1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG

34 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC QUỐC GIA VÙNG CHÂU THỔ SÔNG MÊ KONG VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN TÓM TẮT Châu thổ sông Mekong là vùng dễ bị tổn thương

Trang 1

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC

MÊ KÔNG

Nguy cơ đối với đa dạng sinh học, các dịch vụ của hệ sinh thái và phát triển

Trang 2

CÁC QUỐC GIA VÙNG CHÂU THỔ SÔNG MÊ KONG VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

TÓM TẮT

Châu thổ sông Mekong là vùng dễ bị tổn thương nhất nhất trên trái đất do sẽ phải hứng chịu những hậu quả nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Sự thay đổi đã xảy ra, tuy nhiên sự tồi tệ nhất vẫn còn ở phía trước

Đối với vùng châu thổ sông Mekong, biến đổi khí hậu đã và sẽ gây ra nhiều đe dọa đối với con người, đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên Dường như đây là một hệ quả mang tính dây truyền, ví dụ, khan hiếm nguồn nước sẽ dẫn tới giảm năng suất nông nghiệp, thiếu lương thực, việc làm và đói nghèo

Trong số các quốc gia thuộc vùng hạ lưu châu thổ sông Mekong, Lào và Cam pu chia được xác định là hai nước dễ bị tổn thương nhất của vùng, một trong những nguyên nhân là năng lực ứng phó với rủi ro từ biến đổi khí hậu của hai nước này còn hạn chế (Yusuf and Francisco, 2009) Nhìn chung, biến đổi khí hậu sẽ làm cho các nước trong khu vực vốn đã khó khăn nay lại càng trở nên khó khăn hơn

Thành phố Băng Kok đang bị chìm dần xuống biển với tốc độ

5-10 mm hàng năm Sự sụt lún do kiến tạo của địa tầng và khai thác nước ngầm kết hợp với tăng mức nước biển sẽ làm cho Bangkok bị ngập trong nước biển khoảng 50-100 cm vào năm

2025 (UNEP, 2009) Trên toàn khu vực châu thổ sông Mekong, nhiệt độ đang tăng lên, trong 50 năm vừa qua nhiệt độ đã tăng từ 0.5 tới 1.50C

Trong khi mùa mưa ở một số nơi trong vùng có thể bị ngắn lại, thì tổng lượng mua được dự báo là sẽ tăng lên Điêu này có nghĩa là sẽ có nhiều đợt mưa rất to xuất hiện trong một thời gian ngắn

Tần suất hạn hán và lũ lụt sẽ tăng lên, thực tế đã xảy ra và đã gây nên những hậu quả nặng nề đối với tài sản và tính mạng con người Mực nước biển dâng đang đe dọa các cộng đồng sinh sống trong vùng duyên hải của Châu thổ sông Mekong cũng như các hệ sinh thái trong vùng ven biển

Băng tan từ đỉnh Himalayas có thể gây nên những tác động xấu đối với dòng chảy chính của khu vực, các vùng đất ngập nước sẽ trở nên khô hạn hoặc lụt lội hơn Các tác động này đã xảy ra ở một trừng mực nào đó

Biến đổi khí hậu đang có ảnh hưởng đáng kể lên ngành nông nghiệp Nhiệt độ ấm lên đã làm giảm sản lượng Lũ lụt, hạn hán và bão tố đang gây ảnh hưởng tiêu cực lên sản lượng của tất cả ngành trồng trọt

Trong tương lai, hạn hán kéo dài và không dự báo được sẽ càng trầm trọng Lượng nước ngọt trong mùa khô sẽ bị suy giảm, hạn hán kéo dài sẽ gây ra tình trạng khan hiếm nước Khan hiếm nước sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng nông nghiệp và đe dọa an ninh lương thực

Ảnh hưởng xấu của biến đổi khí hậu đối với con người là vô cùng trầm trọng; những cư dân nghèo nhât trong vùng châu thổ sông Mekong sẽ là những người hứng chịu nhiều nhất (Oxfam, 2008) Có thể kể ra một số loại tác động do biến đổi khí hậu gây ra cho con người như gia tăng các trường hợp tử vong vì sóng nhiệt, dịch chuyển địa lý của các ổ dịch truyền nhiễm như sốt rét, sốt xuất huyết, tiêu chảy và viêm gan Biến đổi khí hậu còn gây mất nơi cư trú và di dân, quy mô và phạm vi của vấn nạn này có lẽ sẽ rất lớn và lớn hơn bất kì những nguyên nhân nào đã từng có trong lịch sử

Trang 3

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Các quốc gia trong vùng châu thổ sông Mekong phải chuẩn bị để đối phó với những hậu quả nghiêm trọng Cắt giảm một lượng lớn khí thải nhà kính ngay lập tức có vai trò sống còn để phòng ngừa những tác động tồi tệ nhất Tuy nhiên có một số tác động của biến đổi khí hậu

đã xảy ra và một số tác động không thể phòng tránh được

Tổng lượng khí thải CO2 được đưa vào khí quyển trong

200 năm vừa qua sẽ góp phần làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên ít nhất là 0.8˚C trong thế kỉ tới Đây là lý do vì sao hành động về biến đổi khí hậu trở nên rất quan trọng trong thời điểm này

“Con cháu chúng ta sẽ không bao giờ tha thứ cho chúng ta trừ phi chúng ta phải hành động ngay Thời gian không còn nhiều, chúng ta chỉ con 2 tháng trước hội nghị khí hậu quốc tế Copenhagen” Abhisit Vejjajiva, thủ tướng Thái Lan

đã phát biểu tại cuộc họp của UNFCCC tại Băng Kok Các quốc gia thuộc lưu vực sông Mekong phải có hành động quyết đoán và chuẩn bị đối phó với những tác động không tránh được của biến đổi khí hậu ngay từ hôm nay, nếu không hậu quả sẽ rất trầm trọng

Một cam kết khu vực để đối phó với đe dọa từ biến đổi khí hậu gây ra cho các hệ sinh thái ven biển, nước ngọt, lục địa là vô cùng quan trọng và rất cần thiết Điều phối

và hợp tác với nhau có tính chất nền tảng cho việc giảm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên tài nguyên thiên nhiên

và con người Trao đổi thông tin cũng vô cùng cần thiết để tăng cường năng lực và nâng cao hiểu biết

Con người, văn hóa và các hệ sinh thái có quyền được tồn tại Có hàng loạt các hành động chính sách, nếu được các quốc gia trong khu vực chấp nhận và thực hiện sẽ giúp giảm thiểu khủng hoảng cho các thế hệ hiện tại và tương lai

“Với tư cách là quốc gia có lượng phát thải khí nhà kính thuộc hàng khiêm tốn nhất trên thế giới, tuy nhiên chúng tôi vẫn cam kết góp sức vào nỗ lực toàn cầu để giải quyết vấn đề biến đổi khí hâu.” Tiến sĩ Thongloun Sisoulith, phó thủ thướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Lào đã phát biểu, theo thời báo Vientiane Times ra ngày 24/9/09

Thỏa thuận cấp vùng đầu tiên về ứng phó với biến

đổi khí hậu của châu Á

Mục đích nhằm giúp các quốc gia châu Á chuẩn bị đối mặt với những tác động không thể tránh được của biến đổi khí hậu, thỏa thuận này cần:

• Nhấn mạnh đến cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái, để duy trì khả năng tự phục hồi của vùng

• Củng cố hệ thống quản lý hiện hành và đảm bảo sự tham gia của tất cả các bên liên quan vào ứng phó với biến đổi khí hậu

• Phải hành động ngay từ bây giờ và sử dụng những hiểu biết hiện có vào công tác phòng chống biến đổi khí hậu

• Lồng ghép các biện pháp giảm nhẹ vào trong chiến lược ứng phó biến đổi khí hậu; đảm bảo có đầy đủ cơ

sở vật chất cần thiết cho các nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu

Trang 4

CÁC QUỐC GIA VÙNG CHÂU THỔ SÔNG MÊ KONG VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Phải chăng sự gia tăng phát thải khí nhà kính không được kiểm soát hiện nay sẽ biến phần lớn châu thổ sông Mekong thành nơi không thể cư trú được vào cuối thế kỷ này?

Để phòng tránh thảm họa này xảy ra, WWF mạnh mẽ khuyến cáo chính phủ của các quốc gia trong vùng châu thổ sông Mekong phải nỗ lực tìm kiếm thỏa thuận quốc tế khả thi nhất để ngăn chặn biến đổi khí hậu

Hạn chế gia tăng nhiệt độ toàn cầu tới mức dưới 20C so với nhiệt độ thời kỳ trước cách mạng công nghiệp sẽ góp phần phòng tránh được những tác động xấu nhất của biến đổi khí hậu

Để làm được việc này yêu cầu phải cắt giảm mạnh và ngay lập tức việc phát thải khí nhà kính

Tới năm 2020, lượng phát thải khí nhà kính phải được cắt giảm tới mức bằng lượng phát thải của năm 1990 Tới năm 2050, lượng phát thải khí nhà kính trên toàn cầu phải giảm xuống bằng 80% lượng phát thải của năm

1990

Góp phần đạt đến mục tiếp này, WWF và một hiệp đoàn lớn bao gồm những đối tác liên quan mạnh mẽ khuyến cáo các quốc gia giầu nhất và phát triển nhất cắt giảm lượng khí phát thải của họ tới mức thấp hơn 40% so với lượng phát thải của năm 1990 (tới thời điểm năm 2020) và các quốc gia đang phát triển giảm lượng phát thải xuống 30% vào thời điểm năm 2020

Những mục tiêu này sẽ hoàn toàn có thể thực hiện được nếu có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các nhà lãnh đạo chính trị, sự tham gia của tất cả các nước

và sự cảm nhận tính cấp thiết của biến đổi khí hậu mà báo cáo này nêu

ra

Trang 5

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

THÁCH THỨC: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề đã được xác định của

thời đại chúng ta và nó có tác động thay đổi nhanh chóng trái đất,

nơi chúng ta đang sinh sống

Phát thải khí nhà kính từ nhiều nguồn khác nhau như đốt cháy

nhiên liệu hóa thạch, phá hủy rừng và những hoạt động nông

nghiệp không bền vững đang làm cho trái đất nóng lên và làm thay

đổi toàn bộ khí hậu Gia tăng nhiệt độ trung bình của không khí và

đại dương trên quy mô toàn cầu, băng tan ở nhiều khu vực và nâng

cao mực nước biển là những bằng chứng khẳng định sự biến đổi khí

hậu của trái đất (IPCC, 2007) Khi lượng phát thải khi nhà kính tăng,

kéo theo sự biển đổi khí hậu và những tác động của nó tới thiên

nhiên và con người Cắt giảm mạnh và ngay lập tức phải thải khí

nhà kính trên quy mô toàn cầu là rất cần thiết để phòng tránh

những tác động xấu nhất của biến đổi khí hậu

Vùng Đông Nam Á đóng góp 12% lượng khí thải nhà kính tại thời

điểm năm 2000; so với năm 1990, lượng phát thải này đã tăng lên

27%, một tốc độ tăng nhanh hơn so với trung bình của toàn cầu

(ADB, 2009) Trong những năm gần đây, khu vực tiểu vùng sông

Mekong đóng góp vào khoảng 4,5% (xấp xỉ 2,2 Giga tấn) trong tổng

lượng khí phát thải (ADB, 2008) Mặc dù các quốc gia vùng châu thổ

sông Mekong đóng góp một phần nhỏ vào trong phát thải khí nhà

kính toàn cầu, nhưng lại là một trong những vùng có lượng khí

phát thải gia tăng nhanh nhất trên thế giới

Việc chuyển đổi tới một nên kính tế ít phát thải carbon sẽ giúp giảm

các tác động toàn cầu cũng như các tác động cấp vùng và địa

phương của biên đổi khí hậu; các tác động như đã nêu ra trong báo

cáo này sẽ trở nên ngày càng xấu Vào thời điểm hiện này, cần thiết

phải có chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu vì có nhiều tác

động của nó là không thể tránh khỏi

Vùng duyên hải dân cư đông đúc của các quốc gia thuộc lưu vực sông Mekong là vùng phải chịu nhiều rủi ro

nhất đối vấn đề xâm nhập mặn, ngập lụt do mực nước biển dâng,

và ngập lụt trên diện rộng do đỉnh lũ của sông Mekong, sông Red, sông Chao Phraya và các con sông khác trở nên cao hơn

Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong trong vùng sẽ tăng lên, đặc biệt là tiêu chảy chủ yếu có nguyên nhân từ

Các hệ sinh thái của khu vực nơi

mà con người sống phụ thuộc vào

sẽ thay đổi một cách nhanh chóng bởi vì các loài khác nhau có các phản ứng khác nhau với tác động cộng gộp của biến đổi khí hậu

Trang 6

CÁC QUỐC GIA VÙNG CHÂU THỔ SÔNG MÊ KONG VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Sự biến đổi đã bắt đầu

Sự xuất hiện xu thế khí hậu chung trong vùng châu thổ sông

Mekong đã được nghiên cứu; kết quả này đã giúp cho các nhà

khoa học đưa ra dự báo sự thay đổi của nó trong thời gian 50 tới

100 năm nữa trong tương lai (Eastham et al 2008, ADB 2009,

TKK and START 2009, WWF Australia 2009)

Có nhiều nhà khoa học lại cho rằng dự báo này là quá thấp và

vùng châu thổ sông Mekong có lẽ phải hứng chịu một điều kiện

khí hậu khắc nghiệt nhất tương đương với kịch bản khí hậu xấu

nhất như đã được IPCC dự báo lần gần đây Điều này sẽ gây nên

những tác động mạnh hơn nhiều so với những tác động được

IPCC dự báo vào năm 2007 (WWF Australia, 2009)

Những thay đổi nào đã xảy ra với các quốc gia trong vùng châu thổi sông Mekong?

Vùng châu thổ sông Mekong đang ấm dẫn lên Nhiệt độ trung bình ngày trong toàn vùng Đông Nam châu Á đã tăng từ 0.5 tới 1,50C trong giai đoạn

1951 - 2000 (IPCC, 2007) Nhiệt độ ở Thái Lan đã tăng lên từ 1.0 đến 1,80C trong vòng 50 năm vừa qua; nhiệt độ trung bình ban ngày trong tháng 4 đã tăng rất cao, tới 400C (ABD, 2009) Nhiệt độ ở Việt Nam tăng 0.70C trong cùng thời điểm (ADB, 2009)

Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất trong ngày cũng đã tăng lên (TKK & SEA START RC 2009)

Như một hệ quả tất yếu, tính từ năm 1950 trong cả vùng,

số ngày và đêm nóng tăng lên trong khi số ngày và đêm mát mẻ lại giảm xuống (Manton et al 2001) Sự thay đổi

về nhiệt độ cực điểm (và các sự kiện khí hậu khắc nghiệt) đã trở nên ngày càng phổ biến và có liên hệ với tác động của thay đổi khí hậu (Griffiths et al 2005) Vào cuối thế kỉ này, vùng châu thổ sông Mekong được

dự báo là sẽ nóng lên từ 2 đến 40C (IPCC 2007, ADB 2009) Trong vòng 20 năm tới, nhiệt độ trung bình trong toàn vùng châu thổ sông Mekong rất có thể sẽ tăng khoảng 0.790C với nhiệt độ tăng mạnh trong vùng phía bắc của khu vực (Eastham 2008)

Hình 3 Nhiệt độ trung bình tối thiểu ngày so với đối chứng của thập kỷ 80

Nguồn: SEA START RC 2009

Trang 7

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Châu thổ sông Mekong sẽ trở nên ẩm ướt hơn

Chế độ mưa trong vùng Đông Nam Á tương đối phức tạp do có nhiều dị biệt về địa hình và

ảnh hưởng của khí hậu đại dương (Trenberth et al 2007) Trong vùng châu thổ sông Mekong,

từ năm 1961 tới năm 1998, mặc dù số trận mưa rất to có giảm, nhưng lượng nước trong một

lần mưa của các trận này lại tăng lên (Manton et al 2001)

Trong một vài thập kỉ tới, tổng lượng mưa hàng năm sẽ tăng lên từ 5 đến 25% trong phần phía

bắc của châu thổ sông Mekong và sẽ tăng lên 50% vào cuối thể kỉ này (hình 4) Đồng bằng

sông Mekong là một ngoại lệ quan trọng vì lượng mưa ở đây lại giảm đi 15% trong thế kỉ này

(hình 4) Trong vùng này sẽ có nhiều bão lớn hơn và mùa khô được dự báo sẽ trở nên khô hơn

(TKK & SEA START RC 2009) Mặc dù thời gian của mùa mưa được dự báo là không dài ra ở

phần lớn vùng sông Mekong, tuy nhiên ở một số khu vực mùa mưa bị ngắn lại, ví dụ như

vùng Krabi, Thái Lan sẽ bị ngắn lại khoảng 1 tháng (WWF & SEA START RC 2008)

Hình 4: Lương mưa trung bình hàng năm: lượng mưa (phía trên) và lượng mưa thay đổi trong tương lai được so sánh với số liệu gốc năm 1980 (phía dưới) theo kịch bản biến đổi khí hậu A2

Nguồn: SEA START RC 2009

Trang 8

CÁC QUỐC GIA VÙNG CHÂU THỔ SÔNG MÊ KONG VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Hình 5: Sự thay đổi số ngày mưaở Kabi, Thái Lan những năm 2030 so với

những năm 1980

Nguồn: WWF và SEA START RC 2008

Hình 6: Sự thay đổi vè thời gian và độ dài của mùa mưa ở Kabi, Thái Lan những năm 2030 so với những năm 1990

Nguồn: WWF và SEA START RC 2008

Trang 9

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Vùng châu thổ sông Mekong là vùng rất dễ bị tổn thương vì mực nước biển

dâng

Thay đổi khí hậu đã làm cho mực nước biển dâng cao từ 1,7 tới 1,8 mm hàng

năm trong suốt thế kỉ vừa qua; và tăng với tốc độ 3mm / năm trong suốt thập

kỉ trước (ADB 2008) Rất nhiều vùng ven biển đã phải hứng chịu hậu quả của

nước biển dâng

Vùng châu thổ sông Mekong là vùng đặc biệt rủi ro bởi vì nó có đường bờ

biển dài và đồng bằng châu thổ chỉ cao hơn mực nước biển trung bình một

chút Thậm chí mực nước biển tăng lên một một lượng nhỏ đã có thể gây nên

một thảm họa trên diện rộng, khi gió mùa kết hợp với triều cường tạo nên

sóng lớn (đặc biệt là trong mùa bão) Hậu quả này sẽ gây nên ngập lụt trên

diện rộng và ở mức độ nghiêm trọng hơn, ví dụ như bão Linda và bão Nargis

Mức gia tăng mực nước biển ở đồng bằng châu thổ sông Mekong là khá lớn

khoảng 6 mm / năm và khoảng 13 tới 150 mm / năm ở đồng bằng châu thổ

Chao Phraya (Ryvitski et al 2009) Sụt đất do khai thác nước ngầm và do trầm

tích bị các đập thủy điện giữ lại đã và đang làm vùng đồng bằng châu thổ

sông Mekong chìm dần và mực nước biển dâng đang làm cho vấn đề trở nên

trầm trọng hơn (Ryvitski et al 2009, xem nghiên cứu điểm trong hộp số 1)

Xâm nhập mặn và mất đất đã đang và sẽ làm ảnh hưởng tới con người và sinh

kế của cộng đồng duyên hải tại Thái Lan và Việt Nam

Cho tới cuối thế kỉ này, mực nước biển dâng cao trong vùng đồng bằng châu

thổ sông Mekong sẽ làm ngập lụt khoảng một nửa (xấp xỉ 1,4 triệu ha) đất

canh tác của Việt Nam (Warner et al 2009) Mực nước biển dâng khoảng 1 m

sẽ làm ngập ¼ thành phố Hồ Chí Minh, thành phố lớn nhất của Việt Nam, nới

có hơn 6 triệu người sinh sống

Trang 10

CÁC QUỐC GIA VÙNG CHÂU THỔ SÔNG MÊ KONG VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Hộp số 1 Nghiên cứu điển hình: Mất đất ở Khok Kham, Vịnh Thái Lan

Biến đổi khí hậu không diễn ra một cách riêng lẻ Nó là một trong nhiều nhân tố gây áp lực lên các hệ sinh thái và sinh kế của người dân Trong vòng mười năm trở lại đây, người dân ở Khok Kham thuộc tỉnh Samut Sakhon đã theo dõi và nhận thấy biển đã xâm nhập 1km vào phần đất liền của bờ biển

Ông Vorapol, một trưởng thôn 48 tuổi đến từ huyện Khok Kham

đã phải di chuyển tám lần trong mười năm qua do xói mòn bờ biển Ngày nay, nơi gia đình ông sinh sống khi ông còn thơ bé đã

bị ngập chìm lấp hoàn toàn Cũng như nhiều người khác ở khu vực này, ông Vorapol kiếm sống từ nuôi tôm và nông nghiệp

Việc mất đất đai cũng đồng nghĩa với việc họ bị mất đi tài sản quý giá nhất và cả nguồn kiếm kế sinh nhai

Có nhiều lý do vì sao bờ biển đang bị nước mặn xâm nhập ở Samut Sakhon, tỉnh có vị trí gần Bangkok, nơi khai thác nước ngầm quá mức đã dẫn tới việc mặt đất do bị lún xuống Việc xây dựng các đập ở thượng nguồn các sông Chao Phraya và Tha Chin làm giảm dòng trầm tích chảy vào vịnh, làm suy yếu khả năng tự bổ sung của nó Việc rừng ngập mặn bị xâm lấn bởi những người nông dân nuôi tôm đã làm mất đi lá chắn bảo vệ tự nhiên cho vùng bờ biển, giảm khả năng chắn sóng và lưu giữ trầm tích Các nhân tố trên làm suy giảm các chức năng của hệ sinh thái dẫn tới xói mòn vùng bờ biển Biến đổi khí hậu khiến cho tình trạng này trở nên tồi tệ hơn

Gió mùa sẽ có cường độ mạnh hơn như là một kết quả của biến đổi khí hậu Điều này có nghĩa là sẽ có các đợt sóng lớn hơn tác động vào bờ biển dọc theo Vịnh Thái Lan Trong thời gian có gió mùa, nếu không có các khu rừng ngập mặn, một lượng trầm tích lớn sẽ bị rửa trôi ra ngoài biển, dẫn đến mất trầm tích Mực nước biển tăng sẽ làm vấn đề này ngày càng trầm trọng hơn

Trong nhiều năm qua, cộng đồng dân cư ở Khok Kham đã thử nhiều cách để giảm thiếu thiệt hại hoặc thích nghi với tình trạng trên Thường thì các thử nghiệm này dẫn đến những giải pháp thiển cận, chúng chỉ mang đến những tác động suy giảm trước mắt nhưng làm tồi tệ hơn vấn đề về dài hạn hoặc làm cho những giải pháp xấu này lại được nhân rộng ra trong vùng ven biển

Ở Khoh Kham, có một người đã đầu tư thời gian và sức lực để tìm kiếm một giải pháp lâu dài Ông Vorapol thông thạo khu vực này

và đã là nhân chứng chứng kiến sự leo thang của vấn đề Ông nhận ra rằng mấu chốt trong việc bảo đảm tính ổn định của bờ biển là phục hồi rừng ngập mặn

Mô hình Ông Vorapol thiết kế là xây dựng những hàng rào bằng tre hình dích dắc (zigzag) song song với bờ biển để lưu giữ trầm tích Thiết kế này không phải để ngăn dòng nước, vì bê tông mới làm được việc đó, các hàng rào này làm cho nước biển được từ từ lọc qua Vận tốc dòng chảy giảm cho phép trầm tích tích tụ, cung cấp lượng chất nền thích hợp cho việc trồng cây nhỏ ở rừng ngập mặn Trong suốt thập kỷ qua, các rừng ngập mặn đã tự nó đủ sức lưu giữ trầm tích và tự duy trì hệ sinh thái của nó từ rất lâu sau khi hàng rào bằng tre biến mất theo các con sóng biển

Những chiến lược như vậy cho thấy tri thức địa phương và các nguyên liệu tự nhiên có thể hỗ trợ các dịch vụ của hệ sinh thái, do

đó mang đến những giải pháp tốt hơn cho hệ thống hạ tầng hay các tiếp cận mang tính kỹ thuật Việc phục hồi rừng ngập mặn không những bảo vệ bờ biển mà còn tạo ra sinh cảnh cho vô số con

cá nhỏ và các loài động vật không có xương sống-những yếu tố cơ bản trong lưới thức ăn ở địa phương, từ đó hỗ trợ hệ sinh thái biển

và cả những ngư dân khu vực này

Trang 11

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Tần suất và cường độ các đợt lũ lụt, khô hạn và bão đang ngày càng tăng (Hoặc các đợt lũ lụt, khô hạn và bão đang diễn ra ngày càng dài ngày và với cường

độ mạnh hơn)

Tần suất xảy ra các sự kiện thời tiết khắc nghiệt cũng tăng lên Sóng nhiệt cũng trở nên phổ biến hơn (IPCC 2007) Số lượng các đợt bão nhiệt đới cũng cao hơn trong giai đoạn 1990-2003 (IPCC 2007) Với bờ biển dài và vị trí dọc theo vành đai bão tây bắc của Thái Bình Dương, UNDP đã xếp Việt Nam vào một trong mười nước trên thế giới có nguy cơ chịu ảnh hưởng bão lũ nhiệt đới nặng nề nhất (Chaudhry and Ruyschaert 2007) Trong vòng 40 năm qua, Việt Nam đã gặp ít cơn bão hơn, nhưng mức độ khắc nghiệt của chúng lại tăng lên (Niemnil et al 2008)

Năm 2000, những trận lụt gió mùa trên diện rộng hiếm có đã làm ngập lụt gần 800.000 km2 của Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam bao gồm một khu vực rộng thuộc Đồng bằng sông Mekong (Hình 7) Trong vòng 20-30 năm tới, các trận lụt ở Đồng bằng sông Mekong sẽ có khả năng làm ngập diện

tích đất lớn hơn với độ sâu cũng tăng lên (Hình 8) Các trận lụt này cũng đến sớm hơn hoặc muộn hơn phụ thuộc vào những thay đổi về dòng chảy và lượng nước mưa của khu vực

Hình 7 Diện tích bị ảnh hưởng lụt (màu xanh

nước biển đậm) ở khu vực đồng bằng sông

Mekong năm 2000

Nguồn: Warner et al 2009, courtesy of CARE

International and CIESIN at the Earth Institute of

Trang 12

CÁC QUỐC GIA VÙNG CHÂU THỔ SÔNG MÊ KONG VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Hộp 2: Vấn đề về tương lai của các khu đất ngập nước thuộc lượng lưu sông Mê-Kông

Lưu vực thượng lưu sông Mê-Kông nằm tại vùng cao nguyên Tây Tạng cũng là khu vực nhạy cảm đối với biến dổi khí hậu Trong vòng 40 năm từ năm 1955 đến 1996 nhiệt độ trung bình tại vùng cao nguyên Tây Tạng tăng 0.64ºC Vào thời điểm những năm 2050, nhiệt độ tại khu vực sẽ tăng lên thêm 2-2.7ºC so với mức năm 1990 (Wilkes 2008) Các sông băng khu vực cao nguyên, băng và tuyết là những bể chứa nước đóng băng tự nhiên chính sẽ đổ nước vào các khu vực đất ngập nước tại các khu vực có cao độ cao và chín sông lớn tại Châu Á, kể cả sông Mê-Kông, sông Irrawaddy và sông Salween (Xu 2008) Những vùng đất ngập nước tại các khu vực cao độ tương đối cao này đóng vai trò là các khu vực đệm về mặt giao động khí hậu Chúng có thể bù lượng nước thiếu do lượng mưa và mức độ tan băng thấp trong những năm khô hạn và lưu trữ nước vào những khi nhiều mây để làm giảm lượng băng tan trong những năm nhiều mưa Các khu vực đất ngập nước cũng là các yếu tố quan trọng trong bảo tồn và quản lý tài nguyên nước trên phạm vi vùng, phạm vị quốc gia và quốc tế

Các sông băng đầu nguồn sông Mê-Kông đang biến

mất

Các sông băng khắp thế giới, bao gồm cả ở khu vực cao

nguyên Tây Tạng góp phần vào lưu lượng đầu nguồn

cho sông Mê-Kông đang bị suy giảm do điều kiện gia

tăng về nhiệt độ Sự suy giảm này sẽ gây ra các tác động

nghiêm trọng đối chế độ thủy văn và nguồn nước ngọt

của nhiều lưu vực sông lớn ở Châu Á Tuy nhiên, Tại lưu

vực sông Mê-Kông, tác động vào dòng chảy tại các khu

vực hạ lưu sẽ rất nhỏ do diện tích và thể tích của lượng

băng là tương đối nhỏ (Eastham 2008) và bởi vì lưu

lượng băng tan chỉ góp 6.6% tổng lưu lượng (Xu 2008)

Hiểu biêt về tác động lên trầm tích và sinh thái của các

khu vực đật ngập nước tại các vị trí có cao độ tương đối

cao tại các vùng thượng lưu là hạn chế, nhưng lại là vấn

đề quan trọng (Xem hộp 2)

Trang 13

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Các tác động tích lũy tại các khu vực thuộc

Greater Mê-Kông

Biến đổi khí hậu đang gây ra các tác động về

sinh thái và kinh tế xã hội tại khu vực sông

Mê-Kông (Hình 9) Sự gia tăng về cường độ

và tần suất các hiện tượng khí hậu thái quá

như khô hạn, ngập lụt, và bão đang ảnh

hưởng đến sản xuất lương thực, thủy sản, và

lâm nghiệp Lượng và chất của tài nguyên

nước dang bị biến đổi Các điều kiện phát tán

các loài ngoại lai và các loại dịch bệnh như

sốt rét, sốt dengue ngày càng rõ ràng hơn

Khu vực này đang phải đấu tranh với sự mất

đất canh tác, và các vùng đất duyên hải do sự

dâng cao của mực nước biển, bão lụt lớn, xói

mòn bờ biển, sự xâm nhập mặn vào đất và

nước ngầm Người dân trong khu vực

Mê-Kông sẽ phải đổi mặt với các vấn đề về an

ninh lương thực nếu hệ thống gió mùa ở đây

bị thay đổi đáng kể Tất cả những yếu tố này

buộc con người phải rời bỏ quê hương và

cuộc sống để tìm kiếm các sinh kế khác Tất

cả các tác động này sẽ càng nặng thêm khi

trái đất ấm lên Khi khí hậu bắt đầu ấm lên

hơn, hàng triệu tấn mê tan từ các khu vực đất

đóng băng quanh năm tại cao nguyên Tây

Tạng sẽ được giải phóng ra và CO2 từ các

Axit hóa đại dương

Các hậu quả đối với hệ sinh thái

Tác động CaCO3 Giảm tốc độ sinh trưởng của san hô Gia tăng tôc độ phát triển của thực vật

Gia tăng sức cạnh tranh của các loài ngoại lai

Làm nghèo thành phần loài Làm nghèo rừng Chuyển từ các loài thuộc rừng thường xanh sang rụng lá sang chịu cháy

Các hậu quả kinh tế xã hội

Giảm sản lượng nuôi trồng thân mềm Giảm sản lượng đánh bắt trong các khu vực rạn san hô

Mất thu nhập từ các hoạt động du lịch dựa vào rạn san hô

Giảm lượng nước cấp Gia tăng các bệnh dịch có nguồn gốc từ môi trường nước

Giảm sản lượng trồng trọt Giảm các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ Tăng tần suất và cường độ cháy rừng Gây hư hại đường sá, cầu cống Làm giảm chất lượng nước

Nồng độ CO2 Nhiệt độ Lượng mưa

Hệ thống khí hậu

Giải phóng CO2

Hoạt động của con người

Trang 14

CÁC QUỐC GIA VÙNG CHÂU THỔ SÔNG MÊ KONG VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

CÁC TÁC ĐỘNG VỀ SINH THÁI

Greater Mê-Kông: cơ sở cho sự đa dạng sinh học

Khu vực Greater Mê-Kông là một trong những vùng vùng có

độ đa dạng sinh học cao vào bậc nhất thế giới Nơi đây có

mười sáu trong số 200 vùng sinh thái quan trọng mang tính

toàn cầu, có các cảnh quan quan trọng cấp quốc tế, được WWF

xác định Áp lực có nguồn gốc từ việc sử dụng không bền

vững hoặc phát triển không kiểm soát ngày càng gia tăng

đang đe dọa đến các sinh cảnh quan trọng này Các nguy cơ

bao gồm sự chuyển đổi sử dụng đất, chuyển đất rừng thành

đất canh tác nông nghiệp, khai thác gỗ không bền vững, buôn

bán động vật hoang dã, đánh bắt hải sản quá mức, xây dựng

đập nước, đường xá, khai thác koáng sản Khu vực Greater

Mê-Kông được xác định là một trong những khu vực nhạy

cảm nhất đối với biển đổi khí hậu Biến đổi hí hậu làm cho tác

động của các nguy cơ hiện hữu lên các sinh cảnh trên đất liền

và trong môi trường nước ngọt, vùng cửa sông, và các sinh

cảnh biển càng trở nên nghiêm trọng hơn (WWF 2009)

Khu vực Greater Mê-Kông là nơi tồn tại của nhiều cảnh quan

quan trọng như là Greater Annamites, rừng khô hạ lưu

Mê-Kông, và các vùng sinh thái Kayeh Karen Tenasserim (Kayeh

Karen Tenasserim Ecoregions - KKTE) Tất cả ba vùng đều là

những nơi có giá trị đa dạng sinh học cao về động thực vật và

chúng đều là những khu vực quan trọng của nhiều loài sinh

vật quí hiếm, đặc hữu, và đang bị đe dọa Ví dụ, khu vực đồi

và rừng montane nguyên sinh liên tục tại KKTE là sinh cảnh

của hai loài đang bị đe đe dọa bậc nhất ở châu Á là hổ và voi

châu Á

Trong điều kiện về sự độc đáo và quan trọng về mặt đa dạng sinh học của khu vực Greater Annamites, với 256 loại thú và 910 loài chim, các chính phủ Việt Nam, Lào đã thành lập 50 khu bảo vệ với khoảng 93,700 km2, cũng là nơi sinh sống của 37 triệu người thuộc 30 nhóm chủng tộc thiểu số khác nhau Sự bền vững của các khu rừng thuộc Greater Annamites và hệ thống sinh vật đối với các thay đổi về khí hậu trong suốt thời gian sinh thái đã tạo ra mức độ đặc hữu của các loài sinh vật tại khu vực (Baltzer và đồng sự 2001) Tuy nhiên, các trung tâm đa dạng sinh học

bị biến đổi mở rộng do tác động bởi sự thay đổi của khí hậu này sẽ có thể không còn là nơi cư trú của sinh vật trong tương lai nữa bởi vì các sinh cảnh hiếm là nền tảng của sự đa dạng sẽ có thể bị thu nhỏ lại trước những dự báo biển đổi khí hậu (Ohlemuller và đồng sự 2008) Hơn nữa, các biển đổi khí hậu trong quá khứ, không đồng thời với các áp lực (ví dụ các thay đổi trong sử dụng đất, loài ngoại lai, khai thác không bền vững, và săn bắt), đã làm giảm khả năng chống chịu của các khu rừng này Vì vậy, tốc độ phát triển nhanh của các hoạt động kinh tế trong các khu vực trong và lân cận rừng sẽ làm mất tính liên kết của chúng đến mức hệ sinh thái không còn có thể chống chịu khi điều kiện khí hậu thay đổi Hơn nữa, các tác động đến rừng có thể làm cho từ 8.5 đến 20 triệu người sống tại các vùng duyên hải của Việt Nam sẽ phải di chuyển trong thể kỷ tới là vấn đề cần qua tâm (Dasgupta và đồng sự 2007, Carew-Reid 2008)

Trang 15

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Sự biến đổi khí hậu có thể sẽ gây ra sự dịch chuyển về phân

bố loài mà điều này có thể có những tác đông to lớn về cấu

trúc các hệ sinh thái, thành phần loài và các tiến trình sinh thái

(Williams và đồng sự 2007) Sự dịch chuyển phân bố loài có

thể khác nhau tùy từng loài Có thể có những loài thích nghi

với sự thay đổi mà không cần phải dịch chuyển phân bố

(Bradshaw và đồng sự 2006), tuy nhiên hầu hết các loài là phải

dịch chuyển, và đây là nguy cơ tiềm năng dẫn đến sự diệt

chủng hàng loạt các loài (Stork và đồng sự 2007) Tại khu vực

điểm nóng về đa dạng sinh học Indo-Burma (gần như nằm

trong khu vực Greater Mê-Kông Region), người ta dự báo

rằng sẽ có từ 133 đến 2 835 loài thực vật và từ 10 đến 213 loài

động vật có xương sống có thể bị diệt chủng (Malcolm và

đồng sự 2006) Các tác động trực tiếp của biển đổi khí hậu phụ

thuộc vào độ nhạy cảm của từng loài và các quá trình sinh thái

(ví dụ như tốc độ quang hợp, giao phấn, phân tán hạt, di trú)

đối với sự thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa Sự thay đổi

trong cấu trúc rừng sẽ tác động lên các loài động vật trong

rừng Vì đây là nơi sinh sống của nhiều loài đăc hữu và hiếm

(ví dụ voi châu Á, hổ, chà vá, bò tót, bò rừng, Nai cà tong, sếu,

báo gấm, cu li, gà lôi lam mào đen và gà lôi lam mào trắng)

nên chúng càng có nguy cơ bị tác động bởi biến đổi khí hậu

Thêm vào đó, Trisurat và đồng sự (2009) nhận thấy rằng cùng

với tác động lên sự phân bố sinh vật ở vùng Bắc Thái Lan, cấu

trúc của các hệ sinh thái cũng thay đổi Họ cũng tìm thấy rằng

10 loài thực vật sẽ bị xếp vào loại gần tuyệt chủng và mất sinh

cảnh sống

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vì các loài cây rụng

lá theo mùa thường bền vững trước tác động của biến đổi khí hậu hơn các loài cây thường xanh, các loài cây thường xanh sẽ bị thay thế bởi các loài cây rụng lá theo mùa Sở dĩ cây rụng lá theo mùa chống chịu tốt hơn các loài cây thường xanh đối với các điều kiện khí hậu khô hạn là vì khả năng sử dụng nước một cách có hiệu quả làm cho chúng có thể sống tốt hơn trong điều kiện khô hạn (Trisurat và đồng sự 2009) Tuy nhiên, không phải là cây rụng lá theo mùa sẽ không phải chịu tác động Số ngày nắng tăng lên cùng với sự gia tăng về nhiệt độ sẽ làm thay đổi các khu rừng khô giàu, các diện tích khu vực cây thường xanh, các khu đất ngập nước theo mùa, các ao hồ độc lập, là những nguồn nước quan trọng và là nơi sinh sống của sinh vật trong mùa khô bị giảm xuống Hơn nữa, trong điều kiện thời tiết khô hạn, số vụ cháy rừng sẽ tăng lên

Tóm lại là động thực vật sẽ đối mặt với sự suy thoái, nhiều loài đối diện với nguy cơ tuyệt chủng nếu không thực hiện các biện pháp nào kịp thời Tuy nhiên, nếu chúng

ta có những biện pháp mạnh mẽ nhằm giữ gìn sự khoẻ mạnh cho các hệ sinh thái và làm giảm các nguy cơ phi khí hậu khác, các loài đăc hữu, quí hiếm và những hệ sinh thái rừng quan trọng sẽ được bảo tồn và phục hồi Duy trì và phục hồi các hệ sinh thái rừng sẽ làm tối ưu hóa sức chịu đựng đối với sự tác động của khí hậu, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau

Trang 16

CÁC QUỐC GIA VÙNG CHÂU THỔ SÔNG MÊ KONG VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Sông Mê-Kông: Nguồn nước của khu vực

Hệ thống sông Mê-Kông là một trong những hệ thống sông lớn thế giới và là

hệ thống sông lớn nhất Đông Nam Á Lưu vực sông Mê-Kông là nơi sinh sống

của hơn 65 triệu người Hộ sống phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên giàu có

của sông Mê-Kông Sông Mê-Kông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng chảy

qua các thung lũng hẹp của tỉnh Yunnan Trung Quốc Dòng sông chảy qua và

hình thành ranh giới tự nhiên của các nước Burma, Thái Lan, và Lào trước khi

chảy vào Cam-pu-chia Sông Mê-Kông chảy qua vùng đồng bằng rộng lớn của

Cam-pu-chia và Nam Việt Nam trước khi chảy vào Biển Đông Chế độ thuỷ

văn của sông Mê-Kông khá đặc biệt Trong suốt thời gian gió mùa Tây Nam,

từ tháng Năm đến tháng Chín, sông Mê-Kông làm cho sông Tonle Sap của

Lào chảy ngược dòng, làm cho diện tích mặt nước tăng lên gấp sáu lần và thể

tích nước sông tăng lên 38 lần (Kummu và đồng sự 2008) Chế độ thủy văn

này tạo ra sức sản xuất của hệ sinh thái thuộc sông Mê-Kông và sông Tonle

Sap (Lamberts và Koponen 2008)

Sông Mê-Kông là một trong những hệ thống sông có mức độ đa dạng sinh học

vào bậc nhất trên thế giới (Cruz và đồng sự 2007)

Hệ thống sông Mê-Kông có là cơ sở cho hệ thống sản xuất thủy sản nội địa

phát triển nhất thế giới với tổng trị giá thương mại khoảng 3 tỷ USD một năm

(MRC 2009) Một nghiên cứu của IUCN, IWMI, RAMSAR và WRI (2003) cho

thấy rằng lưu vực sông Mê-Kông có mật độ loài trên đơn vị diện tích (ít nhất

là 1 300 loài) lớn hơn sông Amazon Hệ thống sông Mê-Kông có nhiều loài cá

lớn hơn bât kỳ một hệ thống sinh thái nước ngọt nào trên thế giới Sự đa dạng

sinh học này là cơ sở cho sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên của

người dân sống dọc theo hai bờ sông Người dân sống dọc theo hai bờ sông

Mê-Kông sống dựa vào thủy sản làm nguồn đạm thực phẩm, vi chất dinh

dưỡng khác và là nguồn thu nhập chính cho gia đình

Lưu vực sông Mê-Kông là một trong số 9 lưu vực sông lớn nhất thế giới và nhạy cảm đối với sự biến đổi của khí hậu Các tác động về mặt thủy văn trong thế kỷ tới sẽ lớn hơn những thay đổi mà hệ thống này đã từng trãi qua do những dao đông về thời tiết trong suốt 9000 năm qua (Aerts và đồng sự 2006)

Tác động tổng hợp của biến đổi khí hậu, các áp lực phi khí hậu, và các đáp ứng đối với sự biển đổi khí hậu tạo ra nguy cơ đối với chính lưu vực sông và người dân sống bên trong lưu vực này Sự biến đổi khí hậu sẽ làm cho các nguy cơ phi khí hậu hiện tại càng nghiêm trọng hơn Các nguy cơ này bao gồm việc phát triển các đập thủy điện, sự mở rộng của hệ thống thủy lợi, và sự thay đổi dòng chảy Các đợt bão trong mùa mưa cộng với hiện tượng nước biển dâng và sóng do gió có thể là nguyên nhân của những đợt ngập lụt kéo dài tại các vùng hạ lưu của lưu vực (Keskinen 2008, Penny 2008) Đồng Bằng sông Mê-Kông được xem là khu vực đồng bằng có nguy cơ cao nhất trên thế giới đối với sự biến đổi khí hậu (Parry và đông sự 2007, Dasgupta 2007) bởi vì hàng triệu người dân sống ở đây sẽ chịu sự tác động và bởi vì khu vực này có tầm quan trọng to lớn trong sản xuất gạo Các thay đổi trong nguồn dinh dưỡng và

độ mặn của sông Mê-Kông do nước biển dâng sẽ là nguy cơ đối với các ngành công nghiệp sản xuất lúa gạo, thủy sản và cây ăn quả (Jacobs 1996, Kakonen 2008) Hơn nữa, nếu mực nước biển dâng lên 1m, sẽ nhấn chìm 9 khu vực đa dạng sinh học quan trọng của đồng bằng sông Mê-Kông (Hình 10, Carew-Reid 2008)

Trang 17

RỦI RO CHO ĐA DẠNG SINH HỌC, DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN

Hình 10: 1 mét mực nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến 9 khu vực quan trọng về đa dạng

sinh học của đồng bằng sông Mê-Kông

Sự gia tăng dần mực nước biển, nhiệt độ cao và các hiện tường thời tiết bất thường, ví dụ như hạn hạn, bão tố, là những nguy cơ thường xuyên sẽ tác động đến con người và nền kinh tế

Nguồn: Oxfam (2008)

Ngày đăng: 06/12/2015, 11:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3. Nhiệt độ trung bình tối thiểu ngày so với đối chứng của thập kỷ 80 - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình 3. Nhiệt độ trung bình tối thiểu ngày so với đối chứng của thập kỷ 80 (Trang 6)
Hình 4: Lương mưa trung bình hàng năm: lượng mưa (phía trên) và lượng mưa thay đổi trong tương lai được so sánh với số liệu gốc năm 1980 (phía dưới) theo kịch bản biến đổi khí  hậu A2 - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình 4 Lương mưa trung bình hàng năm: lượng mưa (phía trên) và lượng mưa thay đổi trong tương lai được so sánh với số liệu gốc năm 1980 (phía dưới) theo kịch bản biến đổi khí hậu A2 (Trang 7)
Hình 5: Sự thay đổi số ngày mưaở Kabi, Thái Lan những năm 2030 so với - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình 5 Sự thay đổi số ngày mưaở Kabi, Thái Lan những năm 2030 so với (Trang 8)
Hình 6: Sự thay đổi vè thời gian và độ dài của mùa mưa ở Kabi, Thái Lan những năm 2030 so với  những năm 1990 - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình 6 Sự thay đổi vè thời gian và độ dài của mùa mưa ở Kabi, Thái Lan những năm 2030 so với những năm 1990 (Trang 8)
Hình 7. Diện tích bị ảnh hưởng lụt (màu xanh - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình 7. Diện tích bị ảnh hưởng lụt (màu xanh (Trang 11)
Hình 8. Thay đổi ước tính về các khu vực bị ngập lụt trong khu vực đồng bằng sông Mekong trong  tương lai (bên phải), so sánh với hiện tại (bên trái) - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình 8. Thay đổi ước tính về các khu vực bị ngập lụt trong khu vực đồng bằng sông Mekong trong tương lai (bên phải), so sánh với hiện tại (bên trái) (Trang 11)
Hình 9: Các hậu quả về sinh thái và kinh tế xã hội của biến đổi khí hậu tại khu vực Greater Mê-Kông - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình 9 Các hậu quả về sinh thái và kinh tế xã hội của biến đổi khí hậu tại khu vực Greater Mê-Kông (Trang 13)
Hình thành ranh giới tự nhiên của các nước Burma, Thái Lan, và Lào trước khi - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình th ành ranh giới tự nhiên của các nước Burma, Thái Lan, và Lào trước khi (Trang 16)
Hình 11: Nhu cầu thủy sản có nguồn gốc từ nuôi trồng sẽ gia tăng, đặc biệt - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình 11 Nhu cầu thủy sản có nguồn gốc từ nuôi trồng sẽ gia tăng, đặc biệt (Trang 18)
Hình 12 thể hiện bản đồ của vùng chỉ - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình 12 thể hiện bản đồ của vùng chỉ (Trang 19)
Hình 13. Mật độ dân số tại khu vực Greater Mê-Kông.  Các cộng đồng dân cư lớn sống trong các khu vực duyên  hải đất thấp và các diện tích ngập lụt làm cho vùng này - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình 13. Mật độ dân số tại khu vực Greater Mê-Kông. Các cộng đồng dân cư lớn sống trong các khu vực duyên hải đất thấp và các diện tích ngập lụt làm cho vùng này (Trang 20)
Hình 14: Đồng bằng sông Mê-Kông khi mực nước biển dâng lên 1 mét (màu xanh đậm) trên bản đồ mật độ dân số (bên trái) và trên bản đồ phân - BIẾN đổi KHÍ hậu ở KHU vực mê KÔNG
Hình 14 Đồng bằng sông Mê-Kông khi mực nước biển dâng lên 1 mét (màu xanh đậm) trên bản đồ mật độ dân số (bên trái) và trên bản đồ phân (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w