Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Nam Hà Nội
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu -2
Chương 1 Tổng quan về hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn tại Ngân hàng thương mại (NHTM) -4
1.1 NHTM và các hoạt động của NHTM -4
1.1.1 Khái niệm NHTM -4
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM -6
1.2 Hoạt động cho vay của NHTM -6
1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay của NHTM -6
1.2.2 Các loại hình cho vay của NHTM -6
1.3 Hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn -9
1.3.1 Nhu cầu vốn ngắn hạn đối với doanh nghiệp -10
1.3.2 Đặc điểm của loại hình cho vay kinh doanh ngắn hạn -11
1.3.3 Các hình thức cho vay kinh doanh ngắn hạn -12
1.3.4 Quy trình cho vay kinh doanh ngắn hạn -16
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến cho vay kinh doanh ngắn hạn -17
1.4 Chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn -19
1.4.1 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn -19
1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn -24
Chương 2 Thực trạng cho vay kinh doanh ngắn hạn tại NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội -27
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội 2.2 Mô hình tổ chức của NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội -28
2.3 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội 2.3.1 Hoạt động huy động vốn -29
2.3.2 Hoạt động cho vay -29
2.3.3 Các loại hình dịch vụ -30
2.3.4 Các loại hình dịch vụ đặc biệt -30
2.3.5 Dịch vụ ATM -30
2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội31 2.4.1 Công tác huy động vốn -33
Trang 22.4.2 Công tác tín dụng -33
2.4.3 Công tác kinh doanh ngoại hối và phát triển sản phẩm dịch vụ -34
2.4.4 Công tác kế toán và tài chính -36
2.5 Hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn tại NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội -36
2.5.1 Quy trình cho vay kinh doanh ngắn hạn tại NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội -36
2.5.2 Thực trạng cho vay kinh doanh ngắn hạn tại NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội -42
2.6 Đánh giá về hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn tại NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội -46
2.6.1 Những kết quả đạt được -46
2.6.2 Những hạn chế và nguyên nhân -47
Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn tại NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội -51
3.1 Định hướng hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn tại NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội trong những năm tới -51
3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn tại NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội -52
3.2.1 Bảo đảm ổn định nguồn vốn -52
3.2.2 Đa dạng hoá phương thức cho vay kinh doanh ngắn hạn -53
3.2.4 Nâng cao chất lượng thẩm định -53
3.2.3 Đảm bảo thực hiện tốt quy trình cho vay -54
3.2.5 Nâng cao công tác kiểm soát trong khi cho vay -55
3.2.6 Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng -58
3.2.7 Phát triển hoạt động marketing Ngân hàng -59
Kết luận -60
Danh mục tài liệu tham khảo -61
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính trung gian lớn nhất tại bất cứquốc gia nào.Song song với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, hệ thống ngânhàng Việt Nam đang lớn mạnh không ngừng cả về quy mô lẫn chất lượng dịch vụcung cấp Trong danh mục dịch vụ của các ngân hàng thương mại thì cho vay doanhnghiệp (hay có thể gọi là cho vay kinh doanh) là hoạt động truyền thống, diễn rathường xuyên nhất và mang lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng Đồng thời thôngqua hoạt động cho vay, ngân hàng thương mại đã đóng góp một vai trò lớn trongviệc cung ứng vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững và hiệuquả Do vai trò quan trọng của hoạt động tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng là yêucầu nhất thiết đối với mọi ngân hàng thương mại, đặc biệt là trong môi trường cạnhtranh ngày càng gay gắt của hệ thống trung gian tài chính của Việt Nam hiện nay
NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội trong những năm qua đã khôngngừng mở rộng hoạt động cho vay các doanh nghiệp và đã thu được những thànhtựu đáng kể Đóng trên điạ bàn quận Thanh Xuân với rất nhiều công ty, doanhnghiệp lớn tiềm năng phát triển rất cao; nhu cầu vốn trên địa bàn là rất lớn và sẽ tiếptục tăng cao trong thời gian tới Đây là điều kiện thuận lợi để NHNNo & PTNT Chinhánh Nam Hà Nội mở rộng cho vay, nâng cao lợi nhuận Tuy nhiên trong việcnâng cao chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn của Chi nhánh còn gặp một sốkhó khăn Nếu tìm ra biện pháp tăng cường hoạt động này, NHNo&PTNT Chinhánh Nam Hà Nội có thể mở rộng tổng dư nợ cho vay, trong khi nhiều doanhnghiệp sẽ có được những khoản vốn cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình Do tầm quan trọng của vấn đề và qua thực tế tìm hiểu, nghiên cứutrong thời gian thực tập tại NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội, đặc biệt là được
sự giúp đỡ tận tình của cô giáo, Ths Cao Ý Nhi và Ban lãnh đạo cũng như toàn thểcán bộ Phòng Tín dụng NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội, em đã mạnh dạn
chọn đề tài chuyên đề thực tập tốt nghiệp " Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại NHNo&PTNT Chi nhánh Nam
Hà Nội ”.
Trang 4Nội dung chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay kinh doah ngắn hạn tại NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn tại NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội
Trang 5Chương 1: Tổng quan về hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn
của Ngân hàng thương mại
1.1 Khái niệm NHTM
1.1.1 Khái niệm NHTM
Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức trung gian tài chính, mà chứcnăng chính của các tổ chức này là đứng giữa người tiết kiệm và người đi vay, giúpchuyển vốn từ người này sang người kia tức là vay vốn của người cho vay và dùngtiền đó để cho người có nhu cầu vay vốn Vai trò của các trung gian tài chính nóichung và NHTM nói riêng rất quan trọng trong hệ thống tài chính vì chuyên mônhóa, thành thạo trong nghề nghiệp nên các tổ chức tài chính trung gian đáp ứng đầy
đủ, chính xác, và kịp thời và giảm chi phí giao dịch cho những yêu cầu của ngườicần vốn và người có vốn Để phân biệt với các loại hình tổ chức tài chính trung giankhác Có thể đưa ra khái niệm NHTM như sau:
NHTM là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên của nó là thu hút vốn thông qua những khoản tiền gửi phát séc, tiền gửi tiết kiệm và các khoản tiền gửi có kỳ hạn và sử dụng những khoản tiền đó để cho vay,chủ yếu là cho vay thương mại, ngắn trung và dài hạn và mua các chứng khoán của chính phủ
NHTM cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất và thựchiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức tài chính trung giannào Do vậy,NHTM là loại hình tổ chức tài chính trung gian phổ biến nhất và cóquy mô lớn nhất ở bất kì quốc gia nào.NHTM là tổ chức trung gian tài chính cungcấp các khoản tín dụng trả góp cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất, ngoài raNHTM cũng cung cấp vốn lưu động lớn nhất cho các doanh nghiệp và đang tăngcường mở rộng cho vay dài hạn đối với các doanh nghiệp để hỗ trợ việc xây dựngnhà máy mới hay mua sắm máy móc thiết bị mới
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
a Thay đổi tiền dự trữ
Trang 6Nhằm mục đích có nguồn vốn để cho vay, các NHTM đã phải tìmcách huy động vốn Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửicủa cá nhân hoặc tổ chức.Ngoài ra ngân hàng cũng có các hình thức huyđộng vốn khác như phát hành các chứng chỉ vay tiền hoặc vay tiền của các tổchức tín dụng khác hoặc vay ngân hàng nhà nước.Ngân hàng trả lãi cho cáckhoản tiền gửi và các khoản vay này và cam kết hoàn trả vốn gốc đúng hạn
b Tạo lợi nhuận từ việc cho vay
NHTM là một loại hình doanh nghiệp mà lĩnh vực kinh doanh của nó
là lĩnh vực tài chính, tiền tệ Hàng hoá kinh doanh là tiền Vì vậy hoạt độngsinh lãi chủ yếu của nó là hoạt động cho vay (còn gọi là hoạt động tíndụng).Chỉ có lãi suất thu được từ hoạt động cho vay mới bù nổi chi phí tiềngửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chiphí thuế và các chi phí rủi ro đầu tư NHTM có rất nhiều hình thức tín dụngkhác nhau để phục vụ nhu cầu của từng đối tượng khách hàng Tuy nhiên cóthể chia thành nhóm tín dụng cơ bản sau:
+ Chiết khấu thương phiếuKhách hàng có thể mang thương phiếu đến NHTM xin chiết khấu.NHTM sẽ giữ thương phiếu khách hàng đem đến đồng thời chuyển chokhách hàng một khoản tiền được tính bằng cách chiết khấu số tiền ghi trênthương phiếu theo lãi suất chiết khấu Ngoài ra NHTM còn có thể thu phíchiết khấu thương phiếu Thương phiếu NHTM thu được có thể đợi đến khiđáo hạn thì thu tiền từ người phát hành thương phiếu hoặc đem tái chiết khấutại Ngân hàng nhà nước trong trường hợp có nhu cầu thanh khoản Thôngqua phương thức chiết khấu, NHTM đã cung cấp cho khách hàng một khoảntín dụng ngắn hạn
+ Cho vayKhi các doanh nghiệp có nhu cầu vốn ngắn hạn để mua tài sản lưuđộng, hoặc có nhu cầu vốn dài hạn để mua sắm máy móc thiết bị, mở rộngsản xuất kinh doanh, hoặc các khách hàng cá nhân muốn có tiền để mua sắmôtô, nhà cửa, hoặc dùng để kinh doanh bất động sản, chứng khoán, họ có thểtìm đến NHTM để nộp đơn xin vay vốn NHTM sẽ tiến hành đánh giá, phân
Trang 7tích và tiến hành cung cấp vốn cho những đối tượng đáp ứng các yêu cầu củangân hàng Chi phí cho việc sử dụng các nguồn vốn này, khách hàng củangân hàng phải trả cho ngân hàng các khoản tiền lãi được tính dựa vào cácmức lãi suất mà ngân hàng tuỳ vào từng trường hợp cho vay Đây là nghiệp
vụ tín dụng phổ biến nhất trong ngân hàng Nghiệp vụ này đòi hỏi cácnguyên tắc nhất định để đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời ví dụnhư :Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn và lãi khi đến hạn; kháchhàng phải cam kết sử dụng tín dụng đúng mục đích được thoả thuận với ngânhàng; ngân hàng tài trợ dựa trên dự án có hiệu quả tức là đảm bảo khả năngsinh lời của dự án, trong trường hợp xét thấy kém an toàn thì ngân hàng đòihỏi tài sản đảm bảo
+ Cho thuê tài sảnĐây là nghiệp vụ tín dụng trong đó ngân hàng sẽ mua tài sản theo yêucầu của khách hàng rôi cho khách hàng thuê Cho thuê có hai hình thức chủyếu là cho thuê nghiệp vụ và cho thuê tài chính Cho thuê nghiệp vụ là chothuê trong thời gian ngắn, còn cho thuê tài chính là cho thuê trong thời giandài, sau thời gian thuê khách hàng có thể mua lại tài sản thuê
+Bảo lãnhBảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thưbảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngânhàng khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ như cam kết Có cáchình thức bảo lãnh như bảo lãnh tham gia dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợpđồng, bảo đảm thanh toán,vv…
1.2 Hoạt động cho vay của NHTM
1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay
Theo quyết định số 1627/QĐ-NHNN thì “cho vay là hình thức cấp tín dụng
mà theo đó các tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Như vậy hoạt động cho vay của ngân hàng có thể được hiểu là một hình thức ngânhàng chuyển vốn cho các khách hàng có nhu cầu về vốn và tất nhiên sau một
Trang 8khoảng thời gian nhất định, khách hàng sẽ phải hoàn trả lại ngân hàng số tiền nợgốc và một khoản tiền lãi Số tiền lãi này chính là khoản thu nhập của ngân hàng.
1.2.2 Các loại hình cho vay của NHTM
Các loại hình cho vay của ngân hàng được phân theo nhiều tiêu thức khác nhau
+ Phân theo thời hạn:
- Cho vay ngắn hạn : Các khoản cho vay có thời hạn vay từ 1 năm trởxuống được xếp là cho vay ngắn hạn Đối với cá nhân các khoản vay này đượcthực hiện thông qua các hình thức như cho vay từng lần hoặc thông qua việcphát hành thẻ tín dụng Đối với các doanh nghiệp,cũng có thể thông qua hìnhthức cho cho vay từng lần hoặc cấp hạn mức tín dụng cho khách hàng Cáckhoản cho vay dưới hình thức hạn mức tín dụng thường được đảm bảo bằnghàng tồn kho, các khoản phải thu, hoặc tài sản cố định.Các khoản vay ngắn hạn
có rủi ro thấp hơn cho vay trung và dài hạn do có thời hạn vay ngắn do đó lãisuất thấp hơn Đây là hình thức cho vay chủ yếu của các NHTM bởi vì nguồnhuy động của NHTM cũng chủ yếu là ngắn hạn, đồng thời ngân hàng cũng engại rủi ro lớn đối với các hình thức cho vay dài hạn
- Cho vay trung và dài hạn : Là các khoản vay có thời hạn vay trên 1năm Có nhiều cách xếp loại khác nhau, nhưng cách xếp loại thông thường làcho vay trung hạn là từ 1 đến 5 năm, cho vay dài hạn là trên 5 năm Các khoảnvay này thường có giá trị lớn được dùng để mua sắm đất đai, nhà cửa, máy mócthiết bị hoặc đầu tư xây dựng.Nguồn hoàn trả thường dựa trên các nguồn lưuchuyển tiền tệ lâu dài và ổn định Các khoản vay dài hạn thường được trả dầntheo các khoản thanh toán lãi và gốc theo quý hoặc tháng, lãi được tính là lãigộp.Do thời gian cho vay dài hơn nên khả năng xảy ra rủi ro tín dụng đối vớicho vay trung và dài hạn lớn hơn cho vay ngắn hạn, vì vậy lãi suất cho vay caohơn, và đòi hỏi nhiều yêu cầu hơn để đảm bảo an toàn tín dụng Các khoản vaydài hạn thường được đảm bảo bằng tài sản cố định, tài sản lưu động thườngđược ít được sử dụng để đảm bảo cho các khoản vay này
+Phân loại theo mục đích vay
Trang 9- Cho vay tiêu dùng: Giúp tài trợ cho cá nhân hay hộ gia đình trong việc
mua sắm nhà cửa, ôtô, trang thiết bị gia đình, hoặc trang trải các khoản phí vàchi phí cá nhân khác Loại hình cho vay có quy mô vốn lớn nhất và thời gian dàinhất trong cho vay tiêu dùng là cho vay bất động sản Các cá nhân hoặc hộ giađình muốn có một khoản vốn lớn để cải tạo nâng cấp ngôi nhà hoặc mua mộtngôi nhà, hoặc căn hộ mới, họ sẽ đến vay ngân hàng với cam kết sẽ thanh toánkhoản vay nhiều lần (bao gồm lãi và một phần vốn gốc) trong nhiều năm dựavào thu nhập hàng tháng của mình Thời gian vay có thể là vài năm nhưng cũng
có trường hợp đến trên 20 năm Các khoản vay này thường được đảm bảo bằngtài sản thuộc sở hữu của khách hàng hoặc là tài sản được hình thành từ vốn vay.Cho vay tiêu dùng là hình thức tín dụng đang phát triển trong những năm gầnđây, và mang lại khoản lợi nhuận cao cho các ngân hàng trên thế giới Tuy nhiênhình thức tín dụng này cũng mang lại nhiều rủi ro nhất cho NHTM bởi vì tìnhhình tài chính của cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tuỳ theotình trạng công việc và sức khỏe của họ Chính vì vậy mà loại hình cho vay tiêudùng cũng được quản lý chặt chẽ bởi các điều kiện để đảm bảo an toàn tín dụng
- Cho vay công nghiệp và thương mại : Giúp các doanh nghiệp trang trải
các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh và phát triển Có thểphân chia tiếp thành 2 loại cho vay:
_ Cho vay đầu tư vào tài sản lưu động : Giúp doanh nghiệp có mộtkhoản vốn ngắn hạn để trang trải chi phí mua sắm nguyên vật liệu, công cụ laođộng, trả lương cho công nhân viên, trong khi tiền bán hàng chưa thu được.Nguyên nhân của tình trạng này là do sự lệch về thời gian giữa các dòng tiền đivào và đi ra của doanh nghiệp Thông thường các khoản vay vốn lưu động đượcđảm bảo bằng các khoản phải thu hoặc được thế chấp bằng hàng tồn kho Ngânhàng cũng thường yêu cầu khách hàng phải có các khoản số dư bù tiền gửi Cáckhoản vay này được ngân hàng cấp cho khách hàng thông qua nhiều hình thứcrải ngân như cho vay từng khoản nhiều lần, hoặc cho vay luân chuyển dựa vàohạn mức tín dụng mà ngân hàng đưa ra
_ Cho vay đầu tư vào tài sản cố định : Giúp doanh nghiệp có mộtkhoản tiền lớn trong một thời gian dài để mua sắm tài sản cố định, công nghệmới nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh cả về chiều rộng và chiều sâu Do thời
Trang 10gian vay dài, khả năng xảy ra rủi ro tín dụng trong suốt kỳ hạn của khoản vay làcao hơn so với cho vay đầu tư tài sản lưu động Thông thường các khoản chovay này được trả dần trên cơ sở dòng tiền tương lai của doanh nghiệp Kế hoạchthanh toán sẽ được xây dựng phù hợp với chu trình chu chuyển tiền tệ của doanhnghiệp Tuy nhiên cũng có thể xuất hiện những điểm mà doanh nghiệp thiếu hụttiền mặt để trả cho ngân hàng do sự lệch pha giữa hai dòng tiền Một số trườnghợp khác, khoản vay được thanh toán lãi hàng kỳ, còn gốc thì được trả vào cuốicủa kỳ hạn vay Các khoản vay đầu tư vào tài sản cố định thường được đảm bảobằng tài sản cố định thuộc sở hữu người vay ( có thể chính là tài sản cố địnhđược mua bởi khoản vay)
- Cho vay dự án: Đây là loại hình cho vay kinh doanh có rủi ro cao nhất.
Các khoản cho vay này tài trợ cho các dự án mới dựa trên những khoản thu nhậpđược dự tính trong tương lai Các dự án ở đây có thể là dự án xây dựng các nhàmáy mới Việc này đòi hỏi một nguồn vốn lớn trong một thời gian dài, đồng thờichưa thể thu được lãi trong thời gian xây dựng của dự án Ngoài ra loại hình chovay này còn có thể xảy ra các rủi ro khác như các dự án đã được cấp vốn, trongquá trình xây dựng thì bị hoãn lại do điều kiện thời tiết hoặc do các quy địnhcủa địa phương; chi phí xây dựng có thể bất ngờ tăng cao, lãi suất có thể thayđổi gây bất lợi cho người cho vay Do rủi ro cao và quy mô vốn lớn nên cácNHTM tính toán rất kỹ khi tài trợ cho các khoản vay này, và thường thì NHTMtham gia đồng tài trợ với các tổ chức tài chính khác
- Cho vay kinh doanh chứng khoán : Những người kinh doanh chứng
khoán thường cần vốn ngắn hạn của ngân hàng để mua chứng khoán mới và duytrì danh mục đầu tư chứng khoán cho tới khi các chứng khoán này được bánhoặc được thanh toán Loại hình cho vay này có chất lượng cao bởi vì thời giancho vay thường ngắn, có các khoản vay chỉ diễn ra trong một đêm, và thườngđược đảm bảo bằng các chứng khoán của chính phủ mà khách hàng nắm giữ
- Cho vay nông nghiệp: Loại hình cho vay này nhằm hỗ trợ nông dân có
một khoản vốn nhằm mua sắm các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp nhưhạt giống, cây con, con giống, thuốc trừ sâu, phân bón,vv…
- Cho vay khác: Là các khoản vay chưa được xếp vào các loại trên
Trang 11+ Phân theo phương thức cho vay: Cho vay trả góp, cho vay từng lần, chovay theo hạn mức tín dụng,vv…
1.3 Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp
1.3.1 Nhu cầu vốn ngắn hạn đối với doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp cần đầu tư vốn vào tài sản ngắn hạn
và tài sản dài hạn Tài sản ngắn hạn bao gồm: vốn bằng tiền các khoản đầu tư ngắnhạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các loại tài sản ngắn hạn khác Về nguyêntắc, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn để đầu
tư cho tài sản ngắn hạn Tuy nhiên do nhu cầu vốn dài hạn để đầu tư cho tài sản dàihạn rất lớn nên doanh nghiệp khó có thể sử dụng nguồn vốn dài hạn để đầu tư chovào tài sản ngắn hạn Do vậy để đầu tư cho tài sản ngắn hạn doanh nghiệp thường
sử dụng nguồn vốn ngắn hạn
Vốn ngắn hạn có thể được hiểu là biểu hiện bằng tiền của của các tài sản ngắn hạn đầu tư vào sản xuất kinh doanh Vốn ngắn hạn có vòng quay nhiều lần trong một chu kỳ kinh doanh.
Nhìn vào bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp, chúng ta có thể thấy nguồnvốn ngắn hạn mà doanh nghiệp thường sử dụng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn gồmcó:
- Các khoản nợ phải trả người bán
- Các khoản ứng trước của người mua
- Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
- Các khoản phải trả khác
- Vay ngắn hạn từ ngân hàngThông thường doanh nghiệp thường tận dụng các nguồn vốn ngắn hạn sẵn
có Khi nào thiếu hụt thì sẽ sử dụng nguồn tài trợ của ngân hàng Sự thiếu hụt vốnngắn hạn của doanh nghiệp có thể do sự chênh lệch về thời gian hoặc quy mô giữadòng tiền vào và dòng tiền ra của doanh nghiệp hoặc do nhu cầu gia tăng tài sảnngắn hạn đột biến theo thời vụ Do vậy nhu cầu vốn ngắn hạn của doanh nghiệpcũng chia thành 2 loại:
+ Nhu cầu tài trợ vốn ngắn hạn thường xuyên:
Trang 12Nhu cầu tài trợ vốn ngắn hạn thường xuyên xuất phát từ sự chênh lệch haycòn gọi là sự không ăn khớp về thời gian hoặc quy mô giữa dòng tiền vào và dòngtiền ra của doanh nghiệp Dòng tiền vào của doanh nghiệp bao gồm tiền bán hàng,các khoản tiền được trả Ngược lại khi doanh nghiệp phải mua hàng dự trữ, thanhtoán các khoản phải trả thì có dòng tiền ra Dòng tiền vào và dòng tiền ra khôngphải lúc nào cũng ăn khớp nhau Nếu trong một khoảng thời gian nào đó dòng tiềnchi ra lớn hơn dòng tiền thu vào thì doanh nghiệp cần phải bổ sung khoản thiếu hụt.Khoản thiếu hụt này trước hết bổ sung từ vốn chủ sở hữu hoặc các khoản nợ phảitrả khác mà doanh nghiệp có thể huy động được Phần còn lại doanh nghiệp phải đivay ngân hàng Đây là nguyên tắc mà cán bộ tín dụng cần nắm vững để xác địnhhạn mức tín dụng sau này.
+ Nhu cầu tài trợ vốn ngắn hạn thời vụ
Ngoài nhu cầu tài trợ vốn ngắn hạn thường xuyên, doanh nghiệp còn có nhucầu tài trợ vốn ngắn hạn mang tính chất thời vụ Nhu cầu này xuất phát từ đặc điểmthời vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh khiến cho nhu cầu tài sản ngắn hạn tăngđột biến Ví dụ như một công ty sản xuất quần áo mùa đông sẽ có nhu cầu tăng vốnđầu tư cho nguyên vật liệu tăng đột biến trong khoảng thời gian cuối mùa thu Khi
ấy doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng để tài trợ cho nhu cầu tăng đột biến này.Như vậy trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầuvốn ngắn hạn, thường xuyên hoặc thời vụ Chính nhu cầu tài trợ này là cơ sở chongân hàng thực hiện cấp tín dụng cho doanh nghiệp Điều này có lợi cho cả haiphía Về phía doanh nghiệp, việc cấp tín dụng của ngân hàng giúp doanh nghiệp đápứng được nhu cầu vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Về phía ngânhàng, việc cấp tín dụng giúp ngân hàng thu được lợi nhuận ngày càng tăng
1.3.2 Đặc điểm của loại hình cho vay kinh doanh ngắn hạn
Ngoài các đặc trưng chung của các loại hình cho vay của ngân hàng, cho vaykinh doanh ngắn hạn có các đặc điểm riêng sau:
+ Cho vay kinh doanh ngắn hạn thuộc loại hình cho vay công nghiệp vàthương mại: Tài trợ vốn cho các doanh nghiệp để phục vụ cho quá trình sản xuấtkinh doanh, trang trải cho các chi phí như mua hàng nhập kho, trả lương cho côngnhân viên, hoặc đầu tư vào tài sản cố định Những doanh nghiệp có nhu cầu vốn
Trang 13lắp Nguồn trả nợ là tiền bán hàng hay tiền thu được khi bàn giao công trình đối vớicác công ty xây dưng, xây lắp.
+ Cho vay kinh doanh ngắn hạn thuộc loại hình cho vay ngắn hạn: Thời hạnvay là từ một năm trở xuống Vốn vay chỉ được sử dụng trong một thời gian ngắn
để chi trả ngay các khoản chi phí trong trường hợp không trùng khớp giữa dòng tiền
ra và dòng tiền vào của doanh nghiệp, hoặc để đáp ứng nhu cầu thời vụ Đối với cáccông ty xây dựng xây lắp, vốn vay ngắn hạn của ngân hàng giúp công ty chi trả cácchi phí xây dựng ban đầu trước khi nhận được vốn từ chủ đầu tư Cho vay kinhdoanh ngắn hạn vì vậy có rủi ro thấp hơn cho vay dài hạn nên có lãi suất thấp hơn
1.3.3 Các hình thức cho vay kinh doanh ngắn hạn
+ Cho vay thấu chiThấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó NH cho phép người vay đượcchi vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời hạn nhất định vàtrong một khoảng thời gian nhất định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi
Để được thấu chi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi và thời gianthấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng) Trong quá trình hoạt động,khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt quá số dư tiền gửi đểchi trả (song trong hạn mức thấu chi) Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiềngửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi Số lãi mà khách hàng phải trả :
Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi × Thời gian thấu chi × Số tiền thấu chi
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sửdụng hình thức này Thấu chi dựa trên cơ sở sự lệch pha giữa dòng tiền vào và dòngtiền ra của doanh nghiệp về quy mô và thời gian Do vậy hình thức cho vay này tạođiều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thanh toán: chủ động, nhanh,kịp thời
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn
là không có bảo đảm, có thể cấp cho doanh nghiệp trong vài ngày trong tháng hoặcvài tháng trong năm để chi các khoản phải trả, mua hàng dự trữ, vv Hình thức nàythường chỉ áp dụng đối với những khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn
và kì thu nhập ngắn
Trang 14Thòi hạn vay : Quy mô và thời hạn cho vay
+ Cho vay trực tiếp từng lầnĐây là loại hình cho vay thường được áp dụng cho những khách hàngkhông có nhu cầu vay vốn thường xuyên, không có điều kiện để cấp hạn mức thấuchi Những doanh nghiệp sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủyếu để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn, khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộngsản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng Mỗi lần vay, doanh nghiệp phải làm đơn vàtrình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và
ký hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn rải ngân, thời hạn trả, lãisuất và yêu cầu đảm bảo nếu cần theo từng hồ sơ cụ thể
Hình 1: Cho vay từng lần
- Xác định số lượng cho vay
Số lượng cho vay = Nhu cầu tài trợ - Vốn chủ sở - Các nguồn vốn
vốn ngắn hạn hữu tham gia tham gia khácTrong đó:
Nhu cầu tài trợ = Nhu cầu vốn ngắn hạn – Giá trị tài sản và chi phí khôngvốn ngắn hạn đối tượng tài trợ của ngân hàng
Quy mô vay
Trang 15* Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:
Số lượng cho vay = Giá trị tài sản đảm bảo × Tỷ lệ cho vay trên
giá trị TSĐBTheo từng kỳ hạn trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi Trong quátrình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sửdụng, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn, hoặcchuyển nợ quá hạn Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi
Nghiệp vụ cho vay từng lần này tương đối đơn giản đối với ngân hàng, ngânhàng quản lý được tách biệt từng món vay Tuy nhiên đối với doanh nghiệp thì mấtthời gian cho việc làm các thủ tục vay Doanh nghiệp không sử dụng hiệu quảnguồn vốn do vào một thời điểm khách hàng vừa có số dư nợ trên tài khoản vay,vừa có số dư có trên tài khoản tiền gửi
+ Cho vay theo hạn mức tín dụngĐặc điểm của loại cho vay này là một hồ sơ xin vay dùng để xin vaycho nhiều món Khi doanh nghiệp làm hồ sơ xin vay, ngân hàng tiến hành phân tíchtín dụng, và nếu đồng ý cho vay 2 bên sẽ ký kết hợp đồng tín dụng trong đó ngânhàng sẽ xác định hạn mức tín dụng cấp cho doanh nghiệp Theo loại hình cho vaynày, NH sẽ thoả thuận cấp cho doanh nghiệp một hạn mức tín dụng Hạn mức tíndụng có thể được hiểu là mức dư nợ tối đa tại thời điểm tính Trong kì khách hàng
có thể vay, trả nhiều lần song không được vượt quá hạn mức tín dụng Hạn mức tíndụng có thể được tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ
Hình 2: Cho vay theo hạn mức tính cho cả kỳ
dư nợ
Thời gian
Hạn mức
Trang 16Hình 3: Cho vay theo hạn mức tính cho cuối kỳ
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhucầu vốn và nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp Ngân hàng ước lượng hạn mức tíndụng với các doanh nghiệp như sau:
Bước 1: Xác định dự trữ hợp lý cao nhất trong kỳ (hoặc cuối kỳ) trước
Dựa trên dự trữ hợp lý cao nhất kỳ trước, loại trừ dự trữ bất hợp lý
Dự trữ cao nhất = Dự trữ thực tế - Hàng kém phẩm chất, chậm luân chuyểnhợp lý kỳ trước cao nhất hàng không thuộc đối tượng cho vay
của ngân hàngBước 2: Xác định dự trữ hợp lý cao nhất hợp lý kỳ này
Dự trữ cao nhất = Dự trữ cao nhất hợp lý + Tăng (giảm) dự trữ + Tăng (-giảm) dựhợp lý kỳ này kỳ trước do giá hàng hoá trữ do kế hoạch
tăng (giảm) tăng (giảm) sản
Trang 17Hạn mức tín dụng = Dự trữ cao nhất - Vốn chủ sở hữu – Các nguồn kháccao nhất trong kỳ hợp lý kỳ này tham gia dự trữ tham gia dự trữ
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộpcác chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay Sau khikiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền chokhách hàng
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng có nhu cầu vayvốn ngắn hạn thường xuyên Trong nghiệp vụ này, ngân hàng không ấn định trướcngày trả nợ, khi khách hàng có thu nhập NH sẽ thu nợ do đó tạo chủ động quản lýngân quỹ cho doanh nghiệp, vốn được sử dụng hiệu quả Tuy nhiên do các lần vaykhông tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng không khó kiểm soát hiệuquả sử dụng từng lần vay Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi doanh nghiệpnộp báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút
+ Cho vay chiết khấu giấy tờ có giá:
Khách hàng có thể mang thương phiếu đến NHTM xin chiết khấu.NHTM sẽ giữ thương phiếu khách hàng đem đến đồng thời chuyển cho khách hàngmột khoản tiền được tính bằng cách chiết khấu số tiền ghi trên thương phiếu theo lãisuất chiết khấu Ngoài ra NHTM còn có thể thu phí chiết khấu thương phiếu.Thương phiếu NHTM thu được có thể đợi đến khi đáo hạn thì thu tiền từ người pháthành thương phiếu hoặc đem tái chiết khấu tại Ngân hàng nhà nước trong trườnghợp có nhu cầu thanh khoản Thông qua phương thức chiết khấu, NHTM đã cungcấp cho khách hàng một khoản tín dụng ngắn hạn
1.3.4 Quy trình cho vay kinh doanh ngắn hạn
B1: Tiếp nhận hồ sơ và thu thập thông tin về doanh nghiệp đi vay
Một khoản cho vay thường bắt đầu từ cuộc tiếp xúc giữa cán bộ tín dụng với doanhnghiệp có nhu cầu vay, qua đó cán bộ tín dụng tìm hiểu về lý do xin vay, nhu cầutín dụng của doanh nghiệp Trong quá trình này doanh nghiệp cũng được hướng dẫn
về thủ tục và hồ sơ vay vốn cần cung cấp cho ngân hàng
+ Nội dung hồ sơ
Trang 18- Hồ sơ pháp lý: Gồm quyết định thành lập doanh nghiệp, điều lệ công ty,đăng ký kinh doanh, quyết định bổ nhiệm chủ tịch hội đồng quản trị - giám đốc- kếtoán trưởng
- Hồ sơ tài chính: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, thuyếtminh báo cáo tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo tình hình sản xuất kinhdoanh luỹ kế từ đầu năm
- Hồ sơ về khoản vay: Phương án sản xuất kinh doanh, kế hoạch vay vốn trả
nợ, các chứng từ chứng minh cho phương án vay vốn và trả nợ
- Hồ sơ về tài sản đảm bảo (nếu cho vay có tài sản đảm bảo): Bảng kê khai
về tài sản đảm bảo tiền vay, các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp và đầy
đủ đối với tài sản bảo đảm, các văn bằng chứng nhận giá trị tài sản đảm bảo củacác cơ quan thẩm định độc lập
B2: Thẩm định và lập báo cáo thẩm định
Khi toàn bộ các tài liệu cần thiết đã được cung cấp, cán bộ tín dụng sẽ tiếnhành đánh giá khách hàng, phân tích các báo cáo tài chính… nhằm đánh giá nănglực vay nợ, uy tín của người vay, đánh giá năng lực cạnh tranh của khách hàng trênthị trường, phân tích năng lực tài chính của khách hàng qua việc tính toán các tỷ lệ,đánh giá các dòng tiền và các tài sản dự phòng của khách hàng có đủ để trả nợ haykhông Ngoài ra thông qua kết quả phân tích kết hợp với nhu cầu xin vay của doanhnghiệp, ngân hàng sẽ xác định được lượng vốn hợp lý ngân hàng có thể cung cấpcho doanh nghiệp Kết quả phân tích sẽ được thể hiện trong một báo cáo tóm tắt đểgửi cho những người có thẩm quyền theo quy định của ngân hàng xem xét quyếtđịnh
B3: Ký kết hợp đồng tín dụng và tiến hành giải ngân
Sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu đơn xin vay của doanhnghiệp được chấp nhận, các thủ tục cần thiết sẽ được hoàn tất và các bên liên quan
sẽ ký hợp đồng tín dụng và tiến hành giải ngân
B4: Kiểm soát trong khi cho vay và kết thúc hợp đồng :
Trong thời hạn của hợp đồng tín dụng, cán bộ tín dụng sẽ luôn theo dõikhoản vay này để đảm bảo doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam
Trang 19kết, và sử dụng vốn có hiệu quả Nếu có bất cứ một dấu hiệu nào đáng ngờ đềuđược xem xét cẩn thận, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp xử lý như ngừng rảingân, hoặc huỷ bỏ hợp đồng…
Kết thúc một khoản vay, cán bộ tín dụng sẽ tổng kết và lưu trữ thông tin vềkhoản vay để có thể sử dụng khi cần thiết
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến cho vay kinh doanh ngắn hạn
Cho vay kinh doanh ngắn hạn là một hoạt động kinh tế giữa hai chủ thể đó làngân hàng thương mại và doanh nghiệp Mục đích của nó là doanh nghiệp có vốn
để đầu tư vào sản xuất kinh doanh còn ngân hàng thì thu được lợi nhuận thông qualãi thu từ khoản cho vay Hoạt động này diễn ra khi có sự khớp nhau giữa nhu cầucần vốn của doanh nghiệp và nhu cầu cho vay của ngân hàng Vì vậy nhân tố chínhảnh hưởng đến hoạt động này chính là doanh nghiệp và ngân hàng Ngoài ra, cácdoanh nghiệp và ngân hàng luôn hoạt động và phát triển trong một môi trường kinh
tế, xã hội và pháp luật và sự thay đổi của môi trường này cũng sẽ ảnh hưởng đếnhoạt động cho vay và đi vay ngắn hạn giữa doanh nghiệp và ngân hàng Có thể chianhững yếu tố ảnh hưởng đến cho vay kinh doanh ngắn hạn thành những mục sau
- Về phía doanh nghiệp: Doanh nghiệp là người đưa ra quyết định đi vay.Quyết định đi vay được đưa ra sau khi doanh nghiệp phân tích tình hình hoạt độngsản xuất kinh doanh của mình, nguồn vốn tự có có thể tài trợ cho sự mở rộng hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Nếu nguồn vốn tự có hoặc các nguồn vốn tíndụng thương mại không đủ cho nhu cầu sản xuất, chi trả trong ngắn hạn thì bắt buộcdoanh nghiệp phải tìm đến ngân hàng
- Về phía ngân hàng: Việc mở rộng hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn
là tuỳ thuộc vào chiến lược hoạt động của từng ngân hàng Có ngân hàng tập trungvào cho vay các dự án đầu tư lớn có thời gian cho vay dài Có ngân hàng lại chủ yếucho vay tiêu dùng, Tuy nhiên ở hầu hết các ngân hàng thương mại thì cho vay kinhdoanh ngắn hạn vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu cho vay Lí do là cho vayngắn hạn thì rủi ro thấp hơn cho vay trung và dài hạn, sự lưu chuyển của dòng vốnnhanh hơn và phù hợp với cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mạitrong đó vốn ngắn hạn chiếm tỉ trọng cao nhất
Trang 20- Môi trường kinh tế: Trong một môi trường kinh tế ổn định, nhiều doanhnghiệp làm ăn phát đạt thì nhu cầu vay vốn ngắn hạn càng tăng cao Do đó hoạtđộng cho vay kinh doanh ngắn hạn của ngân hàng cũng có điều kiện phát triển Cònnếu môi trường kinh tế không ổn định, thị trường tài chính, tiền tệ biến động khólường, nhiều rủi ro tiềm ẩn, các doanh nghiệp không có môi trường cạnh tranh lànhmạnh thì hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn cũng khó có điều kiện phát triển.
- Môi trường pháp luật: Hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn là hoạtđộng kinh tế, do đó nó cũng chịu sự tác động, điều chỉnh của các quy định của nhànước Để đảm bảo cho hoạt động cho vay được an toàn, đảm bảo lợi ích cho cả 2bên doanh nghiệp và ngân hàng, Nhà nước đã cho ra đời nhiều văn bản quy định cụthể như Quy chế cho vay, quy định về cho vay có bảo đảm vv Doanh nghiệp,ngân hàng khi thực hiện các hoạt động cho vay ngắn hạn bắt buộc phải tuân thủnhững quy định này Sự điều chỉnh của các quy định sẽ có tác động thúc đẩy hoặckiềm chế sự phát triển của hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn cũng như ảnhhưởng đến chất lượng của nó
1.4 Chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn
1.4.1 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn
Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt Sản phẩm của ngân hàngkhông phải là hàng hoá thông thường mà là các loại hình dịch vụ mà ngân hàngcung cấp cho các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế Đối với các doanh nghiệp,ngân hàng thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hoá
dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị Khi doanh nghiệp và ngườitiêu dùng muốn thanh toán các khoản mua hàng hoá và dịch vụ, họ thường sử dụngséc, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử… Và khi họ cần thông tin tàichính hay lập kế hoạch tài chính, họ thường đến các ngân hàng để nhận các lời tưvấn Trong các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì hoạt động cho vay làhoạt động cơ bản nhất của ngân hàng, mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng.Mặt khác hoạt động cho vay của ngân hàng cũng mang lại nhiều lợi ích cho nênkinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò trung gian giữa những người tiết kiệm vàđầu tư Qua đó nguồn vốn của nền kinh tế được sử dụng hiệu quả hơn Như vậy chovay là một loại hình dịch vụ quan trọng của ngân hàng Do đó nâng cao chất lượng
Trang 21cho vay của ngân hàng không những là mục tiêu của ngân hàng mà cũng là mongmuốn của các cá nhân, doanh nghiệp là khách hàng của ngân hàng Chất lượng chovay kinh doanh ngắn hạn cũng tương tự như chất lượng tín dụng nói chung củangân hàng được đánh giá theo cả hai giác độ : Về phía ngân hàng và về phía doanhnghiệp
- Về phía ngân hàng, chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn gắn liền với
sự an toàn của vốn cho vay Tức là đảm bảo thu hồi được nợ gốc và lãi đúng hạn.Đồng nghĩa với việc khoản cho vay đó không trở thành khoản vay quá hạn hay nợxấu Một khoản cho vay tốt là doanh nghiệp đi vay trả nợ và lãi đúng số lượng vàođúng thời gian quy định Do đó doanh nghiệp cho vay phải là doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả, sử dụng hợp lý vốn vay
Ngoài ra chất lượng của cho vay kinh doanh ngắn hạn còn liên quan đến lợinhuận mà nó mang lại Ở đây cần tính đến sự cạnh tranh giữa các ngân hàng vớinhau Một ngân hàng muốn thành công cần phải đầu tư các khoản cho vay của mìnhvào những dự án kinh doanh có hiệu quả cao, trên cơ sở đó thu được lãi cao nhờkhoản cho vay đó Một khoản cho vay tốt không những phải thu được nợ gốc và lãiđúng hạn, mà khoản tiền thu được phải bù đắp được những chi phí mà ngân hàngchi ra như chi phí huy động, chi phí quản lý để đảm bảo có một khoản lợi nhuậnhợp lý, cao hơn so với các ngân hàng khác
- Đối với doanh nghiệp, hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn của ngânhàng đã cung cấp cho doanh nghiệp nguồn vốn ngắn hạn phục vụ cho các nhu cầuvốn thường xuyên và thời vụ của mình, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanhđược liên tục Vốn là một yếu tố đầu vào quan trọng của doanh nghiệp Muốn cóvốn doanh nghiệp phải mất chi phí Do đó có vốn và sử dụng vốn đạt hiệu quả caonhất là mục tiêu của mọi doanh nghiệp Vốn vay kinh doanh ngắn hạn thườngxuyên là vốn doanh nghiệp cần để mua sắm hàng dự trữ hoặc chi trả các chi phíkhác trong khoảng thời gian chưa thu được tiền bán hàng Các doanh nghiệp có nhucầu vốn thường xuyên là các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh đượcdiễn ra một cách liên tục Do đó vốn vay của ngân hàng phải đủ để doanh nghiệptrang trải các chi phí đồng thời phải được cung ứng ngay khi cần để tránh tình trạnglàm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh Ngoài ra vốn được cung ứng vừa đủvới nhu cầu để tối thiểu hoá chi phí đi vay Để làm được điều này, cả ngân hàng lẫn
Trang 22doanh nghiệp cần phải phối hợp với nhau trong việc xác định nhu cầu vốn vay ngắnhạn cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp đi vay thì phải trả lãi cho việc sử dụng vốn vay Một khoảnvay có chất lượng còn phải là khoản vay có lãi suất hợp lý Nếu lãi suất quá cao,doanh nghiệp phải trả một cái giá quá đắt thì doanh nghiệp không thể đáp ứng được,còn nếu chấp nhận vay thì lãi suất cao sẽ khiến chi phí đầu vào cao, do đó giá thànhsản phẩm tăng làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Một yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng của khoản cho vay kinh doanhngắn hạn là thủ tục của nó Một khoản cho vay có chất lượng là phải có thủ tục đơngiản thuận tiện để doanh nghiệp nhanh chóng đưa vốn vào hoạt động Nếu vốn vayđược rải ngân quá chậm, sự liên tục của quá trình sản xuất của doanh nghiệp có thể
bị ảnh hưởng, hoặc những cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ, do đó sẽ làm ảnh hưởng đến kếtquả kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy chất lượng một khoản cho vay được đánh giá ở mọi giai đoạn của
nó và ở trên góc độ của cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp Thông thường để đánh giáchất lượng của cho vay, người ta dựa vào các chỉ tiêu định tính và định lượng
* Các chỉ tiêu định tính là các chỉ tiêu khó tính toán cụ thể, bao gồm:
+ Bảo đảm các nguyên tắc cho vay: Các nguyên tắc này được quyđịnh nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời đối với hoạt động tín dụng củangân hàng Các nguyên tắc này được cụ thể hoá trong các quy định của Ngân hàngnhà nước và các NHTM Bao gồm:
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thờigian xác định: Các khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ củakhách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn Do vậy ngân hàng luôn yêu cầudoanh nghiệp đi vay phải thực hiện đúng cam kết này
- Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đãthoả thuận với ngân hàng, không được trái với các quy định của pháp luật và củacác ngân hàng cấp trên Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng bảo đảmcho ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ đó phảiphù hợp với cương lĩnh của ngân hàng Khi đi vay vốn kinh doanh ngắn hạn, doanh
Trang 23nghiệp có thể dùng vốn đó để đầu tư dài hạn vào mục đích khác mang nhiều rủi ro.
Do đó ngân hàng cần phải có những quy định rang buộc doanh nghiệp phải dùngvốn vay đúng mục đích
- Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án sử dụng vốn vay cóhiệu quả Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện các nguyên tắc thứnhất Phương án hoạt động có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng thuhồi vốn đầu tư và có lãi để trả nợ ngân hàng Các khoản tài trợ của ngân hàng phảigắn liền với việc hình thành tài sản của người vay
+ Bảo đảm quy trình phân tích tín dụng: Quy trình phân tích tín dụngđược ngân hàng quy định cụ thể nhằm chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, chovay và thu nợ đối với khách hàng, qua đó giảm thiểu rủi ro trong cho vay Nội dụngcủa quy trình phân tích tín dụng bao gồm:
- Phân tích trước khi cấp tín dụng: Thu thập và xử lý các thôngtin liên quan đến khách hàng bao gồm tư cách pháp lý, năng lực sử dụng vốn vay và
uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận, quyền sở hữu tài sản và các điều kiện kinh tế cóliên quan đến người đi vay
- Xây dựng và kí kết hợp đồng tín dụng: Trong đó ngân hàngkết hợp với doanh nghiệp tiến hành xác định các yếu tố liên quan đến hợp đồng tíndụng bao gồm: số lượng tín dụng, lãi suất, phí, thời hạn tín dụng, các tài sản đảmbảo, giải ngân, điều kiện thanh toán và các điều kiện khác Bước này rất quan trọng
vì ở đây xác định các vấn đề chính liên quan đến lợi ích của cả ngân hàng lẫn doanhnghiệp Số lượng tín dụng, thời hạn tín dụng, giải ngân phải phù hợp với quá trìnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời phù hợp dòng lưu chuyển vốn củangân hàng Lãi suất cũng phải được xác định vừa đảm bảo sinh lời cho ngân hàngđồng thời doanh nghiệp cũng chấp nhận được
+ Độ an toàn, chính xác trong giao dịch là tiêu chuẩn hàng đầu đối vớimọi khách hàng Ngân hàng cần phải đảm bảo tỷ lệ này ở mức cao nhất có thể Mộtkhoản cho vay có những sai sót trong giao dịch không thể coi là có chất lượng bởi
nó có thể ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của không chỉ khách hàng mà ngay cảbản thân ngân hàng
Trang 24+ Thủ tục giao dịch: Một khoản cho vay tốt phải đảm bảo có thủ tụcgiao dịch đơn giản, thuận tiện cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo những nguyêntắc an toàn cần thiết Ngoài ra quá trình giải ngân phải được thực hiện nhanh chóng
để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của doanh nghiệp Trong môi trường cạnh tranhngày càng cao giữa các ngân hàng với nhau, thì việc làm đơn giản thủ tục giao dịch
là một yếu tố các ngân hàng cần quan tâm để thu hút khách hàng
* Các chỉ tiêu định lượng
Để đánh giá chất lượng của cho vay kinh doanh ngắn hạn, người ta còn dựavào các chỉ tiêu có thể đo lường được Các chỉ tiêu này dùng để đánh giá chất lượngtín dụng đứng trên góc độ ngân hàng Có thể tạm phân thành 2 nhóm:
+ Chỉ tiêu phản ánh quy mô và khả năng sinh lời của hoạt động chovay kinh doanh ngắn hạn
- Tổng dư nợ ngắn hạn: Phản ánh quy mô hoạt động cho vaykinh doanh ngắn hạn của ngân hàng, dư nợ càng cao thì quy mô cho vay càng lớn,cho thấy ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn và uy tín củangân hàng đối với doanh nghiệp được nâng cao Thông thường dư nợ cho vay caokèm theo doanh số thu nợ cao
Vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn = Doanh số thu nợ cho vay
Dư nợ cho vay kinh doanh ngắn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng chu chuyển của của vốn cho vay kinh doanhngắn hạn Chỉ tiêu này càng tăng phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn càng tốt,chất lượng cho vay càng cao Tuy nhiên để quản lý và đánh giá chất lượng cho vaykinh doanh ngắn hạn một cách hiệu quả và toàn diện, người ta thường tính toán chỉtiêu này theo các tiêu chí khác nhau như phân theo cho vay kinh doanh ngắn hạntheo các ngành nghề khác nhau
+ Tỷ lệ lợi nhuận thu từ cho vay kinh doanh ngắn hạn
Tổng thu nhập ròng từ cho vay kinh doanh ngắn hạnTổng dư nợ cho vay kinh doanh ngắn hạn / Tổng lợi nhuận từ cho vay
Trang 25Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn đãđược nâng lên hoặc quy mô cho vay được mở rộng.
+ Chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của ngân hàngCác chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng sẽ bổ sung cho các chỉ tiêu phản ánhsinh lời nhằm phản ánh đầy đủ chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn của ngânhàng trong một thời kỳ Nếu ngân hàng theo đuổi các khoản đầu tư mạo hiểm, tỷ lệsinh lời trong hiện tại sẽ cao nhưng nếu tổn thất xảy ra sẽ khiến tỷ lệ sinh lời trongtương lai của ngân hàng giảm sút
- Chính sách tín dụng của ngân hàng: Hoạt động tín dụng là hoạt độngbao trùm của ngân hàng Với tầm quan trọng và quy mô lớn, hoạt động này đượcthực hiện theo một chính sách rõ ràng được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm,
đó là chính sách tín dụng Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của mộtngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho mọi cán bộ tín dụng và các nhân viênngân hàng, tăng cường chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng, tạo thống nhấtchung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.Nội dung của chính sách tín dụng bao gồm việc xác định những đối tượng kháchhàng nào thì được cho vay, những khách hàng nào thì được hưởng ưu đãi của ngânhàng, xác định quy mô, lãi suất, phí, thời hạn vay, tài sản đảm bảo đối với từngtrường hợp vay Ngoài ra trong chính sách tín dụng còn có chính sách về các tài sản
Trang 26có vấn đề bao gồm quy định về cách thức xác định nợ xấu và các tài sản đáng ngờkhác, mức độ nợ xấu có thể chấp nhận được, trách nhiệm giải quyết vv…Như vậychính sách tín dụng của ngân hàng có vai trò quan trọng đến chất lượng tín dụng.Một ngân hàng có một chính sách hợp lý sẽ giúp ngân hàng có những khoản chovay tốt đảm bảo thu lãi đồng thời giúp cho các doanh nghiệp có vốn phục vụ chosản xuất kinh doanh.
- Quy trình phân tích tín dụng của ngân hàng: Phân tích tín dụng làquá trình thu thập và phân tích thông tin nhằm xác định uy tín, tư cách pháp lý, sứcmạnh tài chính, khả năng tài chính của người vay trong quá khứ, hiện tại, tương lai,hiệu quả của dự án để từ đó đưa ra quyết định cho vay hay không Do vai trò quantrọng của phân tích tín dụng nên mỗi ngân hàng sẽ xây dựng cho mình một quytrình phân tích tín dụng chi tiết và áp dụng thống nhất trong ngân hàng Chất lượngcủa các khoản cho vay kinh doanh ngắn hạn phụ thuộc vào quy trình phân tích tíndụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp Nếu quy trình phân tích nhanh, gọn, tiếtkiệm chi phí và hiệu quả sẽ giúp ngân hàng lựa chọn được những doanh nghiệp làm
ăn hiệu quả nhờ đó các khoản tín dụng được cấp sẽ đảm bảo thu nợ và lãi đúng hạn.Đồng thời các doanh nghiệp cũng không phải chờ đợi lâu để được cấp tín dụng
- Chất lượng đội ngũ nhân viên: Hoạt động cho vay kinh doanh ngắnhạn được thực hiện bởi con người, do vậy nhân tố con người mà cụ thể là cán bộ tíndụng có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng tín dụng Dù ngânhàng có một chính sách tín dụng và quy trình phân tích tín dụng tốt mà cán bộ tíndụng thiếu trình độ chuyên môn hoặc cố tình cấu kết với người vay lừa đảo ngânhàng thì rủi ro trong cho vay chắc chắn sẽ xảy ra
+ Nhân tố khách quan
- Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế là nhân tố hết sức quan trọngtác động đến chất lượng tín dụng Vì ngân hàng và doanh nghiệp hoạt động trongmôi trường kinh tế nên hoạt động cho vay giữa ngân hàng và doanh nghiệp cũngchịu tác động bởi sự thay đổi của môi trường kinh tế Nếu nền kinh tế phát triển ổnđịnh, môi trường đầu tư lành mạnh thì hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàngcho doanh nghiệp cũng được nâng cao về chất lượng
Trang 27- Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý là tổng hợp các yếu tốpháp lý được thể hiện thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và sựđiều hành, giám sát của các cơ quan nhà nước Hoạt động kinh doanh của ngânhàng đặc biệt là hoạt động cho vay của ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trongnền kinh tế Nhưng đó lại là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, nếu xảy ra nhiều cóthể ảnh hưởng lớn đến sự ổn định của nền kinh tế Do đó hoạt động cho vay củangân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước và được điều chỉnh bởi nhiềuvăn bản pháp luật quy định để hạn chế rủi ro xảy ra Ví dụ như Quy chế cho vay,quy chế về cho vay bảo đảm…Nếu hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoànthiện, và hợp lý, sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động cho vay của ngân hàngchặt chẽ thì sẽ chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng cho vay kinh doanhngắn hạn nói riêng của ngân hàng sẽ được nâng cao.
- Môi trường chính trị xã hội: Một xã hội đầy rẫy những bất ổn vềchính trị như bạo động, chiến tranh… đương nhiên sẽ không phải là môi trườngthuận lợi cho hoạt động của ngân hàng lẫn doanh nghiệp Theo đó hoạt động chovay giữa ngân hàng và doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng
- Nguyên nhân về phía người vay: Doanh nghiệp là người trực tiếpquyết định chất lượng cho vay Nếu doanh nghiệp sử dụng vốn vay không hiệu quả,thì có thể ngân hàng sẽ không thu hồi được nợ gốc và lãi đúng hạn Hoặc doanhnghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng, sử dụng vốn vào mục đích khác có thể gây ra rủi
ro cho ngân hàng Do đó việc phân tích doanh nghiệp trước khi cho vay và quá trìnhkiểm soát trong khi cho vay của ngân hàng có vai trò quan trọng đối với việc nângcao chất lượng cho vay kinh doanh ngắn hạn
Trang 28Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay kinh doanh ngắn hạn tại
NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo & PTNT Nam Hà Nội
Với sự phát triển không ngừng của KHKT, nền kinh tế nước ta trong những nămqua đã đạt được những thành tựu to lớn Kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng tăngvới xu hướng tăng tỉ trọng hàng hoá có hàm lượng kỹ thuật cao Nguồn thu ngoại tệngày càng được nâng cao Bên cạnh đó sức mạnh nội lực trong nước luôn được pháthuy, từng bước nâng cao thu nhập Kinh tế phát triển yêu cầu đối với hệ thống ngânhàng ngày càng tăng, đòi hỏi phải có những cải cách phù hợp
Thời kỳ bao cấp được đánh dấu bằng sự ra đời của ngân hàng chuyên doanh Thời
kỳ đổi mới, dưới sự ảnh hưởng của khoa học công nghệ và toàn cầu hoá, ngân hàngphải đổi mới, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ và mở rộng thị trường Các ngânhàng Việt Nam đã từng bước chuyển sang mô hình đa năng, từng bước cải thiện vàphát triển Nhiều ngân hàng còn liên doanh với các ngân hàng nước ngoài và pháttriển các chi nhánh tại khắp các mọi miền đất nước, vươn ra nước ngoài và pháttriển các ngân hàng đại lý
Không nằm ngoài quy luật đó, NHNo & PTNT được thành lập từ ngày 26 tháng 3năm 1988 theo nghị định số 53/HDBT của HDBT Đến nay NHNo & PTNT ViệtNam đã trở thành ngân hàng thương mại đứng đầu trong hệ thống các ngân hàngthương mại trong cả nước về tổng nguồn vốn, mức dư nợ, mạng lưới chi nhánh…Sựlớn mạnh của hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam thực sự đã góp phần đáng kểtrong công cuộc CNH-HDH đất nước
Quận Thanh Xuân với diện tích khoảng 914,2 ha với gần 40.000 hộ nhân khẩu.Trên địa bàn quận có rất nhiều cơ sở kinh tế lớn như Nhà máy cao su Sao vàng, Nhà
Trang 29máy Thuốc là Thanh long, Tổng công ty Sông Đà…Mặt khác đây cũng là khu vựcđang trong quá trình đô thị hoá với nhiều tiềm năng phát triển Trước những đòi hỏi
về nhu cầu vốn trên địa bàn, tháng 12/2000, Ban trù bị thành lập NHNo & PTNTNam Hà Nội được thành lập tại phòng D13 tập thể Nam Thành Công, Ba Đình, HàNội Đến ngày 12/3/2002 Chủ tịch hội đồng quản trị ra quyết định số 48/NHNo/QĐHĐQT thành lập chi nhánh NHNo & PTNT Nam Hà Nội
Tên giao dịch: Chi nhánh NHNo & PTNT Nam Hà Nội
Trụ sở chính: Toà nhà C3 Phương Liệt, Thanh Xuân
Chi nhánh chính thức đi vào hoạt động từ ngày 08/05/2001 với biên chế ban đầugồm 36 người từ trụ sở chính chuyển về, từ các ngân hàng địa phương và qua tuyểndụng Nhiêm vụ của chi nhánh trong thời kỳ đầu là nhanh chóng ổn định về conngười, cơ sở vật chất, triển khai các hoạt động kinh doanh với phương châm “ Vì sựthành đạt của khách hàng và ngân hàng” Phạm vi hoạt động chủ yếu của chi nhánh
là trên địa bàn quận Thanh Xuân và các quận nội thành Hà Nội
2.2 Mô hình tổ chức của NHNo & PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội
Sinh viên: Hoàng Thị Phương Thảo Lớp: Ngân hàng 45C
NHNo&PTNT CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI
CN
Nam
Đô
CNTâyĐô
CN
Giảng
võ
HỘI SỞ
PGD
số 4 NamHà
PQD
Số 5Nam
Hà Nội
Phòng Thanh toán quốc tế
Phòng
kế toán ngân quỹ
Phòng nguồn vốn và
kế hoạch tổng
Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ
PGD
số 1-
CN Tây Đô
PGD
số 3-
CN Nam Đô
Hà Nội
PQD
Số 6Nam
Hà Nội
Trang 30Chuyên đề tốt nghiệp
2.3 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội
2.3.1 Hoạt động huy động vốn
- Nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ của mọi cá nhân, tổ chức trong
và ngoài nước, với lãi suất linh hoạt, hình thức đa dạng, phong phú, đáp ứng mọinhu cầu của khách hàng
- Phát hành các loại giấy tờ có giá: Chứng chỉ, trái phiếu, kỳ phiếu, tínphiếu…
2.3.2 Hoạt động cho vay
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn các tổ chức kinh tế, cá thể, hộ giađình
- Cho vay đời sống cán bộ công nhân viên, cho vay sinh viên,cho vay xuấtnhập khẩu lao động, du học sinh…
- Cho vay tài trợ dự án, đồng tài trợ, cho vay theo chương trình chỉ định củaChính phủ…
- Nhận vốn uỷ thác, cho vay uỷ thác vốn đầu tư trong nước
2.3.3 Các loại hình dịch vụ của Ngân hàng
- Các dịch vụ thanh toán
+ Thanh toán xuất nhập khẩu qua SWIFT+ Chuyển tiền điện tử trong nước
+ Thanh toán biên giới
- Chiết khấu, tái chiết khấu
- Dịch vụ thu hộ, chi hộ
- Dịch vụ thu chi tiền mặt tại chỗ
- Đại lý chi trả kiều hối
Hành
chính
nhân sự
Thanh toán quốc tế
kế toán ngân quỹ
nguồn vốn và
kế hoạch tổng hợp
kiểm tra kiểm toán nội bộ
thẩm định
Trang 31- Kinh doanh ngoại tệ
- Các dịch vụ bảo lãnh
- Hợp tác đào tạo quảng cáo
2.3.4 Các loại hình dịch vụ đặc biệt của Ngân hàng
- Ngân hàng đầu mối tiếp nhận và quản lý dự án nước ngoài
- Ngân hàng đầu mối thanh toán cho các đơn vị tổ chức có mạng lưới giaodịch trên toàn quốc
- Giao dịch online với các khách hàng lớn
- Thu xếp vốn đồng tài trợ
- Internet- Banking
2.3.5 Dịch vụ ATM
- Phát hành thẻ ATM
- Nhận tiền nộp vào tài khoản thẻ ATM tại tất cả các điểm giao dịch
- Đại lý chấp nhận thanh toán các loại thẻ Ngân hàng
Sử dụng thẻ ATM của NHNo&PTNT Nam Hà Nội, khách hàng có thể
+ Rút tiền mặt 24/24 ở tất cả các máy ATM của NHNo&PTNT trêntoàn quốc
+ Chuyển khoản và thanh toán hoá đơn tại máy ATM+ Vấn tin tài khoản
+ Liệt kê các giao dịch gần nhất
+ Các dịch vụ khác
2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong 3 năm 2004, 2005, 2006
2.4.1 Công tác huy động vốn