1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai đến năm 2010.docx

60 1,9K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Dân Số - KHHGĐ Huyện Bảo Yên- Tỉnh Lào Cai Đến Năm 2010
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Dân Số - Kế Hoạch Hóa Gia Đình
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Lào Cai
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 144,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai đến năm 2010

Trang 1

Đặt vấn đề

1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Dân số đóng vai trò hai mặt trong quá trình phát triển Một mặt dân số làlực lượng tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ cho xã hội Mặt khác, dân số làlực lượng tiêu thụ sản phẩm Bởi vậy, quy mô, cơ cấu dân số có ảnh hưởng lớnđến quy mô, cơ cấu sản xuất, tiêu dùng và tích luỹ xã hội

Ở những nơi tài nguyên và nguồn vốn sẵn có, dân số và lao động khanhiếm, việc tăng dân số và lao động có vai trò thúc đẩy sản xuất và phát triểnkinh tế Ngược lại, ở những nơi kém phát triển, dân số đông, trong khi đất đai,tài nguyên và nguồn vốn hạn hẹp thì khó có khả năng sử dụng lao động mộtcách đầy đủ và có hiệu qủa Tăng dân số ở những vùng như vậy chỉ làm tăngthêm số người tiêu thụ, hạn chế tích luỹ và do đó tất yếu sẽ kìm hãm sự pháttriển kinh tế - xã hội và khó có khả năng nâng cao mức sống cho dân cư

Bảo Yên là huyện miền núi, với khoảng 90% dân số sống ở vùng nôngthôn, nhiều phong tục tập quán lạc hậu còn tồn tại Tỷ lệ sinh hàng năm còn ởmức cao so với mặt bằng chung của tỉnh và cả nước Tài nguyên thiên nhiên đặcbiệt khan hiếm Đất có khả năng đưa vào sản xuất(cả đất nông nghiệp, lâmnghiệp) bình quân đầu người thấp Các nguồn vốn đầu tư hàng năm đều trôngchờ vào nhà nước thông qua các chương trình dự án; Vì vậy thực hiện chínhsách Dân số - KHHGĐ(Dân số - kế hoạch hoá gia đình), hạn chế mức sinh,giảm áp lực gia tăng dân số tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội, nângcao mức sống cho dân cư trong giai đoạn này đối với huyện là hết sức cần thiết

Để góp phần vào sự thành công công tác Dân số - KHHGĐ ở địa phương, em

xin chọn đề tài “ Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Dân

số - KHHGĐ huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai đến năm 2010” làm đề tài nghiên

cứu

2.Nhiệm vụ của đề tài:

Trên cở sở nắm vững quan điểm chủ nghĩa Mac-Lê Nin, của Đảng và Nhànước ta về công tác Dân số - KHHGĐ, từ đó làm rõ thực trạng công tác DS-KHHGD ở huyện Bảo Yên, chỉ ra được những việc đã làm được, việc chưa làmđược; Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thành công và hạn chế trong quá trình triểnkhai các hoạt động của chương trình Đề ra những giải pháp phù hợp triển khai

có hiệu qủa chương trình Mục tiêu quốc gia Dân số - KHHGĐ ở địa phương

Trang 2

3.Mục đích – Yêu cầu:

Đề tài phải đảm bảo tính lý luận và thực tiễn cao, đánh giá đứng thực trạngcông tác Dân số - KHHGĐ ở huyện và đề ra được những giải pháp phù hợp cóthể áp dụng vào trong điều kiện của huyện trong giai đoạn hiện nay

4.Phương pháp nghiên cứu:

* Phương pháp luận chung: Vận dụng những nguyên lý, quan điểmphương pháp luận của chủ nghĩa Mac-Lê Nin của đảng ta vào qúa trình phântích, đánh giá các mặt hoạt động cụ thể của công tác Dân số -KHHGĐ ở địaphương

* Phương pháp cụ thể: Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phươngpháp quan sát, phương pháp thống kê số liệu; Đặc biệt là phương pháp tổnghợp- phân tích so sánh để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

5.Kết cấu chuyên đề:

Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, đề tài gồm 3 chương

Chương I: Một số vấn đề lý luận chung.

Chương II: Thực trạng công tác DS-KHHGĐ.

Chương III: Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác

DS-KHHGĐ huyện Bảo Yên đến năm 2010

CHƯƠNG IMỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

I Dân số và kế hoạch hoá gia đình(DS&KHHGĐ):

1 Khái niệm Dân số và KHHGĐ:

* Dân số: Là dân cư được xem xét dưới đặc tính quy mô, cơ cấu thì đây

chính là dân số.(1)

* Kế hoạch hoá gia đình: (KHHGĐ) theo định nghĩa của tổ chức y tế thếgiới(WHO): Bao gồm những thực hành giúp cho những cá nhân hay các cặp vợchồng để đạt được những mục tiêu: Tránh những trường hợp sinh không mongmuốn; Đạt được những trường hợp sinh theo ý muốn; Điều hoà khoảng cáchgiữa các lần sinh; Chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố,

mẹ (2)

2.Vai trò của công tác dân số-KHHGĐ đối với sự phát triển của xã hội:

Vai trò chủ yếu và quan trọng của công tác Dân số-KHHGĐ là thực hiện

1 Giáo trình Dân số và phát triển- NXB Nông Nghiệp 2003.

2 Tập bài giảng về công tác DS-KHHGĐ của TTDS-TĐHKTQD.

Trang 3

công tác quản lý dân số thực chất là điều tiết mức sinh thông qua các hoạt độngchương trình KHHGĐ để tạo ra quy mô, cơ cấu dân số ổn định phù hợp vớiđiều kiện điạ lý, kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ; Là cở sở quantrọng nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụnhu cầu phát triển của đất nước Đồng thời thực hiện tốt công tác Dân số -KHHGĐ còn là cơ sở thực hiện các chính sách xã hội như thực hiện công bằng

xã hội, giải quyết các tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, giảm được chi phí dohạn chế được mức sinh, tăng tích luỹ cho xã hội, là nguồn lực đáng kể để đónggóp vào quá trình phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho dân cư

3 Quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lê Nin, các hội nghị quốc tế và của Đảng, Nhà nứơc ta về công tác Dân số-KHHGĐ:

3.1.Quan điểm của chủ nghĩa Mac- Lê Nin:

Khi bàn về quá trình dân số, quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lê Nin hoàntoàn đối lập với luận điểm của học thuyết MalThus Ông cho rằng dân số khôngđơn thuần chỉ là số dân, mà còn bao hàm cả chất lượng dân cư, hàm chữa nhữngnhân tố nội sinh, có mối quan hệ và chịu tác động đa chiều của các điều kiện tựnhiên và xã hội Dân số phát triển cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất

và tồn tại trong mọi hình thái kinh tế - xã hội Dân số và tái sản xuất dân số làmột trong những hoạt động cơ bản của con người Bản chất của quá trình dân

số, như( sinh, tử, di dân) trước hết mang tính kinh tế-xã hội Mỗi hình thái kinh

tế - xã hội chỉ phù hợp với một lượng dân cư nhất định và ông cho rằng: “ Cácđiều kiện của một xã hội hay nói cách khác là các hình thái kính tế-xã hội chỉ cóthể phù hợp với một lượng dân số nhất định Trong một hình thái kinh tế-xã hộicác điều kiện sản xuất, trình độ của lực lượng sản xuất sẽ xác định số lượng tối

ưu và tương ứng” (1).

Tán thành với quan điểm của chủ nghĩa Mac, Ph Ăng Ghen cho rằng: “theo quan điểm duy vật nhân tố quyết định trong lịch sử, suy cho cùng là sảnxuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp, nhưng bản thân sự sản xuất có hai loại.Một mặt sản xuất ra tư liệu trong sinh hoạt, ra thức ăn, quần áo, nhà ở và nhữngdụng cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó Mặt khác là sản xuất ra chính bảnthân con người; là sự truyền giống nòi Những thiết chế xã hội trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đangsống là do hai loại sản xuất đó quyết định Một mặt là do trình độ phát triển của

lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình” (2).

1,2 C.Mác-Ph Ănghen tuyển tập, tập 6

Trang 4

Theo Lê Nin thì “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công

nhân, là người lao động”(1)

Như vậy theo quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lê Nin, dân số phát triển cómối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau Sự phát triển của mỗi quốcgia phụ thuộc vào rất nhiều vào chính qúa trình dân số của quốc gia ấy Cáchành vi dân số của mọi cộng đồng dân cư lại tương hợp với một trình độ pháttriển kinh tế - xã hội( cả về kinh tế, văn hoá- xã hội, giáo dục y tế, tâm lý, phongtục tập quán lối sống ….) của chính cộng đồng dân cư ấy.Ph Ăng Ghen chỉ rõ:

Xã hội nào làm được việc điều chỉnh sự sinh sản ra con người như đã điều chỉnh

kinh tế thì mới có thể lãnh đạo chủ động xã hội.(2)

3.2.Quan điểm của các hôị nghị quốc tế:

Cho đến nay, thế giới đã trải qua 5 kỳ hội nghị quốc tế về vấn đề dân số.Trong đó hai kỳ họp vào năm 1954 tại RoMa(ItaLia) và năm 1965 tạiBeôgrat(Nam Tư cũ) mang tính trất chao đổi khoa học chuyên nghành Ba kỳhọp tiếp theo được Liên Hiệp Quốc tổ chức vào các năm 1974 tạiBCucaret(Rumani), năm 1984 tại Mêhicô CiTy(Mêhicô) và năm 1994 tạiCairo(Ai Cập), các hội nghị này đã chuyển hướng từ việc trao đổi thông tinkhoa học sang thiết lập các chính sách và chương trình nhằm giải quyết vần đềgia tăng dân số quá nhanh và coi sự bùng nổ dân số như hiện tượng toàn cầu.Quan điểm của các hội nghị này được thể hiện rõ như sau:

Hội nghị quốc tế Bcucarét có 136 nước tham gia: Quan điểm nổi bật củanhiều nước đang phát triển tại hội nghị này là: Phát triển là việc tránh thai tốtnhất các nước đang phát triển đã nhận thấy những tác động tiêu cực của sự giatăng dân số nhanh ngay ở tại quốc gia mình Đồng thời các quốc gia đang pháttriển cũng nhẫn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo sự phân phối công bằnghơn các nguồn lực kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới

Hội nghị quốc tế Mêhicô CiTy năm 1984, có 146 nước tham gia Hôị nghịnày tiến hành trong giai đoạn khi các chương trình KHHGĐ đã đạt được nhữngthành tựu khá quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình giảm sinh và thực hiệnquy mô gia đình ít con trên thế giới

Vấn đề trọng tâm tại hội nghị này là tìm kiếm các mô hình thích hợp cho các nỗ lực phát triển kinh tế và KHHGĐ, nhằm đạt đến các mục tiêu dân số của các quốc gia

Hội nghị quốc tế Cai rô năm 1994, có 180 nước tham gia Hội nghị đề ra

1,2, C.Mac-Ph Ăng ghen tuyển tập, tập 6

Trang 5

chương trình hành động cho 20 năm, vấn đề trọng tâm của chương trình hànhđộng là đề ra chiến lược mới; Trong đó nhấn mạnh đến mới liên hệ tổng thểgiữa dân số và phát triển; Đặt ra các mục tiêu đáp ứng các nhu cầu cá nhân của

cả phụ nữ và nam giới, chứ không giới hạn bởi các mục tiêu nhân khẩu họcthuần tuý, như giảm mức sinh hay thúc đẩy quy mô gia đình ít con

Nguyên tắc của chương trình hành động khẳng định con người là trung tâmcủa những mối quan tâm đối với phát triển bền vững; Vì con người là nguồn lựcquan trọng nhất, có giá trị nhất của mọi dân tộc Quyền phát triển phải đượcthực hiện để đáp ứng được các mục tiêu phát triển bền vững của mỗi quốc giangay hiện tại và trong tương lai Loại trừ những hình mẫu sản xuất, tiêu dùngthiếu bền vững;

đồng thời tăng cường các chính sách thích hợp, kể cả các chính sách liên quanđến dân số Thực hiện công bằng và bình đẳng giới, nâng cao quyền năng chophụ nữ, loại bỏ tình trạng bạo lực chống lại phụ nữ Đảm bảo cho phự nữ có khảnăng kiểm soát vấn đề sinh đẻ của mình, đây chính là hòn đá tảng của chươngtrình dân số và phát triển Các nước cần tiến hành các biện pháp thích hợp đểđảm bảo tiếp cận rộng rãi với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nói chung, trong

đó có sức khoẻ sinh sản-KHHGĐ và sức khoẻ tình dục dựa trên cơ sở bình đẳngnam, nữ Các nguyên tắc cũng khẳng định lại quyền của các cặp vợ chồng và cánhân được quyền tự quyết định số lần sinh và khoảng cách giữa các lần sinh,đồng thời có quyền được yêu cầu cung cấp các thông tin và các phương tiệnKHHGĐ để họ thực hiện điều này Các nguyên tắc cũng nhấn mạnh gia đình làđơn vị cơ bản của xã hội, nên cần thường xuyên được củng cố, đồng thời côngnhận các hình thức khác nhau, tuỳ thuộc theo các nền văn hoá, kinh tế, chế độchính trị - xã hội khác nhau

3.3.Quan điểm của đảng và nhà nước ta:

Nghị quyết IV, ban chấp hành TW Đảng khoá VII chỉ rõ “ sự gia tăng dân

số qúa nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ pháttriển kinh tế - xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điềukiện phát triển về mặt chí tuệ, văn hoá và thể lực của giống nòi Nếu xu hướngnày cứ tiếp tục cứ diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trướcnhững khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt”

Vì vậy làm tốt công tác Dân số-KHHGĐ, thực hiện gia đình ít con giảmnhanh tỷ lệ phát triển dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số là vấn đề rất quantrọng và bức xúc đối với nước ta Đảng và Nhà nước ta thể hiện rõ quan điểmchỉ đạo như sau

Trang 6

Công tác dân số- KHHGĐ là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triểnđất nước, là một trong những vấn đề kinh tế-xã hội hàng đầu của nước ta, là mộtyếu tố cơ bản để nâng cao nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từnggia đình và của toàn xã hội.

Giải pháp cơ bản thực hiện công tác Dân số-KHHGĐ là vận động, tuyêntruyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ KHHGĐ đến tận người dân; Cóchính sách mang lại lợi ích trực tiếp cho người chấp nhận gia đình ít con, tạođộng lực thúc đẩy phong trào quần chúng thực hiện KHHGĐ

Đầu tư cho công tác Dân số-KHHGĐ là đầu tư mang lại hiệu qủa trực tiếprất cao Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho công tác Dân số-KHHGĐ,đồng thời động viên sự đóng góp của cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ củaquốc tế

Huy động lực lượng toàn xã hội tham gia công tác Dân số-KHHGĐ, đồngthời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản lý theo chương trình mụctiêu, đảm bảo cho các nguồn lực nói trên được sử dụng có hiệu qủa đến tậnngười dân

Để đạt được mục tiêu trong thời gian tương đối ngắn, điều có ý nghĩaquyết định là Đảng và chính quyền các cấp phải lãnh đạo và chỉ đạo tổ chứcthực hiện công tác Dân số-KHHGĐ theo chương trình

4 Khái quát về hệ thống chính sách dân số Việt Nam trong thời gian qua.

Theo thời gian, dựa vào đặc điểm tình hình phát triển, có thể chia quá trìnhhình thành và phát triển chính sách dân số thành 3 thời kỳ:

Thời kỳ từ năm 1961 đến năm 1975

Thời kỳ này đất nước tạm bị chia cắt thành hai miền, chương trình dân số

và KHHGĐ mới chỉ triển khai ở miền Bắc với những nội dung chủ yếu đượcChính phủ ban hành trong ba văn bản quan trọng:

- Quyết định số 216/CP ngày 26-12-1961 của Hội đồng Chính phủ về việcsinh đẻ có hướng dẫn

- Chỉ thị số 99/TTg ngày 13-05-1970 của Hội đồng Chính phủ về cuộc vậnđộng sinh đẻ có kế hoạch

- Ngay từ đầu các văn bản đã chú ý tới số lượng, chất lượng dân số và sứckhoẻ của nhân dân, hạnh phúc của gia đình: “Vì sức khoẻ của bà mẹ, vì hạnhphúc và hoà thuận trong gia đình và để nuôi dậy con cái chú đáo”

Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1984

Sau ngày thống nhất đất nước, số dân cả nước đã xấp xỉ 48 triệu người,gần gấp đôi số dân năm 1955 Trong thời kỳ này, công tác dân số và KHHGĐ

Trang 7

được triển khai trong phạm vi cả nước, với xu hướng đẩy mạnh hơn nữa cuộcvận động sinh đẻ có kế hoạch thông qua hai chỉ thị của Chính phủ.

- Chỉ thị số 265/CP ngày 12-8-1981 của Hội đồng Chính phủ về đẩy mạnhcuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong phạm vi cả nước

- Chỉ thị số 29/HĐBT ngày 12-8-1-1981 của Hội đồng Bộ trưởng về đẩymạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong 5 năm (1981-1985)

Sau một thời gian tạm lắng, cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch lại đượcphát động sôi nổi và được triển khai rộng khắp trên toàn quốc để chuẩn bị cho

sự phục hưng nền kinh tế thông qua Đại hội lần thứ IV và thứ V của Đảng

Thời kỳ từ năm 1984 đến nay.

Trong thời kỳ này, đặc biệt là năm 1993 đến nay, công tác DS-KHHGĐ cóbước phát triển vượt bậc và đạt đến đỉnh cao về nội dung, cách làm, kinh phí và

tổ chức bộ máy thực hiện Nhiều văn bản quan trọng về công tác DS-KHHGĐ

đã được ban hành, trong đó có các văn bản chủ yếu sau:

- Quyết định số 162/HĐBT ngày 18-10-1988 của Hội đồng Bộ trưởng vềchính sách DS-KHHGĐ

- Nghị định số 193/HĐBT ngày 19-6-1991 của Hội đồng Bộ trưởng vềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và chế độ làm việc của Uỷban quốc gia Dân số-KHHGĐ

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoáVII tháng 1-1993 về chính sách DS-KHHGĐ

-Quyết định số 270/TTg ngày 3-6-1993 của Thủ tướng Chính phủ về vềphê duyệt chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000

-Nghị định 42/CP ngày 21-6-1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn, tổ chức bộ máy và lề nối làm việc của Uỷ ban quốc gia DS-KHHGĐ

Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 6-3-1995 của Ban bí thư Trung ương Đảng vềđẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chính sách DS-KHHGĐ

- Chỉ thị số 37/TTg ngày 17-1-1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩynhanh thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000

Nghị quyết lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương (khoá VII) về chính sáchdân số, chiến lược dân số và kế hoạch gia đình đến năm 2000; Chiến lược dân

số Việt Nam 2001-2010 đã đánh dấu một bước phát triển mới, cao hơn, hệthống hơn, sấu sắc hơn về tư tưởng của Đảng đối với vấn đề dân số Để tỏ rõ sựquyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu về phát triển dân số; Ngày 09-01-2003

Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua pháp lệnh dân số; Ngày 22-03-2005 Bộchính trị ban hành Nghị quyết số 47-NQ/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện

Trang 8

chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; Ngày 10-01-2006 Thủ tướng Chínhphủ ban hành Quyết định số 09/2006/QĐ-TTg ban hành chương trình hànhđộng của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW cuả Bộ chính trị; Ngày03-10-2006 Chính phủ ban hành nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định hành

vi vi phạm sử phạt hành chính về Dân số, gia đình và Trẻ em Các văn bản này

là mốc quan trọng trên con đường tiến tới mục tiêu ổn định dân số Các văn bảnnày phản ánh một cách toàn diện chính sách Dân số Việt Nam, nêu rõ mục tiêu,quam điểm, trách nhiệm của nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiệnchính sách DS-KHHGĐ

II: Công tác DS-KHHGĐ.

1: Những nhóm nhân tố ảnh hưởng tới công tác DS-KHHGĐ

Công tác Dân số-KHHGĐ thực chất là quản lý các quá trình dân số, như sinh,chết, di cư, do vậy các nhân tố tác động tới mức sinh, chết, di cư đều ảnh hưởngsâu sắc tới công tác Dân số-KHHGĐ Để công tác Dân số-KHHGĐ đạt hiệu qủamong muốn, ta cần hiểu đúng và đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng để có biện pháptác động phù hợp

1.1.Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới mức sinh:

Mức sinh không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh sản của các cặp vợchồng, mà còn chịu ảnh hưởng lớn bởi một loạt yếu tố khác như tuổi kết hôn,khoảng cách giữa các lần sinh, thời gian chung sống của các cặp vợ chồng, ýmuốn và số con của các cặp vợ chồng, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, địa vịcủa người phụ nữ trong gia đình và xã hội, việc sử dụng các biện pháp tránhthai…

1.2 Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới mức chết:

Chết là hiện tượng tự nhiên, là điều không thể tránh khỏi đối với mỗi cơthể sống Tuy nhiên mức chết phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển kinh tế

- xã hội; đặc biệt là trình độ đạt được về mặt y học

Trong lĩnh vực dân số, sinh và chết là hai yếu tố chủ yếu của quá trình táisản xuất dân số Sinh và chết có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau; thôngthường đối với các nước chậm phát triển, giai đoạn đầu tỷ lệ chết tỷ lệ thuận với

tỷ lệ sinh ( mức sinh cao và mức chết cũng cao) Mức chết có ảnh hưởng rất lớntới quy mô, cơ cấu dân số/

1.3 Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới di dân:

Trang 9

Cùng với sinh và chết, di dân cũng ảnh hưởng đến quy mô, tốc độ pháttriển dân số và những đặc trưng về cấu trúc của dân số Di dân là hiện tượng rấtphức tạp, chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố, như văn hoá, kinh tế, chính trị - xãhội.

Việt Nam là nước có nhiều tộc người, trong đó có những tộc người chỉ cóvài trăm người, do vậy nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích những tộc ngườinày tăng mức sinh để đảm bảo duy trì và bảo tồn nòi giống

Chính sách hạn chế sinh: đa số các nước đang phát triển hiện nay do dân sốtăng quá nhanh, khả năng phát triển sản xuất có hạn, đời sống nhân dân cònthấp đều tìm cách để hạn chế mức sinh trong đó có Việt Nam

+ Chính sách tác động tới giảm tỷ lệ tử vong: Đây là mục tiêu phấn đấucủa mọi quốc gia Trong chương trình hành động toàn thế giới về lĩnh vực dân

số đã coi nâng cao tuổi thọ bình quân của người dân trên cơ sở giảm tỷ lệ tửvong, đặc biệt là tỷ lệ tử vong ở trẻ em là mục tiêu hàng đầu Nó không chỉ có ýnghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội và nhân văn Để giảm tỷ lệ tửvong các nước quan tâm phát triển thành tựu y học, mở rộng mạng lưới dịch vụ

y tế, phòng trừ dịch bệnh, cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân, cảithiện điều kiện làm việc

+ Các chính sách tác động tới di dân: Tuỳ từng thời kỳ, từng quốc gia khácnhau, Nhà nước phải có chính sách cụ thể để điều tiết dòng di dân Khuyếnkhích người dân di chuyển đến những nơi có khả năng mở rộng và phát triểnsản xuất, nhưng thiếu sức lao động, mật độ dân số thấp Hạn chế di chuyến đếnnhững nơi mật độ dân số quá cao, vượt quá nhu cầu khả năng sản xuất và đờisống Các biện pháp của chính sách di dân có thể là những biện pháp trực tiếpthông qua những đạo luật và các quy chế về nơi ở, các thủ tục di chuyển… Các

Trang 10

biện pháp gián tiếp như khuyến khích vật chất thông qua các loại thuế khácnhau ở các vùng lãnh thổ khác nhau.

Ngoài ra còn có các chính sách liên quan đến chất lượng dân số, như chínhsách phát triển y tế, giáo dục, nhà ở, nhà ở và phúc lợi công cộng

2 Nội dung công tác Dân số- KHHGĐ.

Căn cứ vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các hướng dẫn củangành dọc cấp trên, công tác Dân số-KHHGĐ huyện Bảo Yên được triển khaivới các nội dung như sau:

2.1 Công tác tham mưu:

- Phối hợp với các cơ quan, ban, ngành xây dựng và trình Huyện Uỷ,HĐND,UBND ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định nhằm chỉ đạothống nhất và triển khai đồng bộ các nội dung công tác Dân số-KHHGĐ trênđịa bàn; Đồng thời huy động được đông đảo lực lượng xã hội tham gia vào cáchoạt động Dân số-KHHGĐ

2.2 Về tổ chức thực hiện:

- Căn cứ vào hướng dẫn của nghành dọc cấp trên, UBDS,GĐ&TE huyện

tổ chức xây dựng kế hoạch 5 năm, hàng năm, kế hoạch phối hợp hoạt động vớicác ban, ngành, đoàn thể trình UBND huyện và tổ chức thực hiện sau khi đãđược phê duyệt

- Đề xuất ý kiến với UBDS,GĐ&TE tỉnh, UBND huyện củng cố, kiện toàn

bộ máy làm công tác Dân số-KHHGĐ từ huyện đến cơ sở, đảm bảo đủ biên chế

và từng bước nâng cao chất lượng để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác

- Chủ động phối hợp với các ngành, các cấp hướng dẫn chỉ đạo các cơ sởthường xuyên làm tốt các nhiệm vụ sau:

+ Thường xuyên làm tốt công tác quản lý về biến động dân số:

Định kỳ tháng, quý thu thập các thông tin về sinh, tử, chuyển đi chuyểnđến, các biến động về tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai của các đốitượng để cập nhật đầy đủ vào sổ hộ gia đình; Đồng thời nhập thông tin vàophiếu thu tin gửi cho huyện, để huyện cập nhật thông tin vào kho dữ liệu điện tửcủa huyện

+ Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền vậnđộng nhân dân thực hiện KHHGĐ Sau tuyên truyền tổ chức cho các đối tượngđang ký và lập danh sách những đối tượng đăng ký thực hiện các biện phápKHHGĐ để phối hợp với ngành y tế tổ chức cung ứng các dịch vụ KHHGĐ chođối tượng

Trang 11

+ Định kỳ giao ban hàng tháng để đánh giá công tác tháng, đề ra phươnghướng nhiệm vụ cho tháng sau và cùng nhau hoàn thiện hệ thống báo cáo gửicho huyện theo đúng thời gian định.

+ Các cộng tác viên hàng tháng phải đến thăm các hộ gia đình đển nắmthêm thông tin và cấp phát phương tiện tránh thai phi lâm sàng cho đối tượng sửdụng, theo phương châm quản lý đến từng hộ gia đình, từng thôn bản, tổ dânphố

- Tổ chức kiểm tra, giám sát và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của côngdân về thực hiện chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước có liên quan tới côngtác Dân số-KHHGĐ trên điạ bàn theo quy định của pháp luật

- Quản lý tốt các nguồn lực, thực hiện phân bổ công khai và hướng dẫn cácđơn vị thực hiện có hiệu quả, chống lãng phí, tham nhũng

- Phối hợp với các ngành, các cấp làm tốt công tác tuyên truyền vận độngnhân dân thực hiện KHHGĐ và cung cấp đầy đủ kịp thời cho các đối tượng.Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo theo quy định Tổ chức thu thập thập thôngtin để triển khai kho dữ liệu điện tử về dân số của huyện

- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do UBND huyện phân công

III Một số tiêu thức đánh chất lượng công tác DS-KHHGĐ.

1 Tiêu thức:

Công tác DS-KHHGĐ là lĩnh vực hết sức rộng lớn, các tiêu thức đánh giá thường là tiêu thức mang tính tổng hợp, do vậy việc thu thập thông tin, dữ liệu tính toán gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là với tuyến huyện Để có căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm, UBDS,GĐ&TE tỉnh giao bốn chỉ tiêu cơ bản sau:

- Giảm tỷ suất sinh thô;

- Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên;

- Giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên;

- Chỉ tiêu về số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai

2 Mức độ thực hiện so với mục tiêu chính sách.

Trong bốn chỉ tiêu trên, duy nhất chỉ có chỉ tiêu thứ tư hàng năm đều đạt

so với chỉ tiêu kế hoạch giao, ba chỉ tiêu còn lai có năm đạt hoặc vượt, có năm không đạt, nhưng nếu tính theo giai đoạn thì tất cả các chỉ tiêu đều đạt so với kế hoạch giao

Tuy nhiên để đạt được so với mực tiêu chính sách dân số đề ra là một việchết sức khó khăn, bởi vì xuất phát điểm thực hiện chương trình DS-KHHGĐ,

Trang 12

các chỉ tiêu này đểu ở mức rất cao Đến năm 2006 tỷ suất sinh vẫn còn ở mức 16,63‰; Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên là 14,14%; Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 1,3% Để đạt được mực tiêu theo chính sách đề ra, công tác DS-

KHHGĐ huyện Bảo Yên cần có nhiều cố gắng và tìm ra được các giải pháp phùhợp, đồng thời phải đảm bảo được các điều kiện cần thiết để triển khai tốt các giải pháp đề ra

CHƯƠNG IIThực trạng công tác Dân số-KHHGĐ huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.

I.Tình hình thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ ở Việt Nam.(*)

1 Tình hình thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000

1.1 Kết quả đạt được

Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000, được Thủ tướng chính phủ phêduyệt ngày 03 tháng 6 năm 1993, đã được triển khai có hiệu qủa Đảng và Nhànước cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu mà chươngtrình Dân số Việt Nam đã đạt được trong những năm qua Uỷ ban quốc gia Dânsố-KHHGĐ được Chủ tịch Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặnghuân chương lao động hạng nhất Tổ chức Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng dân

số 1999 cho Việt Nam Thành tích nổi bật nhất sau 7 năm thực hiện chiến lượclà:

1.1.1 Kết quả giảm sinh đã đạt được sớm hơn so với mục tiêu đề ra:

Mục tiêu chiến lược Dân số-KHHGĐ đến năm 2000 là “ giảm cho đượctổng tỷ suất sinh xuống 2,9 con hoặc thấp hơn, quy mô dân số dưới mức 82triệu người vào giữa năm 2000 để đạt mức sinh thay thế chậm nhất vào năm2015” Thực tế cho thấy trong giai đoạn từ 1989 đến 1992, tỷ lệ không giảm,nhưng từ khi thực hiện chiến lược Dân số - KHHGĐ đến năm 2000, tức là từnăm 1993 đến nay, tổng tỷ suất sinh đã giảm khá nhanh, từ 3,8 con năm 1989xuống còn 2,67 con trong thời kỳ 1992-1996 và còn khoảng 2,3 con vào năm

1999 Quy mô Dân số ở mức khoảng 78 triệu người vào năm 2000 Kết quả

* Tham khảo và trích dẫn chiến lược dân số VN 2001-2010.

này đã tạo điều kiện để đạt mức sinh thay thế vào năm 2015, sớm hơn 10 năm

so với mục tiêu mà nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành TW Đảngkhoá VII đề ra Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh về cơ bản đã được khống chế,nhờ đó mà áp lực của quy mô dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đã bắt

Trang 13

đầu được giảm nhẹ Do giảm tốc độ gia tăng dân số, chúng ta đã tiết kiệm đượcmột khối lượng các nguồn lực mà lẽ ra phải chi cho ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục,chữa bệnh và việc làm.

1.1.2 Nhận thức hành động của toàn xã hội về DS-KHHGĐ được nâng lên rỡ

rệt

Các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến địa phương đã coitrọng công tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triểnkinh tế-xã hội, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từngngười, từng gia đình và xã hội

Quan điểm về hôn nhân và sinh đẻ của nhân dân đã chuyển biến tích cựctheo hướng ngày càng có nhiều người chấp nhận kết hôn muộn, đẻ muộn, đẻthưa, đẻ ít để nuôi dậy con khoẻ và dậy con ngoan Đông đảo phụ nữ đã hiểurằng thực hiện KHHGĐ sẽ giúp họ có cơ hội giữ gìn sức khoẻ, phát triển tàinăng và có cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội, nhằmnâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội

Nhờ có sự chuyển biến về nhận thức, đã có sự thay đổi lớn về hành vi thựchiện KHHGĐ trong dân Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụngbiện pháp tránh thai tăng nhanh, từ 53,75% năm 1993 lên 75,31% năm 1997,bình quân mỗi năm tăng 5,4%, vượt kế hoạch đề ra là 2% mỗi năm Các biệnpháp tránh thai có hiệu qủa cao, có thời gian tác dụng lâu dài, như đình sản, đặtvòng, thuốc tiêm, thuốc cấy dưới da… ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơcấu các biện pháp tránh thai hiện đang được sử dụng

1.1.3 Hệ thống tổ chức làm công tác Dân số-KHHGĐ bước đầu được kiện toàn.

Tổ chức bộ máy làm công tác Dân số-KHHGĐ được hình thành từ trungương đến cơ sở và từng bước được hoàn thiện về chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn và phương thức hoạt động Cơ quan DS-KHHGĐ các cấp đã thực sự trởthành một tổ chức tham mưu tích cực cho lãnh đạo Đảng và chính quyền cáccấp về công tác Dân số-KHHGĐ Đội ngũ cán bộ chuyên trách Dân số-KHHGĐtrong toàn hệ thống được tăng cường về cả số lượng và chất lượng Mạng lướicộng tác viên dân số được bố trí đến tận thôn, bản, tổ dân phố theo phương thứcquản lý tới tận hộ gia đình

1.1.4 Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông được mở rộng và đẩy mạnh.

Huy động được đông đảo lực lượng xã hội và các cá nhân tham gia vàotuyên truyền, vận động thực hiện Dân số-KHHGĐ dưới nhiều hình thức, nhưtruyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp của đội ngũ tuyên truyền viên,các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng

Trang 14

tác viên dân số, cán bộ y tế… Các mô hình truyền thông đã được xây dựng vàtừng bước tiếp cận được với các nhóm đối tượng Các sản phẩm truyền thông đã

đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung Giáo dục dân số được đưa vàocác cấp học phổ thông, các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, trường dậynghề, trường chính trị và các trường của lực lượng vũ trang

1.1.5 Vịêc cung cấp các dịch vụ KHHGĐ đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu của

người sử dụng

Hệ thống cung cấp các dịch vụ KHHGĐ công cộng được củng có và pháttriển từ trung ương đến cơ sở Các nhu cầu cơ bản về dịch vụ KHHGĐ đã đượcđáp ứng; Có 100% cơ sở dịch vụ KHHGĐ cấp tỉnh và 93% cở sở y tế cấp huyệnlàm được thủ thuật đình sản; 100% cơ sở dịch vụ y tế cấp huyện và 68,7% trạm

y tế xã đặt được vòng tránh thai Hệ thống y tế tư nhân và các tổ chức phi chínhphủ được huy động và tạo điều kiện tham gia vào việc cung cấp các dịch vụKHHGĐ Các mô hình cung cấp dịch vụ tránh thai lâm sàng dựa vào cộngđồng tiếp thị xã hôị, đội dịch vụ lưu động … được triển khai với mục đích đưadịch vụ KHHGĐ đến tận người sử dụng

1.1.6 Một số chính sách đã được ban hành và được thực hiện có hiệu qủa:

Chính sách khuyến khích lợi ích trực tiếp cho những người tự nguyện chấpnhận KHHGĐ và người cung cấp dịch vụ KHHGĐ đã thúc đẩy sự tham gia củacán bộ và nhân dân vào chương trình kế hoạch hoá gia đình Nhiều chính sáchkinh tế-xã hội được ban hành phục vụ sự nghiệp đổi mới đã tạo môi trườngthuận lợi và tác động mạnh mẽ tới việc thực hiện mục tiêu Dân số-KHHGĐ

1.2 Hạn chế tồn tại:

1.2.1 Chương trình Dân số-KHHGĐ còn có sự mất cân đối:

Do quá bức súc về sự gia tăng dân số quá nhanh ảnh hưởng tới sự pháttriển kinh tế-xã hội và cải thiện đời sống của nhân dân, chương trình Dân số-KHHGĐ trong thời gian này mới chỉ tập chung vào giảm mức sinh thông quaKHHGĐ nhằm hạn chế tốc độ gia tăng quy mô dân số, chưa chú trọng đếnnhiều khía cạnh khác của vấn đề dân số, như chất lượng, cơ cấu và phân bố dân

cư Các nội dung của việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản chưa được chú trọng

Trang 15

trách và cộng tác viên cơ sở còn quá thấp, chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xãhội chưa được thực hiện Tình trạng trên gây nên tâm lý thiếu an tâm cho nhiềucán bộ Trung bình mỗi năm có khoảng 25-30% cán bộ chuyên trách xã bỏ việchoặc chuyển sang công tác khác Cho đến nay nhà nước vẫn chưa có chính sách

cụ thể đối với cán bộ làm công tác Dân số-KHHGĐ Tổ chức bộ máy còn nhiềubất cập, đặc biệt là ở tuyến quận, huyện

1.2.3 Việc phối hợp trong xây dựng chính sách chưa được chú trọng.

Việc lồng ghép các chính sách dân số vào qúa trình lập kế hoạch và xâydựng chính sách kinh tế-xã hội chưa được chú trọng và thực hiện có hiệu quả.Đầu tư cho chương trình Dân số-KHHGĐ chưa đáp ứng nhu cầu kinh phí cho

mở rộng nội dung hoạt động

1.3 Những nguyên nhân dấn đến thành công của chương trình.

* Nghị quyết Ban chấp hành TW lần thứ 4 (khoá VII) về chính sách Dân

số-KHHGĐ phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, thực sự đem lại lợi íchkinh tế, tinh thần và sức khoẻ cho mỗi cá nhân, gia đình và xã hội, nên đượcđông đảo các gia đình, xã hội và các tầng lớp nhân dân đồng tình hưởng ứng vàtích cực thực hiện Đảng và chính quyền các cấp đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo,đầu tư nguồn lực và kiện toàn bộ máy làm công tác Dân số-KHHGĐ các cấp,nhất là đội ngũ cộng tác viên dân số cơ sở Chính phủ đã cam kết mạnh mẽ đốivới chương trình Dân số-KHHGĐ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khaicác chính sách và nghị quyết về Dân số-KHHGĐ xuống tận cơ sở

* Chiến lược Dân số-KHHGĐ được triển khai trong bối cảnh đất nướcđang phát triển mạnh mẽ nhờ công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng và Nhànước đang thực hiện Sự tăng trưởng kinh tế phát triển xã hội trong những nămqua đã tạo tiền đề cơ bản cho việc cải thiện đời sống, chăm sóc sức khoẻ vànâng cao trình độ dân trí cho nhân dân ở hầu hết các khu vực trong cả nước, đặcbiệt là những vùng khó khăn Đây là tiền đề khách quan cho việc thực hiệnthắng lợi các mục tiêu của chương trình Dân số-KHHGĐ

* Mục tiêu và các giải pháp đề ra trong chiến lược Dân số-KHHGĐ đếnnăm 2000 phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước Cơ cấu quản lýthông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về nâng cao năng lực quản lý,thông tin – giáo dục - truyền thông và cung cấp dịch vụ kế hoạch hoá gia đình

đã tỏ ra có hiệu qủa, tạo được sự tập trung nguồn lực cho cơ sở và đảm bảo sựphối hợp, ủng hộ của các ngành, các cấp Công tác Dân số-KHHGĐ bước đầuđược xã hội hoá với sự tham gia của nhiều ngành, đoàn thể và đông đảo tổ chức

xã hội và các tổ chức phi chính phủ

1.4 Những nguyên nhân chính làm hạn chế kết quả chương trình.

Trang 16

* Phong tục tập quán và những yếu tố tâm lý về quy mô gia đình lớn vàgiới tính của con cái còn nặng nề Tư tưởng (phải có con trai) vẫn còn tồn tại ởnhiều người và nhiều vùng, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, vùng nghèo.

* Chưa có cơ chế chính sách toàn diện về dân số và phát triển Việcchuyển hướng mở rộng nội dung của chương trình và việc xây dựng hệ thốngchính sách thích hợp chưa được tiến hành kịp thời, chưa có chính sách và cácgiải pháp phù hợp để để giải quyết hài hoà các nội dung về quy mô dân số, chấtlượng dân số và phân bổ dân cư Một số chính sách kinh tế xã hội còn chưađồng bộ và tạo sự đồng thuận với chính sách dân số

* Đầu tư nguồn lực chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Cơ chế quản lýnguồn lực còn một số nội dung chưa phù hợp

2 Tình hình thực hiện chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010(giai đoạn 2001-2005).

2.1.Tình hình thực hiện

Từ sau năm 2000 đến nay, kết qủa thực hiện chính sách DS-KHHGĐchững lại và giảm sút Trong hai năm 2003 và 2004, tỷ lệ phát triển dân số, tỷ lệsinh con thứ 3 trở lên tăng mạnh trở lại Đặc biệt là tình trạng cán bộ, đảng viênsinh con thứ 3 trở lên tăng nhiều ở hầu hết các địa phương gây tác động tiêu cựcđến phong trào nhân dân thực hiện KHHGĐ Tình hình này đã làm chậm thờigian mức sinh h thay thế( trung bình mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ cóhai con)

2.2 Nguyên nhân chính làm hạn chế kết qủa chương trình:

Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do chúng ta chưa nhận thức đầy

đủ tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác này, chúng ta đã vội chủquan và tự thoả mãn với những kết quả ban đầu, dẫn đến buông lỏng sự lãnhđạo, chỉ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách DS-KHHGĐ Tổ chức bộmáy làm công tác DS-KHHGĐ ít được quan tâm, cơ chế quản lý kém hiệu quả;

Tổ chức điều hành chương trình còn nhiều lúng túng, chậm đổi mới việc banhành pháp lệnh dân số thiếu chặt chẽ

II.Thực trạng công tác DS-KHHGĐ ở huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.

1 Sơ đồ tổ chức UBDS,GĐ&TE huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai

Trang 17

Chủ nhịêm

-Phục trách chung

- Tham mư u cho cấp uỷ Đảng, CQ địa phương;

-Tổng hợp chung, xây dựng KH và tổ chức triển khai;

-Định kỳ BC cấp trên theo Q Đ

quy định

- Một cán bộ phụ trách c ông tác DS-KHHGĐ;

- Tổng hợp báo cáo;

- Hướng dẫn đôn đốc cơ sở;

- Định kỳ báo cáo, kiêm thủ quỹ cơ quan……

Một cán bộ phụ trách công tác gia đình và sự nghiệp bảo vệ chăm sóc trẻ em;

- Tổng hợp báo cáo

- Hướng dẫn đôn đốc cơ sỏ;

- Định kỳ báo cáo, kiêm kế toán cơ quan…

2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện.

2.1 Điều kiện tự nhiên:

Bảo Yên là huyện miền núi thấp của tỉnh Lào Cai Cách trung tâm tỉnh lỵ

Lào Cai 75 Km về phía đông nam Điạ hình bị chia cắt phức tạp do có nhiều núi

cao hiểm trở và hệ thống sông suối dầy đặc

- Phía Bắc giáp với huyện Bảo Thắng; Bắc Hà - tỉnh Lào Cai;

- Phía Nam giáp với huyện Lục Yên; Văn Yên - tỉnh Yên Bái;

- Phía Đông giáp với huyện Quang Bình - tỉnh Hà Giang;

- Phía Tây giáp với huyện Văn Bàn - tỉnh Lào Cai

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là: 82.483 ha:

Trong đó - Đất có khả năng sản xuất nông nghiệp là: 11.950,3 ha;

- Đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp là: 62.879 ha;

- Đất phi nông nghiệp: 4.449,2 ha;

- Sông, suối, núi đá không có rừng cây: 3.204,5 ha

Huyện được chia thành 18 đơn vị hành chính ( 17 xã, 1 thị trấn), xã xa

trung tâm huyện nhất là 42 km Độ cao trung bình so với mặt nước biển 300

-400m, với đặc điểm khí hậu nhiệt đới, độ ẩm cao rất thuận lợi cho cây trồng

phát triển

Trang 18

Bảo Yên có hai con sông lớn chảy qua, đó là sông Hồng và sông Chảy Hệthống sông suối đã tạo nên những bãi bằng nằm hai bên lưu vực, đất đai màu

mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cây lúa và cây hoa màu

2.2 Tình hình kinh tế - xã hội.

2.2.1 Tình hình kinh tế:

Sản xuất nông, lâm nghiệp:

- Về trồng trọt: Bảo Yên với gần 90% dân số sống ở vùng nông thôn, chủyếu là sản xuất nông nghiệp Trong khi đó đất có khả năng đưa vào sản xuấtnông nghiệp thấp có khoảng 11.950,3 ha, chiếm 14,5% diện tích đất tự nhiên.Nếu tính bình quân đầu người chỉ đạt 0,16 ha/ người Việc áp dụng các tiến bộkhoa học -kỹ thuật vào thâm canh còn chậm Hệ thống thủy lợi trong nhữngnăm qua đã được đầu tư xây dựng tương đối tốt cơ bản chủ động được tưới tiêucho đồng ruộng Tuy nhiên việc quản lý khai thác chưa được chú trọng, dẫn đếnnhiều công trình đã xuống cấp và hư hỏng nặng Ngoài ra, thời tiết, dịch bệnhcũng gây ảnh hưởng lớn tới năng suất cây trồng Năm 2005 năng suất lúa trungbình chỉ đạt khoảng 48 tạ/ ha Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 29.058 tấn

(1); Tính bình quân đầu người đạt xấp xỉ 400 kg/người/năm.

- Về chăn nuôi: Với điều kiện khí hậu tự nhiên và diện tích rừng, ao, hồ,sông, suối khá lớn, chăn nuôi cũng được coi là một thế mạnh của huyện BảoYên Chăn nuôi gia xúc, gia cầm và thuỷ sản được nhân dân coi trọng và pháttriển, các loại giống có chất lượng, có giá trị kinh tế được đưa vào nuôi trồng vàbước đầu mang lại hiệu quả, đặc biệt là chăn nuôi đại gia xúc Hàng năm tổng

đàn tăng từ 5-8 %, đến năm 2005, tổng đàn trâu, bò, đạt trên 22.000 con (2) và

xuất bán hàng nghìn con ra các tỉnh bạn

- Về lâm nghiệp: Tổ chức trồng mới và khoanh nuôi rừng tái sinh đến nay

tỷ lệ chee phủ rừng đạt trên 44,6% Tổ chức tốt việc quản lý và khai thác đểphục vụ cho việc chế biến,cung cấp nguyên liệu cho 2 nhà máy giấy doanh thu

đạt trên 8 tỷ đồng và nộp ngân sách trên 400 triệu đồng (3).

- Trong lĩnh vực công nghiệp: Chủ yếu là sản xuất tiểu thủ công nghiệpnhư sản xuất đồ mộc dân dụng, vật liệu xây dựng, may mặc … Ngoài ra trên

1,2: Số liệu Phòng thống kê huyện

3: Số liệu Phòng tài chính -KH huyện.

địa bàn huyện chỉ có ba nhà máy; Trong đó có hai nhà máy chế biến bột giấy,tổng công xuất trên 13 nghìn tấn/năm và một nhà máy chè mới đi vào hoạtđộng

Trang 19

- Trong lĩnh vực tài chính: Tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện đạt thấp.Năm 2005 tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 7.644 triệu đồng Tổng thu ngânsách huyện đạt 54.854 triệu đồng Tổng chi ngân sách huyện: 54.854 triệu đồng

(1) như vậy tổng thu ngân sách trên điạ bàn chỉ đạt 13,94% tổng chi ngân sách

huyện

- Tình hình lao động và việc làm:

Năm 2005, số lao động trong độ tuổi của huyện Bảo Yên chiếm tỷ trọng

cao 35.667 người, chiếm 47,4% tổng dân số trong toàn huyện (2) Trong đó số

lao động có việc làm ổn định là: 18.000 người Số người có việc làm không ổnđịnh là 2.991 người, số người thiếu việc làm là 8.000 người Đáng quan tâm làtình trạng thất nghiệp theo mùa vụ ngày càng cao, đặc biệt là ở khu vực nôngthôn

Tóm lại tình hình kinh tế huyện Bảo Yên tuy có những lợi thế nhất định,như khí hậu, thời tiết, đất đai màu mỡ, hệ thống đường giao thông tương đốiphát triển vẫn còn gặp nhiều khó khăn, như diện tích đất canh tác bình quân đầungười đạt thấp Các ngành nghề chưa phát triển; Đặc biệt là ngành công nghiệp

Tỷ lệ thất nghiệp cao, người dân vẫn còn mang nặng thói quen tự cung tự cấp;Một số mặt hàng sản xuất ra chưa tìm được thị trường tiêu thụ

2.2.2 Tình hình về dân số:

Năm 2005, Bảo Yên có 15.046 hộ với 75.220(3) khẩu, mật độ dân số là 91

người/km2, gồm 16 dân tộc, sống đan xen trong cộng đồng dân cư Trong đódân số sống ở nông thôn chiếm 87,7 %; dân tộc thiểu số chiếm 71,3% Để thấy

rõ sự biến động dân số của huyện, ta so sánh tình hình dân số 3 năm từ

Trang 20

2005quyhoạchthêm 2thị tứ(5)

8 Số trẻ sinh thêm hàng năm Người 1.185 1.524 1.281

Qua bảng số liệu trên, ta thấy dân số huyện Bảo Yên giai đoạn 2003 -2005

có những đắc điểm như sau:

- Tỷ suất sinh thô và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên hàng năm vẫn còn ở mứccao so với cả nước và của tỉnh; Đặc biệt là năm 2005 tỷ suất sinh thô là 20,88‰

tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 20,1% tương đương với 1.524 trẻ Như vậy năm

2005 số trẻ sinh trong toàn huyện tương đương với dân số của xã Tân Tiến

- Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ( 15-49 tuổi) có chồng còn chiếm tỷ lệcao 23,7% so với tổng dân số và chiếm 88,03% so với số nữ 15 – 49 tuổi và vẫncòn tiếp tục tăng cao trong những năm tới

- Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm có xu hướng giảm, nhưng vẫn còn

ở mức cao Nếu tính trung bình cho cả 3 năm thì tỷ lệ này vẫn còn 2% mỗi năm

- Số trẻ em dưới 14 tuổi chiếm tỷ lệ cao trên 36% so với tổng số dân, đây

sẽ là lực lượng hùng hậu bổ sung cho lứa tuổi sinh đẻ ở những năm tiếp theo.Tóm lại qua các số liệu trên, thấy công tác DS-KHHGĐ huyện trongnhững năm qua đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên một số chỉ tiêu, như số phự nữ15-49 tuổi có chồng, số trẻ em dưới 14 tuổi, dân số sống ở vùng nông thôn vẫncòn rất cao, do vậy nó vẫn tiềm ẩn mức sinh cao trong những năm tới

Bảng 1: Bao gồm số liệu: Phòng Thống Kê Huyện, Phòng Nội Vụ -LĐTB&XH huyện.

2.2.3 Công tác y tế chăm sóc sức khoẻ nhân dân:

Với khí hậu vùng nhiệt đới, nóng, độ ẩm cao rất thuận lợi cho cây trồng

Trang 21

phát triển; Tuy nhiên đây cũng là điều thuận lợi cho các dịch bệnh phát triển,như bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, viêm đường hô hấp, sốt phát ban, viên não…làm ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ lao động sản xuất, phát triển kinh tế của ngườidân.

Để thực hiện tốt công tác chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân; Trongnhững năm qua, ngành y tế đã có bước phát triển mới, thể hiện trên các mặt cụthể sau:

- Xây dựng mạng lưới y tế: Hiện nay trên địa bàn huyện có 1 bệnh viện đakhoa huyện, 4 phòng khám đa khoa khu vực, 18 trạm y tế cơ sở Bệnh viện đakhoa huyện được xây dựng và đưa vào sử dụng năm 2002, tổng diện tích xâydựng 2.000 m2, với quy mô 100 giường bệnh, được bố trí thành 10 khoa, phòngchức năng Bốn phòng khám đa khoa khu vực, quy mô 10 giường bệnh/phòngkhám trong đó có 02 phòng khám mới hình thành năm 2005 Các phòng khámchưa được xây dựng hiện đang làm việc chung với trạm y tế, còn lại 18 trạm y

tế đã được xây dựng từ nhiều năm, bằng những nguồn vốn khác nhau, nay đãxuống cấp và hư hỏng

-Về trang thiết bị phục vụ cho khám và chữa bệnh:

Tại bệnh viện đa khoa huyện: Các phương tiện làm việc, phương tiện phục

vụ cho cấp cứu, phục vụ cho chuẩn đoán và điều trị được trang bị tương đối đầy

đủ và đồng bộ, như máy siêu âm, máy điện quang, máy điện tim, máy xétnghiệm 18 thông số, bàn mổ đa năng… Ngoài ra các trang thiết bị phục vụ chobệnh nhân, như giương tủ, chăn màn và các đồ dùng khác đã được trang bịthường xuyên, đảm bảo được nhu cầu cần thiết cho công tác khám và điều trịbệnh cho nhân dân

Tại 04 phòng khám đa khoa khu vực: các trang thiết bị phục vụ cho khám

và điều trị còn nhiều thiếu thốn, do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến làcác phòng khám này còn hoạt động chung với các trạm y tế, nhà cửa chật hẹpkhông bố trí đủ phòng làm việc cho các khoa, phòng chức năng, do vậy việctrang bị các phương tiện làm việc và các phương tiện phục vụ cho khám, chữabệnh chưa được kịp thời

Tại các trạm y tế xã, thị trấn: Có 18/18 xã có đủ trang thiết bị cần thiếtphục vụ cho khám và chữa các bệnh thông thường theo phân tuyến kỹ thuật Có02/18 trạm có điện thoại, 15/18 xã có điện lưới quốc gia và có 6/18 xã có nguồnnước đảm bảo cho sinh hoạt

- Về nhân lực:

Bảng 2: Số liệu cán bộ tại Trung Tâm Y Tế huyện BảoYên ( năm 2003-2005)

Trang 22

STT Nội dung Đv tính 2003 2004 2005 ghi chú

đó 01 là chuyên ngoại sản, còn 01 là chuyên khoa nội Cán bộ có trình độ trunghọc chiếm tỷ lệ cao, năm 2005 là 50% trong tổng số biên chế tại trung tâm Đặcbiệt là số cán bộ nữ hộ sinh thấp, giao động từ 13-15 người Đây là khó khănlớn trong việc triển khai các hoạt động chăm sóc sức khoẻ và KHHGĐ

Bảng 3: Số liệu cán bộ y tế xã, thị trấn ( năm 2003-2005) ( Số liệu TT Y Tế huyện)

Trang 23

Bộ máy y tế cơ sở còn gặp nhiều khó khăn, biên chế vừa thiếu lại vừa yếu.Toàn huyện có 03/18 trạm có bác sĩ hoạt động Cán bộ có trình độ sơ học cònchiếm tỷ lệ cao, năm 2005 tỷ lệ này là 22,7% Đặc biệt là biên chế nữ hộ sinhquá thấp, mới có 15/18 trạm có nữ hộ sinh Số cơ sở có thể tự đặt vòng tránhthai được có ít 6/18 xã, chiếm 33,3% đến nay huyện Bảo Yên chưa có trạm y tếnào đạt chuẩn quốc gia về y tế.

2.2.4 Giáo dục và đào tạo:

Bảng 4: Số liệu về công tác giáo dục năm (2003 -2005).

III:Tổng số học sinh Người 1.558 2.172 2.651

Công tác giáo dục trong những năm gần đây đã có bước phát triển tốt,phấn đấu hoàn thành tốt chỉ tiêu kế hoạch đề rà Kết quả nổi bật thể hiện trêncác mặt sau:

Trang 24

Bảng 4 số liệu Phòng Giáo Dục huyện.

Đối với bậc tiểu học, THCS, lớp học mầm non.

* Về phát triển hệ thống giáo dục:

Trong những năm gần dây, đặc biệt là năm 2005, huyện Bảo Yên đã làmtốt công tác tuyên truyền vận động, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt

98,6% bằng 100,82% (1) kế hoạch Số trường và lớp học đều tăng so với những

năm trước, năm 2003 có 881 lớp, 48 trường; Năm 2005 tăng lên 952 lớp 63

trường (2) Toàn huyện có 820 (3) phòng học, trong đó phòng được kiên cố hoá

là 284; phòng bán kiên cố là 198, số phòng tạm bợ là 338 và hiện nay huyện đã

cơ bản xoá được tình trạng học ca 2, ca 3

* Về nhân lực:

Để đáp ứng nhu cầu học cho số học sinh liên tục tăng trong những nămqua, biên chế giáo viên cũng tăng từ 934 người năm 2003 lên 996 người năm2005( chưa tính cán bộ quản lý và hoạt động khác) tăng 6,22% Trình độ củagiáo viên bước đầu được quan tâm, hàng năm ngành giáo dục đều có kế hoạchđào tạo và đào tạo lại, nhằm nâng cao trình độ cho giáo viên Tuy công tác nàythực hiện còn kém hiệu quả, năm 2005 mới có 54 cán bộ có trình độ đại họctrên tổng số 996 biên chế, chiếm 5,42%

* Về trang thiết bị phục vụ cho công tác dậy và học

Các trang thiết bị phục vụ cho công tác dậy và học còn nhiều thiếu thốn,hầu hết các trường, đặc biệt là các trường ở các xã vùng sâu, vùng cao thiếu các phòng chức năng, như phòng thực hành, phòng thí nghiệm ….Tỷ lệ lên lớphàng năm đạt 99,6%; Thi tốt nghiệp cấp học đạt: 99,7%

Đối với bậc trung học phổ thông:

Năm 2005 Bảo Yên có 03 trường với 62 lớp học: Trong đó trường PTTH

số III mới thành lập năm 2004, số học sinh liên tục tăng theo năm học Năm

2003 có 1.558 em, năm 2005 tăng lên 2.651(4) em, tăng 41,2% Với quy mô nhưhiện nay, các trường các trường THPT mới đáp ứng được khoảng trên 82% sốhọc sinh tốt nghiệp THCS hàng năm Cả 03 trường được xây dựng kiên cố hoá;Các trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dậy và học tương đối đầy đủ, đáp ứngđược nhu cầu dậy và học của giáo viên và học sinh

Tỷ lệ lên lớp hàng năm đạt khoảng 95-98% (5); Tỷ lệ thi tốt nghiệp đạt

95%; Tỷ lệ học sinh thi vào được các trường

cao đẳng, đại học đạt khoảng 28 -30% năm (6).

1,2,3 số liệu Phòng Giáo Dục huyện.

Trang 25

xã, thị trấn; Xoá mù chữ đạt 18/18 xã, thị trấn Tỷ lệ chuyển lớp, thi tốt nghiệpcao từ 95-98% năm Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đạt được vẫn cònnhững mặt hạn chế, đó là: Việc xây dựng cơ sở vật chất, kiên cố hoá trường lớphọc còn chậm, tỷ lệ phòng học tạm bợ còn cao, chiếm 41,2% Số giáo viên cótrình độ cao đẳng trở xuống chiếm tỷ lệ cao, năm 2005 là 94,6% Tỷ lệ học sinhthi đậu vào các trường đại học, cao đẳng có tăng so với những năm trước, songvẫn còn ở mức quá thấp(30% năm 2005).

2.5 Văn hoá thông tin- truyền thanh truyền hình:

Phòng văn hoá và trung tâm văn hoá huyện, trong những năm qua đã cónhiều cố gắng làm tốt công tác quản lý và triển khai các hoạt động của mình,như tổ chức đội chiếu bóng lưu động, tổ chức các buổi văn hoá văn nghệ tạitrung tâm huyện và tại các cụm xã, thị trấn tổ chức đại hội thể dục, thể thao toànhuyện nhằm làm tốt công tác đưa thông tin về cơ sở Làm tốt công tác bảo tồn

và khai thác phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc, đẩy mạnh các hoạt động,phong trào thể dục thể thao tại các cơ quan, các xã, thị trấn, tại các cơ quan, tổdân cư Phối hợp với các cơ quan, ban, ngành tổ chức phát động phong trào thiđua “ xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở” và hàng năm tổ chức tốt việc bình xétgia đình, làng xã đạt chuẩn văn hoá theo hướng dẫn của ban chỉ đạo huyện Tuynhiên bên cạnh những kết qủa đạt được, công tác văn hoá còn có những hạn chếsau:

- Đội thông tin lưu động huyện chưa thực sự cố gắng trong việc tuyêntruyền tại các cơ sở, nội dung, hình thức tuyên truyền còn nghèo nàn chưa đápứng được nhu cầu của nhân dân, do vậy việc giáo dục pháp luật chưa được kịpthời, chủ trương chính sách của đảng chưa thực sự đi vào cuộc sống của nhândân

- Phong trào văn hoá, văn nghệ trong quần chúng nhân dân chưa thực sựđược chú trọng; Công tác quản lý, khai thác và bảo tồn phát huy bản sắc vănhoá dân tộc mới được đặt ra, vẫn chưa có giải pháp cụ thể về vấn đề này

- Việc tuyên truyền vận động nhân dân xoá bỏ các tập tục lạc hậu trong đờisống, như thách cưới, người chết còn để dài ngày, tệ mê tín dị đoan chưa có sựchuyển biến tích cực

Trang 26

Nhằm tăng cường công tác tuyên truyền vận động phục vụ cho công cuộcđổi mới của Đảng và Nhà nước, đồng thời phục vụ nhu cầu giải trí của ngườidân Trong những năm qua, sự nghiệp truyền thanh- truyền hình của huyệnđược quan tâm đầu tư xây dựng Năm 2005 toàn huyện có 07 trạm truyền thanh,

10 trạm tiếp sóng đài truyền hình, nâng tỷ lệ số hộ được nghe đài tiếng nói Việt

Nam lên khoảng 90% và xem truyền hình là 80% (1) Tổng thời lượng phát sóng, đối với truyền thanh là 7.440 h/năm, đài truyền hình 7068 h/năm (2).

2.2.6 Tình hình tôn giáo:

Bảo Yên hiện có hai đạo giáo đó là đạo Thiên chúa giáo và Đạo tin lành

Đạo thiên chúa giáo có 147 hộ với 658 khẩu (3) sống ở bốn xã: Việt Tiến,

Lương Sơn, thị trấn Phố Ràng, Long Khánh Đây là các hộ có nguồn gốc đi đạo

từ xa xưa, được nhà nước công nhận các hoạt động tương đối ổn định

Quan niệm về vấn đề KHHGĐ tuy có khác nhau, nhưng qua công táctuyên truyền vận động , đến nay các giáo dân không còn mặc cảm với công tácDS-KHHGĐ Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chấp nhận thực hiệncác biện pháp tránh thai cao(70,2% năm 2005)

Đạo tin lành mới được truyền bá vào địa bàn huyện trong vài năm nay,nhưng phát triển khá nhanh, hoạt động rất phức tạp Hiện nay toàn huyện có 376

hộ với 2.323(4) khẩu, sống ở 27 thôn bản thuộc 7 xã Đáng lưu ý nhất là số

người theo đạo tin lành chủ yếu hiện nay là người dân tộc Mông Đạo tin lành

ở huyện Bảo Yên hiện nay chưa được chính quyền công nhận Các trùm đạothường lén lút tuyên truyền trái phát luật làm cho an ninh- trật tự trên địa bànmất ổn định

Công tác tuyên truyền vận động đối tượng này thực hiện KHHGĐ gặp rấtnhiều khó khăn, họ ít hợp tác và không chịu thực hiện các biện pháp KHHGĐ,thậm chí nếu ta tuyên truyền mạnh họ sẵn sàng bỏ quê hương đi nơi khác

2.2.7 Tình hình di dịch cư:

Trong thời gian qua, công tác tuyên truyền vận động nhân dân ổn định,định canh định cư, đi đôi với việc sắp xếp dân cư, tạo việc làm cho nhân dân đãđược cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương quan tâm triển khai thực hiện Tuynhiên đến nay tình hình dịch cư tự do vẫn tiếp tục tiếp diễn biến phức tạp Năm

2005 có 57 hộ với 308 khẩu(1) so với năm 2004 tăng 4 hộ; 8 khẩu Trong đó di

cư đi 45 hộ, 245 khẩu; di cư đến 12 hộ, 66 khẩu Tương đương tỷ suất xuất cư là3,3 ‰, tỷ xuất nhập cư là 0,9‰

1,2 số liệu phòng văn hoá, Đài truyền thanh-truyền hình.

3,4 Số liệu ban tôn giáo, dân tộc Huyện uỷ.

Trang 27

3 Thực trạng công tác Dân số-KHHGĐ huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.

3.1 Chương trình nâng cao năng lực của bộ máy quản lý DS-KHHGĐ(VDS01) 3.1.1: Quá trình hình thành và đặc thù của cơ cấu tổ chức quản lý DS-KHHGĐ.

Theo thời gian lịch sử hình thành, chương trình DS-KHHGĐ huyện BảoYên được chia thành các giai đoạn sau:

Giai đoạn từ năm 1961 đến 1990: Trong giai đoạn này chưa hình thành bộphận chuyên trách để trực tiếp quản lý và triển khai chương trình DS-KHHGĐ

mà nó được gắn liền với khoa sản của bệnh viện huyện, công việc chủ yếu là đặtvòng tránh thai Chương trình mới được triển khai ở khối cán bộ công chức nhànước Các hoạt động của chương trình chưa được triển khai thường xuyên, nên

tỷ lệ sinh thời kỳ này( kể cả cán bộ và nhân dân) đều cao

Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1995 ở huyện Bảo Yên giai đoạn nàycông tác tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ đã bước đầu được thành lập

và được chia thành hai thời kỳ:

- Thời kỳ 1991 đến tháng 4 năm 1993: Trung tâm y tế huyện đã cho mộtbiên chế để trực tiếp theo dõi các hoạt động của chương trình và cũng trong thờigian này, theo chỉ đạo của sở y tế, Trung tâm y tế huyện thành lập đội sinh đẻ có

kế hoạch Nhiệm vụ của Đội sinh đẻ có kế hoạch là tổ chức đáp ứng đầy đủ, kịpthời các dịch vụ KHHGĐ cho các đối tượng Làm tốt công tác tư vấn giúp đốitượng lựa chọn biện pháp tránh thai phù hợp với điều kiện về sức khoẻ, điềukiện về môi trường sống và với số con hiện có, đẻ điều tiết mức sinh theo kếhoạch

- Thời kỳ tháng 4-1993 đến năm 1995: Giai đoạn này ban DS-KHHGĐhuyện được thành lập, gồm 15 thành viên, do phó Chủ tịch UBND huyện làmtrưởng ban Các thành viên của ban là trưởng, phó các ban, ngành, đoàn thể,hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm Bộ phận chuyên trách có một biên chế đểgiúp việc cho trưởng ban Đáng chú ý là trong thời kỳ này cán bộ chuyên tráchban DS-KHHGĐ huyện vẫn thuộc biên chế của Trung tâm y tế huyện, các họatđộng vẫn chưa chịu sự chi phối của Trung tâm y tế Trách nhiệm chính của cán

bộ chuyên trách trong thời kỳ này là phối hợp với Đội sinh đẻ có kế hoạch đểcung ứng phương tiện tránh thai cho các đối tượng có nhu cầu Các phương tiệntránh thai ờ thời kỳ này đã phong phú hơn, ngoài phương tiện vòng tránh thai ra,các phương tiện tránh thai khác cũng được triển khai, như bao cao su tránh thai,thuốc uống tránh thai, đình sản nam, nữ Phạm vi đối tượng cũng như địa bàntriển khai không chỉ bó hẹp ở khối cán bộ công chức, mà được triển khai xuống

cả vùng nông thôn Số đối tượng tự nguyện chấp nhận các biện pháp tránh thai

có tăng hơn những năm trước, song còn ở mức thấp

Trang 28

Đối với cơ sở: Thời kỳ này có 04 xã đã được chọn làm điểm là xã: LươngSơn, Bảo Hà, Kim Sơn và thị trấn Phố Ràng Các cơ sở này được thành lập Bandân số, gồm mỗi ban 10 thành viên; Cơ cấu giống như Ban dân số huyện; Cán

bộ chuyên trách do chủ tịch hội phụ nữ xã hoặc trưởng trạm y tế kiêm nhiệm Ởthời kỳ này tất cả các trạm y tế xã chưa có cơ sở nào tự đặt vòng tránh thai ở tạitrạm, việc cung ứng các phương tiện tránh thai đều do đội sinh đẻ có kế hoạch

và Trung tâm y tế huyện đảm nhiệm

Giai đoạn 1995 đến tháng 4 năm 2002

Ở cấp huyện trước sức ép ngày càng gia tăng dân số quá nhanh trên cácmặt kinh tế-xã hội của huyện, cũng như để đảm bảo sự thống nhất trong việc tổchức triển khai các hoạt động của chương trình trên phạm vi tỉnh và cả nước.Tháng 01 năm 1995 theo sự chỉ đạo của UBND tỉnh và ngành dọc cấp trên,UBDS-KHHGĐ được thành lập và trở thành cơ quan độc lập trực thuộc UBNDhuyện, do phó Chủ tịch UBND huyện trực tiếp làm Chủ nhiệm Bộ phận chuyêntrách gồm 04 biên chế, trong đó có 01 biên chế chính thức, trực tiếp làm phóchủ nhiệm thường trực để giúp việc cho Chủ nhiệm và có 03 biên chế hợp đồng.Đây là lần đầu tiên UBDS-KHHGĐ được xác định về vị trí, chức năng nhiệm

vụ của mình, đó là: UBDS-KHHGĐ là cơ quan chuyên môn thuộc UBNDhuyện, chịu sự lãnh đạo toàn diện của UBND huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo,hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của UBDS-KHHGĐ tỉnh Giúp UBNDhuyện quản lý nhà nước về lĩnh vực DS-KHHGĐ Chủ trì phối hợp với các cơquan, ban, ngành, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội triển khai thực hiệnchính sách, chương trình, dự án về dân số-KHHGĐ trên địa bàn huyện

Chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch 10 năm, 5 năm, hàng năm và các dự

án theo hướng dẫn của ngành dọc và tổ chức triển khai thực hiện sau khi đượcphê duyệt

Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ với UBND huyện và ngành dọc cấp trêntheo quy định…

Ở cấp xã: Trong thời gian này toàn bộ 18/18 xã, thị trấn thành lập Ban dân

số xã do Chủ tịch hoặc phó Chủ tịch UNBD xã làm trưởng ban; mỗi ban có mộtcán bộ chuyên trách, làm việc theo chế độ hợp đồng Riêng cán bộ cộng tác viênđược bố trí theo các bản Đến cuối năm 2002, huyện Bảo Yên đã bố trí trên 302cộng tác viên thôn ,bản, tổ dân phố Mức trợ cấp được hưởng rất thấp; Đối vớicán bộ chuyên trách được hưởng 120.000 đ/tháng Cộng tác viên 25.000 đ/tháng Hoạt động theo phương thức quản lý đến thôn, bản, tổ dân phố và hộ giađình

Giai đoạn từ tháng 04 năm 2002 đến nay:

Trang 29

Thực hiện Nghị định số: 12/2001/NĐ-CP ngày 27/03/2001 của Chính phủ.V/v tổ chức lại một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố thuộc

TW và UBND quận, huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh Quyết định số:19/2002/QĐ-UB ngày 15/1/2002 của tỉnh Lào Cai, V/v tổ chức xắp xếp lại các

cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ emđược thành lập tại quyết định số: 341/2002/QĐ-UB, ngày 29/04/2002 củaUBND huyện Bảo Yên, trên cơ sở sáp nhập UBDS-KHHGĐ và Uỷ ban bảo vệ,chăm sóc trẻ em

Về tổ chức bộ máy: UBDS,GĐ&TE huyện có 03 biên chế, trong đó có 01Chủ nhiệm và 02 nhân viên( bỏ chế độ phó Chủ tịch UBND huyện kiêmnhiệm) Về trình độ cán bộ:- Đại học 01 ( Cử nhân kinh tế nông nghiệp);

- Trung học 01 ( Y sỹ đa khoa);

- Sơ học 01 ( Y tá sơ cấp)

Các bộ phận chuyên môn gồm 03 bộ phận: Bộ phận Dân số-KHHGĐ; Bộphận bảo vệ chăm sóc trẻ em; Bộ phận quản lý và theo dõi về công tác giađình.Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBDS,GĐ&TE được quy định

cụ thể như sau:

Vị trí, chức năng:

Uỷ ban dân số, gia đình & Trẻ em là cơ quan chuyên môn thuộc UBNDhuyện, thực hiện chức năng tham mưu giúp UBND huyện quản lý Nhà nước vềlĩnh vực công tác Dân số, gia đình và trẻ em

Uỷ ban dân số, gia đình & Trẻ em chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biênchế và công tác của UBND huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra vềchuyên môn, nghiệp vụ của Uỷ ban dân số, gia đình & TE tỉnh

Uỷ ban dân số- gia đình & TE có tư cách pháp nhân và được phép sử dụngcon dấu riêng

Nhiệm vụ, quyền hạn:

Trình UBND huyện ban hành các văn bản hướng dẫn việc thực hiện chínhsách, chế độ, pháp luật và các quy định của UBND tỉnh về quản lý dân số, giađình và trẻ em

Trình UBND huyện kế hoạch 5 năm, hàng năm, chương trình mục tiêu,chương trình hành động, các dự án về dân số, gia đình và trẻ em trên địa bànhuyện và tổ chức thực hiện khi được phê duyệt

Tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiệncác văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn 5năm, hàng năm, các chương trình mục tiêu, chương trình hành động, dự án, tiêu

Trang 30

chuẩn về dân số, gia đình và trẻ em đã được phê duyệt và điều ước quốc tế màViệt Nam tham gia.

Trình UBND huyện quyết định việc phân công phân cấp hoạc uỷ quyềnquản lý về lĩnh vực dân số, gia đình và trẻ em đối với UBND các xã, thị trấn vàBan dân số, gia đình & trẻ em các xã, thị trấn

Xây dựng và trình UBND huyện kế hoạch phối hợp với các ngành, tổ chứcchính trị - xã hội, tổ chức xã hội ở huyện trong việc thực hiện các nhiệm vụ vềdân sô, gia đình và trẻ em và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch phốihợp sau khi phê duyệt

Phối hợp với các ngành liên quan thực hiện lồng ghép chương trình mụctiêu, chương trình hành động về dân số, gia đình & trẻ em với thực hiện chủtrương chính sách phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ gia đình có hoàn cảnh đặcbiệt khó khăn: Xây dựng mô hình gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc

và bền vững: thực hiện chủ trương, chính sách bình đẳng về giới

Tổ chức thực hiện công tác đăng ký dân số, chủ trì phối hợp với các ban,ngành có liên quan thực hiện công tác KHHGĐ, ngăn chặn các hành vi vi phạmquyền trẻ em, bảo vệ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Thực hiện các chương trình, dự án về dân số, gia đình, trẻ em ở cấp huyệntheo hướng dẫn của Uỷ ban dân số- gia đình và trẻ em tỉnh; tổ chức vận động,xây dựng, quản lý và sử dụng Quỹ bảo trợ trẻ em cấp huyện; hướng dẫn, kiểmtra việc sử dụng Quỹ bảo trợ trẻ em cấp xã theo quy định của pháp luật

Tổ chức thực hiện thí điểm và nhân rộng mô hình dân số, gia đình và trẻ

em trên địa bàn

Quản lý các hoạt động dịch vụ công thuộc lĩnh vực dân số, gia đình và trẻ

em trên địa bàn huyện

Tổ chức các thông tin, tuyên truyền giáo dục chính sách, pháp luật về lĩnhvực dân số, gia đình và trẻ em

Tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào công tác dân số và giađình, trẻ em ở huyện; thu thập, lưu trữ và phổ biến thông tin về dân số, gia đình

và trẻ em; phục vụ cho quản lý, điều phối chương trình dân số, gia đình và trẻ

em ở cấp huyện; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về tình hình nhiệm vụ đượcgiao cho UBND huyện và Ủy ban dân số gia đình & trẻ em tỉnh và các cơ quan

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo việc thực hiện các quyđịnh của pháp luật về công tác dân số, gia đình và trẻ em trên địa bàn theo quyđịnh của pháp luật và phân công của UBND huyện

Ngày đăng: 28/09/2012, 16:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Số liệu cán bộ tại Trung Tâm Y Tế huyện  BảoYên ( năm 2003-2005) - Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai đến năm 2010.docx
Bảng 2 Số liệu cán bộ tại Trung Tâm Y Tế huyện BảoYên ( năm 2003-2005) (Trang 21)
Bảng 4: Số liệu về công tác giáo dục năm (2003 -2005). - Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai đến năm 2010.docx
Bảng 4 Số liệu về công tác giáo dục năm (2003 -2005) (Trang 22)
Bảng 4 số liệu Phòng Giáo Dục huyện. - Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai đến năm 2010.docx
Bảng 4 số liệu Phòng Giáo Dục huyện (Trang 23)
Bảng 5: Tình hình cán bộ Dân số, gia đình và trẻ em các xã, thị trấn. - Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai đến năm 2010.docx
Bảng 5 Tình hình cán bộ Dân số, gia đình và trẻ em các xã, thị trấn (Trang 31)
Bảng 7 :số liệu tổng hợp báo cáo UBDS,GĐ&TE huyện, xã, thị trấn. - Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai đến năm 2010.docx
Bảng 7 số liệu tổng hợp báo cáo UBDS,GĐ&TE huyện, xã, thị trấn (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w