Trái đất giống như một quả cầu đồng tâm gồm các lớp sau: Khí quyển Atmosphere : Là lớp mỏng ngoài cùng bao quanh trái đất và rất cần thiết cho sự sống: Oxy cần thiết cho sự hô hấp của
Trang 1-
Chương 2 các chu trình sinh địa hóa học
2.1 Các chu trình sinh địa hoá ( Vòng tuần hoàn vật chất )
2.2.1 Khái niệm về các chu trình sinh địa hoá
Trái đất của chúng ta là một hành tinh khá lớn trong hệ mặt trời Trái đất giống như một quả cầu đồng tâm gồm các lớp sau:
Khí quyển ( Atmosphere) : Là lớp mỏng ngoài cùng bao quanh trái đất và rất cần thiết cho sự
sống: Oxy cần thiết cho sự hô hấp của động vât và thực vật; Cacbonic cần thiết cho quá trình quanh hợp; Nitơ là một trong những nguyên tố cơ bản của protein và ozon bảo vệ chúng ta tránh các tia tử ngoại có hại của ánh sáng mặt trời
Tầng khí quyển ở độ cao khoảng 2.000 km phía trên bề mặt trái đất và thường xuyên chịu ảnh hưởng của vũ trụ và mặt trời Tầng khí quyển được chia thành 4 vùng chính ( tầng đối lưu, bình lưu, tầng giữa và tầng nhiệt lưu)
Tầng đối lưu (Troposphere) ở trong cùng có bề dầy khoảng 17 km hầu hết chứa chứa tới 90 % các phân tử không khí , gồm 78% N , 21% O2 , 0,03% CO2 và còn lại là các khí khác Tại vùng này , các phản ứng hoá học thường diễn ra nhanh trong đó bao gồm cả quả trình quang hợp và cố định ni tơ Tầng bình lưu (Stratosphere) dầy khoảng 17-18km; phần thấp của tầng này là lớp ozon (O3) Ozon tạo thành một lớp màng mỏng hấp thụ các bức xạ tử ngoại có hại của ánh sáng mặt trời, bảo vệ sự sống trên trái đất
Thuỷ quyển ( Hydrosphere): Gồm toàn bộ nước có trên trái đất có cả ba thể rắn ( băng và các
núi băng), lỏng ( nước) và khí ( hơi nước )
Thạch quyển ( Lithosphere): Gồm lớp đá cứng ở dưới và lớp vỏ Lớp vỏ có chứa các hoá
thạch, khoáng vật và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây xanh
Sinh quyển ( Biosphere) hay còn gọi là quyển sinh thái: là phần của trái đất mà ở đó các cơ
thế sống ( thành phần hữu sinh) tương tác lẫn nhau và tương tác với môi trường (thành phần vô sinh)
Thuỷ quyển, thạch quyển và sinh quyển hình thành nên lớp vỏ trái đất Sự sống của trái
đất phụ thuộc vào ba nhân tố tương tác lẫn nhau: Năng lượng mặt trời, các chu trình dinh dưỡng (vòng tuần hoàn vật chất) và trọng lực
Năng lượng bức xạ mặt trời dưới dạng ánh sáng và nhiệt được truyền đến các hành tinh của
nó Nguồn năng lượng này chính là động lực chủ yếu của nhiều quá trình xảy ra trên các quyển của trái đất Trái đất chỉ nhận được một phần rất nhỏ của nguồn năng lượng này Một
tỷ lệ vô cùng nhỏ ( 0,023 %) của năng lượng mặt trời được vật sản xuất sử dụng để quang hợp , tạo ra các chất hữu cơ cần thiết cho đa số các cơ thể sống khác
Trọng lực : tạo ra do lực hấp dẫn giữa trái đất và mặt trời gây ra Trọng lực giữu cho trái đất
tồn tại trong bầu khí quyể của nó và tất cả các chất của chu trình vật chất đều rơi trở về trái
đất
Trang 2-
Chu trình dinh dưỡng: Các chất dinh dưỡng là tất cả các nguyên tố hoặc các chất mà một cơ
thể sống phải hấp thụ để tồn tại, sinh trưởng và phát triển Các cơ thể sống cần một lượng khá lớn các nguyên tố cácbon, oxy, nitơ, phốt pho, lưu huỳnh và cần một lượng không nhiều các nguyên tố khác như sắt, natri,đồng, iốt
Các chất dinh dưỡng này liên tục quay vòng từ môi trường vào các cơ thể sống và sau đó lại quay trở lại môi trường và được gọi là chu trình dinh dưỡng; chu trình sinh địa hoá hay vòng tuần hoàn vật chất trong tự nhiên
Như vậy chúng ta có khái niệm:
Các nhân tố hóa học tham gia vào thành phần của hệ sinh thái luôn luôn có sự tuần hoàn từ bên ngoài môi trường vào bên trong cơ thể rồi sau đó lại trở lại môi trường theo các con đờng
khác nhau Trong hệ sinh thái các con đường này khép kín và tạo thành các chu trình gọi là
các chu trình sinh-địa hóa của các nguyên tố
Hình 2.1 Quan hệ giữa vòng đại tuần hoàn địa chất và tiểu tuần hoàn sinh học
Đấ
Bốc sinh
Năng lượng địa
Biển - Đại
Mặt Năng lượng Mư
O 2
2 C
Bay
sóng Dòng đến bức
sóng Dòng ra bức
Chuyển vận Dòng năng Dòng vật
Giới hạn của vòng đại
Giới hạn của vòng tiểu tuần hoμn địa chất
tuần hoμn sinh
Trang 3-
Hoạt động của các chu trình sinh - địa – hóa được thể hiện qua chuỗi thức ăn, màng lưới thức
ăn và dòng chuyển hoá năng lượng giữa các thành phần trong hệ Dòng chuyển năng lượng qua hệ sinh thái được thể hiện ở Hình 2.2
Trang 4-
Chu trình vật chất được thực hiện trên cơ sở tự điều hòa của quần xã Về nguyên tác , các chu trình sinh địa hóa tuân theo qui trình sau:
Tất cả mọi dây chuyền dinh dưỡng đều được đặc trưng bởi sự luân chuyển vật chất, vật chất sẽ chuyển đổi ở mỗi giai đoạn thành vật chất mới, tất nhiên với sự cần thiết có công năng Một trong những hậu quả của hoạt động này xuất phát từ sự cưỡng bách của nguyên lý thứ hai của nhiệt động học kéo theo là sự giảm sút năng lượng tự do hiện diện ở mỗi một bậc của chuỗi khi người ta đi lên theo chuỗi đó
Theo quy luật hình tháp sinh thái Trong hệ thống mạng lới thức ăn của hệ sinh thái,
các loại sinh vật ở mắt lới càng xa vị trí của sinh vật sản xuất thì có sinh khối trung bình càng nhỏ
Thực vật có diệp lục tố là yếu tố ban đầu trong quần xã đã sử dụng năng lượng mặt trời
và tiếp nhận chất dinh dỡng từ khí quyển và đất Các chất dinh dưỡng và năng lượng của ánh sáng mặt trời được tích luỹ trong thực vật, qua toàn bộ lưới thức ăn sẽ được phân phối dần ở mỗi bậc theo các mắt xích Và vì thế sinh khối của sinh vật sản xuất bao giờ cũng lớn hơn sinh khối của sinh vật tiêu thụ bậc 1 và sinh khối của vật tiêu thụ bậc 1 lại lớn hơn của vật tiêu thụ bậc 2 Hình tháp sinh khối có thể minh họa như ở Hình 2.3
Vật tiêu thụ III B4
Phân huỷ sinh học của các hợp chất hữư cơ: Tất cả những chất hóa học tự nhiên đều tham
gia vào quá trinhg chuyển hoá sinh học (còn gọi là phân huỷ sinh học) Sự phân huỷ sinh học
được coi là một tham số quan trọng phải tính đến để dự báo tiến diễn các phế liệu hữu cơ trong môi trường
Thí dụ về sự phân giải các hợp chất hữu cơ bởi các vi sinh vật ở Hình 2.4 và Hình 2.5
Trang 5-
H×nh 7.9b C¬ chÕ sinh ho¸ cña qu¸ tr×nh ph©n huû sinh häc
trong c¸c b·i ch«n lÊp [10]
H×nh 2.4 Qu¸ tr×nh ph©n gi¶i c¸c hîp chÊt h÷u c¬ bëi c¸c vi sinh vËt yÕm khÝ
C¸c hîp chĘt h÷u c¬
d¹ng r¾n
C¸c hîp chÊt h÷u c¬ d¹ng hoµ tan hoµn toµn
Thuû ph©n
C¸c hîp chÊt h−ò c¬
d¹ng hoµ tan
Sunph¸t ho¸
Lªn men
Khö sunph¸t
axit bÐo + alcohol
Axeton ho¸ Axet¸t
Sunphuar¬
(H 2 S)
Carbonic (CO 2 )
Hydro (H 2 )
Trang 6-
Vật phân huỷ (vi sinh vật) có khả năng chuyển hóa toàn phần hoặc một phần những
chất hóa học khác nhau ở trình độ khác nhau (môi trường thủy sinh, đất tầng trầm tích, trạm
làm sạch bằng sinh học ) Các cơ chế hoạt động phụ thuộc rất lớn vào bản chất các chất, các
điều kiện môi trường và các vi khuẩn có liên quan Có thể nói một cách tổng quan, sự phân
giải sinh học được biểu hiện bằng sự đơn giản hóa dần của cấu trúc hóa học, với sự khoáng
hóa cacbon (dưới dạng CO2) và sự hình thành các thể chuyển hóa có trọng lượng phân tử nhỏ,
sẵn có cho sự tổng hợp các thành phần tế bào
`
Phân huỷ sinh học của các hợp chất chứa lưu huỳnh: Các sunfat (SO4
2-) là nguồn chính của lưu huỳnh có sẵn cho các sinh vật Những sunfat đó được các cây hấp thụ để tạo ra các
axit amin lưu huỳnh (metionin, xis-tê-in ) Những chất thải hữu cơ tạo ra bởi chu trình sống
của các cây đó bị phân hủy bởi các vi khuẩn chúng phóng thích sunfua hydro (H2S) Ngoài ra,
các vi huẩn (thuộc chủng sunfovibrio) có thể sản sinh ra H2S từ sunfat Một số vi khuẩn khác
Quá trình phân huỷ háo khí ( Vô cơ hoá )
Hình 2.5 Sơ đồ quá trình phân giải hiếu khí
Trang 7amin lưu huỳnh
H 2 S
Biến đổi sinh học Hấp thụ S
Hình 2.6 Sơ đồ chuyển hoá sinh học của các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh
ứng dụng của quá trình chuyển hoá sinh học trong tái chế phế liệu : Về vấn đề phế liệu
việc áp dụng các kỹ thuật sinh học hiện đại ở 2 phương thức:
1) Cho vào trong môi trường vi sinh, sử dụng công nghiệp trong hệ thống kín (Hình 2.7a.)
bù thêm chất dinh dưỡng Công nghệ
Vi sinh mới đưa thêm vào công nghiệp Nước, không khí, đất
Phân thải vi sinh vật vào môi trưęng
2) Sử dụng những vi khu n mới trong các kỹ thuật xử lý ch t thải (Hình 2.7b.)
Vi khuẩn tiêu thụ
Hợp chất CO2, H2O, N2 Chất chuyển hoá dạng phân giải của phân tử ô nhiễm
Vi khuẩn mới phát thải vào trong môi trường
Trang 8-
Quá trình khử ô nhiễm đất bằng cách sử dụng các vi khuẩn đặc dụng cho sự phá hủy các phân
tử hữu cơ mà khởi đầu là không phân hủy như các chất clo hữu cơ chính là quá trình chuyển
hoá chất thải theo phương thức thứ hai
Mối quan hệ giữa sinh khối và nồng độ sinh học được thể hiện ở Hình 2.8
Hình 2.7 Sơ đồ minh hoạ về nồng độ sinh học trong mối quan hệ với hình tháp sinh khối
Sinh khối ban đầu (của đối tượng sinh sản ra) hay một mắt xích trung gian (thí dụ động
vật ăn cỏ) có thể bị nhiễm độc bởi một chất hóa không thể hủy sinh học mà được lưu chuyển
theo vật lý học trong chuỗi thức ăn (thí dụ hòa tan trong mỡ)
Hiện tượng xâm nhập và tích tụ sinh học được nhiều loại chất tự nhiên là nguồn gốc
của nhiều vấn đề ngộ độc (thủy ngân, DDT, pyralen ) gắn liền với sự phân tán trong không
khí, nước hay trên đất của các chất ô nhiễm hữu cơ tổng hợp hay các chủng loại kim loại theo
các nồng độ sinh học khác nhau Thí dụ sự kiện ở vịnh Mianamata ở Nhật Bản về ô nhiễm
gây ra bởi thuỷ ngân ( hàng trăm người chết và hàng ngàn người bị tàn phế) Thuỷ ngân được
thải vào biển từ nguồn thải công nghiệp đã được tích tụ lại trong các chuỗi dinh dưỡng biển
Sự tích tụ trong cá là 500.000 cao hơn trong nước biển Các ngư dân ăn phải cá đánh bắt trong
vùng vịnh bị ô nhiễm thuỷ ngân và bị ngộ độc
2.2.2 Các chu trình sinh địa hoá học ( vòng tuần hoàn vật chất ) trong tự nhiên
Vòng tuần hoàn của nước, cácbon và oxy : Bản chất của chu trình nước là quá trình bay hơi
và ngưng tụ
Dưới tác động của ánh sáng mặt trời, nước từ ao, hồ, sông, suối, biển bốc hơi vào khí quyển
Hơi nước khi gặp không khí lạnh ngưng tụ lại thành mây, mây tập trung lại đến một mức nào
đó gây ra mưa, nước mưa rơi xuống một phần ngấm vào đất một phần đổ vào các dòng chảy,
sông hồ và quá trình bốc hơi lại tiếp tục Cứ như vậy nước luân chuyển thành vòng tuần hoàn
Nước tham gia vào chuỗi thức ăn, cây hút nước từ lòng đất, các sinh vật cũng đều phải sử dụng
nước trong các hoạt động sống của mình và thông qua quá trình trao đổi chất một phần nước
lại trở về khí quyển hoặc đất Trong cơ thể sinh vật dị dưỡng cảu các sinh vật dị dưỡng yếm
khí thì các hợp chất hữu cơ được phân giải thành nước, CO2 và muối khoáng, chúng lại tiếp
tục được sử dụng bởi các sinh vật tự dưỡng ( Hình 2.8)
Trang 9-
HÈnh 2.8 SŨ ợạ tuđn hoÌn cĐa n−ắc cacbon vÌ ỡxi
Vßng tuđn hoÌn cĐa NitŨ ( Chu trinh Ni tŨ ) : Ni tŨ lÌ nguạn dinh d−ìng cã khộ nÙng gờy
ra hiơn t−îng phÈ d−ìng ( Eutrophication) gờy ỡ nhưởm nguạn n−ắc Mật khĨc ni tŨ lÌ mét thÌnh phđn cŨ bộn cĐa protein trong tỏ bÌo cĐa cĨc sinh vẹt CĨc sinh vẹt tiỏp nhẹn nÙng l−îng
tõ thùc vẹt, nh−ng thùc vẹt chừ cã thố hÊp thô ni tŨ d−ắi dÓng NO3- ợố lÌm nguạn dinh d−ìng Nh− vẹy trong hơ sinh thĨi, cĨc loÌi tạn tÓi vÌ phĨt trừởn t−Ũng hç vắi nhau Nỏu nh− trong hơ sinh thĨi ( chÒng hÓn hơ sinh thĨi thuủ vùc, hÌm l−îng ni tŨ lắn sỹ lÌm cho cĨc loÌi rong , tộo phĨt triốn mÓnh vÌ gờy nởn hiơn t−îng ỡ nhưởm lđn hai cho bộn thờn nguạn n−ắc SŨ ợạ tuđn
hoÌn cĐa ni tŨ ợ−îc trÈnh bÌy ẽ HÈnh 2.9 Vßng tuđn hoÌn cĐa ni tŨ bao gạm cĨc quĨ trÈnh cŨ bộn sau:
QuĨ trÈnh cè ợẺnh nitŨ: ẽ giai ợoÓn ợđu , mét l−îng nhá cĐa nitŨ trong khÝ quyốn ợ−îc cè
ợẺnh nhê Ĩnh sĨng vÌ sù bục xÓ vò trô ẽ giai ợoÓn hai, mét phđn khỡng ngõng tÙng lởn ợ−îc
cè ợẺnh bẽi cĨc ỀquĨ trÈnh cỡng nghiơpỂ nhê sù hoÓt ợéng cĐa cĨc vi khuẻn cè ợẺnh nitŨ thỡng qua con ợ−êng cè ợẺnh sinh hảc
CĨc vi khuẻn cè ợẺnh nitŨ
Thỡng qua quĨ trÈnh cè ợẺnh nitŨ, nitŨ phờn tö ợ−îc chuyốn hoĨ tắi mục amonia (NH3) hoậc amino (- NH2), cĨc dÓng nÌy tiỏp tôc ợ−îc chuyốn hoĨ thÌnh cĨc hîp chÊt hƠu cŨ chụa cĨcbon (cĨc hydrat carbon) theo con ợ−êng sinh hảc
Trang 10- Quá trình nitơrát hóa: Các chất hữu cơ dạng NH3 được chuyển hoá thành dạng NO2- và NO3-
bởi các vi khuẩn tự dưỡng hiếu khí như Nitromonas, Nitrobacteria Quá trình chuyển hoá này
được gọi là quá trình nitơrat hoá Vòng vật chất được khép kín và hoàn thiện bởi quá trình khử nitorat để giảm lượng NO3 chuyển hóa thành dạng ni tơ phân tử
Hình 2.9 Sơ đồ chu trình Ni tơ
Chu trình phốt pho: Phốt pho cũng là một trong những nguyên tố rất cần thiết cho sự sống,
và là nguồn gốc của sự ô nhiễm nguồn nước mà chúng ta sẽ thảo luận về sau này Việc sử dụng quá nhiều các chất tẩy rửa, các phân hoá học gây ra việc phát triển quá tốt của các loại thực vật trong vực nước và vì thế gây ô nhiễm lần 2 cho bản thân nguồn nước Sơ đồ vòng tùân
hoàn của phốt pho được trình bày ở Hình 2.10
Nguồn xuất phát chính của phốt pho là từ các tảng đá phốt phát, các chất lắng đọng phốt phát tự nhiên của cá và các loại động vật hoá thạch Phốt pho được chuyển từ các dạng đá tảng bởi sự xói mòn hoặc khai mỏ vào vòng tuần hoàn của nước và các chuỗi thức ăn nơi mà
nó có thể được tuần hoàn / quay vòng trong giai đoạn ngắn ngủi nhưng rồi sau đó nó bị kết thúc ở trong các chất bồi lắng dưới đáy biển sâu nơi mà nó bị mất mát cho đến khi các hoạt
động địa chất có thể nâng/kéo nó lên lần nữa Một lượng phốt pho được quay trở lại mặt đất
Trang 11khai khoáng các nguyên sinh
chất của tế bào
Chim biển Phốt phát Các vi khuẩn phốt phát hoá
bồi lắng ở cácvực nước cạn (biển cạn)
Bị mất mát ở các vực sâu
Hình 2.10 Sơ đồ Chu trình Phốt pho
Các con đường hoàn lại vật chất cho tự nhiên: Trong chuỗi thức ăn, sinh vật sử dụng các
chất tự nhiên tạo nên sinh khối của chúng và theo chu trình khép kín chúng lại hoàn lại các
chất cho tự nhiên bằng các con đường khác: con đường bài tiết, xác chết (Hình 2 11)
+ Con đường bài tiết : sự bài tiết sơ cấp của động vật và sự phân giải phế liệu của vi khuẩn
Đây là con đường chính đối với chuỗi thức ăn chăn nuôi
+ Phân giải phế liệu : Còn đối với chuỗi thức ăn phế thải thì con đường thứ 2 (phân giải phế
liệu) là con đường chủ yếu
Ngoài ra còn 1 số con đường khác : Ví dụ : con đường vận chuyển trực tiếp từ sinh vật này sang sinh vật khác nhờ vi sinh vật cộng sinh
Các con đường tạo chu trình khép kín để thực hiện các điều kiện cân bằng cho các hệ sinh thái khác trong tự nhiên, để hệ sinh thái ổn định quá trình hoàn vật chất phải nhanh (càng
Trang 12-
nhanh càng ổn định) Hiện nay, dùng phương pháp cưỡng bức (nhờ tác động của con người) để tăng cường sự hoàn lại vật chất cho tự nhiên
Ví dụ : Các công trình xử lý nước thải, các biện pháp vớt rác, nghiền rác là biện pháp
nhân tạo tăng cường sự hoàn lại vật chất cho tự nhiên)
Chất hòa tan
Hình 2.11 Sơ đồ các con đường hoàn lại vật chất cho tự nhiên 2.2 Chu trình Carbon và những rối loạn vận hành
2.2.1 Chu trình cacbon trong sinh quyển
Carbon luôn tồn tại dưới hai dạng:
1) ở trạng thái rắn dưới dạng cacbonat Đó là trường hợp đặc biệt của đá vôi (CaCO3) có một trữ lượng vô cùng lớn ở nhiều vùng
2) Thể khí dưới dạng khí cacbonic (CO2): Mặc dầu nồng độ của Carbon trong khí quyển rất nhỏ (trung bình là 320 ppm) nhưng khí cacbonic, do cơ chế của quá trình quang hợp, là nguồn nguyên liệu sản xuất ra chất hữu cơ sống do thực vật hiện Người ta ước lượng khoảng hơn 160 tỷ tấn chất hữu cơ khô được sản sinh ra hằng năm trên toàn lục địa, tương ứng với nhiều chục tỷ tấn cacbonic Vì rằng hàm lượng cacbonic hầu như cố định trong
Trang 13CO2 + H2O + CaCO3 Ca(HCO3)
Hòa tan hydro cacbonat canxi
Hydro cacbonat canxi bị cuốn trôi ra biển bởi dòng nước bào mòn mặt đá và sẽ hoàn nguyên dưới dạng can-xit và đá vôi CaCO3 trong vỏ các loài sò hến và xương các động vật biển, và đó
là nguồn gốc của sự hình thành trữ lượng vô tận của các trầm tích
Hai quá trình sinh học cơ bản tạo điều kiện cho quá trình chu chuyển cacbon trong sinh quyển, đó là quá trình quang hợp và hô hấp:
Quá trình quang hợp được thực vật thực hiện dưới tác dụng của năng lượng mặt trời với sự
tham gia của diệp lục tố
Ví dụ trường hợp tạo gluxit:
n kcal (h)
nCO 2 + nH 2 O n O 2 + Cn(H 2 O)n
monosaccarit
Hô hấp là hiện tượng ngược lại với quá trình quang hợp Quá trình này tạo nên nguồn năng
lượng đảm bảo cho duy trì, phát triển và tái sản xuất của thực vật, động vật:
nO 2 + Cn(H 2 O)n nCO 2 + nH 2 O
Quá trình hô hấp gây ra hiệu ứng hoàn toàn đối nghịch với quá trình quang hợp
Thực tế không phải tất cả chất hữu cơ quang hợp được đều được trực tiếp tiêu thụ trong quá trình hô hấp và dây chuyền thực phẩm Những rác rưởi, chất thải bài tiết, những cây chết, xác động vật tích tụ lại trong nhiều thời kỳ dài ngắn, đặc biệt là ở các lớp đất và môi trường nước
Trong nhiều trường hợp, xác và mảnh vụn của thực vật tích tụ gây ra sự trì trệ của cacbon vì những chất đó, một phần bị động vật thực vật trong đất biến thành một chất hữu cơ mới, đó là chất mùn, mà sự phân giải chất này ít nhiều bị chậm lại
Sơ đồ đơn giản hoá của chu trình tự nhiên và bán chu trình tác nhân của carbon được thể hiện
ở Hình 2.12