trình bày về nghiên cứu, phát hiện Asen, nitrit trong nước giếng khoan
Trang 1Cơ quan chủ trì : VIEN YHOC LAO DONG
VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
CÁC CÁN BỘ THAM GIA : Cn Nguyễn Tất Hà
'Th.s Tô Vân Anh
Bs Nguyễn Văn Hoà
Ks Trần Quang Toàn
Cn Lê Thái Hà
Cn V6 Minh Anh
Cn Lương Bích Thuỷ
CÁC CƠ QUAN PHỐI HỢP: - Viện Hoá học - Trung tâm KHTN
và Công nghệ Quốc gia
- Trung tâm Phân tích Địa chất -
Tổng cục Địa chất
543.2
Trang 2MỤC LỤC
UE700ã00 1
Chương 1: TỔNG QUAN 2 2222 ctrtrtrvrrrrrrrrrrrree 3
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 DOi tong nghiém on 13 2.2 Phuong phdp nghién cttu oo eeesssesesssssssesescsesesestacsesesesessseeeeececseseases 13 2.3 Phuong phdp phan tich 20 eeeesesseeeescseseersesenseserseseesenseecaeseneessees 14
Chương 3: KET QUA NGHIEN CUU cicccsscsssssssssssssscssssscsessssseeserseeeeecreeee 15 3.1 Két qua thu thap théng tin tai Trung tâm nước sinh hoạt va
Vé sinh moi truong tinh Ha Nam eee eeeseetecteeeseseeteseeeenerees 15 3.2 Két qua diéu tra tai thurc dia 0 ccceccsesseessecseseesesescseseseeesssens 16 3.2.1 Kết quả điều tra tại xã An Đổ - huyện Bình Lục . - 16
3.2.2 Kết quả điều tra tại xã Hoà Hậu - huyện Lý Nhân 18
3.3 Kết quả kiểm tra chất lượng nước tại hai xã An Đổ
huyện Bình Lục và Hoà Hậu - huyện Lý Nhân - tỉnh Hà Nam 20
3.3.1 Kết quả kiểm tra chất lượng nước tại xã An Đổ .- -c.e 20
3.3.2 Kết quả kiểm tra chất lượng nước tại xã Hoà Hậu - - 21
3.4.1 Cơ sở lựa chọn phương pháp XỬ lý cà c.cS SH 24
3.4.2 Chọn nguồn nước để Xử lý cv H111 1e ke 25
3.4.3 Lựa chọn phương pháp xử lý asen trong phòng thí nghiệm 26
3.4.5 Kết quả thí nghiệm, XỬ lý aS€n - oe S«ce+enkerrrrrirrrrererrrriike 27
3.4.5.1 Thiết kế hệ thống thoáng khí c-ccteeehnerrerrdee 27
Trang 33.4.5.2 Thiết kế hệ thống lọc cát
3.4.5.3 Thiết kế hệ thống lọc asen
3.4.5.4 Vận hành hệ thống xử lý
3.4.5.5 Phương pháp rửa cát lọc và thiết bị theo định kỳ 31
3.4.5.6 Lấy mẫu nước để kiểm tra hiệu quả xử lý của các hệ thống lọc 32 3.4.5.7 Kết quả phân tích mẫu sau khi xử lý -.-scscscecrvxsrrrrseeere 33
Chương 4: BẢN LUẬN .-222-22 se 22c 41
4.1 Tình hình sử dụng nước tại địa bàn nghiên cứu - 41
4.2 Tình hình sử dụng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật
liên quan đến nguy co 6 nhiễm nguồn nước - - - 42
4.3 Thực trạng chất lượng nước -<c+s+seeerkrrrrrersee 42
4.4 Lựa chọn công nghệ xử lý cc+cSr series 44
4.5 Chất lượng nước sau XỬ lý SH 45
'sunn 0 48
900810 0000 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO .-22.225c2SSS2SS2222215077120211 211.111 50 PHU LUC DINH KEM
Trang 4Tiêu chuẩn Việt Nam
Tiêu chuẩn vệ sinh Part per bilion (Một phần tỷ)
Thị xã
Ký hiệu van thu và xả nước
Qua lọc cát Qua thiết bị Phương pháp hấp thụ nguyên tử Nephelometry Turbid Umite Đường kính
United Nation Children’s fun Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường
Trang 5MỞ ĐÀU
Nước có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống hàng ngày Cùng với
sự phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu về nước cho ăn uống và sinh hoạt ngày
cảng tăng cả về số lượng và chất lượng Nguồn nước tự nhiên có chất lượng
an toàn dùng cho các mục tiêu sử dụng không phải vô tận, trong khi đó lại
luôn bị nhiễm bân đo các hoạt động của con người và thiên tai de doa Chat
lượng nước phụ thuộc vào địa tầng, cấu tạo địa chất và tại đó có chứa các
nguyên tố khoáng có lợi hay có hại cho sức khoẻ con người [2] Các nguyên
tố khoáng chất trong đất đá khi đi vào nguồn nước và con người sử dụng
nguồn nước đó có thể đủ chất lượng và dùng ngay trong đời sống hàng ngày,
nhưng cũng có thể cần phải xử lý mới có thể dùng được hoặc thậm chí không dùng được vì chưa có biện pháp xử lý thích hợp Khối lượng nước cần dùng hàng ngày nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của người sử dụng và chât lượng nước nguôn tôt hay xâu, cân thiệt phải xử lý ở mức độ nào và khả năng xử lý của hệ thống hay thiết bị đang sử dụng Nếu dùng nước chất lượng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh lâu ngày sẽ gây ra những chứng bệnh có hại cho sức khoẻ [6]
Các đợt đánh giá chất lượng nước bể mặt, nước ngầm thường chỉ quan tâm đến một số chỉ tiêu vệ sinh, trường hợp đặc biệt như nước khoáng thì mới cần kiểm tra các hàm lượng khoáng trong đó dé đánh giá nguồn nước đó
có thực sự là nước khoáng hay không và là loại nước gi? để đưa ra mục đích
sử dụng sau này Trường hợp khác nếu nghi ngờ nguồn nước bị nhiễm hoá
chất độc hay kim loai nặng nào đó thì ngươi ta mới tiễn hành kiểm tra những
chất có thể gây độc hại hay kim loại nặng [1], bởi vì chẳng ai sẵn tiền mà
kiểm tra một mẫu nước hết tất cả các chỉ tiêu, đặc biệt là nguồn nước của tư
nhân
Kim loại nặng, đặc biệt là asen đã được con người biết đến từ lâu và
được sử dụng trong Nông nghiệp để làm hoá chất báo vệ thực vật, trong
Trang 6Công nghiệp làm gốm sứ, thuỷ tỉnh [8] So với kim loại nặng khác, asen có tính độc cao hơn nhiều lần và nguy cơ tích luỹ lâu dài trong cơ thể con người
lại lớn, do vậy việc tiếp xúc với asen hàng ngày đặc biệt là ăn uống với nguồn nước nhiễm asen phải hết sức thận trọng [6] và nhất thiết phải xử lý
trước khi sử dụng
Ngoài các nguyên tố kim loại nặng có mặt trong nước, các thành phần vô cơ
khác cũng rất quan trọng, đặc biệt là các thành phần trong chu trình chuyển
hoá Nitơ [10] Nitrit, nitrat, amoni lả những ion xuất hiện một cách tự nhiên,
lượng nitrat trong nước bề mặt và nước ngầm thường chỉ vài miligam trong
một lít và người ta đã ghi nhận sự gia tăng nồng độ nitrat trong nước ngầm
gây nên do thâm canh Nitrit có thể xem là hợp chất trung gian của quá trình ôxy hoá amoni thành nitrat [1], việc loại bỏ các hợp chất chứa nitơ cũng hết sức phức tạp, đo vậy cũng cần phải có một nghiên cứu sâu hơn, để xử lý nước nhiễm các thành phần chứa Nitơ đảm bảo chất lượng nước cho người
sử dụng
Những thông tin thu thập gần đây cho thây có sự biêu hiện nhiễm asen
trong nước ngầm ở một số nơi, chính vì thế chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu
đề tài: ” Nghiên cứu phát hiện asen, nitrit trong nuoc giéng khoan Thăm đò khả năng xử lý asen trong phòng thí nghiệm” với một số mục tiêu như sau:
1 Đánh giá chất lượng nước giếng khoan khu vực có nguy cơ bị nhiễm asen và nitrit
2 Nghiên cứu biện pháp xử lý asen và đánh giá hiệu quả xử lý trong phòng thí nghiệm
Trang 7Chwong 1: TONG QUAN
Các hình thức cung cấp nước sinh hoạt ở Việt Nam có rất nhiều kiểu khác nhau như: Trạm cung cấp nước tập trung của Thành Phố, Thị Xã, các
trạm cấp nước quy mô nhỏ một vài trăm hộ, quy mô hộ gia đình (dùng nước mặt hoặc nước ngầm để xử lý, nước mạch ) Nguồn nước dùng cho sinh hoạt có thể lấy từ nước mặt, nước ngầm (nông hoặc sâu) và nước mưa
Trước đây người dân Việt Nam chủ yếu sử đụng nguồn nước mưa và nước
ngầm nông(giếng khơi) Từ những năm 1980 Tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên
Hợp Quốc (UNICEF) đã được vào Việt Nam một dự án cấp nước quy mô tập
thé cho cụm dân cư ở nông thôn, rồi sau đó là hộ gia đình Ban đầu chỉ có ở
một số Tỉnh, năm 1993 đã mở rong ra 53 Tinh, Thanh Nam 1995 UNICEF
đã ký với chính phủ Việt Nam một chương trình hợp tác giai đoạn 1996-
2000, trong đó cấp nước đồng nghĩa với an toàn vệ sinh cho cư dân vùng
nông thôn Gần đây tổ chức UNICEF không có chủ trương đầu tư khoan giếng theo hộ gia đình nữa mà chuyên sang xây dựng các trạm cấp nước tập
trung, theo đó một trạm có thể phục vụ cho một số lượng lớn người dùng
Có thể nói kể từ khi UNICEF đưa vào Việt Nam kiểu giếng khoan
bơm tay, cho đến nay số lượng giếng khoan cộng với cả số giếng mà nhân
dân tự làm đã tăng lên đến mức báo động Ban đầu giá thành một chiếc
giếng khoan còn rất cao so với thu nhập của người dân nông thôn thì cho đến nay lại rất rẻ, thậm chí lại rẻ hơn so với đào giếng khơi, chính vì vậy việc
khoan giếng hiện nay vượt ngoài tầm kiểm soát của chính quyền địa phương
Các kết quả đánh giá chất lượng nước sinh hoạt của viện Y học Lao
động và Vệ sinh Môi trường từ trước đến nay chủ yếu tập trung vào một số
chỉ tiêu vệ sinh cơ bản như: Sắt, Mangan, Nitrit, Nitrat, Clorua, Hữu cơ và
Fecal coliform Các nguyên tố kim loại nặng và độc hại cũng được kiểm tra nhưng số lượng mẫu được kiểm tra còn rất ít va chưa phát hiện thấy tinh
trạng ô nhiễm nhiều, chủ yếu nguồn nước bị nhiễm sắt Nguồn nước được
Trang 8kiểm tra đánh giá là: Nước giếng khoan bơm tay hoặc bơm máy, nước giếng
khơi cải tạo lắp bơm tay, nước mưa, nước máng lần Về quy mô đánh giá có
thể chia theo các giai đoạn sau:
* Giai đoạn 1987-1990: Viện YHLĐ &VSMT tiến hành kiểm tra đánh
giá chất lượng nước giếng khoan theo mã số đã được chỉ định của Unicef Hà
Nội, thông qua 1 số chi tiéu: pH, Fe, Clorua, Mn, NHy, NO;, NO:,Oxy hoá,
AI, độ cứng, độ trong va Fecal coliform Chất lượng nước về vi sinh vật
tương đối tốt, số giếng khoan bị nhiễm Fecal coliform chiếm khoảng 30%
Các chỉ tiêu hoá học hầu hết các giếng bị nhiễm sắt ở mức độ vừa và nặng, trừ một số vùng đất cát như Nghĩa Hưng- Hái Hậu ( Hà Nam Ninh cũ) Sầm Sơn (Thanh Hóa) có chất lượng nước tương đối tốt Một số vùng như Hải
Hưng bị nhiễm đồng thời cả sắt lẫn Clorua (mặn)
* Giai đoạn 1991-1992: Viện Y học Lao Động &Vệ sinh Môi trường, tiếp tục kiểm tra đánh giá chất lượng nước giếng khoan, giếng khơi, nước sau hệ thống xử lý, nước tại bể chứa Ngoài các chỉ tiêu trên còn kiểm tra
thêm một số chỉ tiêu kim loai nang nhu Cu, Zn, Pb, As, Hg Cac két quả
chất lượng nước giếng khoan không có sự khác biệt so với những năm trước, giếng khơi có chất lượng kém về vi sinh vật, nhưng hàm lượng sắt thường thấp hơn so với giếng khoan cùng khu vực Nước sau xử lý có hàm lượng sắt giảm đáng kế nhưng một số, chỉ tiêu khác thường tăng rõ như Nitrit, hữu cơ và Fecal coliform Chất lượng nước tại bể chứa thường bị
nhiễm bản bởi vi sinh vật do thói quen dùng nước thiếu vệ sinh gây nên như gầu múc nước, dụng cụ che đậy làm ô nhiễm
* Giai đoạn 1991 đến nay: Trong cuộc điều tra Quy hoạch tổng thể về cấp nước và Vệ sinh Môi trường, với một số lượng lớn mẫu được kiểm tra
gồm:
770 mẫu nước mặt
470 mẫu nước ngầm
Trang 9Số mẫu trên được lấy ở 24 tỉnh của 7 vùng sinh thái khác nhau[3]
Chất lượng nước theo kết quả phân tích cho thấy các chỉ tiêu thường vượt giới hạn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép là sắt, hữu cơ, vi sinh vật và nitrit (nitrit
lúc đó quy định là 0mg/1i), một số khu vực có hàm lượng clorua cao
Năm 2001, Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường kiểm tra 100 mẫu nước giếng khoan tại Phường Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Có 12 chỉ tiêu được phân tích, trong đó có Asen Kết quả cho thấy có 02 mẫu vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về asen(theo TCVS mới năm 2002), nhưng
so với tiêu chuẩn trước đây là 50uug/1 thì không có mẫu nảo vượt tiêu chuẩn
Công tác kiểm tra đánh giá chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt từ
trước đến nay luôn tập trung vào các chỉ tiêu vệ sinh đơn thuần, đo điều kiện
kinh phí của đề tài hay dự án cũng như trang thiết bị phòng thí nghiệm Đặc
biệt các nguyên tế kim loại nặng, khi phân tích cần phải có những thiết bị hiện đại, kỹ năng phân tích chuyên sâu, mức độ chính xác thường là ug/1 tức
là gấp 10- 100 lần các chỉ tiêu bình thường
Các nguyên tố kim loại nặng thường có tính độc cao, cần thiết cho
sinh vật nhưng lại ở mức thấp Asen là nguyên tố hoá học thuộc nhóm 5A trong bảng tuần hoàn, là nguyên tổ bán kim loại, thường tổn tại trong các
dạng hợp chất vô cơ và hữu cơ hoá trị (+3) và (+5), là một thành phần trong
vỏ trái đất[2] Tuy nhiên, Asen thường tìm thấy trong môi trường kết hợp với các nguyên tế khác như oxygen, chlorine và sulfur[7] Asen được kết hợp với các nguyên tố khác được gọi là asen vô cơ, asen kết hợp với cacbon và hydrrogen thì được gọi là asen hữu cơ [11] Việc hiểu thấu đáo giữa asen vô
cơ và hữu cơ là rất quan trọng, bởi vì asen hữu cơ thường ít độc(ít gây hại) hơn là asen vô co Tat cả hợp chất asen hữu cơ và vô cơ có mẫu trắng và xám (nhẹ), chúng không có mùi và không có gì đặc biệt dé phát hiện[2]
Trang 10Trong vỏ trái đất, nồng độ asen trung bình khoảng từ 210 mg/kg [2], nằm trong thành phần của nhiều loại khoáng quặng như Phot phát, Pyrit Vì
asen có độ độc cao cho nên sự có mặt của nó trong môi trường, đặc biệt là
trong nguồn nước sinh hoạt đã gây nên ô nhiễm cao có hại cho sức khoẻ con
người
Các nghiên cứu gần đây cho thấy sự xuất hiện của asen trong nước
ngằm và bán ngầm ở nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, argentina, autrailia,
Chi lê, Trung Quốc, ấn Độ, Ba lan, Thái lan Một số nước đã công bố tài
liệu về ảnh hưởng của asen đến sức khoẻ như: Trung Quốc, Bangladesh, an
Độ, Mỹ
Tại khu vực Châu Mỹ nhiễm arsenic được phát hiện khá sớm ở nhiều nước và khu vực, từ Canada thuộc vùng Bắc Mỹ và Alaska của Mỹ cho đến Chỉ Lê và argentina thuộc Nam Mỹ Khu vực nhiễm nặng nhất là vùng Bắc Chi Lê (Ardo Feccarsta) nơi có phần đuôi bắt nguồn từ Sông Siloli của Bolivia, ham lượng asen trong nước sông là 1,04 mg/l, hàm lượng trong nước giếng là 0,9mg/I Trong giai đoạn 4955-1973: 613 mẫu nước được xác định và hàm lượng trung bình là 0,584mg/1 với khoảng 437.000 người đặt trong tình trạng nguy hiểm[12]
Hàm lượng asen trong xương của các xác ướp người ấn Độ thế kỷ 3-
12 lên đến 9,2- 24,8 mg/100g, lớn hơn từ 12-32 lần so với hàm lượng có trong người đàn ông hiện đại bình thường [13] Như vậy nhiễm độc asen
trong khu vực này đã có một lịch sử lâu đời ở các nước khác như Philipm,
Srilanka, Mông Cổ, Hàn Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia cũng đã phát
hiện thấy trong nước chứa hàm lượng asen cao ở Trung Quốc ngoài việc sử dụng nguồn nước có chứa hàm lượng asen cao, người dân còn dùng than đốt trong đó có chứa asen đã gây nên các triệu chứng tương đối điển hình về
nhiễm độc asen [6] Các cuộc điều tra về sự phân bố các khu vực nhiễm
asen trong nước uống ở Trung Quốc đã phát hiện thấy 6 tỉnh bị nhiễm nặng
Trang 11asen đó là: Đài Loan, Nội Mông, Sơn Tây, Tân Cương, Ninh Hạ và Cát Lâm
Theo như thông tin mới cập nhật gần đây, ở Trung Quốc đã phát hiện thêm một số tỉnh cũng bị nhiễm asen trong nước ngầm ở mức tương đối cao[6]
Bangladesh có thể nói là quốc gia bị nhiễm Asen trong nước ngầm
trầm trọng nhất Trong tổng số dân 120 triệu người thì có tới 76 triệu bị ảnh
hưởng bởi Asen, 59/64 vùng bị nhiễm cao hơn tiêu chuẩn, 126.134 km”/148.392 km? bi anh hưởng Số bệnh nhân bị mắc các chứng bệnh do
asen lên đến 7600 Người
Khu vực Châu âu: Đầu những năm 1980, nước uống có chứa hàm
lượng asen cao đã được phát hiện ở 4 quốc gia thuộc vùng Đông Nam Hungary và đã được khẳng định là do môi trường tự nhiên, trong đó hàm
lượng asen trong nước thu được ở một số giếng thuộc tỉnh Baccs trung bình
từ 0,3-0,78§mg/ I, có khoảng 220.000 người sử dụng nước có hàm lượng asen
cao để uống Nước có chứa hàm lượng asen cao cũng được phát hiện ở vùng
Transilvania của Rumani, tỷ lệ các bệnh tìm mạch phổ biển ở mức cao có thể
cũng liên quan đến asen ở Phần Lan thuộc khu vực Bắc âu, cũng có nhiều giếng có hàm lượng asen cao, có giếng lên tới I,04mg/l nhưng các nghiên
cứu dịch tễ học vẫn chưa đưa ra kết quả cụ thể nào
+ Các khu vực khác: Châu Phi và Châu Đại Dương là các châu lục chưa
có đủ số liệu có tính thuyết phục về nhiễm độc asen Mặc dù vậy cũng không
thể nghĩ rằng các bệnh nảy không tồn tại ở 2 lục địa trên bởi vì trước những
năm 1980, một số khu vực bị nhiễm asen với quy mô lớn ở Châu á cũng
không được phát hiện, nhưng trong thực tế thì các bệnh này da ton tại ở đó từ
rất lâu rồi
Nguyên nhân do đâu làm asen trong nước lại cao? Sự xuất hiện Asen
và gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và bán ngầm là một vấn đề cần được giải
quyết Khi đã tìm được cơ chế chính xác của sự xuất hiện của Asen trong
Trang 12nước ngầm sẽ cho chúng ta đưa ra một.số giải pháp hữu ích Sự xuất hiện
Asen trong nước ngầm tuỳ vào điều kiện tự nhiên trong nước, từng khu vực
asen có trong lòng đất từ triệu năm nay, song xuất hiện trong nước ngầm và bán ngầm mới chỉ trong thời gian gần đây
Từ những năm 1980, các nhà khoa học đã phát hiện ra nguồn nước
ngầm ở Bangladesh bị nhiễm asen, nhựng mãi đến những năm 1990 sự ô
nhiễm này mới được thông tin đại chúng đưa ra nhiều và được quan tâm như một sự khủng hoảng nghiêm trọng của nhân loại nói chung và của
Bangladesh nói riêng Kết quả phân tích nguồn nước tại Bangladesh cho
thấy, Tốc độ ô nhiễm asen trong nước ngầm phát triển rất nhanh[ 10]
Bảng 1.1: Phân tích Asen theo thời gian 6 Bangladesh (ug/l)
Trang 13
theo đó là sự xâm nhập của ôxy xuống lòng đất Do tiếp xúc với ôxy không khí lớp trầm tích Pyrit bị oxy hoá giải phóng asen vào nước ngam theo
phương trình sau: (As) FeSy+ O02 +2H,O = Fe” + 4H +2§O; +(As) 7
a
(As): Ký hiệu Asen hâp phụ trên Pyrit
Asen xuất hiện trong nước ngầm do quá trình khử Fe (HH) oxy Hydroxit (FeOOH) và cơ chế này đã được nhiều tác giả đề cập đến, phản
ứng xảy ra như sau:
(As) 8FeOOH + CH;COO' + 15H)CO;—-¥ §Fe”+I7HCO; +12HạO+ (A$)
Quá trính khử này xảy ra trong môi trường yếm khí do vi sinh vật tác động (Miecrobac Proces) thực hiện đồng hoá các chất hữu cơ đặc biệt là axit axetic[8]
Asen xuất hiện trong nước đo quá trình trao đổi lon cạnh tranh giữa
PO¿” từ phân bón hod hoc véi As (III) va As (V) Ví dụ như ở Bangladesh trong vòng 15 năm gần đây lượng phân hoá học (Lân) được dùng rất nhiều
làm tăng hàm lượng PO,*, Ion PO,” sẽ có sức mạnh với bề mặt FeOOH, do
đó nó dễ dàng thay thé As (IID), As (V) hấp thu ở đó và chuyển lon Asen này
vào nước
Lượng asen có mặt trong đất cách đây hàng ngàn năm, song chỉ những
thập kỷ 90 asen mới xuất hiện ở nồng độ cao trong nước ngầm Quá trình giải thích cơ chế xuất hiện asen đang còn là những giả thuyết Một giải thích giả thuyết tiếp cận gần đến bản chất được nhiều người công nhận là cơ chế
khử FeOOH Như vậy quả trình này sẽ phụ thuộc vào cấu tạo địa chất của
khu vực, sự biến đồi thiên nhiên (tự nó vận động) và do con người tác động,
và hậu quả của sự xuất hiện asen là con người phải gánh chịu, con người phải trả giá cho những tác động của mình
Ngoài sự xuất hiện của asen từ trong các lớp đất đá do quá trình
Trang 14như ở Vân Nam - Trung Quốc Các khu đân cư dùng than đốt cho các mục
đích sinh hoạt, mà trong than có chứa hàm lượng asen cao[6]
Ở Việt Nam, theo ông David G.Kinniburgh, chuyên gia địa hoá người
Anh, đang công tác cho cơ quan Unicef, cing cdc thành viên khác của Unicef nhan dinh khu vực Châu Thổ Sông Hồng và Sông Cửu Long nơi có
địa hình tương đồng với Bangladesh, có thể có sự cô rủi ro nhiễm asen trong
nước ngâm
Nhận thức được tầm quan trọng và nguy cơ ánh hưởng tới sức khoẻ của cộng đồng sử dụng nguồn nước bị nhiễm asen, Viện Y học Lao Động
và Vệ sinh Môi trường tiến hành điều tra tình trạng nhiễm Asen trong nước
ngầm đồng thời nghiên cứu biện pháp xử lý thích hợp đảm bảo chất lượng
nước ăn uống và sinh hoạt cho người sử dụng, không bị ảnh hưởng độc hại của Asen có trong nguôn nước
Để loại bỏ Asen trong nguồn nước có rất nhiều phương pháp xử lý
Asen được thực hiện trên thế giới như:
- Phương pháp thẩm thấu ngược
Khái quát về một số công nghệ xử lý Asen thường được sử dụng:
Để loại bỏ Asen ra khỏi nước, việc đầu tiên là phải chuyển hóa Asen () về Asen (V) thông qua quá trình ô xy hóa Trong quá trình ôxy hóa có
thể sử dụng nhiều loại chất ôxy hóa Ví dụ như ôxy già (H;O;), thuốc tim
(KMnO,), Oxy không khí hoặc một số chất xúc tác rắn[10,11]
Từ As (V) có thể loại Asen ra khỏi nguồn nước bằng các kỹ thuật:
Trang 15* Trao đỗi lon trên nhựa Anionit mạnh và chỉ loại bỏ được As (V)
Do độ chọn lọc của Asen không cao với các tạp chất trong nước, nên phương pháp này chỉ có thể áp dụng được cho nguồn nước có nồng độ tạp chất thấp
và it sulfat Loi thế của phương pháp này là không cần điều chỉnh pH của
nguồn nước, có thê tái sinh nhựa bằng muối NaCl và đây Asen trong nhựa ra
với hiệu suất 85-100% Để đâm bảo an toàn về sức khỏe của người sử đụng, loại Ionit phải là loại dùng trong công nghệ thực phẩm Thao tác vận hành kỹ thuật này khá phức tạp Trước khi trao đổi lon nước được oxy hóa với clor
* Phương pháp hấp phụ Asen trển y- Al;Ø¿, ít phụ thuộc vào các tạp
chất tan trong nước do tính chọn lọc cao đối với Asen Tuy vậy, khi tái sinh
phải dùng tới 2 loại hóa chất: xut va axit Sulfuaric mà cũng chỉ đây được 50-
70% Asen từ lưới ôxyt nhôm, tức là chỉ sử dụng được 3-4 lần sau khi tái sinh Cũng giống như trường hợp trao đổi lon, trước khi cho hấp phụ cần có
bước ôxy hóa và quá trình hấp phụ có hiệu quả khi pH = 5,5 -6,0 Trong điều
kiện đó, một lít AlạO; loại F-1 (Mỹ) có cỡ hạt 0,28-0,48 mm điện tích bề mặt
300-400cm?⁄g có thế lọc được 800-900 lít nước từ nồng độ 100ug/1 xuống
FeAsOx có độ tan thấp Theo tính toán lý thuyết, khi tạo thành FeAsO¿ triệt
để thì lượng Asen dư trong nước 0,0195ug/1 Quá trình xảy ra rất nhanh và
có hiệu quả tai pH = 7 Để loại bỏ 1mg Asen (V) trong nước cần 20-50 mg
Fe” và ngoài ra một phần còn phụ thuộc vào đặc trưng nguồn nước
Hấp phụ trên ôxyt sắt, về mặt cơ chế cũng tương tự, như ôxyt nhôm,
a
Trang 16Hấp phụ trên oxyt mangan cũng tương tự về mặt cơ chế, tuy vậy ôxyt
mangan ngoài khả năng hấp phụ nó còn có khả năng ôxy hóa Asen III thành
Asen (V)
Ngoài những phương pháp xử lý trên còn có những biện pháp khác rẻ
tiền đã được thực hiện ở Bangladesh Một hệ thống gồm 3 bình đất sét không
tráng men, có thể chứa 15 lít nước được xếp chồng lên nhau Hai bình phía
trên có chứa vật liệu lọc gồm cát, mạt sắt, mảnh gạch vỡ và than củi Bình dưới cùng chứa nước đã được lọc dé uống và nấu ăn Kết quả hệ thống lọc trên đã loại bỏ được 95% Asen Mặc dù nhiều người nói rằng họ hài lòng với mùi vị của nước, song nhiều người cũng phàn nàn rằng, với hệ thống này họ
chỉ có thê lọc được 25-28 lít nước/ngày Lượng nước này không đủ để uống
và nầu ăn cho một gia đình §-10 người
Phần lớn các phương pháp chỉ đạt được yêu cầu với nước sau xử lý có hàm lượng As = 50ug/lit Để nâng cao khả năng loại Asen với hiệu suất cao hơn, cần phải nghiên cứu tiếp Các hướng nghiên cứu tiếp theo phải đạt
được 3 mục đích:
1 Giá thành phải hạ
2 Thuận tiện việc triển khai ở vùng sâu vùng xa
3 Hàm lượng Asen trong nước sau xử lý đạt TCVS cho phép
Giá thành hạ: dựa vào các nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương để có
thé xây và lắp đặt hệ thống lọc đơn giản - đảm bảo tiêu chuẩn
Thuận viện việc triển khai ở vùng sâu vùng xa: bang mau thiết kê đơn giản, những người thợ xây địa phương bình thường nhìn vào thiết kế đó có thể tự làm được
Hàm lượng asen sau xử lý đạt TCVS: Vẫn đề này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố liên quan có trong nước nguồn Nếu trong nước nguồn có đầy
đủ các nguyên tố khác bổ trợ cho quá trình xử lý thì điều đó trở thành đơn
Trang 17giản hoặc nếu không thì ngược lại nó quyết định giá thành của hệ thống
Chính vì thế mỗi khu vực cần phải kiểm tra toàn phần một số lượng mẫu
nước đại diện, để có biện pháp xử lý thích hợp
Trang 18Chương 2: ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ gia đình có giếng khoan tại xã An Đồ - Bình Lục và Hoà hậu - Lý nhân tỉnh Hà Nam
Mẫu nước giếng khoan phân tích, đại diện các xóm thuộc 2 xã Án Đỗ và Hoà Hậu:
7
Sở đĩ chúng tôi chọn 02 xã trên bởi các nghiên cứu về phát hiện nhiễm asen trong nước ngầm đã phát hiện tại đây có nhiễm asen và sắt
Thời gian nghiên cứu: 2001- 2003
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Cỡ mẫu nghiên cứu:n=Zˆ x p xq/e?
Trong đó: Z là độ tin cậy = 1,96
p=02 q=Œd-p)
e là độ chính xác tuyệt đối mong muốn (0,05) n= 244 hộ gia đình ~ 250 hộ
Tính theo hai chỉ số asen và nitrit thì số hộ cần điều tra là 500 hộ
Thu thập thông tin về hiện trạng cấp nước của một số vùng có nguy cơ
cao nhiễm asen , nitnit thuộc đồng bằng Bắc bộ
Điều tra cắt ngang tình hình sử dụng nước của các hộ tại các địa phương
trên bằng phiếu phỏng vấn hộ gia đình
Điều tra và lẫy mẫu đại diện các xóm trong xã bằng phương pháp "cổng"
liền "cổng"
w
Kiểm tra chất lượng nước nguồn theo các thông số vệ sinh và các yếu tố liên quan: pH, As, NO¿, NO3, NH¡, Fe, Mn, Độ ôxy hóa
Trang 19Tổng quan các phương pháp xử lý Asen
Lựa chọn phương pháp xử lý dựa trên cơ sở chất lượng nước nguồn đã
được kiểm tra
Các mẫu nước lẫy tại thực địa được mã hoá riêng biệt độc lập với phòng
thí nghiệm
Mẫu nước được lẫy theo thường quy kỹ thuật của Viện Y học Lao động
và Vệ sinh Môi trường
2.3 Phương pháp phân tích
pH: đo bằng máy đo pH metre
As: đo bằng phương pháp đo quang, máy DR.40MV-Vis hãng HACH của
Mỹ và Quang phổ hấp thụ nguyên tử
Phương pháp hấp thụ nguyên tử bằng máy 65015 (hydro hóa) SIMAZUL
và máy Perkin Elmer AAnalyst 700, Hệ hóa hơi lỏng MHE 15
Fe : Trắc quang cecil (Anh)
NO, : Trắc quang cecil (Anh)
NO; : Trắc quang cecil (Anh)
D6 oxy héa : Chuẩn độ so mầu với axit oxalic
Mn : Phuong phap cuc phé Metrohm -Thuy Si
NHy : Trắc quang cecil (Anh)
Xử lý số liệu điều tra bằng phương pháp thống kê, theo chương trình
Epi Info 6.04
Trang 20Chương 3: KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kết quả thu thập thông tin tại Trung tâm nước sinh hoạt và VSMT
w
tỉnh Hà Nam
Sau khi được tách chia tỉnh 1997, Hà Nam quản lý 6 huyện gồm: Thị
xã Phủ Lý, huyện Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân và Thanh Liêm
Với điện tích 849,5km” với số dân 792.800 người và mật độ 933 người/kni
Số giếng khoan do Unicef tài trợ gần 3000 chiếc
Số giếng do nhân dân tự khoan: gần 50.000 chiếc
Số trạm cấp nước tập trung: 30 trạm
Số giếng có hệ thống lọc: trên 90%
Có 15 xã miện núi (chủ yêu tập trung ở 2 huyện Kim Bảng và Thanh
Liêm) không khoan được giếng vì điều kiện địa chất
Tháng 10 năm 2001 có 56 mẫu nước lấy từ các huyện Bình Lục, Lý
Nhân, Thanh Liêm, Kim Bảng, Duy Tiên được Viện Hóa học - Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia phân tích cho thấy:
Mức độ ô nhiễm asen rất cao, gấp từ 10-70 lần TCVN cho phép (so với
TC mới 1329/BYT/QĐÐ năm 2002) chiếm tỷ lệ 92% nhiễm asen
Hàm lượng sắt trong các giếng trên đều ở mức cao, trung bình:
21,35mg/lít không có giếng nào đạt TCVN cho phép (0,5mg/))
Độ ôxy hoá với 100% số mẫu cao vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép gấp nhiều lần
Hàm lượng Amoni có 2/56 mẫu đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, số mẫu
còn lại thường cao gấp 10 đến 100 lần TCVS
Các thành phần NO», NO; đạt tiêu chuẩn vệ sinh 100% số mẫu
Trang 213.2 Kết quá điều tra tại thực địa
3.2.1 Kết quả điều tra tại xã An Đỗ - huyện Bình Lục
Bảng 3.1: Nguôn nước sử dụng tại xã An Đồ
Nguồn nước | Giếng khoan | Giếng khoan Giếng khơi
Unicef tư nhân
Nguồn ô nhiễm Khoảng cách số giếng
Nguồn ô nhiễm: nhà vệ sinh, < 10 mét 231
chuông gia súc, nước thải
Trang 22Trong số 13 giếng gần ruộng canh tác có 9 giếng có thể có nguy cơ
nhiễm phân bón hóa học như đạm, lân, kaly
Bảng 3.4 : Mục đích của hệ thống loc
Do chat lượng nước rất kém, đặc biệt là bị nhiễm sắt ở néng độ rất cao
vì vậy đa số các hệ thống lọc ở đây nhằm mục đích loai bỏ sắt có trong nguồn nước là chính
Bang 3.5: Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại xã Án Để
Số hộ có nghề phụ Chit thải Số hộ điều tra n=253 37
Nguy cơ ảnh hưởng tới nguồn nước 12
Không ảnh hưởng tới nguồn nước 25
Trang 23
Nghề phụ ở tại xã chủ yếu là nghề rèn, mài rũa, chất thải rắn là những mạt sắt nhỏ với khối lượng không lớn, nhưng nếu được thu gom sẽ không
ảnh hưởng tới nguồn nước
3.2.2 Kết quả điều tra tại xã Hoà Hậu - huyện Lý Nhân
Bảng 3.7 : Số hộ điều tra và tình hình sử dụng giếng khoan (n = 250)
Nguồn Giếng khoan Giếng khoan
Bảng 3.9: Tỷ lệ các nguồn nước đề ăn uống tại Hoà Hậu
(Số liệu thu thập thực tê tại xã)
Trang 24
Tỷ lệ dùng nước mưa và nước giếng khoan tương đối cao, người dân ở
đây chủ yếu ăn uống bằng nước mưa, khi nào thiếu nước mưa mới dùng đến
nước giếng khoan, một hộ có thể cùng một lúc dùng nhiều nguồn nước khác
nhau đề ăn uông
Bảng 3.10: Khoảng cách từ nguồn nước tới nơi có thể gây ô nhiễm
Nhà vệ sinh, chuồng gia súc, nước # < 10 mét 205
> 20 nét 5 Gần ruộng canh tác <5 met 27
> 5 mét 223
Trong số 27 hộ có giếng gần ruộng canh tác đều có nguy cơ bị nhiễm
ban do người dân dùng phân hóa học như lân, đạm, kaly
Bảng 3.11: Mục đích của hệ thông lọc:
Trang 25
Bảng 3.13: Chất thải của nghệ phụ và nguy cơ ảnh hưởng tới nguôn nước
ra hồ ao xung quanh nhà
3.3 Kết quả kiểm tra chất lượng nước tại 2 xã An Đỗ - Huyện Bình Lục
và Hoà Hậu - huyện Lý Nhân - Hà Nam
3.3.1 Kết quả kiểm tra chất lượng nước tại xã An Đồ
Như chúng tôi đã nêu trong phần phương pháp nghiên cứu, mẫu nước
được lấy đều ở các xóm, mỗi xóm 5-7 mẫu Tổng số mẫu được lấy tại xã An Đổ: 40 mẫu nguồn
Kết quả phân tích ngày 07/10/2002 (được đính kèm) thông qua một số
chỉ tiêu như sau:
pH: 4/40 mẫu nằm trong giới hạn cho phép (6,5-8,5) TCVN 2002
As: 38/40 mẫu năm trong giới hạn cho phép, có 2 mẫu không đạt đều
thấp (10 ug/1 và < 20 pg/l) TCVN 2002
NO;: 40/40 mẫu đạt TCVN (3mg/I) TCVN 2002
NOs: 40/40 mau dat TCVN (50mg/l) TCVN 2002
Trang 26Khi có mặt 2 chất Nitrit và Nitrat trong nước người ta phải tinh tổng
tỷ lệ nồng độ mỗi chất so với giới hạn tối đa của chúng và phải < 1 Và 40
mẫu trên đều đạt TUVN
NH¿: 40/40 mẫu không đạt TCVS,(1,5mg/1) TCVN 2002 tức là 100%
số mẫu bị nhiễm Amoni (có hàm lượng từ 2,9-160,0 mg/1)
Fe””: 40/40 mẫu không đạt TCVS (0,5mg/1)
Thấp nhất hàm lượng sắt ở đây là 2,5 mg/
Cao nhất là 44,0 mg/lít
MnŸ: 39/40 mẫu đạt Tiêu chuẩn vệ sinh (0,5 mg/l TCVN 2002)
Độ ô xy hóa: 100% số mẫu không đạt TCVS (2mg/lit TCVN 2002)
3.3.2 Kết quả kiếm tra chất lượng nước tại xã Hoà Hậu
Tương tự như xã An Đỗ huyện Bình Lục 6 x4 Hoa hau có 25 xóm, trừ
một số xóm có hệ thống cấp nước tập trung, lấy nước từ sông Châu Giang,
còn lại các xóm khác được lấy mẫu đều theo số lượng mẫu Có 40 mẫu được
lấy tại xã Hoà Hậu và 02 mẫu được lấy từ trại trẻ mồ côi - thị trấn Bình Mỹ,
trong đợt 25/10/2002
Kết quả kiểm tra chất lượng (được đính kèm) thông qua một số chỉ tiêu như sau:
* pH: 42/42 mẫu trong giới hạn TCVS
* As: 35/42 mẫu có hàm lượng Asen cao hơn giới hạn 10 ug/1
Trang 27So với tiêu chuẩn vệ sinh cũ 50 ng/1 thì tỷ lệ số giếng có hàm lượng
Asen bị nhiễm cũng là 71,4%
* NO;: 4/42 mau khéng dat TCVN (3,1+6,95 mg/l)
Trung binh: 0,68 + 1,59 (0 +6,95)
* NO: 1/42 mau khong dat TCVS, cao nhat 14 53,8mg/1
* NHạ: 39/42 mẫu vượt giới hạn eho phép
Hàm lượng Amoni thấp nhất: 11,1 mg/i
cao nhất: 41,9mg/1
trung bình 25,10 + 11,14mg/l
*Ƒe: 39/42 mẫu vượt giới hạn TCVS
18,28 + 11,57mg/1 (0 + 62)
Hàm lượng thấp nhất: 1,2mg/l; cao nhất 62,0mg/I
* Mn : 42/42 mẫu nằm trong giới hạn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
* Độ ô xy hóa : 42/42 mẫu tương ứng với 100% số mẫu vượt TCVS
cho phép (2mg/lit) Giá trị trung bình 9,64 + 4,25 (1,4+#21,2)
Trang 28Biểu đồ 3.2 - Chất lượng nước tại xã An Đầ- huyện Bình Lục
v
Trang 293.4 Kết quá thí nghiệm xử lý Asen
-
3.4.1, Cơ sở lựa chọn phương pháp xử lý
Như chúng tôi đã nêu ở phần đầu, để có thể ứng dụng được rộng rãi phương pháp xử lý Asen ở các vùng nông thôn phải đạt được 3 mục đích
1 Giá thảnh hạ
2 Nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương hoặc chỉ cần mua vật liệu thật
cần thiết
3 Thiết kế không phức tạp và hàm lượng Asen giảm tới mức cho phép
Chính vì vậy kết quả điều tra tại hiện trường về tỉnh hình sử dụng
nước cũng như kết quả các mẫu nước được lấy và kiểm tra tại phòng thí
nghiệm là hết sức hữu ích cho việc lựa chọn phương pháp xử lý Asen
Nhìn lại kết qủa chất lượng nước tại 2 xã cho thấy:
Tai An Dé :
100% số giếng bị nhiễm Amoni, Fe, hữu cơ và đều nhiễm ở mức cao
5% nhiễm Asen, nhưng ở mức nhẹ
Tại xã Hoà Hậu:
100% số giếng nhiễm hữu cơ
92,8% nhiễm Amoni
92,8% nhiễm sắt
Đặc biệt asen ở xã Hoà Hậu nhiễm đến 83,3% số giếng Các giếng
nhiễm asen hầu hết ở mức cao và có liên quan đến hàm lượng sắt
39 mẫu nhiễm sắt thì kèm theo có 35 mẫu nhiễm asen
01 mẫu nhiễm sắt cao nhất 62,0 mg/1 - không phát hiện thấy Asen
01 mẫu nhiễm sắt ít nhưng vẫn phát hiện thấy Asen (sắt thấp 0,2 mg/l)
97,14% Số mẫu nhiễm Asen có liên quan đến hàm lượng sắt
Trang 30
Dé thi 3.1: sự phân bé Fe va As trong nudc nguồn ở Hoà Hậu
Nhìn vào biểu đồ chất lượng nước cho thấy số mẫu không đạt TCVN
rất lớn và vượt xa khu vực đạt TCVS cả hàm lượng sắt lẫn Asen
3.4.2 Chọn nguồn nước để xử lý
1 Trần Thị Toan: xóm 9 xã Hoà hậu - huyện Lý Nhân
2 Trần Thị Yến: xóm !§ xã Hoả hậu - huyện Lý Nhân
xẻ
2 giếng khoan nảy được sử dụng từ năm 1999, và thường phải sử dụng
nguồn nước này để ăn uống và sinh hoạt, cả hai gia đình điều kiện kinh tế
Trang 31ở mức thấp, nên việc bảo quản thiết bị sau này có thể tốt hơn và thiết bị
thường xuyên được sử dụng Việc chọn 2 nguồn nước trên là phù hợp với
thực tế mức độ ô nhiễm asen của khu vực nghiên cứu, nếu kết quả tốt sẽ
thuận tiện triển khai nhân rộng mô hình xử lý sau này
3.4.3 Lựa chọn phương pháp xử lý Asen trong phòng thí nghiệm
Kết quả kiểm tra phân tích hàm lượng Asen trong phòng thí nghiệm của 42 mẫu nước được lấy từ nước nguồn tại xã Hoà hậu, huyện Lý Nhân,
tỉnh Hà Nam cho thấy 83,3% số giếng bị nhiễm Asen và 92,8% bị nhiễm sắt
ở mức độ cao 97,2% sô nguôn nước nhiễm Asen có liên quan dén nhiém sat
Trong quá trình lựa chọn công nghệ xử lý Asen trong phòng thí nghiệm và sẽ áp dụng tại hiện trường, các yếu tố sau đây cần được cân nhắc
* Đối tượp áp dụng là quy mô nhé - hộ gia đình
* Thao tác đơn giản, phù hợp với nếp sống và sinh hoạt của vùng nông
thôn
* Vật liệu đễ tìm kiếm và tái sinh dé dang
* Bảo đảm tiêu chuẩn Asen sau xử lý
Trên cơ sở các yếu tổ trên và kết quả kiểm tra chất lượng nước nguồn, chúng tôi đưa ra cách xử lý cụ thể như sau:
1 Lợi dụng trong nguồn nước đã có sẵn hàm lượng sắt đáng kể để loại
3 Lọc qua vật liệu dioxyt mangan là vật liệu oxy hóa nhanh và mạnh
để loại bỏ phần còn lại sắt, mangan (nếu có) và asen Nhìn lại kết quả phân
Trang 32tích cho thấy hàm lượng sắt trong nước nguồn cao hơn rất nhiều so với hàm
lượng Asen có mặt trong đó từ: 4,2 lần đến hàng ngàn lần Thực tế, nếu trong
nước có hàm lượng sắt cao, hiệu quả lọc sắt tốt thì lượng asen hấp hụ trên bề
mặt kết tủa của sắt 3 sẽ cảng cao hơn
3.4.5 Kết quả thí nghiệm, xử lý Asen
3.4.5.1 Thiết kế hệ thống thoáng khí ,
Hầu hết giếng khoan hộ gia đình hiện nay đều sử dụng máy bơm để
hút nước giếng dùng cho ăn uống và sinh hoạt, đo đó cũng thuận lợi cho việc tạo áp suất Lợi dụng áp suất đây của máy bơm để thiết kế giàn phun mưa để
lấy ôxy từ không khí với mục đích ôxy hóa nước nguồn
Việc lấy ôxy không khí có thể có nhiều cách, ở đây chúng tôi chọn
một cách đễ làm và đơn giản mà hiệu quá lại cao Hệ thống thoáng khí đơn
giản bằng cách khoan thủng ống nhựa ® 21 bằng mũi khoan 2mm cách đều
3cm và so le nhau trên 3 hàng lỗ, giàn phun hình chữ “T” và lỗ phun nước
quay xuống phía dưới chảy vào bể lọc cát
Giàn phun mưa để lấy ôxy không khí có thể thay đổi nhiều kiểu dáng
khác nhau hoặc thay bằng ô doa tưới mà nhân đân vẫn dùng để tưới rau màu,
miễn là phun mưa càng rộng càng tốt
Nếu không dùng đạng phun mưa mà vẫn có thể lấy được ôxy không
khí thì phải dùng van hút khí, nó cho phép hoà trộn khí thắng vào đường ống
bơm nước nguồn Nguyên tắc hoạt động của nó là thu hẹp tiết điện ống dẫn,
tại điểm đó có thông với không khí thì không khí sẽ được hút vào theo
đường ống dẫn nước Tốc độ hút khí tỷ lệ thuận với độ lệch áp suất tại điểm
Trang 33Giàn phun ngoài mục đích ôxy hớa nó còn có tác dụng thôi đi những
khí khác có trong nước ngầm, H;S là khí có mùi khó chịu và cũng là yếu tố
gây nhiễu trong kiểm tra hàm lượng Asen trong nước
Trang 34Đường nước vào Mặt cắt van hút khí
Hình : Một số kiểu lấy oxy không khí khác nhau
30
Trang 35Kích thước bể dựa vào hệ thống sẵn có của gia đình chỉ sửa một phần
do số lượng người sử dụng hàng ngày
Hình 3.2 : Sơ đồ bố trí van của hệ thống lọc
* Bố trí van
VỊ: Dùng để kiểm tra chất lượng nước của hệ thống lọc
V2: Van thu nước sạch của hệ thống lọc cát, dẫn qua thiết bị xứ lý