon, mặc phải đẹp, được người khác tôn trọng, thừa nhận…

Rõ ràng, nhu cầu bậc cao mang ý nghĩa xã hội nhiều hơn mang tính chất cáthể Có những nhu cầu tự nhiên như được xã hội hóa ở nước đó nhất định sẽ trởnên văn minh, văn hóa như: văn hóa ẩm thực, thiết kế thời trang, trang trí mỹ thuật,phong tục dựng vợ gả chồng…

- Nếu căn cứ theo đối tượng thỏa mãn nhu cầu thì phân ra làm hai loại: nhucầu vật chất và nhu cầu tinh thần

Một trong những lý thuyết nhu cầu được nhắc đến nhiều nhất là lý thuyếtphân cấp nhu cầu của nhà Tâm lý học Abraham Baslaow Ông nhìn nhận các nhucầu của con người theo hình thái phân cấp, sắp xếp theo một thứ tự tăng dần từ nhucầu thấp đến nhu cầu cao nhất và ông kết luận rằng nếu nhu cầu được thỏa mãn thìloại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa Những nhu cầu cơ bản củacon người do Maslow xác định theo thứ tự tăng dần về tầm quan trọng:

Nhu cầu tự khẳng định 5

(Nhu cầu về tự thể hiện bản thân, khả năng của mình) Nhu cầu

Nhu cầu được tôn trọng 4 bậc cao

(Cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, tin tưởng)

Nhu cầu được công nhận 3

(Được bạn bè tin cậy, được thuôc một tổ chức nào đó)

Nhu cầu an toàn 2 Nhu cầu

(Có gia đình, sức khỏe, công việc, tài sản…) bậc thấp

Nhu cầu sinh lý 1

(Dạng cơ bản: thức ăn, nước uống, nơi ở, tình dục, thở…

THÁP NHU CẦU MASLOW

Henry Muray đã xây dựng bảng phân loại nhu cầu, đây là một trong những bảngphân loại phổ biến nhất ở phương Tây, bao gồm:

1 Chiếm ưu thế: Muốn kiểm soát, gây ảnh hưởng, điều khiển hành vi bằng lời

nói, mệnh lệnh, thuyết phục, gây trở ngại, hạn chế những người khác

2 Gây hấn: Muốn bằng lời nói hay hành động để làm nhục, lên án, nguyền

rủa, nhạo báng, lăng mạ, làm nhục đối phương

Ngày đăng: 06/12/2015, 11:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w