Trong những thập kỷ gần đây, tác phẩm văn học Mỹ được dịch ở Việt Nam với một khối lượng đáng kể so với văn học các nước khác, vì vậy nó đã tạo được sức hút lớn đối với một bộ phận bạn đọc có tình yêu đối với nền văn học này. Và hiểu biết văn học của một xứ sở chính là một cách để tiếp cận con người xứ sở ấy trên cả bề rộng lẫn chiều sâu. Một trong số những tác giả nước ngoài được bạn đọc biết đến nhiều nhất là E. Hemingway. Tiếp cận E. Hemingway từ cuộc đời và sự nghiệp đã mở ra cho chúng tôi một chân trời mới. Nhan đề các tác phẩm hay bản thân tác phẩm của ông không chỉ tồntại như một văn bản nghệ thuật mà còn như một mô thức văn hóa – vật chất của con người. Từ những trang viết của ông, người ta càng hiểu hơn tài năng của một bậc thầy. Ông đã trở thành biểu tượng văn hóa của nhân loại. Mỗi tác phẩm văn học đều là đứa con tinh thần của nhà văn, nó mang trong mình những giá trị văn hoá riêng. Nó hiện thân cho tư tưởng, tình cảm và kết tinh tài năng nhân cách của nhà văn. Ông già và biển cả là một tiểu thuyết rất ngắn nhưng nó được xem là kiệt tác của E. Hemingway. Tác phẩm đã góp phần quan trọng để nhà văn được nhận Giải Nobel văn học năm 1954. Bên cạnh đó, môn Ngữ văn là một trong những môn học có vai trò quan trọng ở nhà trường phổ thông, ngoài chức năng công cụ, môn Ngữ văn còn góp phần rất lớn hình thành và phát triển các năng lực chung cũng như góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và các phẩm chất cao đẹp của người học. Môn Ngữ văn bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hoá, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc; ý thức tự lập, tự cường, lí tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn; giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại. Như vậy, việc dạy và học môn Ngữ văn không chỉ đơn thuần cung cấp, trang bị cho học sinh kiến thức về văn học mà bên cạnh đó cần bổ sung cho các em các kiến thức liên ngành khác trong đó có kiến thức về văn hoá để phù hợp với nhu cầu của thực tiễn. Các tri thức về văn hoá mà học sinh thu lượm được trong văn học sẽ góp phần giúp cho các em bồi dưỡng, giữ gìn, phát huy sáng tạo bản sắc văn hoá của dân tộc và nhân loại. Lựa chọn đề tài Dạy học đoạn trích “Ông già và biển cả” theo hướng tiếp cận cổ mẫu, chúng tôi muốn mở rộng và khai thác sâu hơn sự hiểu biết về tác giả E. Hemingway và đoạn trích Ông già và biển cả, đem đến cho học sinh Trung học Phổ thông (THPT) một cái nhìn mới xuất phát từ lợi ích thực tiễn của nhà trường Việt Nam.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TRI THỨC CỔ MẪU 8
1 1 Vài nét về cổ mẫu 8
1 2 Mối quan hệ giữa cổ mẫu với văn học 16
1 3 Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ cổ mẫu 33
Tiểu kết 37
Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA TÍNH CỔ MẪU TRONG ĐOẠN TRÍCH 39
“ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ” 39
2 1 Từ đặc điểm văn chương của E Hemingway 39
2 2 Đoạn trích “Ông già và biển cả” 39
2 3 Tính cổ mẫu được biểu hiện trong đoạn trích 41
Tiểu kết 62
Chương 3 THIẾT KẾ VÀ THỰC NGHIỆM DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ” THEO HƯỚNG TIẾP CẬN CỔ MẪU 64
3.1 Thiết kế “Ông già và biển cả” theo hướng tiếp cận cổ mẫu 64
3 2 Thực nghiệm sư phạm 77
Tiểu kết 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
PHỤ LỤC 90
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 2Tiếp cận E Hemingway từ cuộc đời và sự nghiệp đã mở ra cho chúngtôi một chân trời mới Nhan đề các tác phẩm hay bản thân tác phẩm củaông không chỉ tồntại như một văn bản nghệ thuật mà còn như một mô thứcvăn hóa – vật chất của con người Từ những trang viết của ông, người tacàng hiểu hơn tài năng của một bậc thầy Ông đã trở thành biểu tượng vănhóa của nhân loại
Mỗi tác phẩm văn học đều là đứa con tinh thần của nhà văn, nó mangtrong mình những giá trị văn hoá riêng Nó hiện thân cho tư tưởng, tình
cảm và kết tinh tài năng nhân cách của nhà văn Ông già và biển cả là một
tiểu thuyết rất ngắn nhưng nó được xem là kiệt tác của E Hemingway Tácphẩm đã góp phần quan trọng để nhà văn được nhận Giải Nobel vănhọc năm 1954
Bên cạnh đó, môn Ngữ văn là một trong những môn học có vai tròquan trọng ở nhà trường phổ thông, ngoài chức năng công cụ, môn Ngữvăn còn góp phần rất lớn hình thành và phát triển các năng lực chung cũngnhư góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và các phẩm chất cao đẹp củangười học Môn Ngữ văn bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn
Trang 3học, văn hoá, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc;
ý thức tự lập, tự cường, lí tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhânvăn; giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị vàhợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc
và nhân loại
Như vậy, việc dạy và học môn Ngữ văn không chỉ đơn thuần cungcấp, trang bị cho học sinh kiến thức về văn học mà bên cạnh đó cần bổsung cho các em các kiến thức liên ngành khác trong đó có kiến thức vềvăn hoá để phù hợp với nhu cầu của thực tiễn Các tri thức về văn hoá màhọc sinh thu lượm được trong văn học sẽ góp phần giúp cho các em bồidưỡng, giữ gìn, phát huy sáng tạo bản sắc văn hoá của dân tộc và nhân loại
Lựa chọn đề tài Dạy học đoạn trích “Ông già và biển cả” theo hướng tiếp cận cổ mẫu, chúng tôi muốn mở rộng và khai thác sâu hơn sự
hiểu biết về tác giả E Hemingway và đoạn trích Ông già và biển cả, đem
đến cho học sinh Trung học Phổ thông (THPT) một cái nhìn mới xuất phát
từ lợi ích thực tiễn của nhà trường Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Tiểu thuyết Ông già và biển cả viết ở Cu Ba năm 1951 và xuất bản
năm 1952 Nó là tiểu thuyết cuối cùng được xuất bản khi ông còn sống.Đây cũng là tác phẩm nổi tiếng và là một trong những đỉnh cao trong sựnghiệp sáng tác của nhà văn Tác phẩm đoạt giải Pulitzer cho tác phẩm hưcấu năm 1953, qua khảo cứu, chúng tôi thu thập được các công trìnhnghiên cứu sau:
– Lê Huy Bắc, E Hemingway – Núi băng và hiệp sĩ, NXB Giáo dục,
Trang 4– Đặng Anh Đào, Ông già và biển cả – cốt truyện và điểm nhìn, hiện
thực và biểu tượng, Văn học Phương tây, NXB Giáo dục, HN, 1997
– Phùng Văn Tửu, Độc thoại nội tâm trong Ông già và biển cả, NXB
Văn học, HN, 2002
– Nguyễn Liên, Tiếp cận đương đại văn hóa Mỹ, NXB Văn hóa thông
tin, HN, 2001
– G Plim–pton, Phỏng vấn Hê–ming–uê, trong Hê–minh–uê và các
phê bình của ông, Lê Huy Bắc dịch
– Kei–i–chi Ha–ra–đa, Ông lão và đại dương, trong Hê–minh–uê và
các phê bình của ông, Lê Huy Bắc dịch
– Ăng–đrê Mô–roa, Ơ–nít Hê–minh–uê, trong Hê–minh–uê và các
phê bình của ông, Lê Huy Bắc dịch
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Ông già và biển
cả khá phong phú, đa dạng Tuy nhiên, tiếp cận tác phẩm (cụ thể đoạn trích
trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 – tập 2 – Ban cơ bản) theo hướng cổ mẫuchưa được quan tâm đúng mực Chúng tôi thấy rằng việc phân tích và tìm
ra phương pháp thích hợp để tiếp cận đoạn trích này là cần thiết và có ýnghĩa thực tiễn đối với giáo viên THPT
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn là đề ra phương hướng tiếp cận cổ mẫukhi đọc hiểu đoạn trích “Ông già và biển cả” để nâng cao chất lượng vàhiệu quả của việc giảng dạy, làm cho việc dạy và học Ngữ văn gắn liền vớithực tiễn cuộc sống hơn, học sinh có hứng thú, say mê học tập môn Ngữ
Trang 5văn, từ đó góp phần phát triển cho học sinh một số năng lực phổ thông(như biết sử dụng các ngữ liệu văn học để giải thích các hiện tượng điểnhình hay quen thuộc của cuộc sống…)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu các vấn đề cơ sở lý luận của đề tài
4.2 Các công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của E.Hemingway
4.2 Tiểu thuyết “Ông già và biển cả”
4.3 Tìm hiểu thực trạng giảng dạy và học tập đoạn trích “Ông già vàbiển cả” trong nhà trường phổ thông
4.4 Tìm ra biểu hiện của tri thức cổ mẫu trong tác phẩm, cụ thể ởđoạn trích “Ông già và biển cả”
4.5 Tìm ra phương hướng, biện pháp cụ thể để vận dụng tri thức cổmẫu vào hướng dẫn học sinh đọc hiểu đoạn trích “Ông già và biển cả” 4.6 Thiết kế giáo án thực nghiệm cho đoạn trích “Ông già và biển cả”,trong đó vận dụng những phương pháp, biện pháp cách thức của tri thức cổmẫu
5 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu được giới hạn trong tiểu thuyết “Ông già và biển
cả” của E Hemingway, đặc biệt là đoạn trích trong sách giáo khoa Ngữ
văn 12 – tập 2 – Ban cơ bản)
6 Mẫu khảo sát
– Khối lớp 12 trường THPT Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
– Khối lớp 12 trường THPT Thăng Long, thành phố Hà Nội
7 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
7.1 Khách thể nghiên cứu
Lí thuyết phê bình cổ mẫu và quá trình dạy học Ngữ văn ở trườngTHPT Việt Nam
Trang 67.2 Đối tượng nghiên cứu
– Các công trình nghiên cứu về lí thuyết phê bình cổ mẫu; cuộc đời và
sự nghiệp của E Hemingway
– Tiểu thuyết “Ông già và biển cả”, đoạn trích trong sách giáo khoa
Ngữ văn 12 – tập 2 – Ban cơ bản
– Thực trạng dạy và học đoạn trích “Ông già và biển cả” trong nhàtrường phổ thông
8 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận
cổ mẫu trong dạy học tiểu thuyết “Ông già và biển cả” (đoạn trích trongsách giáo khoa Ngữ văn 12 – tập 2 – Ban cơ bản) thì sẽ giúp học sinh dễdàng liên kết các kiến thức văn học và văn hóa
Đồng thời, việc dạy học Ngữ văn được gắn với thực tiễn cuộc sốnghơn, học sinh có hứng thú, say mê học tập môn Ngữ văn, từ đó góp phầnphát triển một số năng lực cho học sinh THPT, cũng như góp phần nângcao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn
9 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:– Phương pháp tiếp cận văn hoá, cổ mẫu
– Phương pháp điều tra, khảo sát, thực nghiệm
– Phương pháp so sánh loại hình
– Các thao tác phân tích, tổng hợp, xử lí thông tin
10 Dự kiến đóng góp mới của đề tài
– Tổng quan một cách có hệ thống cơ sở lý luận về phê bình cổ mẫu
và cách tiếp cận cổ mẫu trong tiểu thuyết “Ông già và biển cả”
– Thiết kế giáo án dạy học tiểu thuyết “Ông già và biển cả” qua đoạn
trích trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 – tập 2 – Ban cơ bản) theo hướng
tiếp cận cổ mẫu
Trang 7– Đề xuất cách sử dụng dạy học đoạn trích “Ông già và biển cả” trong(sách giáo khoa Ngữ văn 12 – tập 2 – Ban cơ bản) theo hướng tiếp cận cổmẫu trong dạy học Ngữ văn lớp 12 làm cho việc dạy học Ngữ văn gắn vớithực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập, từ đó góp phầnphát triển một số năng lực cho học sinh THPT đồng thời góp phần nângcao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn
11 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính củaluận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và tri thức về cổ mẫu
Chương 2: Biểu hiện của tính cổ mẫu trong tác phẩm (đoạn trích “Ônggià và biển cả” trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 – tập 2 – Ban cơ bản) Chương 3: Thiết kế bài giảng theo hướng cổ mẫu
Trang 8Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TRI THỨC CỔ MẪU
1.1 Vài nét về cổ mẫu
1.1.1 Khái niệm cổ mẫu
Cổ mẫu trước hết là biểu tượng nhưng cao hơn biểu tượng ở sức kháiquát của nó, bởi cổ mẫu là những mẫu của các biểu tượng, là nguyên mẫucủa các tập hợp biểu tượng hay một cách khái quát là những biểu trưng phổquát “Từ điển văn học” nói: cổ mẫu là “khái niệm dùng để chỉ những mẫucủa các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, trong tưởng tượng củacon người, chứa đựng trong vô thức tập thể của cộng đồng nhân loại; vôthức tập thể này là một yếu tố đặc trưng cho tất cả các vô thức cá nhân”[29,173] Theo “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới”: “Các mẫu gốc hiểnhiện ra như những cấu trúc tâm thần gần như phổ biến, bẩm sinh hay đượcthừa kế, một thứ ý thức tập thể; chúng thể hiện qua các biểu tượng đặc biệtchứa đầy một công suất năng lượng lớn Chúng đóng một vai trò động lực
và thống nhất đáng kể trong sự phát triển nhân cách” [42,972]
Khái niệm cổ mẫu có nguồn gốc từ học thuyết của nhà tâm lý học CarlGustav Jung (1875 – 1961), người Thụy Sỹ Ông nghiên cứu và đề xuất từnhững thập niên đầu của thế kỷ XX Từ chỗ tâm đắc và phát triển họcthuyết về vô thức của thầy mình là Sigmund Freud (1856 – 1939, ngườiÁo), Jung đã đóng góp cho nhân loại cái nhìn mới về hệ tâm thức conngười Trong đó vô thức tập thể – ngôi nhà xuyên thời đại của cổ mẫu – làkhái niệm cốt lõi Jung nói: “Nguyên sơ tượng (archétype), hay siêu mẫu,hay nguyên hình – dù đó là quỷ, người hay biến cố – được lặp lại trong suốtchiều dài lịch sử ở bất kì đâu có trí tưởng tượng sáng tạo tự do hoạt động.Lần lượt chúng ta có ở đây trước hết là nguyên hình huyền thoại Nghiêncứu tỉ mỉ các hình tượng này ta nhận thấy trong chừng mực nào đấy chúng
là bản tổng kết đã được công thức hóa của khối kinh nghiệm điển hình to
Trang 9lớn của vô số các thế hệ tổ tiên: đó có thể nói là vết tích tâm lý của vô sốcảm xúc cùng một kiểu” [43,127] Vẫn coi trọng ý thức nhưng Jung đãkhiến thế giới phải ngạc nhiên khi nhận ra toàn bộ đời sống con người luônchịu sự tác động mạnh mẽ và nhiều lúc thật kì diệu từ vô thức tập thể thôngqua cổ mẫu, đồng thời bản chất của vô thức tập thể là di truyền (có biếndịch)
Chúng ta có thể hiểu về khái niệm nay qua một số cổ mẫu quen thuộc:– Trời, Đất: đây là cỗ mẫu bắt nguồn từ sự nhìn nhận về vũ trụ quanmang tính sơ khai của con người thời xưa xuất hiện nhiều trong văn hóacủa phương Đông nói chung và người Việt nói riêng Đây là hai vật thể tolớn nhất, bao hàm cả vũ trụ Đất: cứng cáp, đục thô, ổn định, rộng rãi, ngậptràn cây cối, nuôi sống muôn loài, đất như người Mẹ có sức sản sinh và táisinh, bền bỉ trong một nhịp điệu âm thầm và bao dung Trời: rộng lớn, bao
la, ẩn chứa nhiều điều kì thú, có tác dụng chở che cho muôn loài như ngườiCha trong gia đình Do đó, Trời và Đất tương ứng chỉ tới Cha và Mẹ,Dương và Âm
.– Nước: Với đặc trưng mềm mại, trong trẻo, tinh khiết, luôn chuyểnđộng, biến hoá, và xuyên thấm nhưng lại có sức mạnh lớn lao, là nguồnsống của vũ trụ nên nước tượng trưng cho sự vẻ đẹp vừa thánh thiện,nguyên sơ lại mạnh mẽ của con người Vì thế, nước là cổ mẫu quen thuộctrong văn hóa nhiều nước, cả phương Đông và phương Tây Người Châu Áxem nước là biểu tượng của sự sống, sự sinh sôi nảy nở Và vì nước mangtrong nó sự hiền minh, không chứa đựng sự tranh chấp, nước tự do vàkhông hề bị ràng buộc, tự để mình chảy trôi theo chiều dốc của mặt đất nên
nó được xem là “công cụ thanh tẩy” trong nghi lễ của nhiều tôn giáo khácnhau trên thế giới (Đạo giáo, Đạo Hồi, Kitô giáo, Ấn Độ giáo) Cùng vớitính năng thanh tẩy, nước còn mang trong nó sức mạnh tái sinh, sức mạnhcủa sự bất tử Sức mạnh ấy ẩn chứa dưới lớp vô thức và là sức mạnh không
Trang 10định hình của tâm hồn Với G Bachelard, nước là “một kiểu định mệnh đặcthù” Ông cho rằng “Trong bề sâu của mình, con người đã có định mệnhcủa nước đang chảy” [44,273] Khi thịnh nộ, nước chuyển từ âm (êm đềm/
nữ tính) sang dương (dữ dội/ nam tính) Nước mang trong nó số phận, dángvóc, tâm hồn C.G Jung cho rằng: “nước là biểu tượng phổ biến nhất dànhcho vô thức”, và về phương diện tâm lý học “nước là tinh thần đã trở thành
vô thức (…) Nước là trần thế và hữu hình, nó cũng là chất lỏng của cơ thểbản năng tính, máu và là dòng lưu chuyển của máu, là mùi của thú tính,tính nhục dục mạnh với đam mê” [44,70] Cũng như Jung, G Bachelard đã
có những phút giây chiêm nghiệm sâu lắng với nước Trong công trình
Nước và những giấc mơ (L’Eau et les Rêves, 1942), ông đã dệt nên những
“biến tấu” kỳ diệu về chủ đề “nước” Ở đó có những dòng nước trong,những dòng nước mùa xuân, những dòng nước chảy, những dòng nước đatình, những dòng nước sâu, nước tù đọng, chết chóc, nước pha tạp, nướcdịu hiền, nước dữ dội… Ngần ấy dòng nước là ngần ấy biểu tượng lấp lánhtựa những tia sáng phản chiếu từ tấm gương dưới nắng mặt trời
– Núi non, hang vực, gò, đống, rừng, vườn, biển, sông, ngòi, hồ, đầm,suối, mưa, sương…: Những cổ mẫu con này là những cổ mẫu con sinh ra
từ ba cỗ mẫu lớn ở trên Nó vừa dung chứa những nét chung của cổ mẫu
mẹ đất, mẹ nước, cha trời – đặc biệt là tính cố định, luân chuyển và tínhsinh sôi – vừa hình thành những nét riêng Cổ mẫu Sông, Đầm, Giếng gầnnhư chiếm lĩnh trang viết và khái niệm non sông gần như bình đẳng vớikhái niệm đất nước và non nước về ý nghĩa Sông để lại dấu ấn đậm trongtâm thức người Việt đến mức có khi nó thay thế cả Biển trong điển cố “bểdâu” (Thương hải biến vi tang điền), để nói lên cảm thức về sự biến dịch
mà lại rất gợi, vì đã bước ra ngoài thế giới công thức, là sự khắc phục điểnphạm, vốn đã mòn nhẵn
– Lửa: Ngay từ xa xưa, việc gìn giữ và bảo vệ “lửa thiêng” đã trải
Trang 11rộng từ La Mã cổ đại đến Ấn Độ, từ các quốc gia phương Đông đếnphương Tây Là một dạng vật chất, lửa mang trong nó những đặc tính đốilập: lửa vừa là sự tái sinh, vừa là sự hủy diệt, là hy vọng lẫn tuyệt vọng, làlửa yêu thương lẫn thù hận Lửa được coi là cội nguồn của những sinh thểnảy mầm sự sống cách đây gần năm tỉ năm; là biểu tượng của sự linhthiêng thần thánh, đồng thời cũng là một phần trong bản thể con người Vàcũng như cổ mẫu nước, một lần nữa ta lại thấy lửa đi vào lời ăn tiếng nóicủa người dân Người ta nói đến “lửa hận”, “lửa dục”, “lửa tham”… nhưnhững mặt trái của cuộc sống Người ta cũng nói đến lửa như một sự thửthách lòng người (lửa thử vàng, gian nan thử sức), và lửa như một thứ hấplực của cuộc đời (cơ thể bốc lửa, đôi môi bỏng cháy,…) Cũng như nước,mỗi người đều cất giấu trong mình một “định mệnh của lửa” Cùng với
“nước”, “lửa” trở thành một biểu tượng kép trong đời sống tôn giáo tínngưỡng nhiều dân tộc trên thế giới Người ta nhắc đến ngọn lửa Phục sinhcủa người Kitô giáo với niềm tin về sự chiến thắng và ngự đến của đấngcứu thế Người ta cũng nhắc đến “lửa tam muội” – ngọn lửa ánh sáng và trítuệ của Phật giáo, do nhập định mà phát ra Đó là ngọn lửa có khả năngthiêu trừ mọi vọng tưởng, phóng chiếu con người về cõi cực lạc Và người
ta còn nhắc đến ngọn lửa Agni – vị thần của sự sống và tư duy trong cáctôn giáo Ariăng ở Châu Á Lửa mang lại sự sinh sôi, nhưng lửa cũng tànphá và hủy diệt Đó là ngọn lửa hỏa ngục trong ngày phán xét – nơi kẻ tộilỗi sẽ phải “khóc lóc nghiến răng”; là ngọn lửa vô minh, lửa dục vọng cấtgiấu trong mỗi người, khiến thế gian chẳng khác nào một “nhà lửa” (hỏatrạch) và con người bị thiêu đốt trong sự mê muội của chính mình Vớingười Việt, lửa là biểu tượng của sự sung túc Tục thờ Táo quân (ba ôngđầu rau) có thể xem là một hình thức khác của tục thờ lửa, gửi gắm mongước về cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc
– Giấc mơ: Trải nghiệm về giấc mơ là một trong những trải nghiệm
Trang 12đầu tiên của người nguyên thủy Trải nghiệm ấy gắn với ý niệm về “linhhồn” và sự tách biệt của linh hồn trong lúc ngủ Về vấn đề này, ngườinguyên thủy thái độ đối với giấc mơ tương tự như thái độ đối với giấc ngủ
vì cả hai đều gắn với lý thuyết nguyên thủy về linh hồn và cả hai loại hiệntượng này bổ sung, củng cố ý nghĩa cho nhau Giấc mơ chứa đựng nhữngbiểu tượng đầy sức ám gợi, và đến lượt mình, bản thân giấc mơ cũng là một
cổ mẫu, nối kết đời sống tâm linh từ thế hệ này qua thế hệ khác Đó là thếgiới con người lạc vào, là cái gì đó diễn ra trong ta chứ ta không thể chọnlựa Và trên thế giới, dường như sự ra đời của một lãnh tụ tôn giáo nào đóđều gắn với giấc mơ như một dấu hiệu phát lộ những điều huyền bí Suốtmột thời kỳ dài, con người luôn nỗ lực tìm hiểu và cắt nghĩa giấc mơ Đếnthế kỷ XX, cùng với sự xuất hiện của Phân tâm học, các kiến giải về giấc
mơ liên tục được đưa ra Giấc mơ là những kí hiệu của ham muốn, chúng là
“biểu hiện, thậm chí là sự thực hiện những dục vọng bị kìm nén Bởi vậygiải thích mộng mị là con đường vương giả để đạt đến hiểu biết lòngngười” Có thể nói, từ giấc mơ gợi nỗi khiếp sợ mê tín về “bóng ma”, chođến giấc mơ gắn với ý niệm rằng “bóng ma” ấy là sản phẩm hoạt động của
bộ não ở người đang ngủ là cả một quá trình, và từng là đối tượng của sựsuy tư triết học Người Ai Cập cổ đại tin rằng, giấc mơ là nơi chuyển tảithông điệp từ Thượng Đế (thần thánh), là nơi con người giao tiếp với thầnlinh
Cần chú ý phân biệt giữa cổ mẫu và biểu tượng Có thể có hàng loạtnhững biểu tượng nhưng không phải biểu tượng nào cũng là cổ mẫu Giữachúng có cái chung đều là những năng lực tạo hình của những năng lượngtinh thần con người và năng lượng đó đã diễn ra trong quá khứ, nay xuấthiện với chúng ta qua ngưỡng vọng hoặc như một cứu cánh của niềm tin,mang tính chất cứu chuộc Tuy nhiên, sự khác biệt đó thể hiện ở chỗ biểutượng là một dấu hiệu, một cơ sở quy ước của niềm tin Ở đó, cảm xúc luôn
Trang 13luôn nổi trội, biểu hiện thành những nỗi lo sợ hay mừng vui khôn xiết tả,những cảm xúc không lời Biểu tượng không những làm cho rõ ràng, màcòn làm cho trở nên chân thật những thực tại kinh nghiệm, là sự thức nhận
và trội sinh của cảm xúc hiện hữu Như vậy, nếu biểu tượng là hình tượngmang giá trị bền vững, phổ quát thì cổ mẫu là cấu trúc tinh thần bẩm sinh,cấu trúc tâm thần gần như phổ biến hoặc thừa kế; và nếu biểu tượng bắtnguồn từ văn hóa, tôn giáo, lịch sử – những lĩnh vực thuộc về ý thức – củacác cộng đồng thì cổ mẫu hình thành từ nguồn cội xa xưa, quan trọng sinhtạo trong vô thức tập thể (không phải vô thức cá nhân) Nói cách khác, cổmẫu là “hình tượng có giá trị bền vững, phổ quát, thoát thai từ vô thức tậpthể”
1.1.2 Đặc trưng cổ mẫu
Đầu tiên cỗ mẫu tạo ra cho con người những kiểu loại thái độ, nhữngkhung kinh nghiệm tri giác và cảm xúc nào đó, một thứ tâm thế xử kỷ tiếpvật trong những loại hành vi nhất định, đưa tâm thức cá nhân lên nhữngtầm cao tâm lý và tâm linh siêu cá nhân, như mục đích cuối cùng của hành
trình sự sống con người: Năng lượng, Sự sống, Tinh thần Nó mang tính
định hướng rõ rệt Jung đã nêu ra mang tính kiểu mẫu trong sự khai triểnlương tâm của nhân loại là việc người cha khi câu không được cá, trong lúcbực mình đã bóp cổ giết chết người con của mình Sự hối hận sau đó đã tạo
ra một định hướng của tình phụ tử
Thứ hai, mỗi một cổ mẫu tự bản thân nó mang tính chất của nhữngbiểu tượng vĩnh cửu Cái được biểu trưng trong biểu tượng là tiềm ẩn làmột biểu tượng văn hóa chất chứa chiều sâu tâm lý của cả một cộng đồng
đã được nghiệm sinh qua nhiều thời đại khác nhau Nó chỉ ra cả ý thức và
vô thức, cô đúc các sản phẩm tôn giáo và đạo đức, sáng tạo và thẩm mỹ,nhuốm màu xúc cảm và tưởng tượng của con người Vì, cổ mẫu luôn giữphần lớn tính chất huyền nhiệm, quyến rũ nguyên thủy làm người ta say
Trang 14mê Thực tại hiện hữu có vô số điều mà con người không thể xác địnhđược, cũng không thể hiểu được trọn vẹn Nó có sự liên hệ đến kinhnghiệm của tập thể Đôi khi nó dùng để diễn tả chân lý vĩnh cửu Qua sửtính, với nhiều lần thay đổi, nó trở thành những hình ảnh tập thể được các
xã hội văn minh chấp nhận
Thứ ba, là sự tham dự một cách tập trung và đậm đặc yếu tố cảm xúc,định kiến C Jung cho rằng có bao nhiêu tình cảm điển hình, bao nhiêu sứcnặng định kiến thì có bấy nhiêu loại cổ mẫu Theo Jung, khi một cổ mẫuđược đồng hóa với một kinh nghiệm nào đó thì ngay lập tức, một kiểu phảnứng nào đó được khơi dậy như nó đã hình thành và trao truyền trong cácthời đại trước đó Ví dụ như sự phóng ngoại những thuộc tính tình mẫu tửđặc loại của người con vào người mẹ cá thể của mình [41,35]
Thứ tư, theo những cấp độ của tuổi tác đời người, theo bước tiến triểncủa phức cảm tự ngã, có sự chuyển vị và thay thế Thời niên thiếu, những
cổ mẫu cơ bản như: anh hùng, liệt nữ (lý tưởng người hùng), nam nhân,thục nữ (linh âm và linh dương) Nhưng khi bước vào thời Thanh niên –Trung niên, mộng tưởng được thay thế cho những thực tế và lý tưởngngười hùng được chuyển vị vào cổ mẫu cha mẹ thông qua sự hướng tớichăm sóc con cái mình Đến tuổi già, cổ mẫu hiền nhân, hoàng lão đãchoán chiếm Như vậy, cổ mẫu có sự lan tỏa cảm xúc tạo cho cổ mẫu tínhchất chuyển hóa
Thứ năm, vì mọi diễn trình đi đến văn minh của nhân loại, từ các yếu
tố vật chất lẫn tinh thần đều là kết quả của những cuộc tiến hóa qua cácthời kỳ tiền sử nên cổ mẫu mang tính chất siêu thời gian và không gian.Xuất phát từ quá khứ xa thẳm, thế giới tinh thần con người không có sựngăn cách về thời gian và không gian để đi đến những tương đồng giữanhững hình ảnh tâm trạng của con người cổ sơ và những ý niệm mang tínhcách tập thể với con người hiện tại
Trang 151.1.3 Chức năng của cổ mẫu
Chức năng đầu tiên của cổ mẫu là góp phần nối liền và góp phần xóa
mờ ranh giới giữa văn học với nhân học, tâm lý, văn hóa Nó có khả năngchi phối đến sự hình thành nhân cách, di truyền văn hóa và sáng tạo nghệthuật Về khía cạnh văn học, cổ mẫu như là đôi hài bảy dặm bay ra từhuyền thoại, truyền thuyết dân gian, làm phong phú thêm kho tàng văn họcdân tộc Về khía cạnh nhân học, tâm lí học, cổ mẫu như là “cái nhìn lắngđọng của tâm thức con người qua muôn ngàn thế hệ, cổ mẫu như là đôi mắtbên trong, những cửa sổ tâm hồn của văn hóa” [39]
Chức năng thứ hai của cổ mẫu là tạo nên bản sắc văn hóa riêng củamột dân tộc, đất nước Sở dĩ có nhận định này là vì theo Jung: nếu hệ tâmthức (gồm ý thức và vô thức) là tam gi ác cấp năm tầng thì càng lúc nởrộng đáy đã thuộc về vô thức Vô thức tập thể là những nội dung tâm thứcđược kết tinh từ nhiều truyền thống tâm lý, tâm linh, văn hóa và tôn giáocủa nhiều thế hệ loài người trong lịch sử Những nội dung này được diễn tảthông qua các hình ảnh trong chiêm mộng, tưởng tượng dưới hình thứcbiểu tượng, cổ mẫu Cổ mẫu là kết tinh của vô thức tập thể, là những chấtliệu đặc biệt, chất chứa năng lực huyền dụ và đòi hỏi nhiều công phu giải
mã Nó là trung tâm của đặc trưng văn hóa nhân loại, dân tộc và mãi trươngcửu bất chấp những thay đổi của lịch sử, xã hội Chính cổ mẫu đã nối liền
vô thức và ý thức, góp phần tạo nên những hình tượng vừa đậm dấu ấn cánhân vừa mang tiếng nói chung của loài giống.Nó thể hiện nét văn hóa vôthức trong con người, từ đó tất cả chuyển hóa, phối tạo nên cái tôi cá nhânhay bản ngã con người
Chức năng thứ ba là góp phần nối kết quá khứ và hiện tại Cổ mẫu cho
ta biết về khuôn mẫu hình tượng mà ông cha ta từ bao đời nay đã lưu giữ,tôn thờ Nó mang chức năng lịch sử rõ rệt Từ đó, ta có chiều hướng kếthừa điều đó trong cuộc sống hiện tại, lí giải được nguyên nhân biểu hiện
Trang 16đặc trưng văn hóa tư tưởng của chúng ta trong cuộc sống hiện tại, nâng cái
sự sống nhỏ bé của mình hòa nhập với sự linh thiêng muôn đời trong nếpsuy nghĩ của dân tộc Người đọc cổ mẫu sẽ không chỉ tìm về những trangviết của quá khứ mà còn phải đắm mình trên dòng sông chữ nghĩa hôm nay
để khơi dậy lại giọng nói của cha ông
1.2 Mối quan hệ giữa cổ mẫu với văn học
1.2.1 Nhìn chung về mối quan hệ giữa cổ mẫu với văn học
Từ xa xưa trong văn học dân gian, cổ mẫu đã xuất hiện qua truyềnthuyết, cổ tích, thần thoại Còn trong nền văn học viết, cổ mẫu vẫn lấp lánh
ẩn hiện trong sáng tác của các nhà văn lớn như Goethe, Poe, củaBaudelaire, Kafka, Joyce, Marquez, Mạc Ngôn, Cao Hành Kiện… Ở ViệtNam, là Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Hoàng Cầm, Vũ HoàngChương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn BìnhPhương
Như vậy, sự tham dự của cổ mẫu vào văn chương nghệ thuật diễn ra
từ rất lâu, cổ mẫu có mối quan hệ chặt chẽ với văn học Những nghiên cứucủa các nhà khoa học cùng công lao sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn đãhữu hình hóa nhịp cầu văn học – cổ mẫu trên con đường tri thức chungnhân loại Nó thể hiện tương hỗ hai chiều của cổ mẫu và văn học
Cổ mẫu là cảm hứng, chất liệu không bao giờ tàn úa của văn học đồngthời nó còn là cơ sở để lí giải tác phẩm Ở chiều ngược lại, văn học lại làm
cổ mẫu đậm chất nhân văn và bất tử Cổ mẫu chính là cảm hứng, là chấtliệu cho các sáng tạo nghệ thuật đích thực Các cổ mẫu trong huyền thoạikhông bao giờ biến mất, chúng luôn tái sinh, và biến hình bởi nó xuất phát
từ những hoàn cảnh sống có thật của tổ tiên, cha ông, loài giống bao gồm
“những lo âu và sợ hãi, vui mừng và phấn chấn, tranh đấu và thành công,những tương giao giữa nam và nữ, giữa con cái và cha mẹ, những linh ảnh
về người cha người mẹ, những thái độ đối với hận thù và yêu thương, đối
Trang 17với sinh tử và ly biệt, những quyền lực của các nguyên lý trời đất, tối sáng,
âm dương…” [39]
Tác phẩm văn chương đầu tiên của nhân loại mà cổ mẫu ngả bóng vào
là truyền thuyết, thần thoại Các tác phẩm này thành nơi lưu dấu các huyềntích, huyền sử lại chính là nơi biểu hiện chủ yếu của ký ức cộng đồng ấy
Nó không bao giờ đông cứng theo cách hiểu nó đã sinh ra và mãi mãi trobụi từ thuở bình minh của lịch sử nhân loại, mà nó có năng lực tái sinh nhờ
sự bừng phát trong tầng sâu tâm thức con người mọi thời đại Những trảinghiệm này làm nên vô số huyền thoại, biểu tượng và cấu trúc tâm lý điểnhình, để rồi đi vào văn hóa nghệ thuật, đời sống tinh thần con người quabao thế hệ một cách vô hình, sâu lắng đến không ngờ Chính vì những lý do
đó mà ở thế kỷ XX và XXI, nhân loại mới vẫn luôn sống trong nhữngmảng cổ mẫu tái sinh trong ký ức, trong các sáng tạo văn học Các nhà văntrong nỗ lực tìm tòi, thử nghiệm và sáng tạo đã tìm đến cổ mẫu như mộtchất liệu nghệ thuật mới để thể hiện những vấn đề xã hội hiện tại trong mộthình thức cổ xưa Sử dụng cổ mẫu trong tác phẩm là tác giả đang dùng tớicác thủ pháp ước lệ, tính tượng trưng hay các điển tích để làm tác phẩmnghệ thuật ẩn ý tới các bài học sâu sắc, thâm trầm của hiện tại Mỗi mộtsáng tạo dường như xuất hiện trong nhiều mưu toan cất giấu chặt chẽ Quả thật, cổ mẫu không đơn thuần là chất liệu văn học mà còn ngầmchứa trong nó sức mạnh tự nhiên lớn lao được thổi bùng từ phía vô thức
Nó làm văn học “mọc cánh bay”, chạm tới tư tưởng mang tính phổ quát của
cả dân tộc hay nhân loại Tác phẩm không hẳn do người nghệ sĩ viết ra màdường như nó cầm lấy tay tác giả để viết ra “những điều khiến lý trí phảikinh ngạc” Không gì đúng đắn và sâu sắc hơn là những cổ mẫu mang tínhvĩnh hằng và đúng đắn mà thuở hồng hoang, ông cha ta đã khẳng định Nóvẫn luôn nhắn nhủ con người những giá trị hằng hữu, nó lặn xuống cáctầng sâu vô thức – quê hương của con người và của vạn vật gây ám ảnh
Trang 18Hơn nữa, bản thân cổ mẫu còn là một tiêu chí thẩm mĩ từ bao đời truyền lại
và được các nhà văn ghi lại trong tác phẩm của mình Để tại đỉnh điểm đó,con người thấy mình thăng hoa, hạnh phúc, thấy mình đồng điệu nhịp bướcgiữa muôn người trong tâm thức chung đồng loại
Như thế, văn học chính là cái đẹp cứu rỗi thế giới, khiến hàng triệutrái tim trên hành tinh này xích lại gần nhau, nối liền khoảng cách khônggian, thời gian, xóa mờ những ranh giới… Hẳn nhiên, hướng tiếp cận nàykhông phải không có những hạn chế của nó nhưng rõ ràng cánh cửa đã mởsẵn từ lâu đối với chúng ta, văn học như con thuyền tự do vươn ra biển lớn,hòa mình vào dòng chảy văn hóa bất tận
Cổ mẫu khi chuyển tải vào trong tác phẩm văn học, nó nâng cao thêmgiá trị nhân học Lúc đó, nhận thức không phải là mục đích duy nhất và chủyếu của cổ mẫu Mục đích chủ yếu của cổ mẫu là duy trì sự hòa hợp giữa
cá nhân, xã hội và tự nhiên, duy trì trật tự xã hội và vũ trụ Hình tượng ấyđược gắn với những bộn bề, băn khoăn, trăn trở của thế giới con người Từ
đó, cổ mẫu càng thể hiện rõ là một phần tâm thức đã và đang tồn tại trongchính chúng ta, có khả năng tác động lớn đến hình thành nhân cách và bản
vị Vì thế mà càng về gần đây, trong trào lưu nhân văn hóa văn học, cổ mẫucàng được sử dụng nhiều Nó thể hiện sự thắng thế của cổ mẫu với các loạihình chất liệu khác nhằm thể hiện tính nhân văn, nhân bản của con người Qua trào lưu ấy, cỗ mẫu góp phần thể hiện cả những bản cáo trạng vềnhững bất ổn trong thời kì hiện tại, cả những tâm trạng thất vọng của conngười trước hiện thực cuộc sống, những nỗi ưu tư cho chính số phận conngười Đặc biệt, văn học trong thế kỷ XX đã sử dụng phần lớn cổ mẫu với
tư cách là sự thể hiện bằng biểu tượng vĩnh cửu cơ sở tồn tại của conngười, tâm lý con người, đối lập với hoàn cảnh lịch sử và những tính cách
cụ thể Các huyền thoại cổ đại trên thực tế xuất hiện trước khi cá nhân đượctách ra khỏi xã hội, đã được nhà văn hôm nay dùng để miêu tả trình trạng
Trang 19con người cô đơn, bị lưu đày, bị người đời ghẻ lạnh trong xã hội thế kỷ
XX, như trong thơ: Eliot, Yets, Paund ; trong kịch: Anui, Klodel, Kokto,Ơnit Narquez ; trong truyện và tiểu thuyết: Kafka, Th Mann, Joyce,Marquez, Bahman Ở Việt Nam, các trang viết của Phạm Thị Hoài,Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh thấm đẫm các chủ đề cổ mẫu.Thực tế, những huyền thoại đó vừa là huyền thoại vừa là sự phản – huyềnthoại Sự quay về với sáng tạo cổ mẫu như là trở về với phương tiện cầnthiết để cách tân nền văn hóa và con người, thể hiện tư tưởng nhân văn củathời hiện đại
Cổ mẫu còn là cơ sở để lí giải tác phẩm Cách hiểu này đã mang lạicho chúng ta cái nhìn mới về tác giả, tác phẩm và quá trình sáng tạo vănhọc Từ đó, nó nối liền văn học với văn hóa dân tộc, nhân loại Nó là mộthiện tượng trung tâm trong lịch sử văn hóa, đồng thời là một phương tiện
cổ xưa để nhận thức thực tại xung quanh và bản chất của con người trongtác phẩm Sẽ là rất khó khăn cho việc diễn giải một tác phẩm văn chươnggiàu tính biểu tượng khi thiếu đi sự hiểu biết về chính biểu tượng ấy Sựthấu hiểu cổ mẫu giúp ta xác định được ẩn ý trong các tác phẩm, nhất là cáctác phẩm mang tính biểu tượng cao Nếu xem xét đơn vị cấu trúc của vănhọc là biểu tượng và những cổ mẫu là đơn vị của giao tiếp nghệ thuật,những ẩn dụ là những nguyên tắc cắt nghĩa hiện thực thì việc phân tích tácphẩm văn học phải bám sát lấy tri thức từ cổ mẫu
1.2.2 Mối quan hệ giữa cổ mẫu với văn học qua một số cổ mẫu thường gặp
1.2.2.1 Cổ mẫu đất
Cổ mẫu đất được coi là cảm hứng và chất liệu văn học cho nhiều tácphẩm văn học Nó bắt nguồn từ những ghi nhận mang tính trực quan về đặcđiểm vật chất của đất, cổ mẫu đất xuất hiện nhiều trong văn học từ xưa tớinay, cả văn học thế giới và Việt Nam Đất có đặc trưng về sự phát triển
Trang 20vững bền, sinh sôi nảy nở
Khi đọc các tác phẩm văn chương thế giới và Việt Nam, ta dễ dàngnhận thấy những nét lớn, gần như trùng khít nhau về đặc điểm của cổ mẫunày
Như trong các tác phẩm nước thần thoại Hi Lạp, đất được coi là mẹsản sinh ra các vị thần Thần tên là Gaia, là một trong các vị thần ban sơ,được người Hy Lạp tôn thờ là “đất mẹ”, tượng trưng cho mặt đất Gaia là vịthần thuở ban sơ và được coi như một vị thần âm phủ trong thần thoại HyLạp Bà được tôn kính như nữ thần vĩ đại hay như nữ thần mẹ Đó là coiđất khi người mẹ sản sinh ra tạo vật Hay trong văn học dân gian Việt Nam,đất cũng mang tính biểu tượng cao cho sự sống Sử thi Mường có tên “Đẻđất đẻ nước” đã xây dựng cổ mẫu đất như nguồn gốc sự sống của loàingười
Trong văn học hiện đại Việt Nam, đất gắn liền với hình ảnh quêhương, vùng miền làm toát lên tình yêu bản quán sâu sắc Trong cuộc chiếntranh của dân tộc, đất nước gắn với cả tinh thần bảo vệ quê hương Tiêu
biểu là tiểu thuyết “Hòn Đất” của nhà văn Anh Đức Chuyện xảy ra vào
đầu năm 1961 tại Hòn Đất Mảnh đất kiên cường ấy được tái hiện trongtinh thần kiên quyết chống giặc Đội du kích xã ở nơi đây đã rút lui vàohang Hòn trong một trận chống càn quyết liệt Đội có tất cả 17 người với
vũ khí thô sơ Mặc dù đối phương đông gắp nhiều lần, được trang bị đầy
đủ, vũ khí hiện đại và dùng nhiều giải pháp, như: bỏ thuốc độc vào nướcsuối, chặn mọi đường tiếp tế, dùng thuốc nổ phá hang, hun khói vào hang nhưng đội du kích kiên trì chống trả nhiều lần và kiên cường sống chết ởnơi đó Có lẽ tác giả đã cất giấu ẩn ý của mình trong những câu từ miêu tảthiên nhiên, đất đai ở mảnh đất này, để từ đó soi rọi vẻ đẹp của con người.Trong cuộc chiến đấu gay go, chênh lệch này, trong đội du kích nổi bật cóHai Thép – người chỉ huy – sáng suốt, giàu nghị lực Ngạn, một chiến sĩ
Trang 21dũng cảm, thông minh Ba Rèn, người nông dân chất phác, trung kiên.Quyên, cô du kích trẻ đẹp người, đẹp nết Vượt trội hơn cả là chị Sứ, một
nữ du kích có nhiều đức tính cao quý, như: đằm thắm, bất khuất, ngoancường Hình ảnh mảnh đất ấy còn tái hiện lên sự hi sinh anh dũng của conngười Cuối cùng, chi Sứ hy sinh vì sự sống của đồng đội và vì lý tưởng màchị nguyện suốt đời đeo đuổi Hòn Đất đã trở thành biểu tượng bất hủ củamiền Tây Tổ quốc kiên cường ngày đêm sóng vỗ
Hay trong bài thơ “Đất nước” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điểm, hình
tượng đất gắn với quê hương Việt giản dị, xúc động Những câu thật tựnhiên, sâu lắng, nói với ta bao điều giản dị mà cũng vô cùng thiêng liêng,thấm thía Đất nước, không phải là một hình người xa lạ, hay một kháiniệm trừu tượng nữa mà qua thơ của Nguyễn Khoa Điềm, nó đã trở thànhnhững gì dễ hiểu, giản dị nhất trong cuộc sống hàng ngày của mỗi conngười Đất nước hiện hình từ câu chuyện cổ tích của mẹ, miếng trầu của bà,đến cái kèo cái cột trong nhà, hạt gạo ta ăn hàng ngày Tất cả những điều
đó đều làm nên khuôn mặt dân tộc: một dân tộc tình nghĩa, đằm thắm ântình Không những thế, đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm còn gắn với
kỉ niệm riêng của mỗi con người, biến thành máu thịt của mỗi người
“Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm”
Trong truyện ngắn của Bình–Nguyên Lộc, ta thấy hình ảnh đất đaitoát lên đặc trưng vùng miền Nam Bộ Thổ ngơi, mùi vị,… của vùng đồngbằng sông Đồng Nai, sông Cửu Long là đề tài, là nguồn cảm hứng dườngnhư không bao giờ cạn cho những trang viết của Bình–nguyên Lộc Bình–nguyên Lộc hay viết về người nông dân nghèo gắn bó mật thiết với mảnhđất, căn nhà lâu đời của mình Nếu họ có lìa xa quê hương ra thành phố,sống đời anh “công chức” hay sống bằng những nghề khác, thì trong “cănbổn” họ cũng là người dân quê và sẵn sàng về quê như anh Thuần trong
Trang 22truyện Đất không chết Bà vợ ông giáo Quyền khi chuyển ra sống ở thànhphố cũng nhớ đất đến mang bệnh và cuối cùng cả nhà phải dời ra ngoại ô
để bà có đất trồng trọt, để đỡ nhớ mùi đất quê hương Người trông coinghĩa trang thành phố cũng vậy Anh ta chỉ ở lại, không bỏ về quê nữa vìtại đây anh ta có đất để trồng bông vạn thọ, để trồng rau, để bận rộn với
công việc quen thuộc của mình (truyện Thèm mùi đất) Còn cha anh Sáu Nhánh (truyện Phân nửa con người) dù đã tuổi cao bóng xế vẫn kiên quyết
bỏ con cháu, bỏ cuộc sống trên chiếc ghe thương hồ để lên bờ sống trên đấtliền Ông thậm chí còn cho rằng tình nghĩa với đất còn sâu nặng hơn cả tìnhnghĩa vợ Trong mối liên hệ với tự nhiên bao gồm đất đai, sông nước,ruộng vườn, cây cỏ, thời tiết nắng mưa
Bình–nguyên Lộc luôn cho rằng đất là tình yêu sâu nặng nhất của conngười Tập quán, nếp sinh hoạt ở một nước nông nghiệp lâu đời dường như
đã ăn sâu trong tiềm thức của người dân Tư tưởng sở hữu đất cùng vớinhững nét tâm lý rất đặc trưng của người nông dân Nam Bộ được nhà vănphát hiện trong những chi tiết khá thú vị như cảm giác thèm mùi đất, nỗikhát khao được che chở, bảo vệ đất Đất có mùi thật sự, nhất là đất mớixới, một mùi rất đặc biệt mà mũi họ quen ngửi cho đến ghiền, thiếu thì họnghe thèm Họ thấy rằng họ hạnh phúc vì họ được thỏa mãn tình cảm Tìnhnhớ xứ, nhớ nhà gồm nhiều yếu tố, mà nỗi thèm mùi đất là một yếu tố quantrọng Nỗi thèm này có khi mãnh liệt như nỗi thèm mùi thuốc phiện củanhững con thằn lằn, những con chuột lắt sống trong buồng của những kẻhút thuốc phiện, họ thèm và nhớ mùi đất y như đào hát thèm và nhớ sânkhấu, vũ nữ thèm và nhớ đèn màu, và y như cá thèm và nhớ nước Tình yêuvới đất được cắt nghĩa như một sức hấp dẫn tự nhiên với con người nhưvậy, nên đôi khi vì đất đai, cây cỏ, con người có những hành động “kỳcục” Ba Mín (trong truyện Mẹ tôi tái giá) cùng với những người dân làngChánh Hưng sống dựa vào rừng già Khi lão Tây Xi–lăng–ba định phá rừng
Trang 23trồng cây cao su, đêm nào Ba Mín cũng lén bưng bếp rề–sô cồn vào bãitrồng đun nước sôi tưới lên gốc cây cao su, làm cây chết dần chết mòn BaMín quyết tâm giết chết những cây cao su con để bảo về rừng già cho tớingày lão Tây cho xe ủi và máy cày đến cày xới trên sáu mươi mẫu rừng vớihàng trăm phu thợ, anh mới buồn bã khăn gói trở về làng cũ Ở làng cũ nhưlàng Tân Nhuận của ông Cựu Xã An, thanh niên lần lượt bỏ ra đi, chỉ cònngười cũ già nua và cái xa nước cũ kỹ không đủ sức quay để tưới cho cánhđồng khô hạn Hình ảnh ông Cựu Xã An đứng nhìn cái xa nước quay yếu
ớt mà “hồi hộp, nín thở” giống như đang chứng kiến giờ phút hấp hối củangười thân Hình ảnh vùng đất mà nhà văn nhắc đến ấy thể hiện tình cảmyêu quê hương dạt dào, giúp lưu giữ hình ảnh con người và những giá trịvăn hoá vùng đồng bằng Nam Bộ trong dòng chảy mải miết của thời gian
1.2.2.2 Cổ mẫu nước
Bên cạnh đất, nước cũng xuất hiện nhiều trong văn học Trong các tácphẩm thần thoại Hi Lạp, ta thấy sự xuất hiện của các vị thần dưới nướcthường trực và có ảnh hưởng lớn tới vạn vật, con người Thần biển cả Pô–đê–i–ông tay cầm chiếc đinh ba có thể hô mưa gọi gió làm biến động cảbiển cả Nhờ thần mà những đoàn thuyền của quân đội Hi Lạp mới có thể
ra khơi nhưng cũng do thần mà người anh hùng Uy–lít–xơ phải trôi dạt trênbiển biết bao tháng năm, không mong trở về gia đình
Hay trong các tác phẩm Việt Nam, nước trội lên, gây ám ảnh trong
một loạt truyền thuyết, thần thoại: Con Rồng cháu Tiên, Chử Đồng Tử,
Trương Chi, Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Mỵ Châu Trọng Thuỷ,… Sử thi Mường
có tên “Đẻ đất đẻ nước” đã xây dựng cổ mẫu nước để giải thích về nguồn
gốc sự sống của loài người Hay trong huyền tích Mường, ta cũng thấy cổmẫu nước qua hình ảnh sông Nó là nguyên khởi của mảnh đất, tạo dựngnên lãnh thổ dân cư Đó là biểu tượng về một lằn ranh chia cách, làm thànhhai thế giới, là một trở ngại mà con người phải vượt qua: Trời và Đất,
Trang 24dương gian và địa phủ Bước sang bờ kia là một cuộc đời khác Gắn liềnvới sông suối là bến bờ, là con đò, là chiếc cầu Lại có biểu tượng Bến Mê,cầu Nại Hà Lại có những khái niệm Hoàng tuyền, Suối vàng, sangngang Như vậy, nước được coi là nguồn gốc sự sống, là cách phân chialãnh thổ
Trong “Con Rồng cháu Tiên”, hình tượng Lạc Long Quân – một vị
thần ở dưới nước được coi là thủy tổ của dân tộc Việt Thần cùng Âu Cơ đãhoài thai ra dân tộc Việt Nam rồi chính thần lại dẫn 50 con xuống biển đểxây dựng giang sơn Truyền thuyết vừa góp phần thể hiện niềm tự hào dântộc, rằng chúng ta có huyết thống của thần Rồng vừa phản ánh quan niệmsâu sa của dân gian: cái gì tinh túy, mạnh mẽ thường từ nước mà sinh ra
Cổ mẫu nước ấy về sau còn được lặp lại “Mị Châu Trọng Thủy” khi tác giả
dân gian miêu tả vua An Dương Vương lúc tới bờ biển được Rùa Vàng rẽsóng, mời đi xuống nước Nước trở thành nơi che chở cho con người Hayhình tượng Rùa Vàng cũng mang ẩn ý về nước Đây không phải chỉ là loàivật dưới nước mà là biểu trưng cho sứ giả trợ giúp người hiền tài Hìnhtượng ấy còn lặp đi lặp lại trong nhiều truyền thuyết như truyền thuyết về
hồ Gươm,…Nhu vậy, nước lại trở thành cổ mẫu thể hiện sự hài hòa, ănnhập với sự phát triển của dân tộc
Như vậy, ý nghĩa tượng trưng của nước thường xoay quanh ba chủ đềchính: nước – nguồn sống, nước – phương tiện thanh tẩy, và nước – trungtâm tái sinh Đây là ba chủ đề thường xuyên được đề cập đến trong cáctruyền thuyết, huyền thoại cổ, từ đó hình thành những lớp kết cấu ý nghĩabền vững Tuy nhiên, hiện nay cổ mẫu nước được khoác lên mình nhiềulớp ý nghĩa hơn Với nhiều đặc tính như đã nói ở trên, nước đại diện chonhiều hình tượng với các thông điệp cũng vô cùng đa dạng Nó trở thànhmột cổ mẫu “mềm mại” nhất trong văn chương
Nước còn biểu trưng cho tình yêu, cho hạnh phúc lứa đôi của con
Trang 25người Trong “Chử Đồng Tử”, nhờ nước Chử Đồng Tử và Tiên Dung nên
đôi trong mối duyên kì lạ Nước thành ông Tơ bà Nguyệt, run rủi chochàng trai nghèo mồ côi Chử Đồng Tử gặp được người con gái lá ngọccành vàng Tiên Dung Nó là điểm hạnh ngộ trong tình huống vừa oái oămvừa kỳ ảo của đôi bạn trẻ Sau đó, đôi uyên ương với những câu chuyện kì
lạ này đã tìm đến vùng đồng lầy hẻo lánh để giúp dân làm ăn rồi sau đó hóathánh Như vậy, nước còn là nguồn gốc của sự cường thịnh, cho Chử Đồng
Tử và Tiên Dung làm nên việc lớn, trong một đêm, nơi đầm lầy ẩm ướthoang vu trở thành làng mạc đông vui, sung túc
Tuy nhiên, có lúc cỗ mẫu nước còn nhằm nói tới những sức mạnhkinh khủng của thiên tai, bão táp mà con người phải thay phiên nhau tìm
cách chế ngự bao đời nay Thần thoại “Sơn Tinh Thủy Tinh” miêu tả lại
cuộc đối đầu giữa thần núi và thần nước chính là nói về công cuộc chốnglại lũ lụt thời xưa Không năm nào Thuỷ Tinh không làm mưa, làm bãodâng nước lên đánh Sơn Tinh, gây nên lụt lội khắp vùng đồng bằng vàtrung du nước ta Và ước mong chế ngự ấy lại sáng lên qua việc tác giả dângian để Sơn Tinh chiến thắng đầy oai hùng trong cuộc chiến ấy Sự hungbạo của Thủy tinh quanh năm suốt tháng chính là sự đe dọa từ lũ lụt tới ôngcha ta ngày xưa Câu truyện huyền thoại về lụt đã biến nước trở thành biểutượng của kẻ đến sau, thất bại và không nguôi cay đắng Trong nỗi đau củamình qua nhân vật Thuỷ Tinh, nước không còn trong mình cái tinh thầncủa mẹ Nước trước đây: là mạch sống của Đất mà đã ly khai, và trở thànhbiểu tượng của kẻ phá hoại không mệt mỏi mảnh đất loài người Nhưng dù
là kẻ phá hoại, nước vẫn có mặt thường xuyên với đất và người dân Việt
Có lúc nước lại là nơi ghi dấu và thứ tha cho những oan khuất, thương
đau Trong truyện “Mị Châu – Trọng Thủy”, nước như là một kỷ niệm đớn
đau và nhục nhã mà người Việt cần phải quên đi Nnước là biểu tượng vềbước đường cùng của người anh hùng, vừa là chứng nhân tàn nhẫn của ba
Trang 26bi kịch lồng ghép vào nhau: bi kịch của một người lãnh đạo cộng đồng hiếuhoà và tự mãn (An Dương Vương), bi kịch của một người phụ nữ thuậnthảo với cha, hết lòng với chồng (Mỵ Châu), bi kịch của một người đàn ôngvừa phải tròn phận trung hiếu, vừa phải giữ nghĩa phu thê (Trọng Thuỷ).
Dù ánh sáng của trái tim đã mách bảo cho người xưa một liệu pháp hoá giải
bi kịch, vào cuối truyện: ngọc – hồn Mỵ Châu ở biển Đông rửa giếngTrọng Thủy lại trở nên đẹp đẽ bội phần nhưng tác phẩm không bớt đi bikịch
Còn trong chuyên “Trương Chi”, nước là biểu tượng của sự lệch pha
trong tình yêu, bi kịch của ngộ nhận Sông ở đây vừa là chốn mưu sinh, vừa
là nơi tiếng hát Trương Chi thăng hoa, vừa là nơi kết thúc cuộc đời củachàng dân chài bất hạnh, và là nơi lưu giữ hồn chàng, để cuối cùng giúpcho khối tình u uẩn của chàng được hoá giải Sông với Mỵ Nương là biểutượng của ảo ảnh, đánh thức tâm hồn lãng mạn, phơi lộ khát vọng về cáituyệt đối, và hé mở trái tim trắc ẩn của nàng Mỵ Nương là hình ảnh nhânvật nữ tương tư đầu tiên của Việt Nam, chỉ vì yêu mà lâm bệnh Hẳn rằngtiếng hát Trương Chi sẽ không thể nào vang đến đôi tai tinh tế của MỵNương và sẽ không dặt dìu, mênh mang đến thế, nếu không có sóng gió
của giòng sông đi ngang nhà nàng Trong truyện “Trương Chi”, nước mắt
của Mị Châu rơi vào chiếc chén có hình Trương Chi vừa là ghi dấu sự đauxót trước mối tình không thành vừa là sự cầu xin thứ tha Chiếc chén ấy tanchảy ra trước giọt nước mắt ân hận của công chúa chính là thể hiện sự thứtha của Trương Chi cho nàng
Văn học viết cũng nhận thấy điều này, như trong: Chuyện người con
gái Nam Xương (Nguyễn Dữ), thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, thơ Tản
Đà, thơ Bùi Giáng, truyện Nguyễn Huy Thiệp Thơ của các tác giả ViệtNam đậm đặc hình ảnh biểu tượng nước Hồ Xuân Hương thích miêu tảnước trong những: khe, lách, lạch, giếng, nước tát, :
Trang 27- “Lách khe nước rỉ “
- “Sóng dồn mặt nước “
– “Một dòng nước biếc
– “Một lạch Đào Nguyên “
– “Đầm đìa lá liễu hạt sương gieo…”
Bằng cả một chuyên luận công phu và đặc sắc: “Hồ Xuân Hương,hoài niệm phồn thực”, Đỗ Lai Thuý đã trả lời câu hỏi này, rất thuyết phục,với phê bình cổ mẫu: “những biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ XuânHương đều là những biểu tượng văn hoá–tôn giáo Chúng là hiện thân củanhững siêu mẫu” và “Hồ Xuân Hương, người đã biến tín ngưỡng phồn thựcthành triết lý phồn thực, biến những biểu tượng phồn thực thành mỹ họcphồn thực và đưa tính dục ở trình độ dân gian thành văn hoá tính dục” [35]
Trong “Truyện Kiều”, ta cũng thấy hình ảnh nước song nó xuất hiện như sự đe dọa, báo mệnh đen tối Như trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng
Bích”, Nguyễn Du đã miêu tả nước bao vây quanh Kiều:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
……
Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
Rồi chính ở dòng nươc trên sông Tiền Đường ấy, Kiều đã quyên sinhsau nhiều năm lưu lạc, đau khổ
Nước cũng được thể hiện qua hình ảnh mưa Chẳng biết từ lúc nào,mưa đã trở thành một vị thần trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam Trong
văn học, mưa thành biểu tượng giàu sức gợi Bài thơ “Thề non nước” của
Tản Đà, là một ví dụ Nước ở đây được nhìn trên góc độ bản thể, trongtương quan với Non (là Núi, nhưng được mặc lên ý nghĩa tinh thần), làmthành đôi bạn tâm tình, nói với nhau những lời thắm thiết:
Trang 28“Non cao đã biết hay chưa
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn”
Mưa cũng là biểu tượng cho ân sủng của trời, là nguồn ân ái chanchan giữa người và vũ trụ, cho nên mới có những khái niệm “ơn mưamóc”, “cuộc mây mưa”…Tiêu biểu như trong thơ Hồ Xuân Hương, mưalại để thể hiện cái nhìn đậm chất phồn thực: “Đầm đìa lá liễu hạt sươnggieo”, “Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm”, “Đôi gò bồng đảo sương cònngậm” Đến thời hiện đại, mưa sương tràn ngập tác phẩm văn chương.Những cơn mưa nhiệt đới cuồng bạo, những màn sương lúc u ám, lúc trànđầy chất thơ Mưa sương đã là môtíp văn chương phổ biến (Thơ Mới, vănxuôi hiện đại), nhưng để là biểu tượng, trong tìm hiểu còn hạn hẹp củamình, người viết mới chỉ nhận ra ở Bùi Giáng và Nguyễn Huy Thiệp Nước cũng để lại dấu ấn đậm trong tâm thức người Việt để nói lên
cảm thức về sự biến dịch như trong “Sông lấp” của Trần Tế Xương:
“Sông kia rày đã nên đồng
Bên làm nhà cửa, bên trồng ngô khoai”
Hay trong thơ Bùi Giáng, ta thấy xuất hiện nhiều hình ảnh biển nhưmột cổ mẫu bàng bạc lai láng giàu sức gợi hơn Ông đã tự giới thiệu khuônmặt thơ của mình bằng cổ mẫu này:
“Hỏi tên, rằng: Biển–Dâu–Ngàn
Hỏi quê, rằng “Xứ Mơ Màng”, đã quên”
Bùi Giáng sử dụng cổ mẫu như là một giấc mơ Một giấc mơ siêuthăng, trong đó thiên nhiên và con người cùng nương nhau tìm đến cáihạnh phúc uyên nguyên của nhân loại trẻ thơ Những trang viết mê sảngnhư bị “thơ làm “của Bùi Giáng là mê cung
Truyện cũng sử dụng cổ mẫu nước Tiêu biểu là truyện “Người con
gái Nam Xương”, dòng sông trở nên là một cổ mẫu được nâng lên một tầm
cao mới lấp lánh tầng tầng ý nghĩa Nếu cái bóng của ánh đèn đêm đêm, dù
Trang 29là được “nhân hoá” bằng trí tưởng tượng khá lãng mạn của người vợ trẻ,vẫn là hình ảnh lặp đi lặp lại, đơn điệu, đơn màu trên vách hẹp, thì cái bóngtrên sông nước “kiệu hoa, cờ tàn tán lọng, rực rỡ đầy sông” thoáng qua,lộng lẫy, đa màu, mênh mang Dân gian nói với chúng ta rằng, đó là sựkhác nhau vời vợi giữa bóng người – cái làm ta ngộ nhận, và bóng thần –cái làm ta ngưỡng vọng: giòng sông đã giúp người thiếu phụ Nam Xươngtái sinh trong thế giới
Nước còn xuất hiện trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp gây nên sự
ám ảnh thú vị, như trong “Con gái thuỷ thần”, tác giả mang tới cảm nhận
về biển rõ ràng: “Nàng ở đâu? Con gái thuỷ thần? Trước mặt tôi là dòngsông đang thao thiết chảy Sông chảy ra biển Biển rộng vô cùng Tôi chưabiết biển mà tôi sống nửa cuộc đời rồi đấy Thời gian cũng thao thiếttrôi Chỉ ít năm nữa đến năm 2000 Tôi đứng lên, đi về nhà Ngày mai tôi đi
ra biển Ngoài biển không có thuỷ thần” (Con gái thuỷ thần) Giấc mơ biển
trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp là giấc mơ vượt thoát khỏi không gian
tù đọng, luôn ràng buộc con người bằng những hệ luỵ nhỏ nhoi, để tìm đếnmột cái gì toàn vẹn và mới mẻ
1.2.2.3 Cổ mẫu lửa
Trong sử thi “Ramayana” của dân tộc Ấn Độ, ta thấy người Ấn Độ
tôn thờ ngọn lửa và tin vào sự công minh của vị thần này Bởi vậy, khôngngạc nhiên khi những bộ sử thi đồ sộ của xứ sở tâm linhấy luôn xuất hiệnhình bóng của lửa Đặc biệt, kể từ khi Sita bước lên giàn hỏa thiêu; kể từkhi ngọn lửa không thiêu đốt nàng mà chỉ khiến nàng thêm xinh đẹp lộnglẫy; lửa đã trở thành chứng nhân của tình yêu và sự bất tử Huyền thoại củanhiều bộ tộc trên thế giới xuất hiện những câu chuyện nằm trong lối ẩn dụnày Một trong số đó có thể kể đến huyền thoại vùng Nam Mỹ được Frazer
nhắc đến trong cuốn Những huyền thoại về nguồn gốc của lửa Để có được
lửa, người anh hùng đã đuổi theo một phụ nữ Và bí mật của ngọn lửa đã
Trang 30được tiết lộ khi người phụ nữ này ngồi xuống đất, giang đôi chân và ấnmạnh vào bụng dưới Một cục lửa lăn ra từ phía âm hộ chị ta Tất nhiên, đókhông phải là thứ lửa làm mọi vật bốc cháy và sôi lên, mà đó là thứ lửanằm trong một trường liên tưởng khác – lửa ham muốn, một hấp lực thiêuđốt con người
Trong văn học Việt, lửa có lúc là biểu tượng của lòng tham và tội ác,
sự xuất hiện của lửa đôi khi hé mở những điều bất thường, hoặc cũng cókhi, lửa cảnh báo về sự trừng phạt khủng khiếp đang chờ con người ở phía
trước Trong truyện “Con thú lớn nhất” của Nguyễn Huy thiệp, tác giả xây
dựng chân dung một lão già với đôi mắt đục và sâu hoắm, phảng phấtnhững tia lân tinh lạnh lẽo” ẩn hiện giữa “khu rừng ma”, lão đi đến đâuchim chóc, thú rừng chết chóc đến đấy Bao quanh nhà lão là mùi gây gâycủa tử khí của những đống lông chim xơ xác đen xỉn như màu mực tàu,những đống xương thú màu đá vôi thì lốm đốm những vệt nước tủy vàngkhè, hôi hám Và rồi, Then đã trừng phạt vợ chồng lão Cây cối xơ xác,chim chóc trốn biệt Cái chết ẩn lấp trong ngôi nhà lão Mụ vợ lão ở nhànhóm lửa chờ chồng nhưng ngọn lửa mụ nhóm như có ma ám, không đỏ
mà lại xanh lét như mắt chó sói Đó là ngọn lửa của lòng tham và sự đóikhát Ngọn lửa thôi thúc mụ vợ lần bước vào rừng Ngọn lửa khiến lãochồng quyết định quay trở lại săn cho được con thú lớn nhất Nhưng chẳng
có bất cứ con thú nào Chỉ có tiếng súng nổ, tiếng rú thất thanh của mụ vợ,
và bản thân lão thì kết thúc hành trình săn đuổi bằng một vết đạn xuyêntrán
Cùng với giấc mơ, đôi khi, lửa như một nỗi ám ảnh và một cảnh báo
về sự trừng phạt cho những tội lỗi của con người “Giọt máu” của Nguyễn
Huy Thiệp mở đầu bằng việc Phong bỏ nghề mổ lợn gia truyền ra Hà Nộilàm báo, và kết thúc bằng cơn ác mộng của Phong Đang nằm Phong mơthấy mình lạc vào địa ngục Một cái vạc to lửa cháy bùng bùng, những con
Trang 31quỷ dạ xoa mặt đen, tóc dài đang chụm củi đun Trong vạc, những người bịxiềng xích rên la thảm thiết Sau giấc mơ và lời trăn trối, Phong nấc lênmấy cái rồi chết Khép lại truyện là cảnh dòng họ Phạm gần như tuyệt tự,
và hình ảnh một khu mộ hoang phế mỗi mùa nước lớn, ba ba, thuồng luồngvẫn tụ họp đánh chén, đom đóm thắp đèn sáng rực thâu đêm, ếch kêu ồm
ộp lẫn trong tiếng nhạc nghe như tiếng người nức nở Dưới ngòi bút củaNguyễn Huy Thiệp, cuộc sống luôn được tái hiện ở phía trần trụi nhất Sựtham lam và ích kỉ, toan tính và thủ đoạn luôn được ông lạnh lùng lật tẩy Như vậy, cổ mẫu lửa xuất hiện nhiều trong văn học với đặc tính khởinguyên của sức mạnh biến hóa và tồn tại dưới mọi dạng vật chất Nó còn làbiểu tượng của sự sung túc, của niềm tin vào sự công minh Trong nhiềutrường hợp nó mang mặt đối lâp: vừa nói lên sự tái sinh vừa thể hiện sựhủy diệt Lửa tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau – khi âm ỉ, lúc dữ dội;khi ấm áp, lúc cháy bỏng; khi hiền hòa, lúc sôi sục giận dữ Cuộc vật lộnchống lại những xung năng tính dục trong con người thường được vívớicuộc vật lộn chống lại ngọn lửa
1.2.2.4 Cổ mẫu giấc mơ
Văn chương thế giới đã lưu giữ biết bao những tấu khúc biến ảo khác
nhau về mộng Người ta nhắc đến “Yogavasistha” (55 truyện kể về mộng)
của mảnh đất tôn giáo Ấn Độ; nhắc đến “Mười đêm mộng” của xứ sở Phù
Tang; rồi “Hồng Lâu mộng” của đất nước Trung Hoa những kỳ thư văn chương phương Đông Người ta cũng nhắc đến “Âm thanh và cuồng nộ”
(William Faukner) – những tuyệt tác phương Tây hiện đại như một sự nốidài những giấc mơ
Ở thơ văn Việt Nam, giấc mơ cũng không ngoại lệ Nếu trong văn họcdân gian và văn học cổ, giấc mơ thường mang chức năng điềm báo, hoặcmàu sắc tôn giáo, tín ngưỡng… thì đến văn học hiện lại, giấc mơ trở thànhmột phần đời sống tâm linh con người, nó hé lộ “trạng huống hiện sinh”,
Trang 32phản chiếu ảo ảnh của chính con người Tìm hiểu truyện ngắn đương đại,chúng tôi nhận thấy, ở một số tác giả, giấc mơ như một ám ảnh nghệ thuật,
nó trở đi trở lại trên trang viết, dưới nhiều dạng thức khác nhau Có thể kể
đến Nguyễn Huy Thiệp với loạt truyện “Con gái thủy thần”, “Giọt máu”,
“Cún”, “Những người thợ xẻ”, “Huyền thoại phố phường”, “Không có vua”;… Võ Thị Hảo với “Người sót lại của rừng cười”, “Biển cứu rỗi”;…
Nguyễn Thị Thu Huệ với “Người đi tìm giấc mơ”, “Phù thủy”… Ở đó,
giấc mơ được sử dụng như một phương thức để khám phá thế giới nội tâmnhân vật
Thế giới của giấc mơ là thế giới mở tuyệt đối, là thế giới mà mọi ướcthúc tâm lý đều bị gạt bỏ, nhường chỗ cho những suy tư, trăn trở, nhữngkhát vọng, ẩn ức tự do bộc lộ Bởi vậy, qua lăng kính của giấc mơ, nhân vậthiện lên chân thực hơn, sống động hơn, và cũng ám ảnh hơn Đi ra từ hiệnthực, diễn tiến trong sự bất định của tâm trí và kết thúc trong sự chiêmnghiệm của con người, giấc mơ mang trong nó cả cõi thực lẫn cõi mộng Đôi khi, giấc mơ là sự trở lại của kí ức, là nỗi ám ảnh đời thường Đó
là nỗi ám ảnh của người con gái một thời khoác áo lính – người con gái duynhất may mắn sót lại của “rừng cười”, đêm đêm triền miên trong giấc mơthấy tóc rụng như trút, rụng đầy khuôn ngực đã bị đâm nát của chị Thắm,
và từ trong đám tóc rối ấy lẩy ra hai giọt nước mắt trong veo và rắn cângnhư thủy tinh, đập mãi không vỡ
Và đó cũng có thể là nỗi ám ảnh của một con người suốt đời bị cái
đói, cái nghèo dằn vặt như lão Khúng trong “Phiên chợ Giát” Lão nằm mơ
thấy chính lão bị đánh bằng búa tạ Lão tự nhìn mình trong một cái thânhình nửa bò, nửa người, máu me đầm đìa mà lão lại bình thản như tuân thủ
một điều đương nhiên Toàn bộ tác phẩm “Phiên chợ Giát” được xây dựng
trên một cái trục hoang tưởng cùng với sự đan cài chồng chéo các giấc mơ
Sự đan xen những cơn mộng mị ấy khiến tác phẩm chồng chéo nhiều tầng
Trang 33huyền thoại khác nhau Ở đó huyền thoại phương Đông và phương Tây có
sự trộn lẫn, giao thoa với nhau Nó nói lên thân phận con người – nhữngcon người luôn bị đặt trong sự dằn vặt giữa nhẫn nhục và tự do, giữa thủychung và sự bi thảm Văn hóa cổ Đông Nam Á xem “con bò” là vật thiêng,nhưng với người Việt – những cư dân nông nghiệp lúa nước, nó đơn thuần
là vật nuôi sống Ở một mức độ nào đó, nó đã chạm đến cái sâu xa nhất củatâm thức người Việt Đằng sau sự lẫn lộn giữa bò và người, sự giao nhaugiữa các giấc mơ là những suy tư sâu thẳm về thân phận con người, thời đại– nơi mà cái nông nghiệp thấp kém dằn vặt cái phát triển, ám ảnh cái phát
triển “Phiên chợ Giát” vì vậy có thể xem là một “lát cắt bi kịch” của
Nguyễn Minh Châu về đời sống tinh thần, về mâu thuẫn giữa phát triển vàtrì trệ
Như vậy, giấc mơ là cổ mẫu thật đặc biệt, bởi nó vừa là một chi tiếttrong tác phẩm gây tò mò, hấp dẫn song lại vừa có tính biểu tượng của cổmẫu Các tác giả nắm bắt được điều đó nên đã sớm đưa nó vào tác phẩm vàrồi tự lúc nào, nó đã biến thành cổ mẫu mà không hay
1.3 Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ cổ mẫu
Với những tác phẩm có nhiều cổ mẫu, chúng ta nên tiếp cận tác phẩmvăn học từ góc độ cổ mẫu Nó gồm các lưu ý sau:
1.3.1 Đọc và phát hiện cổ mẫu
Với tác phẩm có xuất hiện cổ mẫu, ta nên đọc nhiều lần Chú ý xem cảphong cách tác giả cùng một số tác phẩm khác cùng đề tài Chú ý nhữnghình tượng lặp đi lặp lại Những người am hiểu về văn học có thể tra thêmcác từ điển biểu tượng văn học hoặc các tư liệu nói về biểu tượng đó đểhiểu thêm về tác phẩm Tuy nhiên, cách hiểu từ bên ngoài này không quychiếu những chuẩn mực và tiêu chí có trước vào tác phẩm, để mà giải thích
nó
Đọc tác phẩm cũng là đi tìm cổ mẫu Ta chú ý là đi tìm những biểu
Trang 34tượng, môtip lặp đi lặp lại trang tác phẩm để xác định cổ mẫu Đồng thời,chăm chú ghi nhận các hiện tượng cùng những cuộc gặp gỡ thường rất bấtngờ của chúng trong tác phẩm, xuyên qua thời gian và không gian, tra vấn
và thử trả lời Những biểu tượng có tính bền vững theo thời gian và càng
mở rộng theo không gian sử dụng thì càng giúp chúng ta lần ra cổ mẫu
Vì bản chất cổ mẫu là hình tượng tiêu biểu C G Jung đã chia sẻ vớichúng ta những thách thức có thật ngay từ việc nắm bắt biểu tượng: “Biểutượng nhô lên như một lời trách cứ thường xuyên đối với khả năng suy xét
và cảm nhận của chúng ta” Trước hết, theo ông, đọc cổ mẫu sẽ không tínhđến những biểu tượng văn học, như là một sản phẩm của ý thức, bởi vì:
“Tác phẩm dự định có tính biểu tượng từ trước thì không đòi hỏi phải tinh
tế đến vậy Bằng ngay thứ ngôn ngữ đa nghĩa được dùng, nó như bảochúng ta: “Tôi định nói nhiều hơn cái tôi nói thực; ý nghĩa của tôi cao hơntôi”, mà chỉ quan tâm đến những biểu tượng văn học như là kết tinh của vôthức Nhưng nếu những kết tinh từ vô thức cá nhân chỉ đưa ra tính triệuchứng, thì những kết tinh từ vô thức tập thể mới làm nên tính biểu tượng cổmẫu “Không bị dồn ép và không bị lãng quên”, “Vô thức tập thể cũngkhông tồn tại tự nó và cho nó, do nó chỉ là khả năng, cụ thể là khả năng mà
ta được thừa kế từ thời xa xưa dưới dạng một hình thức nhất định củanhững hình ảnh được ghi nhớ trong cấu trúc của đầu não, nói theo giải phẫuhọc, ( ) Chúng bộc lộ chỉ trong chất liệu đã được tạo tác về mặt lí thuyếtvới tư cách là những nguyên tắc điều khiển sự tạo lập chất liệu ” [44,79] Khi đã phát hiện ra cổ mẫu ta cần thống kê số lần nó xuất hiện trongnhững câu chữ, tình huống cụ thể Xem xét cả sự biến đổi của nó ở từngđoạn Đồng thời nên xác định cả sự gắn kết của nó với các yếu tố kháctrong tác phẩm như nhân vật, cảm xúc, biện pháp tu từ, hoàn cảnh sáng tác,phong cách tác giả,…
Ví dụ: để hiểu bài thơ “Mưa đá” của Hữu Thỉnh từ góc độ cổ mẫu, ta
Trang 35phải đọc bài nhiều lần Chú ý phong cách tác giả ưa triết lí, nhất là sau
1986 thì triết lí thiên về trải nghiệm thế sự Nó đi theo hướng chung củavăn học đổi mới với bước chuyển mình đáng lưu ý thơ trữ tình cách mạngsang trữ tình thế sự Thơ không còn bị áp lực của cảm hứng ngợi ca và cáinhìn lãng mạn đối với hiện thực Với thể tài thế sự, thơ mang cảm hứnghiện thực rõ nét Đời sống thế sự trong thơ Hữu Thỉnh chủ yếu thể hiện ởtriết lí về thân phận con người với những trăn trở, suy tư trước nhữngthăngtrầm của cuộc đời, của lòng người, của đạo đức xã hội
Mưa đá đi tìm nơi dễ vỡ
Thân cây xây xát thật êm đềm
Trẻ con quăng mũ giang tay múa
Người lớn buông rèm lặng đứng xem
Đá rơi hạt chắc đầu bông rụng
Ếch nhái kêu ran cỏ hội hè
Hạt lép vồng lên trương với gió
Đồng như canh bạc nước như mê
Sau đó ta tìm các biểu tượng tiêu biểu Ta sẽ thấy ở đây hình tượngmưa đá là tiêu biểu nhất Nó xuất hiện ngay trong tiêu đề và lặp đi lặp lạimột cách rõ ràng Hơn nữa, khi đọc các tài liệu liên quan, ta sẽ thấy hìnhtượng nước xuất hiện nhiều trong các tác phẩm khác và có ẩn ý sâu sắc Dovậy, ta khẳng định trong bài tác giả đã sử dụng cổ mẫu nước Cổ mẫu xuấthiện trong cả bài song cụ thể ở nhan đề, câu đầu, câu 5 và câu cuối Sự xuấthiện của hình tượng mưa đá theo chiều hướng nhiều hơn, càng làm rõ sự vôtâm, tàn bạo của mưa đá hơn
1.3.2 Tìm hiểu ý nghĩa của cổ mẫu trong tác phẩm và dùng cổ mẫu
để lí giải tác phẩm
Người tiếp nhận cổ mẫu cần phải cần tìm hiểu cổ mẫu về ý nghĩa:
“Những ai không quan tâm đến tính tác động đặc biệt ngữ điệu cổ mẫu sẽ
Trang 36chỉ thấy mình ở trong một đống những quan niệm mang tính huyền thoại,
và khi ấy người ta chắc chắn có thể thu thập theo kiểu để chứng minh rằngtoàn bộ cái ấy đều có một ý nghĩa, nhưng điều ấy hoàn toàn sai Những thihài thường luôn luôn đồng nhất về mặt hoá học, nhưng những sinh thể thìkhông như vậy Các cổ mẫu chỉ bắt đầu sống lại khi người ta nỗ lực và kiêntrì phát hiện tại sao và làm thế nào chúng có một ý nghĩa đối với từng sinhthể như vậy”[25]
Muốn hiểu ý nghĩa, ta nên tính đến ý nghĩa tượng trưng của nhữngbiểu tượng văn học, như là một sản phẩm của ý thức Trong đó, ta chú ýbiểu tượng bao trùm nhất, biểu tượng thường gặp qua các tác phẩm Quantrọng nhất là tìm được tầng nghĩa sâu xa nhất Đây là bước khó với ngườiđọc, song khi họ ham thích văn học, đã đọc nhiều thì việc tìm ra ý nghĩabiểu tượng không khó khăn Ngoài ra, ta có thể tìm ý nghĩa căn cứ vào lờinói của nhân vật trong tác phẩm, lời bình của tác giả, cảm xúc thể hiệntrong đó,… Tìm được biểu tượng này, ta nên có sự so sánh với các tácphẩm có cổ mẫu khác xem hệ biểu tượng này có ý nghĩa tương đồngkhông Thường một cổ mẫu dù ở trong các tác phẩm khác nhau thì vẫncùng ý nghĩa Song cũng có trường hợp cách tân, biến đổi
Ví dụ: Trong bài thơ “Mưa đá”, Hữu Thỉnh dùng nhiều ẩn dụ, trong
đó, mưa là biểu tượng xuyên suốt và có rất quen thuộc trong thơ ca Đâychính là cổ mẫu hay nói về cuộc sống đậm chất phồn thực, về tình yêu song
ở đây tác giả lại thêm chữ “đá” làm cổ mẫu mưa lại chuyển thành nói vềnhững biến cố, khó khăn
Hay trong ca dao, con thuyền thường là biểu tượng cho người con trai,gắn với sự chuyển động, tìm tòi, khi vào thơ Xuân Quỳnh, nó lại gắn với
người con gái: Nếu từ giã thuyền rồi / Biển chỉ còn sóng gió / Nếu phải
cách xa em/ Anh chỉ còn bão tố Trong biểu tượng nghệ thuật thường xuyên
đan xen giữa yếu tố truyền thống và yếu tố cách tân Chính điều đó khiến
Trang 37cho cổ mẫu nghệ thuật một mặt dễ thức dậy những nỗi niềm từ ngàn đờitrong tâm thức của độc giả, mặt khác lại tạo nên cảm hứng về những điềumới
Lí giải được biểu tượng, ta sẽ kết nối nó với ý nghĩa tư tưởng chungcủa cả tác phẩm để giải đáp chính xác về tư tưởng và nghệ thuật của tác
phẩm Ví dụ: cổ mẫu nước (mưa) ở bài “Mưa đá” góp phần nói lên sự vô
tâm của người đời trước những giá trị bị đảo lộn của đời sống Lúc đó,người thì bị tổn thương thật dễ dàng, kẻ thì hoan hô vì được hưởng lợi; kẻthì đứng nhìn vô cảm Trước cơn mưa đá, hạt chắc rụng bông, hạt lép lạivồng lên trương với gió Đấy là nghịch lí trong đời Người mang giá trịthực trong bản thân: có tài năng, đạo đức thì bị vùi dập Kẻ “hạt lép” rỗngtuếch thì càng được thể vênh vang
Tiểu kết chương 1
Trang 38Cổ mẫu trước hết là biểu tượng nhưng cao hơn biểu tượng ở sức kháiquát của nó, bởi cổ mẫu là những “mẫu” của các biểu tượng, là nguyênmẫu của các tập hợp biểu tượng hay một cách khái quát là những biểutrưng phổ quát Trong tác phẩm văn học, có thể có hàng loạt những biểutượng nhưng không phải biểu tượng nào cũng là cổ mẫu Giữa chúng có cáichung đều là những năng lực tạo hình của những năng lượng tinh thần conngười và năng lượng đó đã diễn ra trong quá khứ, nay xuất hiện với chúng
ta qua ngưỡng vọng hoặc như một cứu cánh của niềm tin, mang tính chấtcứu chuộc
Khái niệm cổ mẫu không phải phổ biến trong văn học song có thể xem
nó như một con đường riêng để giải đáp những ảnh hình của mơ mộngnghệ thuật, hay những bí ẩn của chốn tiềm thức Sống trong môi trườngchung văn hóa, thời đại, cổ mẫu như một hằng hữu, một cố kết, chỉnh thểtác phẩm và tâm thức văn hóa Dù cổ mẫu được sinh ra từ thời kì xa xưatrong quá khứ song nó vẫn sống động trong tác phẩm để nói về thực tại vớingụ ý sâu sắc Hơn nữa, gắn với từng hoàn cảnh, trạng huống khác nhautrong tác phâm, ý nghĩa của cổ mẫu lại được bổ sung thêm Nó không cốđịnh, không “chết” mà vẫn luôn phát triển và kích thích trí tưởng tượngcũng như khả năng sáng tạo của độc giả
Cổ mẫu có mối quan hệ chặt chẽ với văn học Nó là cảm hứng, là chấtliệu cho các sáng tạo nghệ thuật đích thực Nó còn là cơ sở để lí giải tácphẩm Đồng thời, cổ mẫu bản thân nó đã mang một giá trị nhất định songkhi chuyển tải vào trong tác phẩm văn học, nó nâng cao thêm giá trị nhânhọc Từ những hiểu biết về cổ mẫu ở trên, chúng tôi sẽ đi tìm cổ mẫu trongđoạn trích “Ông già và biển cả” của E Hemingway
Chương 2
Trang 39BIỂU HIỆN CỦA TÍNH CỔ MẪU TRONG
ĐOẠN TRÍCH “ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ”
2.1 Từ đặc điểm văn chương của E Hemingway
E.Hemingway được suy tôn làm người khai sinh ra trường phái Chủnghĩa tối giản Một trong những biểu hiện của trường phái tối giản trongsáng tác của Hemingway chính là phương pháp Tảng băng trôi Phươngpháp sáng tác này yêu cầu sự cô đọng trong phản ánh hiện thực Mục đíchcủa nhà văn là “viêt một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về conngười” Hầu hết các truyện cũng kiệm lời song ý tưởng lại vô cùng lớn lao Tác phẩm của E Hemingway cũng được sáng tác theo phương phápnói trên Các truyện của ông được đánh giá là những tác phẩm mang phong
vị độc đáo hiểm thấy, như Mặt trời vẫn mọc, Chuông nguyện hồn ai, Giã
từ vũ khí, Trong thời đại chúng ta,…
Nét nổi bật trong thế giới ngôn từ của kiệt tác là khả năng kiệm lời.Đặc biệt Hemingway rất hạn chế việc sử dụng tính từ Còn động từ đượcdùng để diễn tả hành vi giao tiếp của con người thì hầu như chỉ độc mỗi nóihoặc hành vi tự giao tiếp với chính bản thân nhân vật thì gần như chỉ lànghĩ Chi tiết, hình tượng nhân vật của ông thường mang tính ẩn dụ và biểutượng cao
Vì thế, Hemingway được xem là người khai sinh ra nền văn xuôi hiệnđại Hoa Kì Tầm ảnh hưởng của ông càng về cuối thế kỉ càng rõ nét Têntuổi ông vang xa khắp năm châu G G Marquez gọi ông là thầy và nhiềutác giả Hoa Kì đương đại
2.2 Đoạn trích “Ông già và biển cả”
“Ông già và biển cả” của nhà văn Hemingway tiểu biểu cho lối viết
“tảng băng trôi”: dung lượng câu chữ ít nhưng “khoảng trống” được tác giả
Trang 40tạo ra nhiều, chúng có vai trò lớn trong việc tăng các lớp nghĩa cho văn bản Đây là tác phẩm được xem là đỉnh cao của văn xuôi hiện đại Để xứng vớitầm tư tưởng của nó, tác giả nói rằng tác phẩm lẽ ra dài cả 1000 trangnhưng ông đã rút xuống chỉ còn bấy nhiêu thôi Tác phẩm gây được tiếngvang lớn và Hemingway đã được trao giải Nô–ben chủ yếu là nhờ chính tácphẩm này
Đoạn trích “Ông già và biển cả” trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 là
phần cuối của truyện Đoạn trích kể về việc chinh phục con cá kiếm củaông lão Santiago Santiago là một ông già đánh cá ở vùng nhiệt lưu Đã bangày hai đêm ông ra khơi đánh cá Khung cảnh trời biển mênh mông chỉmột mình ông lão Ông lão câu được con cá kiếm vào khoảng trưa ngàyđầu tiên Ngay khi đó, con cá ròng rã kéo ông lão ra khơi xa trong suốt haingày đêm Một con người cô độc, ra khơi chỉ với một chai nước và quyếttâm không gì lay chuyển về việc bắt được con cá lớn xứng đáng với tàinghệ của mình, lúc này đã được đặt vào thử thách quyết định Liệu lão cóchinh phục được con cá kiếm ấy không? Sang đến ngày thứ ba, con cá bắtđầu lượn vòng Dù đã kiệt sức, lão kiên trì thu ngắn dây câu, rồi dốc toànlực phóng lao đâm chết được con cá, buộc nó vào mạn thuyền dong về.Nhưng chẳng bao lâu nhiều đàn cá mập đánh hơi được đã lăn xả tới Từ đóđến đêm, lão lại đem hết sức tàn chống chọi với lũ cá mập – phóng lao,vung chày, thậm chí dùng cả mái chèo để đánh – giết được nhiều con, đuổiđược chúng đi, nhưng cuối cùng con cá kiếm chỉ còn trơ lại một bộ xương.Đến khuya, đưa được thuyền vào cảng, về đến lều, lão vật người xuốnggiường và chìm vào giấc ngủ, rồi mơ về những con sư tử
Qua đó, người đọc cảm nhận được nhiều tầng nghĩa, đặc biệt là vẻ đẹpcủa con người trong việc theo đuổi ước mơ giản dị nhưng rất to lớn của đờimình Santiago giống như một biểu tượng về cuộc đấu tranh của con ngườihiện đại trên thế giới này: Suốt cuộc đời cực nhọc vẫn đuổi theo một giấc