trình bày về nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Trang 1BO KHOA HOC VA CONG NGHE
CHUONG TRINH KH-CN TRONG BIEM CAP NHA NUUC GIAI BOAN 2001-2005
"BAO VE MOI TRUONG VA PHONG TRANH THIEN TAI", MA SO KC.08
DE TAI
NGHIEN CUU DU BAO HAN HAN VUNG NAM TRUNG BỘ
VA TAY NGUYEN VA XAY DUNG CAC GIAI PHAP PHONG CHONG
(MÃ SỐ: KC.08.22)
BAO CAO DE TAI NHANH SO 9
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG THÍ ĐIỄM KÉ HOẠCH PHÒNG
CHONG HAN TONG HOP CHO TINH NINH THUAN
CHU NHIEM DE TAINHANH: ThS PHAM NGOC
CHỦ NHIỆM ĐÈ TÀI: PGS.TS NGUYÊN QUANG KIM
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: CƠ SỞ 2 ~ ĐẠI HỌC THỦY LỢI
PGS.TS NGUYEN QUANG KIM
Thanh phố Hồ Chí Minh, 6/2005
1194-98
6/41 06
Trang 2DANH SACH NHUNG NGUOI THAM GIA THUC HIEN CHINH
Trang 3MUC LUC
2790.912087 na aaa ee eee ee nnna aetna
CHƯƠNGI:_ TÔNG QUAN VỀ KÉ HOẠCH PHÒNG CHÓNG HẠN
1.1 Khái niệm và nội dung cơ bản của kế hoạch hạn nà 1.2 Quy trình lập kế hoạch hạn - - HH nghe CHƯƠNG II: MÔ TẢ SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỄM TỰ NHIÊN TỈNH NINH THUẬN
IH.1.Vị trí địa lý, giới hạn vùng nghiên cứu - cào nà hành
II.2 Đặc điểm địa hình - TQ 00001 QQn SH» HH TH chư
IIL4.Đặc điểm khí tượng HH HH HT nh nhu
II.5.Đặc điểm đất đai thô nhưỡng - - Q QQnnnH HH nen
CHUONG III: HIỆN TRẠNG VÀ KÉ HOẠCH PHÁT TRIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH NINH THUẬN . - 000000011 S SH SH ng He IIIL.1.Hiện trạng kinh tế - xã hội - -L Q Q ST SH 2à HH vn III.2.Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 5-2-3 Se CHUONG IV: ĐÁNH GIÁ CÁC NGUÔN TÀI NGUYÊN NƯỚC TỈNH NINH
IV.1.Tài nguyên nước mưa -.- con HH HE Hạ Hà nh Kế nh kh
IV.2.Tài nguyên nước mặt .- -. ST HH nh Hư kh vờ
1V.3.Tài nguyên nước ngầm - TQ TS nSQ ST SH HS HH net CHƯƠNG V: HIỆN TRẠNG CÁP NƯỚC TỈNH NINH THUẬN V.1.Hiện trạng cấp nước cho nông nghiỆp - S SnSnnnnnss se ven V.2.Hiện trạng cấp nước phục vụ sinh họat 5-5 Qoc S222 cS2 2s xse2
V.3.Hiện trạng cấp nước cho các ngành kinh tế khác
CHƯƠNG VI: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN GÂY HẠN, VÀ CÁC BIỆN PHÁP
PHÒNG CHÓNG, KHẮC PHUC HAU QUA DA THUC HIEN TAI NINH THUAN
VỊ.1.Thiệt hại do hạn hán đã gây ra tại Ninh Thuận - cà
VI.2.Những nguyên nhân gây hạn ở Ninh Thuận -
VI.3.Những biện pháp đã thực hiện để phòng chống và khắc phục hậu quả
CHUONG VII: KÉ HOẠCH HẠN TỈNH NINH THUẬN
VỊI.1 Mục tiêu của kế hoạch HH HH KH Kế ng Ki ku Bà ba bu
VII.2 Sắp xếp về tổ chức 0 n1 2H HT T TH ng ng khe
VIL3 Dinh nghia va dy bao ham oo ccc eee eee ee ec eaeceeeeseceaeaeessseeecuaes
VII.4 Những chính sách và chiến lược đối phó và giảm thiểu dai hạn
KÉT LUẬN VÀ KIÊN NGHỊ
36
36 54
Trang 4Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
DAT VAN DE Chính phủ Việt Nam đã nhận định công tác quản lý và giảm thiểu các thảm họa là một trong những yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế và giảm đói nghèo của đất nước Các thảm họa là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra đói nghèo ở nhiều vùng của nước ta Các thảm họa ở nước ta đã được nhận diện bao gồm thiên tai (như:
bão, lũ, lốc, lũ quét, trượt đất, bão biển, ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn), và các
thảm họa khác do con người So sánh với các loại thiên tai khác, hạn hán có một số điểm khác biệt sau:
a Khong ton tai 1 định nghĩa chung nào;
b Bắt đầu từ từ, một hiện tượng diễn ra từ từ, khó có thể dé xác định thời điểm
bắt đầu và kết thúc hạn;
c Khoảng thời gian xảy ra có thể tính bằng tháng, năm và vùng trung tâm hoặc tâm hạn sẽ thay đỗi theo thời gian, cần thiết phải tăng cường giám sát
liên tục các chỉ thị khí hậu và cấp nước;
d Không chỉ thị đơn lẻ nào có thể nhận diện chính xác sự bắt đầu và sự khốc
liệt của của hiện tượng và các chỉ thị đa ảnh hưởng tiềm tàng thường thi
hiệu quả hơn;
e Phạm vi không gian ảnh hưởng thường thì lớn hơn các thảm hoạ tự nhiên khác, đánh giá và các hành động đối phó thường khó hơn vì tác động bị lan
rộng ra các vùng địa lý lớn hơn;
f Các tác động thường thì không có cấu trúc và khó định lượng:
g Các tác động là lũy tích và các tác động mở rộng lên khi các sự kiện liên tục
từ một mùa hoặc | nim sang kế tiếp
Mặc dù hiện nay nước ta chưa có một bản chiến lược hay một kế hoạch tổng thể
dành riêng cho hạn, nhưng mục tiêu chiến lược của chính phủ đến 2020 là sẽ đưa Việt
nam thành nước an toàn với thảm họa, những mục tiêu cụ thể như sau:
1 Tiếp tục nâng cao nhận thức của cộng đồng và tham gia của địa phương để
đảm bảo cho nhân dân sống và làm việc trong những cộng đồng an toàn
với thảm họa
2 Giảm tối đa số lượng người chết và bị thương Số lượng 800 người chế/năm trong những thập kỷ 90 nên được giảm xuống 200 người
chết/năm trong thập ky này
3 Giảm những mất mát kinh tế do thảm họa gây ra trung bình từ 2% của
GDP của quốc gia trong thập niên 90 xuống còn đưới 1% GDP quốc gia trong thập niên này
4 Giảm tối đa các tác động tiêu cực do thảm họa gây ra tới đói nghèo, môi
trường, phát triển bền vững, phát triển công bằng và di sản văn hóa
Trang 5
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Theo những kết quả đánh giá chung ở nước ta hiện nay thì những vùng bị ảnh hưởng hạn nghiêm trọng nhất bao gồm: Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, và các vùng ven biển của các tỉnh Quảng Trị, Ninh Thuận, Bình Thuận Những thiệt hại do hạn gây ra chưa được đánh giá đúng và đầy đủ, nhưng nói một cách định tính những tác động trực tiếp và gián tiếp của nó đến các môi trường kinh tế - xã hội, và môi trường tự nhiên là
vô cùng lớn Đặc biệt trong bối cảnh nên kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay, và những diễn biến bất lợi về thời tiết thì nguy cơ tiềm ẩn về hạn càng ngày càng gia tăng Ví dụ, trận hạn năm 1993 đã gây hạn cho 176.643ha diện tích lúa Đông Xuân, trong đó bị chết 22.590 ha; vụ Hè Thu ở các tỉnh từ Thanh Hoá đến Bình Thuận bị hạn
108.393ha, trong đó chết 24.093 ha Trận hạn năm 1998 (từ cuối năm 1997 đến tháng
4/1998) đã gây hạn cho 253.988 ha Đông Xuân, trong đó mất trắng 30.739 ha; Lúa hè
thu hạn 359.821 ha, trong đó mất trắng 68.590 ha; Lúa mùa hạn 153.072 ha, trong đó
mất trắng 22.689 ha; cây công nghiệp & cây ăn quả hạn 236.413 ha, trong đó chết 50.917 ha; rừng bị cháy ở nhiều nơi, thiếu nước sinh hoạt 3,1 triệu người; ước tính giá
trị thiệt hại khoảng 5.000 tỷ đồng
Tuy nhiên công tác phòng chống và giảm thiểu hạn chưa được quan tâm một
cách thích đáng so với các loại thiên tai khác như bão và lũ
Trong khi các cơ quan chuyên trách về phòng chống lụt bão từ cấp trung ương
đến cấp địa phương và có kinh phí họat động thường xuyên, còn đối với hạn thì chưa
có Hoặc thậm chí ngay trong bản Chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia trong quản lý và giảm thiểu thiên tai từ 2001-2020 hầu như cũng chỉ đề cập tới các giải pháp cho phòng chống và giảm thiểu các tác động do bão và lũ là chính Nhận thức và quan
điểm này cần được thay đổi, công tác quản lý va giảm thiểu các thảm họa thiên tai do
hạn hán, lũ, lụt, bão nên được quan tâm một cách công bằng
Việc lập kế hoạch hạn là một công tác rất quan trọng trong công tác quản lý và
giảm thiểu những thiệt hại do hạn gây ra Nó có thể được hiểu là một chiến lược hoặc
kết hợp các chiến lược điều chỉnh tạm thời về cấp và nhu cầu nước để đối phó với những trường hợp xảy ra hạn hán, sử dụng nước cao một cách khác thường, hoặc không có khả năng cấp nước Tuy nhiên hiện nay ở quy mô tỉnh, những kế hoạch hạn
đã được lập chủ yếu là kế hoạch ngắn hạn đối phó với những tình huống khẩn cấp khi
có hạn nghiêm trọng xảy ra Do đó rất cần có một nghiên cứu nhằm tìm kiếm một kế hoạch quản lý và giảm thiểu hạn tổng hợp và hiệu quả ở quy mô tỉnh cho các giai đoan ngắn hạn và đài hạn (gọi tắt là kế hoạch hạn), trên cơ sở tham chiếu với những chiến
lược, chính sách và khung thể chế hiện thời của quốc gia Tỉnh Ninh Thuận, một tỉnh
có lượng mưa bình quân nhỏ nhất nước ta, luôn tiềm ẫn nguy cơ về hạn, sẽ được chọn
là một trường hợp nghiên cứu cụ thể trong chuyên đề này
Trang 6
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
của bất kỳ một quốc gia nào trên thể giới cũng như ở Việt Nam
Bản chính sách và chiến lược trong quản lý và giảm thiểu thiên tai của quốc gia
Lào ưu tiên vào việc “phát triển một kế hoạch quản lj rủi ro thâm họa hợp lý mà nó tập trung vào việc huy động, triển khai và hợp tác của các nguén lực quốc gia và
yêu cầu sự trợ giúp từ quốc tế, và chuẩn bị các kẾ hoạch quản lý rủi ro thẳm họa ở
các cấp tĩnh, huyện, và địa phương”
Trong chính sách quản lý hạn của Nam Phi cũng đã nêu rằng “một yếu tố trong
quản lý hiệu quả là sự chuẩn bị về chính sách, các chiến lược quản lý, các tiêu chí can
thiệp được định trước và các kế hoạch hành động trong trường hợp khẩn cấp Tuy nhiên, sự chuẩn bị cho khủng hoảng không nên là cứng nhắc và bảo thú Việc lập kế
hoạch trước khủng hoăng một cách cần thận và linh động thì rất cần thiết"
Theo nghiên cứu của Dr Richard N Palmer, các kế hoạch quản lý hạn hoặc có
thể được gọi theo nhiều cách khác nhau như: các kế hoạch đối phó, kế hoạch để đối
phó với những tình huống bất ngờ do hạn, các kế hoạch hành động khi có hạn
nhưng nhìn chung về bản chất nó là một chiến lược hoặc kết hợp các chiến lược điều chỉnh tạm thời về cấp và nhu cầu nước để đỗi phó với những trường hợp xảy
ra hạn hẳn, sử dụng nước cao một cách khác thường, hoặc không có khả năng cấp nước Tuy nhiên, chúng không phải là các kế hoạch giữ gìn nước, vì chúng chỉ ra
những thách thức và những đối phó ngắn hạn Các bộ phận của một kế hoạch quản lý
hạn bao gồm: Lịch sử về hạn trong vùng, chuẩn bị sẵn sàng với hạn, các mục tiêu của
kế hoạch hạn, thiết lập thể chế, những cấp báo động về hạn, những đối phó, kế hoạch
cắt giảm sử dụng nước, các hành động trong tình huỗng khẩn cấp
Theo tài liệu của FAO thì việc “lập kế hoạch để đối phó với những bất ngờ về
hạn” là một bộ phận trong các chính sách quản lý hạn hán Ở quy mô tỉnh, kế hoạch đổi phó với hạn cho các vùng đất chăn nuôi gia súc được phát triển ở Turkana, Kenya được thảo luận rộng rãi như là các mô hình Nó bao gồm:
— _ Một chính sách tổng thể về hạn với các mục tiêu đã được thông qua,
— _ Tạo ra các cơ cầu tiến bộ về thể chế và vật lý để đối phó với hạn,
Trang 7Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Một định nghĩa về các cấp cảnh báo được sinh ra bởi hệ thống cảnh báo sớm, và
để kích hoạt quá trình đối phó từ chính phủ
Một bộ kế hoạch cho các biện pháp tái thiết, cứu trợ, và giảm thiểu cụ thể
Các vấn đề nổi bật bao gồm:
Cần thiết để có sự tham Ø1a của cộng đồng trong lập kế hoạch,
Các khó khăn trong sự bảo đảm về pháp lý một đòng tiền tệ liên tục từ chính phủ trung ương và các nhà tài trợ
Chính sách hạn quốc gia của Mỹ đã khẳng định: “Phòng chỗng - đặc biệt là kế
hoạch hạn, triển khai kế hoạch, giảm thiếu chú động trước - phải trở thành nên tăng của chính sách hạn quốc gia” Các yêu tố cơ bản của lập kế hoạch hạn (hay
quản lý nước tổng hợp) bao gồm:
Phân tích quá khứ, hiện tại và dự đoán nhu cầu nước, các nhu cầu đòng chảy
cho bảo vệ hệ thống sinh thai phù hợp, nước có thể dùng được, và khan hiểm
nước tiềm ẩn
Các vân đề cơ bản cho thiết kế và thể hiện kế hoạch, bao gồm kinh tế, môi trường, xã hội, các mục tiêu văn hoá và các mục đích của những người ra quyết định và cộng đồng ớ quy mô lớn, và các ma trận thể hiện được xây dựng từ những mục tiêu này
Chỉ dẫn về tình trạng khan hiếm được đáp ứng như thé nao (vi dụ trồng các loài chịu hạn, bỏ hoang đất tạm thời, tăng cấp nước, giảm mất nước, hiệu quả
sử dụng nước, quản lý nhu cầu) và tiên lượng chỉ phí thích hợp
Chỉ dẫn về sự phối hợp giữa các ban ngành chính phủ và sự tham gia cộng
đồng
Giảm thiểu thích hợp các tác động của hạn tới môi trường
Các chiến lược giám sát và dự báo
Các phương pháp kiểm tra các kế hoạch
Một người ra quyết định để giám sát và triển khai các kế hoạch
1.2 Quy trình lập kế hoạch hạn
Quy trình lập kế hoạch hạn đã được xuất bản đầu tiên vào năm 1990, là một phần
một dự án nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ Khoa học Quốc gia, MY (Wilhite, 1990)
Từ năm 1990, nó đã được sửa chữa và cập nhật vài lần để phản ánh tốt hơn về những kinh nghiệm của thế giới, của quốc gia trong việc lập kế hoạch hạn (Wilhite, 1991)
Nhắn mạnh vào giảm thiểu và sự phòng bị; các cuộc hội thảo gần đây về lập kế hoạch
hạn; và một phương pháp để tiến hành phân tích rủi ro cũng đã được hình thành (Wilhite, và cộng sự, 2000) Quy trình này được viết để ứng dụng với quy mô Bang,
nhưng phương pháp thỉ chung và có thể áp dụng với bất kỳ quy mô chính phủ nào và ở
bất kỳ nước nào Sau đây sẽ giới thiệu quy trình cơ bản cho việc lập kế hoạch này
Trang 8Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Buớc 1: Thành lập một lực lượng chuyên trách về hạn (Drought Task Force )
Quy trình lập kế hoạch hạn được bắt đầu thông qua việc chính phủ thành lập một lực lượng chuyên trách về hạn Lực lượng chuyên trách có 2 mục đích Thứ nhất, lực lượng chuyên trách sẽ giám sát và điều phối việc phát triển kế hoạch Thứ 2, sau khi kế
hoạch đã được phát triển và trong thời gian hạn khi mà kế hoạch hoạt động, lực lượng
chuyên trách điều phối các hoạt động, thực hiện các chương trình đối phó và giảm
thiểu, và làm các chính sách gợi ý cho lãnh đạo Lực lượng chuyên trách được khuyến khích để trông nom việc phát triển một website chứa thông tin về quy trình lập kế
hoạch, một bản sao của kế hoạch, và thông tin về cấp nước và khí hậu hiện tại
Lực lượng chuyên trách nên phản ánh tính đa ngành tự nhiên của hạn và các ảnh hướng của nó, và nên bao gồm các đại diện của các sở của chính quyền, các
trường Đại học (ví dụ: các đại điện mở rộng từ các chuyên gia khí tượng, chuyên gia
chính sách, các nhà quy hoạch) Một đại diện từ văn phòng của chính quyền nên là một thành viên của lực lượng chuyên trách Các nhóm quan tâm đến môi trường và
cộng đồng, và các thành phần khác từ thành phần tư nhân bao gồm các thành phần công nghiệp, cũng có thể được bao gồm trong lực lượng chuyên trách, và/hoặc trong thành phần các nhóm làm việc cụ thể của hội đồng đánh giá rủi ro, hoặc một hội đồng
tư vấn, hoặc họ có thể được liên quan khác phù hợp Cấu tạo thực tế của lực lượng này
sẽ thay đổi tuy theo đặc điểm kinh tế và chính trị của từng địa phương khác nhau
Lực lượng chuyên trách cần thiết để gắn kết những người mà biết làm thế nao dé
dẫn dắt sự giao tiếp với cộng đồng hai chiều hiệu quả Nói một cách lý tưởng, lực
lượng chuyên trách nên bao gầm hoặc có gắn vào văn phòng thông tin cộng đẳng (người quen với các yêu cầu và sở thích của truyền thông địa phương) và mộí người thực hành về tham gia cộng động (người có thể giúp đỡ việc thiết lập các quy trình hài hòa cả các nhóm thiệt hại và nhóm hưởng lợi)
Buớc 2: Định nghĩa mục đích và đối tượng của kế hoạch hạn
Lực lượng chuyên trách hạn nên nói rõ mục đích chính cho kế hoạch hạn như
hành động chính thức đầu tiên Trong đó nên quan tâm đến nhiều câu hỏi như là:
— Mục đích và vai trò của chính phủ trong giảm thiểu hạn và các nỗ lực đối phó;
— Phạm vi của kế hoạch;
— _ Hầu hết các điện tích hạn của địa phương;
— Các tác động của hạn trong quá khứ;
— Các đối phó với han trong quá khử;
— _ Hầu hết các thành phần kinh tế và xã hội có thể bị tổn thương:
—_ Vai trò của kế hoạch trong giải quyết xung đột giữa các nhóm sử dụng nước và các nhóm có thể bị tỗn thương khác trong thời gian khan hiếm nước
— Các xu thế hiện tại (ví dụ như: sử dụng đất và nước, phát triển dân số) mà nó có
thể tăng /giảm tinh dé bj tan thương và các xung đột trong tương lai;
Trang 9
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC 08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
— _ Các nguồn (nhân lực và kinh tế) mà Bang sẵn sàng cho liên quan đến trong quá
trình lập kế hoạch;
—_ Các mối quan hệ về xã hội và pháp chế của kế hoạch; và
— Các mỗi quan tâm về môi trường cơ bản gây ra do hạn;
Nói chung mục tiêu của một kế hoạch là đễ giảm các ảnh hưởng của hạn bằng
cách nhận diện các hành động cơ bản, các nhóm, hoặc các vùng hầu hết bị rủi ro
và phát triển các hành động và các chương trình giảm thiểu mà chúng thay đôi tỉnh
dễ bị tổn thương Kế hoạch được chính phủ trực tiếp cung cấp với một nghĩa hệ thống
và hiệu quả của việc: đánh giá các tình trạng bạn, phát triển các hành động và các chương trình giảm thiểu để giảm rủi ro của hạn, phát triển các phương án đối phó với
áp lực kinh tế giảm nhỏ nhất, các mất mát về môi trường, và các thách thức về xã hội trong thời gian hạn hán
Sau đó, lực lượng này sẽ nhận diện các mục tiêu cụ thể để hỗ trợ cho mục đích
của kế hoạch Tất nhiên, các mục tiêu của kế hoạch hạn sẽ thay đỗi giữa các Bang và
nên phản ánh các đặc điểm cụ thể về chính trị, kinh tế xã hội, môi trường và hạ tầng
của mỗi Bang Ở quy mô Bang, các mục tiêu của kế hoạch sẽ ít nhẫn mạnh vào các
biện pháp hỗ trợ tài chính hơn các mục tiêu của kế hoạch quốc gia Hỗ trợ kỹ thuật
là một nhiệm vụ phổ biến của các sở thuộc Bang Trợ giúp cho các chương trình nghiên cứu và giáo dục là trách nhiệm tiêu biéu chia sẻ giữa chính quyễn liên Bang
và Bang Các mục tiêu của Bang nên quan tâm đến những vấn đề sau:
— _ Thu thập và phân tích các thông tín liên quan đến hạn một cách kịp thời và hệ thống
— Xây dựng các tiêu chí để công bố các tình trạng khẩn cấp và báo động về hạn
trong các hoạt động giảm thiểu và đối phó
— _ Xây dựng một cơ cầu tô chức và hệ thông truyền tải để đảm bảo dòng thông tin bên trong nội bộ và giữa các cấp chính quyền
— _ Xác định rõ ràng nhiệm vụ và trách nhiệm của tất cả các sở liên quan đến hạn
— Duy tr việc kiểm kê các chương trình hiện tại của liên bang và bang được sử dụng trong đánh giá và đối phó với các tình trạng khẩn cấp hạn
— Nhận diện các vùng hạn của Bang và các thành phần kinh tế đễ bị tổn thương,
các cá nhân, hoặc môi trường
— Nhận điện các hành động giảm thiểu mả có thể thực hiện được để chỉ ra các tính đễ bị tốn thương và giảm những tác động của hạn
— Cung cấp một cơ chế để đảm bảo đánh giá chính xác và kịp thời các tác động của hạn tới nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, đời sống hoang dã, du lịch và giải trí, sức khoẻ, và các ngành khác
Để tài KC.08.22 6
Trang 10Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
- Thông tin đến cộng đồng về tình trạng hiện tại và các hành động đối phó bằng các cung cấp kịp thời và chính xác thông tin tới các phương tiện thông tin như tỉ
vỉ, phát thanh, mang
—_ Thành lập và theo đuổi một chiến lược để loại bỏ những cản trở đến việc phân
phối hợp lý tài nguyên nước trong thời gian khan hiếm và thành lập các yêu cầu
hoặc cung cấp các khích lệ vật chất để khuyến khích việc giũ gìn nguồn nước
— Thành lập một bộ quy trình để đánh giá và thực hành kế hoạch hạn một cách
liên tục và xét lại một cách định kỳ kế hoạch, vì vậy nó sẽ duy trì sự phản ứng
nhanh với các nhu cầu của Bang
Buớc 3: Tìm kiễm các thành phân liên quan và giải quyết xung đội
Các giá trị về môi trường, kinh tế, và xã hội thường mâu thuẫn cạnh tranh nhau vì khan hiếm nguồn nước gia tăng Vĩ vậy, các thành viên của lực lượng chuyên trách cần thiết phải nhận diện tất cả các nhóm công dân được tham dự vào trong việc lập
kế hoạch hạn và các lợi ích của họ Các nhóm này phải được liên quan một cách sớm
và liên tục để có sự đại diện công bằng và lập kế hoạch và quản lý hạn hiệu qua Sự
thảo luận sớm được quan tâm là quá trình tạo cơ hội cho những thành viên để nâng cao
sự hiểu biết về các quan điểm của những thành viên khác, và để đưa ra các giải pháp mang tính hợp tác
Mặc dù mức độ liên quan của các nhóm này sẽ thay đổi đáng kể từ Bang này
sang Bang khác, nhưng sức mạnh của các nhóm lợi ích cộng đồng trong việc làm
chính sách sẽ được quan tâm đến Thực tế, các nhóm này giống như làm cản trở quá
trình phát triển kế hoạch nếu họ không được tham dự trong quá trình đó Lực lượng chuyên trách cũng nên bảo vệ các lợi ích của những thành phần tham dự người mà
có thể thiếu nguôn tài chính để bảo vệ cho bản thân họ
Sự tham gia cộng đồng diễn ra rất nhiều dạng Thời gian và tiền bạc có thể kìm hãm việc làm thế nào để các lực lượng chuyên trách có thể thu hút sự gia nhập của các
thành viên một cách năng động Một cách có thế làm cho sự tham gia của cộng đồng
một cách thuận lợi hơn Jä thành lập một hội đồng cỗ vẫn của công dân như là một
tương lai lâu dài của kế hoạch hạn, để giúp đỡ cho lực lượng chuyên trách đuy trì dòng thông tin và giải quyết xung đột giữa các thành phần tham dự Một cách khác là mời
các thành phần tham dự vào các nhóm làm việc trong hội đồng đánh giá rủi ro
Các Bang cũng nên cân nhắc khi nào cần thiết thành lập các hội đồng cố vấn của
vùng hoặc của tỉnh Các hội đồng này có thể mang những tỉnh lần cận để thảo luận về các vấn đề thách thức trong sử dụng nước của họ để tìm kiếm các giải pháp mang tính hợp tác Ở quy mô Bang, một đại diện của hội đồng mỗi tỉnh nên bao gồm thành viên
nằm trong mối quan hệ với hội đồng cố vấn công dân của Bang để trình bày về những
Dé tai KC.08.22 7
Trang 11Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
đánh giá của các cử trí Hội đồng cố vấn công đân của Bang sau đó có thể gợi ý và
trình bày những mối quan tâm đến lực lượng chuyên trách cũng như phản hôi những yêu cầu về các báo cáo tình hình và cập nhật
Buớc 4: Nhận diện các nguồn lực và nhận diện các nhóm trong tình trạng rủi ro Việc kiểm kê các nguồn tài nguyên nhân lực, sinh thái, và tự nhiên bao gồm sự
nhận diện về những hạn chế có thể cản trở quá trình lập kế hoạch, có thể cần được bắt
đầu bởi lực lượng chuyên trách Trong hầu hết các Bang trong nước Mỹ, nhiều thông
tin đã tồn tại về các nguồn tài nguyên sinh học và thiên nhiên thông qua các sở của Bang và Liên Bang Xác định tính bị tôn thương của các nguôn này do hạn trong thời gian khan hiễm nước là rất quan trọng Hiền nhiên, nguồn tài nguyÊn quan
trọng nhất là nước: nó nằm ở đâu, khả năng tiếp cận nó như thế nào, chất lượng nó ra sao? Các nguồn tài nguyên sinh học ám chỉ đến chất lượng và số lượng của các đồng
cô/đất đổi núi, rừng, giới hoang đã, Các nguân tài nguyên nhân lực bao gẫm người lao động cần phái triển các nguồn tài nguyên nước, lắp đặt đường ống cấp nước, chăm sóc gia súc,
Nó cũng là bắt buộc để nhận điện các giới hạn đến quá trình lập kế hoạch và để
kích hoạt kế hoạch trong việc đối phó với một phát triển hạn Những giới hạn này có thể là vật lý, tài chính, pháp chế, và chính sách Các chi phi đi đôi với phát triển một
kế hoạch phải được cân đối chống lại những mất mát sẽ xảy ra nếu không có kế hoạch
hạn Mục tiêu của một kế hoạch hạn là để giám thiểu những rủi ro tác động về môi
trường, kinh tế và xã hội Nói chưng, các kinh phí di đôi với phát triển một kế hoạch
ở quy mô Bang khodng tir 50,0008 dén 100,000$, thêm vào kinh phí của các sở liên Bang và Bang Giá này dường như không hợp lý khi so sánh với những tác động do
hạn Các giới hạn về pháp chế có thể bao gồm luật nước, các luật lệ hiện hữu được
cộng đồng tin tưởng, các yêu cầu cho cộng đồng của các nhà cung cấp nước, các vấn
đề về nghĩa vụ pháp lý
Trong việc lập kế hoạch hạn, làm sự chuyến đổi từ khủng hoảng đến quản lý rủi
ro là rất khó bởi vì trong quá khứ đã có rất ít việc đã được thực hiện để hiểu biết và chỉ
ra các rủi ro đi đôi với hạn Đề giải quyết vẫn dé này, những vùng rủi ro cao nên được nhận diện, cũng như nên hành động thực hiện trước khi hạn xây ra để giảm
những rủi ro này Rủi ro được định nghĩa bởi cả việc đặt một địa điểm vào tình trạng nguy hiểm về thảm hoạ của hạn và tính dễ bị tổn thương của địa điểm đó trong thời gian khan hiếm về nước gây ra hạn (Blaikie, và cộng sự, 1994)
Hạn hán là một hiện tượng tự nhiên; để định nghĩa những bộc lộ (như tần
suất lặp lại của hạn hẳn của cừơng độ và thời gian của hạn) của những bộ phận khác nhau của Bang với thâm họa của hạn rất là quan trọng Một vài nơi đường
Trang 12Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
như bị rủi ro nhiều hơn những vùng khác Tính dé bị tốn thương, nói một cách khác, được định nghĩa bởi các thành phần xã hội như là: các thành phần sử dụng đất, các chính sách của chính phủ, các quan hệ xã hội, sử dụng nước, dân số, phát triển kinh tế,
sự đa đạng của cơ sở kinh tế, văn hoá, Lực lượng chuyên trách nên sớm chỉ ra
những thách thức này trong quá trình lập kế hoạch để có có thể cung cấp nhiều phương
hướng hơn với các ủy ban và có nhóm làm việc tập thể mà họ sẽ được phát triển trong bước 5 của quy trình lập kế hoạch
Buớc 5: Phát triển cơ cấu tổ chức và chuẩn bị k hoạch
Bước này mô tả quá trình thành lập các ủy ban thích hợp để phát triển và viết kế
hoạch hạn và phát triển cơ cấu tổ chức cần thiết để triển khai các trách nhiệm của nó
KẾ hoạch hạn nên có các thành phần cơ bản như: giám sát (quan trắc), đánh giá
ảnh hưởng, giảm thiểu và dỗi phó Nó được gợi ý rằng các ủy ban được thành lập để tập trung vào 2 thành phần đầu tiên của sự cần thiết này; chức năng giảm thiểu và đối
phó có thể trong hầu hết trường hợp được thực hiện bởi lực lượng chuyên trách
Những ủy ban này sẽ có những nhiệm vụ và mục tiêu riêng của họ, nhưng dòng
thông tin và giao tiếp được thành lập tốt giữa các ủy ban này và lực lượng chuyên trách là một cần thiết tất yếu dé đảm bảo lập kế hoạch hiệu quả
sát (quan trắc) >ị giá ảnh hưởng
Lực lượng chuyên trách giảm thiếu và đối phó hạn
Lực lượng chuyên trách này làm việc hợp tác với các ủy ban đánh giá rủi ro và giám sát có kiến thức và kinh nghiệm để hiểu các kỹ thuật giảm thiểu hạn, phân tích rủi ro (các phạm trù về kinh tế, xã hội và môi trường) và các quá trình ra quyết định liên quan đến hạn ở tất cá các quy mô của chính phủ Lực lượng chuyên trách hạn,
được bao gồm bởi các nhà làm chính sách cao cấp từ các sở của Bang và Liên Bang
Trang 13
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Nhóm này nên ở một vị trí thuận lợi nhất để gợi ý căng như triển khai các hành động
giảm thiểu, yêu cầu trợ giúp thông qua các chương trình của liên Bang, hoặc ra
chính sách gợi ý cho cơ quan lập pháp và nhà cầm quyên
Các trách nhiệm cụ thể của lực lượng chuyên trách theo quan điểm này là dé:
1 Xác định các hành động đối phó và giảm thiểu cho mỗi thành phần tác động
cơ bản, trong sự hợp tác chặt chế với ủy ban đánh giá rủi ro Whihite (1997)
gần đây đã hoàn thành một đánh giá về các kỹ thuật giảm thiểu hạn đã được triển khai bởi các Bang trong việc đối phó với các điều kiện hạn trong khoảng thời gian những năm từ cuối 1980 đến đầy 1990 Tuy nhiên, sự chuyển giao của các kỹ thuật này vào trong những điều kiện cụ thể trong những Bang khác cần
được đánh giá xa hơn bởi vì chúng có thể không thể chuyển giao trực tiếp trong một số trường hợp Làm việc với ủy ban đánh giá thiệt hại, lực lượng chuyên trách nên nêu ra đặt ra với 2 quy mô thời gian khác nhau:
— Những đối phó ngắn hạn để thực hiện trong thời gian hạn, như các chỉ
dẫn giữ gìn nước mang tính chủ động, các trình tự hành chính được tổ chức hợp lý cho việc đánh giá các ứng dụng trợ giúp trong tình trạng khẩn cấp
— Các dự án giảm thiểu hạn dài hạn, như các chương trình để đưa cho
những thính giả những kiến thức cơ bản mà họ cần thông dich ra các ban
tin về hạn, các bản báo cáo hoặc các chỉ thị khoa học về hạn; các chương
trình để thuyết phục mọi người để ứng dụng các biện pháp dé nâng cao
lượng hữu cơ trong đất, giữ nước, và mặt khác nâng cao khả năng hồi
phục của các hệ thống xã hội và tự nhiên mà chúng có thể bị tổn thương
do han
2 Kiểm kê tất cả các hình thức hỗ trợ hiện có từ chính quyên địa phương,
bang, và liên bang trong thời gian hạn nặng Lực lượng chuyên trách nên đánh giá những chương trình này cho khả năng của họ để chỉ ra những tình
trạng khẩn cấp ngắn hạn và tính đễ bị tôn thương của hạn Sự trợ giúp nên được
định nghĩa rất bao quát dé bao gồm tất cả các dạng của kỹ thuật, giảm thiểu, và các trương trình cứu trợ sẵn có
3 Làm việc với các äy ban đánh giá rủi ro và giám sát để thành lập các quá trình khởi sự Ủy ban giám sát có thể khuyên lực lượng chuyên trách về các chỉ
thị cấp nước và hạn hán nào phù hợp cho bang hoặc vùng Các lực lượng
chuyên trách nên tổng hợp những thuật ngữ được sử dụng bởi các đối tượng khác (ví dụ: các sử dụng của địa phương, các Bang, các ủy ban lưu vực sông)
và lựa chọn các cụm từ phù hợp Các nhà chức trách của bang có thé mong
muốn cung cấp sự trợ giúp kỹ thuật hoặc các hình thức khác về việc khuyến
khích giúp đỡ các nhà cung cấp nước địa phương thành lập các quá trình khởi
sự cho các giai đoạn khác nhau của một trận hạn hán
Trang 14
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
4 Thành lập những vùng quản lý hạn (ví dụ như: chia nhỏ bang hoặc vùng ra
nhiều các quận có diện tích thuận tiện bởi các giới hạn về chính trị, các đặc
điểm thuỷ văn được chia sẻ, các đặc điểm khí tượng, hoặc những nghĩa khác
như khả năng hoặc rủi ro về hạn hán) Sự chia nhỏ này có thể có ích trong quản
lý hạn hán bởi vì họ có thể cho phép các giai đoạn và các lựa chọn đối phó và giảm thiểu được phân vùng Những phân chia về khí hậu được sử đụng phổ biến nhất để phân chia ở quy mô Bang, nhưng chúng có thể không thích hợp hết, với những đặc điểm địa hình, những thành phần sử dụng đất, hoặc các đặc điểm sử đụng nước Lực lượng chuyên trách nên làm việc chặt chẽ với uỷ ban giám sát để hiểu những giới hạn về tự nhiên cũng như hạn chế phải gánh chịu vi
hệ thống thu thập số liệu hiện tại, và với ủy ban đánh giá rủi ro để hiểu chính
xác những ảnh hưởng của hạn tới các ngành kinh tế và các nhóm xã hội khác
nhau
3 Lực lượng chuyên trách hạn nên phát triển một trang web để phổ biến thông
tin giảm sát hạn hán và dé cộng đồng biết về kế hoạch hạn
Ủy ban giám sát (quan trắc)
Một đánh giá có thể tin cậy được về nguồn nước sẵn có và viễn cảnh của nó cho ngắn
han va dai hạn nên sẵn có trong cả thời đoạn khô và ẩm ướt Trong thời gian hạn hán, giá trị của thông tin này tăng lên rõ rệt Ủy ban giám sát nên bao gỗm các đại điện từ
các sở có trách nhiệm giám sát khí hậu và cấp nước Nó được gợi ý rằng số liệu và thông tin về mỗi chỉ thị có thể áp dụng được (ví dụ: mưa, nhiệt độ, bốc hơi, dự báo
thời tiết phạm vi dài, độ âm đất, dòng chấy, các mực nước ngầm, mực nước ao hồ và
hỗ chứa nhân tạo ) được quan tâm trong đánh giá của ủy ban về tình trạng về nguồn
nước và viễn cảnh cho Bang Các sở có trách nhiệm vẻ thu thập, phân tích và phổ biến
thông tin và số liệu sẽ thay đổi tùy theo cơ cấu tổ chức của Bang và vùng địa lý
Uy ban giám sát nên đáp ứng được các quy luật, đặc biệt trước tiên về mùa nhu
cầu đỉnh cao Theo mỗi hội nghị, các báo cáo nên được chuẩn bị và phổ biến cho lực lượng chuyên trách về hạn của bang, các sở của bang và liên bang thích hợp, và thông tin đại chúng Chủ tịch của ủy ban giám sát nên là một thành viên thường trực
của lực lượng chuyên trách hạn về hạn Trong nhiều bang, chủ tịch này có thể là nhà
khoa học về khí tượng của bang Khi các điều kiện cho phép, lực lượng chuyên trách
nên tóm tắt cho nhà cầm quyền về các nội dung của báo cáo, bao gồm những gợi ý cho những hành động cụ thể Nó rất là cần thiết cho cộng đồng để nhận được một sự giải thích cân bằng về sự thay đổi của các điều kiện Ủy ban giám sát nên làm việc chặt chẽ
với các chuyên gia thông tin cộng đồng để giữ sự thông tin tốt đến cộng đồng
Các mục tiêu cơ bản của hội đồng giám sát là để:
Trang 15Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
1 Giúp các nhà ra quyết định thông qua một định nghĩa dễ dùng về hạn mà có thể được sử dụng để thực hiện từng bước và từng bước rút lui về các hành động đối
phó với hạn ở quy mô bang và liên bang Nó có thể là cần thiết để thông qua
nhiều hơn một định nghĩa về hạn trong việc nhận diện các tác động trong thành
phần môi trường, xã hội và kinh tế Một vài chỉ số đang được sir dung (Hayes,
1998), trong đó chỉ số SPI, Standardized Precipitation Index, được sử dụng rộng rãi (Guttman, 1998; Hayes et al, 1999) Chi số Palmer, Palmer Drought Severity
Index (Palmer, 1965), được sử dụng để thay thế cũng như phố biến hoặc như là
một công cụ bỗ sung trong nhiều bang Khuynh hướng mà các bang tin tưởng
là đa chỉ thị như các chỉ thị về các tác động đến các thành phần khác nhau
Mặc dù hiện nay không có một chỉ thị hạn đơn lẻ nào thích hợp để đo lường sự tương tác phức tạp giữa nhiều thành phần của chu trình thủy văn với các tác động của hạn
2 Giúp đỡ lực lượng chuyên trách thành lập các vùng quản lý hạn Lời khuyên của ủy ban giám sát có thể là có ích đặc hiệt trong việc thông tin về những giới hạn lưu vực tư nhiên cũng như các hạn chế và khống chế bị gánh chịu bởi số liệu đang có
3 Phát triển một hệ thống giám sát Hầu hết các bang đã có một hệ thống thu thập
số liệu tốt về giám sát khí hậu và cấp nước và nhật diện sự thiếu hụt tiềm tàng Trách nhiệm về thu thập, phân tích, và phố biến số liệu được phân chia giữa các
sở của bang và liên bang và các cơ quan khác Thách thức của uỷ ban giám sát
là phối hợp và tổng hợp phân tích cho các nhà ra quyết định và cộng đồng nhận
được sự cảnh báo sớm về các tình trạng hạn khẩn cấp
4 Kiểm kê số lượng và chất lượng số liệu từ mạng lưới quan trắc hiện tại Nhiều
mạng lưới giám sát các yếu tố mấẫu chốt của hệ thống thủy văn Hầu hết hệ
thống này được vận hành bởi các sở của bang hoặc liên bang, nhưng các mạng lưới khác cũng tồn tại và có thể cung cấp thông tin cho một phần của bang hoặc vùng Số liệu khí tượng thì rất là quan trọng nhưng chỉ thể hiện một phân
của hệ thông giảm sát tổng hợp Các chỉ thị vật lý khác (độ Âm đất, dòng
chấy, mực nước trong hỗ chứa và nước ngâm) phải được giám sát để phản ảnh các tác động của hạn đến nông nghiệp, các hộ dân cư, công nghiệp, sản suất năng lượng, và các thành phần sử dụng nước khác Kỹ thuật hữu hiệu
bao gồm các cảm biến độ ẩm đất, các trạm thời tiết tự động, số liệu vệ tính như
số liệu số hoá nhận được từ Bức xạ kế giải pháp công nghệ rất cao (the
Advanced Very High Resolution Radiometer, AVHRR)
Dé tai KC.08.22 12
Trang 16Chuong trinh KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
5 Làm việc chặt chẽ với lực lượng chuyên trách và các uý ban đánh giá dé xác định số liệu cần thiết cho người sử dụng Phát triển hoặc thay đổi các hệ thống thu thập số đang sẵn có một cách hiệu quả nhất để người sử dụng được tư vẫn
sớm và thường xuyên Luôn đảm bảo các sản phẩm đó đáp ứng được nhu cầu căn bản của những người sử dụng và sẽ được sử dụng trong khi ra quyết định Đào tạo sử dụng và ứng đụng những sản phẩm này như thé nao ciing rat 14 quan trong
6 Phát triển và cai tiến hệ thống chuyên thông tin và số liệu hiện tại Mọi người
cần được cảnh báo về hạn sớm đến mức nó có thể được phát hiện, nhưng
thường thì không đáp ứng được Thông tin cần được đưa đến mọi người và
trong việc ra các quyết định đúng thời gian
Uy ban đánh giá thiệt hại
Thành viên của ủy ban đánh giá rủi ro nên đại diện cho các thành phân kinh tế,
các nhóm xã hội, và các hệ thông sinh thái hầu như bị rủi ro do hạn Chủ tịch của
ủy ban nên là một thành viên của lực lượng chuyên trách Tiếp cận hiệu quả nhất dé
việc xác định tính bị tổn thương và các tác động của hạn là tạo ra các nhóm làm việc
dưới sự bảo hộ của ủy ban đánh giá rủi ro Trách nhiệm của hội đồng và nhóm làm việc là để đánh giá các thành phần, các nhóm dân số, và các hệ thống sinh thái bị rủi ro
và nhận diện các biện pháp giảm thiểu hợp lý và phù hợp với những rủi ro đã được chỉ
ra này Các nhóm làm việc nên được bao gồm các chuyên gia kỹ thuật và các thành phần tham đự đại diện cho các vùng này đã chỉ ra ở trên
Trưởng của mỗi nhóm làm việc, là một thành viên của hội đồng đánh giá rủi ro,
sẽ báo cáo trực tiếp cho ủy ban Theo mô hình này, trách nhiệm của ủy ban là để trực
tiếp hoạt động của mỗi nhóm làm việc và đưa ra các gợi ý cho lực lượng chuyên trách hạn vẻ các hoạt động giảm thiểu
Số lượng các nhóm làm việc sẽ thay đối cân nhắc giữa các bang Bang Colorado
đã nhận dạng 8 nhóm làm việc tác động: nước sinh hoạt, bảo vệ thế giới hoang đã, công nghiệp, nông nghiệp, buôn bán và du lịch, thế giới hoang đã, kinh tế, mất năng
lượng, và sức khoẻ Kế hoạch hạn của Idaho tom tit những trách nhiệm của 5 ủy ban
hỗ trợ: số liệu nước, thông tin cộng đồng, nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt và chất
lượng nước, và giải trí và du lịch New Mexico sử dụng 4 nhóm hỗ trợ: nông nghiệp;
nước uống, sức khoẻ, và năng lượng; thế giới hoang dã và bảo vệ thể giới hoang dã; và
các tác động kinh tế và du lịch Kế hoạch hạn của Nebraska nhận diện 2 nhóm làm
việc: nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, thế giới hoang đã, du lịch, và giải trí; và cấp nước sinh hoạt, sức khoẻ, và năng lượng
Đề tài KC.08.22 l3
Trang 17Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bão vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Một phương pháp về đánh giá và giảm thiểu rủi ro phù hợp với hạn đã được hoàn thành Chỉ dẫn tập trung vào nhận diện và ấn định các ưu tiên về các tác động
của hạn, xác định các hậu qủa kéo theo từ những tác động đó, và chọn những hành
động để chỉ rõ các hậu qủa đó Phương pháp này có thể được sử dụng bởi mỗi nhóm
làm việc Nỗ lực này đòi hỏi một sự phân tích đa nghành về các tác động và các chức năng quản lý và được phân chỉ ra thành 6 nhiệm vụ:
1 Tập hợp nhóm Lựa chọn các thành viên tham dự, các nhà quy hoạch thuộc
chính phủ, và các thành phần khác với một kiến thức làm việc về các ảnh hưởng của hạn đến các thành phần cơ bản, các vùng, và con người
Đánh giá các ảnh hưởng của các trận hạn trong qua khứ Nhận diện hạn han
ảnh hưởng đến vùng, nhóm, hệ thống sinh thái như thế nào Tư vấn các bản ghi khí tượng để xác định các bản ghi về trận hạn nặng nhất trong lịch sử, và dự
đoán chuyện gì sẽ xảy ra nếu một trận hạn tương tự xảy ra trong năm hoặc trong tương lai gần, quan tâm đến sự thay đổi về sử dụng đất, tăng dân số, và
phát triển sẽ diễn ra vì trận hán đó
Phân thứ hạng các tác động Xác định những ảnh hưởng hạn nào là cấp bách nhất cần chú ý Nhiều sự quan tâm trong việc chỉ ra các ưu tiên trong các ảnh hưởng này bao gồm kinh phí, phạm vi vùng, các xu hướng theo thời gian, các ý
kiến cộng đồng, công bằng xã hội, và khả năng của các vùng ảnh hưởng để khôi
phục
Nhận diện các hậu quả kéo theo Xác định những yếu tỗ gây ra rủi ro ở mức
cao nhất cho các thành phẩn kinh tế khác nhau, các vùng, và dân số Ví dụ, một
nguồn nước không đáng tin cậy cho đô thị trong một vùng đặc biệt có thể giải
thích các tác động mà kết quả từ các trận hạn gần đây trong vùng đó Để giảm
các tác động hạn tiềm tàng trong tương lai, rất cần thiết để hiểu các hậu quả cơ bản về kinh tế, xã hội, và môi trường của những tác động nay Dé lam điều này, các tác động hạn phải được nhận diện và nguyên nhân xảy ra được xác định Nhận diện các cách để giảm rủi ro Nhận diện các hành động có thế được triển khai trước hạn nhằm giảm rủi ro Trong ví dụ trên, các bước thực hiện để nhận diện các nguồn nước mới hoặc thay thế có thẻ tăng khả năng chịu đựng với giai
đoạn tiếp theo của hạn
Viết một danh sách việc phải làm Làm việc với lực lượng chuyên trách để chỉ
ra ưu tiên cho các sự lựa chọn có vẻ là khả thi nhất, chỉ phí hiệu quả, và công
bằng xã hội Triển khai các bước để chỉ ra các hành động này thông qua các
chương trình hiện hữu của chính phủ hoặc các quá trình làm luật
Quá trình này có khả năng để dẫn đến sự nhận diện về các hành động giảm rủi
ro hạn thích hợp và hiệu quả mà sẽ giảm các tác động của hạn một các dài hạn hơn
Trang 18
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC 08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
là các đối phó hoặc các hảnh động giảm thiểu không được kiểm tra mà có thể không
giảm các tác động của các trận hạn tương lai một cách hiệu quả
Buớc 6: Thông nhất khoa học và chính sách, làm gần các khoảng cách về thể chế
Một phạm trù chủ yếu của quá trình lập kế hoạch là thông nhất khoa học và chính sách của quản lý hạn Sự hiểu biết của các nhà làm chính sách về các vấn đề
khoa học và các hạn chế kỹ thuật liên quan đến việc chỉ ra các vấn đề đi đôi với hạn thường thì hạn chế Cũng như thế các nhà khoa học nói chung có một hiểu biết nghèo
nàn về các giới hạn chính sách hiện hữu về đối phó với các tác động của hạn Trong
nhiều trường hợp, việc giao tiếp và giữa các cộng đồng chính sách và khoa học phải được tăng lên nêu quá trình lập kế hoạch được thành công
Việc thống nhất của chính sách và khoa học trong vòng quá trình lập kế hoạch
cũng sẽ là hữu ích trong việc thành lập các ưu tiên nghiên cứu và tổng hợp hiểu biết hiện tại Lực lượng chuyên trách hạn nên quan tâm tới các phương án khác nhau
để đưa các nhóm này lại gần nhau và duy trì một quan hệ làm việc chặt chẽ
Vì các nhu cầu nghiên cứu và các khoảng cách trong trách nhiệm thể chế trở nên
rõ ràng trong thời gian lập kế hoạch hạn, lực lượng chuyên trách hạn nên biên soạn
một danh sách của những thiếu sót này và làm những gợi ý về việc làm thế nào để sửa
chữa chúng cho nhà lãnh đạo, các sở của bang thích hợp, và cơ quan lập pháp Ví dụ,
ủy ban giám sát có thể gợi ý thành lập hoặc nâng cấp một chương trình giám sát nước ngầm Gợi ý khác có thé là để đề xướng nghiên cứu về phát triển các chỉ số về cấp nước hoặc thời tiết để giúp việc giám sát cấp nước và các quá trình hành động cụ thé được khởi sự từ chính quyền bang
Buớc 7: Công bỗ kế hoạch đã được đề suất, thăm dò phần ứng
Nếu có giao tiếp tốt với cộng đồng thông qua quá trình thành lập một kế hoạch hạn, theo thời gian lực lượng chuyên trách sẽ gợi ý các phương án đối phó và giảm
thiểu hạn tốt hơn bình thường Chủ đề để nhấn mạnh trong việc viết các bản tin phát
hành và tổ chức các cuộc hội thảo về thông tin trong khi và sau quá trình lập kế hoạch hạn nên bao gồm:
« Kế hoạch hạn được kỳ vọng như thế nào để giảm nhẹ các tác động của hạn Các
bài báo có thể tập trung vào các xu hướng thay đổi do hạn gây ra, như là, Nó
ảnh hưởng như thế nào tới một gia đình nông dân, về các hậu quả về môi trường của nó, như là giảm môi trường sống của thế giới hoang dã, và các tác động kinh tế của nó, như là các chỉ phí đặc biệt cho công nghiệp hoặc cho kinh
tế chung của bang
sé gồm những chỉ phí gì để triển khai mỗi phương án, và nó sẽ được chỉ trả như
thê nào
Dé tai KC.08.22 15
Trang 19Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
« Những thay đổi gi mả nhân dân có thể được yêu cầu trong việc đối phó với các mức độ hạn khác nhau, như là giới hạn tưới cỏ và rửa xe, hoặc không tưới một loại cây trồng xác định trong một thời gian xác định
Trong những năm kế tiếp, xuất bản các bản tin nhắc nhớ về kế hoạch hạn tại
lúc bắt đầu mùa nhạy câm với hạn nhất thì rất có ích, đề cho nhân dân biết khi nào
có áp lực về cấp nước hoặc lý đo dé tin rang sau đó sẽ có sự thiểu hụt trong mùa, và
nhắc nhở họ về kế hoạch hiện hành và lịch sử và bất kỳ một nội dung thành công nào phủ hợp Nó cũng rất có ích để gợi trí nhớ của người dân nhìn nhận sớm hơn về những
tình huống sẽ dẫn đến việc hạn chế sử dụng nước
Trong thời gian hạn, lực lượng chuyên trách nên làm việc với các chuyên gia
cong bé thong tin để giữ được sự thông báo tốt tới cộng đằng về tình trạng cấp nước hiện thời, khi nào thì các tình trạng đang tiến tới “điểm phát nỗ” mà sẽ dẫn đến yêu cầu tình nguyện cho việc hạn chế sử dụng, các nạn nhân của hạn có thế tiếp cận với sự hỗ trợ như thế nào Tất cả thông tin thích hợp nên được sẵn có trên trang web
về hạn của Bang để cộng đồng có thể nhận thông tin trực tiếp từ lực lượng chuyên
trách mà không phải dựa vào truyền thông
Bước 8: Triển khai kế hoạch
Khi lực lượng chuyên trách và các bất cứ cử tri bên ngòai khác đã đồng ý với kế hoạch, iực lượng chuyên trách hoặc những đại diện đã được chỉ ra nên giám sát việc triển khai của cả các khía cạnh vận hành ngắn hạn của kế hoạch và các biện
pháp giảm thiểu lâu dài Kiểm tra định kỳ, đánh giá, và cập nhật kế hoạch hạn sẽ
giúp việc giữ cho kê hoạch đáp ứng được cúc nhu cầu của bang Một đánh giá liên tục hoặc được vận hành nhăm giữ vững những thay đổi của xã hội như là công nghệ mới, nghiên cứu mới, luật lệ mới, và những thay đổi trong quan hệ chính trị có thể ảnh hưởng tới rủi ro hạn và các khía cạnh vận hành kế hoạch hạn Rởi rø hạn có thể được đánh giá thường xuyên hơn trong khi kễ hoạch hạn chung thường được đánh gid it thường xuyên hơn Một đánh giá các tình trạng hạn mô phỏng đã được gợi ý trước khi
kế hoạch hạn được triển khai và một cách định kỳ sau đó
Các biện pháp giảm thiểu đài hạn, như là triển khai các chính sách được yêu cầu
sử dụng kết hợp nước mặt và nước ngầm, có thể yêu cầu thảo pháp chế mới và tìm kiếm kinh phí để hỗ trợ những nỗ lực về quy định và giám sát Trong bất cứ trường
hợp nào, rất cần thiết để nhận ra rằng việc giảm tính dễ bị tỗn thương lâu dài với hạn
sẽ đòi hỏi một sự nỗ lực được duy trì liên tục, mặc dù nó có thể là một vấn đề của các chương trình dài hạn được đảm nhận bởi nhiều cơ quan
Bước 9: Phái triển các chương trình giáo dục
Trang 20
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Một chương trình giáo đục căn bản khái quát để nâng cao nhận thức về các vấn
đề cấp nước dài hạn và ngắn hạn sẽ giúp ích cho người dân biết cách đối phó khi hạn xảy ra và để việc lập kế hoạch hạn không mất ý nghĩa trong khoảng thời gian những
năm không hạn Việc thích ứng với những nhu cầu của những nhóm cụ thẻ thì sẽ rất
cần thiết (ví dụ: giáo dục tiểu học và trung học, buôn bán nhỏ, công nghiệp, sở hữu
nhà, ) Lực lượng chuyên trách hoặc những cơ quan tham gia nên quan tâm đến việc phát triển các cách trình bày và các tài liệu giáo dục cho những sự kiện như là một
tuần lễ nhận thức về nước, các buổi hội thảo đặc biệt
Bước 10: Đảnh gid sau han (Post - Drought Evaluation )
Một đánh giá hoặc kiểm định các tải liệu và phân tích các hành động đối phó và đánh giá của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, và các tổ chức khác, và cung cấp
một cơ chế để triển khai các các gợi ý để nâng cao hệ thống Không có các đánh giá
sau han, thì khó có thỄ học tập được những thành công và sai lầm trong quá khứ, bởi vì lý do phai mờ trí nhớ mang tính cơ chế
Các đánh giá sau hạn nên bao gồm một phân tích về thời tiết và các khía cạnh
môi trường của hạn; các hậu quả kinh tế và xã hội của nó; quy mô, mà việc lập kế
hoạch trước hạn đã có ích trong việc giảm thiểu các tác động, trong việc là thuận lợi
hỗ trợ hoặc cứu trợ cho các vùng bị ảnh hưởng mạnh, và trong tái thiết sau hạn, và bất
kỳ những vấn đề hoặc yếu điểm khác do không có kế hoạch Cần phải có sự tập trung
trực tiếp vào các tình trạng mà trong đó các cơ chế chống hạn đã được làm và những
nơi mà xã hội đã thể hiện khả năng phục hồi; các đánh giá không nên chỉ tập trung và
những tình trạng mà trong đó các cơ chế chống hạn đã thất bại Những đánh giá về
những đối phó trước kia với những trận hạn khốc liệt cũng là một hỗ trợ việc lập kế
hoạch hạn tốt Để đảm bảo một đánh giá không thiên vị, chính phủ có thể hy vọng đặt
trách nhiệm đánh giá hạn và phản ứng của xã hội vào tay những tổ chức phi chính phú như là các trường đại học, hoặc các viện nghiên cứu chuyên nghành
Trang 21Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
CHƯƠNG II
MÔ TẢ SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN TINH NINH THUAN
I.1 Vị trí địa lý, giới hạn vùng nghiên cứu
Ninh Thuận ở vào vị trí từ 11°18'14" đến 12°09'45" vĩ độ Bắc và 108°33'08" đến
109°14'25" kinh độ Đông Nằm ở ngã ba giao nhau giữa quốc lộ [A, đường sắt thống nhất với quốc lộ 27 lên Tây Nguyên
- Phia Bac giáp tinh Khanh Hoa
- Phia Nam giap tinh Binh Thuan
- _ Phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng
- _ Phía Đông giáp biển Đông
Tổng diện tích của tỉnh là 343.000km” bao gồm các huyện thị sau: huyện Ninh Phước ở phía Nam, huyện Ninh Hải phía Bắc, huyện Ninh Sơn ở phía Tây và ở giữa là thị xã Phan Rang - Tháp chàm
I2 Đặc điểm địa hình
Tỉnh Ninh Thuận có đặc điểm địa hình phức tạp có cả vùng núi, vùng đồng bằng
bán sơn địa và vùng đồng bằng ven biển và biển Cụ thể như sau:
1 Vàng núi chiếm 60% diện tích của cả tỉnh tạo bởi : Các khôi Granit đồ sộ
phức hệ núi Chúa, các trầm tích phức hệ Jura hệ La Ngà, các trầm tích phún xuất hệ tầng Dapren phát triển ở độ cao 200m đến 1000m Địa hình núi thấp
dần về phía Đông Nam, chạy song song và rất gần bờ biển chia cắt lãnh thố Ninh Thuận thành nhiều khu vực hẹp Phía Bắc có đãy núi Chúa, É Lâm Hạ,
E Lâm Thượng giáp Khánh Hòa với các đỉnh cao từ 1000 đến 1700m Phía nam có đãy Cà Ná, Mũi Dinh với các đỉnh cao từ 800 đến 1500m hai đãy núi
này ăn lan ra sát biển bao quanh đồng bằng Phan Rang thành một bồn trũng khuất gió không lợi cho gió Tây Nam mang âm thôi tới
2 Vàng đồng bằng chiếm 40% diện tích của cả tỉnh tùy theo nguân gốc thành tạo được chia ra Hhư sau:
~ _ Vùng đồng bằng bán sơn địa được tạo thành do hiện tượng xâm thực mạnh của nước mưa hoặc do sự tích tụ thêm sông cỏ Địa hình không được bằng phẳng có xen lẫn đôi thấp cao độ từ 50 + 100m, ít màu mỡ
~ Vùng đồng bằng ven biển được tạo thành do sự bồi đắp phù sa của sông
Cái Phan Rang và sông Lu, có địa hình bằng phẳng cao độ từ 2 + 15m là diện tích nông nghiệp quan trọng nhất của tỉnh với mật độ dân cư đông đúc và làng mạc trù phú
3 Bờ biển - Biển:
— Bờ biển Ninh Thuận dài 105 km chủ yếu theo hướng Bắc - Nam, địa hình
không gồ ghẻ khúc khỷu lắm, các đãy núi ăn lan ra sát biển tạo thành các
Trang 22
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
vũng như: Vũng Phan Rang, Đầm Nại, Vũng Cà Ná được tạo thành bởi các trằm tích biển - gió
— Biển Ninh Thuận sâu, các đường đẳng sâu 10+20m chạy sát ven bờ Chế
độ thủy triều chủ yếu là nhật triều không đều, hàng tháng số ngày nhật
triểu vào khoảng từ 12 đến 16 ngày Biên độ triều dat tir 1,2+1,5m trong
kỳ triều cường
II.3 Đặc điểm sông ngòi
TỊ.3.1 Hệ thông sông Cái Phan Rang (hay còn gọi là sông Dinh)
Sông Cái Phan Rang là sông có lưu vực và chiều đài sông lớn nhất trong hệ thống
sông ngòi tỉnh Ninh Thuận Sông bắt đầu từ sườn đông của đãy núi Gia Rích ( 1923m)
ở giáp giới tỉnh Lâm Đồng sông chảy theo hướng Bắc - Nam đỗ ra biển Đông tại vịnh Phan Rang
Sông có tổng chiều dài là 119 km trong đó 25,4 km nằm trong địa giới tỉnh Ninh
Thuận Tổng diện tích lưu vực của sông: 3000 km”, trong đó 85% diện tích nằm trong
địa giới tỉnh Ninh Thuận Ảnh hưởng của thủy triều vịnh Phan rang không lớn
Đáng lưu ý là sông Cái Phan rang có một hệ thống các sông nhánh phân bố theo dạng chùm rễ cây làm cho lũ tập trung nhanh Các nhánh sông cấp 1 của sông Cái có điện tích lưu vực và chiều đài sông lớn phải kể đến như sau:
1) Sông Sắt và sông Trà Co là hai sông nhánh lớn xấp xỉ nhau và nhdp chung lam I
trước khi đồ vào sông Cái
- Sông Sắt: Bắt nguồn từ dãy núi Hà La Thuợng (1085m) thuộc Tây Nam đường chia nước Khánh Hòa, Ninh Thuận ở độ cao 760m, sông chảy theo hướng Đông
Bắc - Tây Nam Sông có điện tích lưu vực là: 411 km” và chiều dài sông chính: Ls =
2) Suối Cho Mo:
Là một nhánh sông cấp 1 phía bên tả sông Cái bắt nguồn từ núi Mao Chu Hi thuộc khối núi phía đông Tân Mỹ ở độ cao 145m suối chảy theo hướng từ Đông sang Tây và đỗ vào sông Cái tại vị trí phía thượng lưu cầu Tân Mỹ, suối chảy giữa một
vùng thung lung hẹp Sông có điện tích lưu vực: 86 km? và chiều dài suối chính Ls = 19,5 km
3) Suối Ngang (vuối Mỹ Hiệp):
Trang 23
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Là một nhánh suối cấp 1 nằm ở bên tả ngạn sông Cái Suối bắt nguồn từ Núi Rai
có cao độ 558m hướng chảy từ Đông sang Tây song song với suối Cho Mo và đỗ vào sông Cái ở phía thượng lưu đập Nha Trinh Suối có lưu vực : 59km” và chiều dài suối chinh Ls = 14 km
4) Sông Ông:
Là một nhánh suối cấp 1 nằm ở bên hữu ngạn sông Cái bắt nguồn từ núi Yen
Draph (1610m) tai đường chia nước Lâm Đồng - Ninh Thuận, sông chây theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, sau khi rời khối cao nguyên Đơn Dương (Lâm Đồng) sông đỗ xuống thung lũng Krông pha (200m) rồi chảy lệch theo hướng Tây Nam - Đông Bắc một đoạn ngắn ( 3,5 km ) sông gặp núi Yàng (605m) chảy theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam trở lại rồi hợp lưu với sông Cái ở phía thượng lưu cầu Tân Mỹ Diện tích lưu vực
của sông 203 km”, chiều dài sông chính Lạ = 28 km Một đặc điểm của sông Ông là ngoài dòng chảy cơ bản của lưu vực sông Ra nó còn phải chuyển 1 lưu lượng nước xả
từ nhà máy Thủy điện Đa Nhim với lưu lượng xã trung bình 16,7m`⁄s
5) Sông Dầu và sông Than:
Là hai sông nhánh lớn xấp xỉ nhau nằm ở bên phía bờ Hữu sông Cái, hai sông
này chảy gần đến sông Cái thì nhập chung thành một nhánh sông rồi đỗ vào sông Cái
ở phía hạ lưu cầu Tân Mỹ
- Sông Dầu bắt nguồn từ thôn Nha Huệ giữa các núi Rom - Lom (784m) và Tha - Ton (1178m) Sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam hợp lưu với sông Than tại
vị trí xã Hòa Sơn rồi đỗ vào sông Cái Sông có Fgv = 136 km”, Lạ =24 km
- Sông Than (sông Chá) bắt nguồn từ sườn phía Nam của núi Ma Rong ( 1382m) tại ranh giới 3 tỉnh Lâm Đồng - Bình Thuận - Ninh Thuận ở độ cao 1310m Sông chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc hợp lưu với sông Dầu tại vị trí UBND xã Hòa Sơn rồi đỗ vào sông Cái Sông có Fị,= 246,5 km” và Lạ = 30km
6) Sông Quao:
Là một nhánh cấp 1 của sông Cái nằm ở bên bờ hữu sông Cái bắt nguồn từ núi Tà
Mú (Tha Ton) Đoạn thượng lưu sông chảy ở địa hình vùng núi có tên gọi là sông
Lanh Ra Đoạn hạ lưu sông chảy qua vùng đồng bằng Phan rang rồi đỗ vào sông Cái
Phan rang tại vị trí phía thượng lưu cầu Đạo Long Sông có Fy, = 154 km? va Ls =
Trang 24Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh: thiên tai
suối Biêu phát nguyên từ Bình Thuận Hai suối này chạy nhập làm một tại thôn Nô Giá, sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đồng Nam sau đó chuyển hướng chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc rồi đỗ vào sông Cái tại vị trí hạ lưu cầu Đạo Long Đoạn thượng lưu sông chảy trong vùng núi, đoạn hạ lưu sông chảy qua vùng đồng bằng Phan rang đỗ vào sông Cái chỉ cách cửa sông Cái khoảng 2,5 km Sông có Fgy = 480
kmẺ và Ls = 34km
Bảng H-I: T: ống hợp F„ và I, của sông cái và các nhánh chính của sông Cái
TT 'Tên sông Vị trí đỗ vào sông Cái Ls (km) | Fev (km?)
Bắt nguồn từ các dãy núi phía Bắc huyện Ninh Hải giáp tỉnh Khánh Hòa có độ
cao từ 800 + 1000m sông chảy theo hướng Tây - Đông rồi chuyển theo hướng Nam -
Bắc đỗ vào vịnh Cam Ranh Sông có Fịy,= 130 km? va Ls = 25,5 km Các nhánh suối
cấp 1 đáng kế gồm có: Suối Vang, suối Tiên đều nằm ở phía hữu ngạn sông
2) Suối Bà Râu-Kiển Kiểền:
Là hai nhánh suối có độ lớn gần bằng nhau, hai suối này hợp lưu tại vị trí gần đường quốc lộ IA rồi chay vao Dam Nai
- Suối Ba Rau bắt nguồn từ vùng núi phía Tây quốc lộ ! thuộc xã Phước Kháng,
suối chảy theo hướng Tây - Đông đến gần quốc lộ IA gặp suối Kiền Kiền suối đổi hướng chảy theo hướng Bắc - Nam và đỗ vào Đầm Nại Suối có Fạ, = 37km’ va Ls = 9km
- Suối Kién Kiền: Bắt nguồn từ day nui phía Đông đường quốc lộ 1A thuộc xã
Lợi Hải Suối chảy theo hướng Bắc - Nam gặp suối Ba Rau tai vi trí gần quốc lộ IA rồi
đỗ vào Đầm Nại Suối có Fy= 28km” và Lạ = 8,5km
3) Suối Đông Nha:
Trang 25
Chương trình KHCN cắp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Bắt nguồn từ núi Chúa đãy núi nằm ở phía Đông quốc lộ IA, suối chảy theo
hướng Bắc - Nam rồi chảy vào Đầm Nai Suối có Fi,= 54 km” và Lạ = 15km
4) Suối Ông Kinh:
Bắt nguồn từ núi Chúa dãy núi nằm ở phía Đông quốc lộ IA Suối chảy theo
hướng Tây - Đông rồi chảy ra vịnh Phan Rang Suối có F¡„= 8,5km” và Lạ = 7,5km
3) Suối nước ngọt:
Bắt nguồn từ dãy núi nằm ở phía Đông quốc lộ [A chảy theo hướng Tây - Đông
rồi chảy ra biển Đông Diện tích lưu vực: Fy = 35,5kmˆ và Ls = 7 km
6) Sông Quán Thẻ:
Nằm ở phía Nam tỉnh Ninh Thuận Sông chủ yếu chảy trênvùng đồng bằng Quán
Thẻ sông chảy theo hướng Tây - Đông rồi chuyển theo hướng Bắc - Nam đổ vào vịnh
Cà Ná Diện tích lưu vực của sông Fy= 79 km và Lạ = 11 km
7) Suối Núi Mội:
Bắt nguồn từ dãy núi phía Đông đường quốc lộ IA trên địa bàn huyện Ninh Phước Suối chảy theo hướng Tây Đông đỗ vào vịnh Sơn Hải Diện tich Luu vue Fy =
55km? và Lạ = 9km
Bang II-2: Tổng hợp các sông độc lập nằm trong nội bộ tỉnh Ninh Thuận
Trang 26
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
rất lớn trung bình hàng năm tại Nha Hồ trên 230,2 Kcal/cm? (tại Nha Hồ), tháng ít nhất
cũng đạt trên 14 Kcal/cm2 Trung bình hàng năm lượng bức xa tổng cộng thực tế tới
160 Kcal/cm”
Trong thực tế bầu trời không phải luôn luôn quang mây, trung bình hàng tháng
lượng mây chiến gần nửa bầu trời, tháng nhiều nhất chiếm 6/10 bầu trời Trong tỉnh
trạng đó giá trị đặc trưng bức xạ vẫn lớn, ngay trong những tháng bầu trời đầy mây
lượng bức xạ tổng cộng thực tế cũng đạt 9 Keal/cm’
Lượng bức xạ đổi dao, dem lại một nền nhiệt độ cao, phân bố khá đều giữa các
tháng đã góp phần quan trọng quyết định tính chất nhiệt đới của khí hậu Ninh Thuận
2) Nẵng:
Ninh Thuận nằm ở vĩ độ thấp, quanh năm có thời gian chiếu sáng dài Hơn nữa
mùa khô lại kéo dài 8 + 9 tháng, trời thường quang mây cho nên Ninh Thuận trung bình hàng năm có tới 2800 + 2900 giờ nắng
Nếu coi mùa nắng là gồm những tháng liên tiếp có số giờ nắng vượt quá 100 giờ thì mùa nắng ở Ninh Thuận là cả năm, tháng nắng nhiều nhất là tháng 3 trung bình một
ngày có trên 10 giờ nắng Tháng nắng ít nhất là tháng 7 trung bình một ngày cũng có
trên 8 giờ nắng
II.4.2 Nhiệt độ:
Ninh Thuận có nền nhiệt độ cao quanh năm hầu hết vùng đồng bằng ven biển và các vùng núi thấp kế cận đều có nhiệt độ trung bình năm trên 26°C và tổng nhiệt năm trên 9400°C Nơi có nhiệt độ cao nhất là khu vực Phan Rang, Nha Hồ với nhiệt độ trung bình năm trén 27°C và tông nhiệt trên 9800°C
Bảng II-3: Đặc trưng nhiệt độ năm của một số trạm khí tượng
Đặc trưng NhaHỗ | Phan Rang | Mũi Dinh Ca Ná
Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối ở Nha Hồ là 14°C (năm 1964) và ở Phan Rang là
14°4C (1931) Theo các phương pháp tính toán đáng tin cậy nhất với chu kỳ 50 năm
bất cứ nơi nào trong tỉnh cũng có nhiệt độ thấp nhất không dưới 12°C Nhiệt độ cao
nhất ở Nha Hồ là 40,5°C (1983), ở Phan Rang là 39,9°C (1937) với chu kỳ 50 năm có thé quan sát được nhiệt độ cao nhất ở Phan Rang là 41,7°C và chu kỳ 100 năm là
42,6°C
Biên độ ngày của tỉnh Ninh Thuận là khá lớn Biên độ ngày của mùa đông lớn
hơn mùa hạ vùng xa biển lớn hơn vùng gần biển
Chênh lệch giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất về nhiệt độ trung bình tháng
đều chưa đến 5°C
Trang 27Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Ninh Thuận có nền nhiệt độ cao quanh năm ít biến động, không có mùa đông lạnh trừ vùng núi cao trên 1000m
1.4.3 Độ Âm:
1) Độ ẩm trung bình:
Độ Âm tương đối trung bình năm của Ninh Thuận tương đối thấp trong cả nước từ
70% đến 75%, khu vực Phan Rang có độ ẩm tương đối trung bình năm là 71% thấp
nhất trong tỉnh và cả nước
Hàng năm ở Ninh Thuận hình thành hai mùa tương đối rõ rệt là mùa âm trùng với mùa mưa và mùa khô trùng với mùa ít ẩm Trong mùa ẩm độ âm trung bình tháng đều lớn hơn trị số trung bình năm và trong mùa khô thì ngược lại
2) _ Độ ẩm thấp nhất và cao nhất:
Tháng có độ 4m thấp nhất là tháng 1 và tháng 2 Còn những tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 9, 10 và 11 Chênh lệch giữa tháng âm nhất và khô nhất khá lớn từ 12% đến 16%
3) Chỉ số ẩm ướt:
K = R/Eo
Trong do: R : Là lượng mưa
Eo: Là khả năng bốc thoát hơi nước
Vùng đồng bằng Phan Rang có chỉ số Âm ướt nhỏ nhất trong toàn quốc K < 0,6 Chỉ số âm ướt theo trung bình các tháng trong năm như trong bảng dưới đây
11.4.4 Mira
I) Cac tram do mua trén dia bàn Tinh
Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận có 13 trạm do mua hau hết có số liệu ngắn, thiếu
và gián đoạn Có 4 trạm đo mưa tương đối dài : Trạm Nha Hồ, Phan Rang, Tân Mỹ và
Ca Na
Trang 28
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Bảng II-5: Thông kê các trạm đo mưa Ninh Thuận
— Xo = 1408 mm bién déi không đều theo không gian và thời gian.Xo tại Hòn
Bà > 3500 mm, Xo tại Mũi Dinh = 600 mm chênh nhau đến 6 lần
— Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất (431mm) lớn gấp 330 lần lượng mưa
trung bình tháng nhỏ nhất ( 1,3mm)
b) Sự thay đối mưa năm theo hàng năm:
Mưa năm tại các trạm đo mưa vùng đồng bằng ven biển cho thấy có sự biến đổi
Xmax Năm Xmin Năm :
Trang 29
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Báo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
co) Mưa mùa
Ở Ninh Thuận điện tích tự nhiên tuy nhỏ nhưng có mùa mưa thay đổi theo vùng
và theo cấp lượng mưa
- Theo cấp lượng mưa trung bình nhiều năm Xo:
Khi Xo = 700mm đến 1000 mmm có 2 mùa mưa, mùa mưa chính từ tháng 9
đến tháng 11, mùa mưa phụ gây lũ tiểu mãn từ tháng 6 đến tháng 7
Khi Xo = 1000mm đến 1500 mm có mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 11, song 3 tháng 6, 7, 8 chỉ đạt chỉ tiêu trị số vượt tốn thất không đạt chỉ tiêu vượt tần suất trung bình ( P < 50%)
Khi Xo = 1500 mm đến 2000 mm mùa mưa kéo dài 6 tháng từ tháng 6 đến
Vùng đổi núi thấp có 2 mùa mưa
Vùng đổi núi cao có một mùa mưa kéo dài từ 6 tháng đến 8 tháng
Ba Tháp 12 39,3 | 2,35 | 4,23 | 177,1 | 0,42 | 0,00 | 463,6 | 0,55 | 1,65
3) — Mưa tháng
Mô hình mưa tháng trong năm có thể phân biệt thành hai dạng
- Dạng 2 đỉnh: Ứng với cấp lượng mưa 600 + 1000 mm hay vùng đồng bằng Phan Rang
Lượng mưa lớn nhất vào tháng 10 và tháng 5
Lượng mưa nhỏ nhất vào tháng 2 và tháng 7
- Dạng ! đỉnh: Ứng với cấp lượng mưa > 1000mm hay vùng núi tỉnh Ninh Thuận
Trang 30Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Lượng mưa lớn nhất vào tháng 9
Lượng mưa nhỏ nhất vào tháng 1
Bang I - 8: Lượng mưa trung bình năm, thắng (mm) của một số trạm đại biểu
Mô hình bốc hơi tháng trung bình nhiều năm có dạng:
Bảng II — 9: Lượng bắc hơi trung bình năm, tháng (mưn)
Vùng 1 mang đặc tính khí hậu vùng Trung du và vùng Núi, biên độ nhiệt ngày
tương đối lớn từ 8,5°C đến 9°C Hướng gió hàng ngày cũng thay đổi nhiều: ban đêm
gió thôi từ phía núi xuống đồng bằng, ban ngày thì ngược lại
Thiên tai chủ yếu của vùng này là lũ quét nhất là từ tháng 9 đến tháng 11 là
những tháng có mưa nhiều đôi khi xuất hiện có lốc hay mưa đá
2) Vùng 2:
Trang 31
Chương trink KHCN cap Nha nuéc KC.08: Bao vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Gồm 3 huyện thị còn lại chủ yếu là vùng đồng bằng Điều kiện khí hậu khá độc đáo với đặc điểm cơ bản là: mưa ứ nhất tỉnh và cã nước, lượng mưa hàng năm biến
động mạnh mẽ, mùa mưa ngăn, nhiệt độ cao Đây là vùng khô hạn nhất với chỉ số ẫm
ướt < 1 và lượng mưa năm < 1000 mm, mùa mưa chỉ có từ 3 đến 4 tháng, nhiều năm
không có mùa mưa, nên nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình năm là 26 đến 28°C, nhiệt độ
giữa các tháng trong mùa hạ gần như không thay đổi Biên độ nhiệt độ năm tương đôi
lớn tổng nhiệt độ năm vào khoảng 9500 + 10.000°C, có gió khá mạnh nhất là vào mùa
khô
NHẬN XÉT:
Với các điều kiện khí hậu của Ninh Thuận như phân tích ở trên chúng ta thấy:
- Ninh Thuận quanh năm chỉ có một mùa nắng rất thuận lợi cho ngành nông nghiệp có thể canh tác được nhiều vụ, nhiều loại cây trồng nhiệt đới có giá trị kinh tế cao
- Ninh thuận là một tỉnh có đặc điểm khí hậu khá đặc biệt : Vùng núi thì mưa rất
lớn, rừng bị tàn phá gây ra lũ quét, vùng đồng bằng ven biển thì lại có lượng mưa ít nhất cả nước dẫn đến tình hình hạn hán thường xuyên xây ra cho nên cần phải có biện
pháp công trình để hạn chế tác hại của lũ quét và tăng lượng nước tưới cho vùng đồng
bằng để phát triển nền kinh tế của tỉnh,
11.5 Dac diém dat dai thé nhwong
IS.1 Téng quat vé tai nguyén đất tĩnh Ninh Thuận
Đất tỉnh Ninh Thuận được hình thành trên đá mẹ macma axit (Granit, griolit), đá macmabazơ và trung tính (Bazan, andezit, đaxit), đá trầm tích, đặc biệt đá trầm tích
đệ tứ có nguồn gốc sông biển Trừ các tô hợp đất phủ sa có độ phì khá cao, còn lại là
đất nghèo đỉnh dưỡng Phân loại đất chỉ tiết của tỉnh được thể hiện trong Hình 1
Bảng II-10: Kết quả phân loại đất tỉnh Ninh Thuận
Trang 32
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
IL5.2 Phan loai và mô tả các loại đất tĩnh Ninh Thuận
A, Các loại đất thuộc vùng đồng bằng ven biển
1) — Nhóm đất cát
Diện tích 13.148 ha (3,83% tổng diện tích tự nhiên), gồm 3 loại:
* Cần cát trắng vàng (Cc)
- Diện tích có 2196ha
- Phân bố ở các vùng ven biển, chủ yếu ở Ninh Hải Thường ở địa hình trung
gian giữa biển và vùng đất phủ sa và xen kế với các vùng đất đỏ
- Màu sắc từ vàng đến trắng do hàm lượng ô xit sắt quyết định, hàm lượng này càng cao, màu càng đậm Thành phần hóa học chính: Khá chua, nghèo mùn - càng xuống sắt càng thấp, các chất khác đều nghèo
- Cén cát trắng vàng ít có khả năng sản xuất nông nghiệp, chủ yếu trồng rừng
phi lao để chắn gió, cát di động, ở địa hình thấp có thể sản xuất nông - lâm kết hợp
trồng lúa nước, khoai lang, sắn,
* Đất cát biển(C)
- Diện tích 6727 ha
- Phân bố trong các đải cồn cát, có địa hình tương đối bằng phẳng, hình thái
phẫu diện tương đối đồng nhất Lớp mặt có màu trắng sáng do đã có tích lũy mùn,
Một số phẫu diện đã có phân hóa: Có phần rửa trôi kết vón hoặc Giây
- Đất cát biễn đã được sử dụng một phần để trồng lúa nước ở địa hình thấp và trồng hoa màu (khoai lang, ngô, sắn ) hoặc các loại rau gia vị (rau cải, hành, tdi .)
Phần lớn đất cát biển đều khô hạn vì vậy cần có nước tưới và tăng cường phân bón,
đặc biệt phân hữu cơ và phân xanh
* Côn cát đỏ (Cả):
- Diện tích 4225 ha
- Cồn cát đỏ có tuổi cao hơn cồn cát trắng vàng, đã chịu sự xâm thực và xói
mòn, tạo ra địa hình lượn sóng và phân cách bờ rãnh sâu
- Đất cát đỏ có tỷ lệ sắt khá cao Tầng đất sâu, màu sắc và thành phần cơ giới
khá đồng nhất: Chủ yếu là cát mịn, thoát nước rất nhanh và kèm theo rửa trôi mạch
So với các đất cát khác, Đất cát đỏ có kết gắn rắn chắc hơn lớp mặt khô khan và nhiều
vùng không thể đào giếng
- Thanh phan hóa học: Đất khá chua, càng xuống sâu càng chua, nghèo mùn, tỷ
lệ CN thấp, chứng tỏ min bị phân giải kiệt Các chất tổng số và dễ tiêu (N, P, K) đều vảo loại nghèo, lượng Cation kiểm trao đổi tương đối thấp, do đó độ no Bazơ, dung
tích hấp thu đều thắp
- Hiện nay phan lớn đất cát đỏ còn bỏ hoang Thực vật chủ yếu là cây bụi thấp Một số đã sử dụng trồng hoa màu (khoai, sắn ) rau, đậu và các loại cây hoa quả (nhiều đất là Điều)
Dé tai KC.08.22 29
Trang 33Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
2) Nhóm đất mặn
Gồm 4 loại: Diện tích 2294 ha, chiếm 0,67% tổng số diện tích tự nhiên:
* Đất mặn sú vẹt đước (Mm):
- Diện tích 417ha Phân bố chủ yếu xung quanh Đàm Nại (Ninh Hải)
- Đất thường xuyên ngập mặn, thực vật chủ yếu ở Ninh Thuận là đước, mắm
và có vet, đà Đó là các loại có bộ rễ chẳng chit tham gia vào quá trình hình thành
đất Loại đất nâu hàm lượng hữu cơ rất cao, độ mặn cao và ít chua nhưng hàm lượng các chất tông số tương đối thấp vì có nguồn gốc từ chất nghèo dinh dưỡng
- Trước đây loại đất này bỏ hoang, nhưng hiện nay một số vùng đồng bằng,
nông dân đã được tận dụng triệt để khoanh vùng nuôi tôm, cá nước lợ
* Đất mặn nhiều (Mn) :
- Diện tích 525ha, phân bố ở vùng Cà Ná (Ninh Phước) Loại đất này dja hinh
thấp, ven sông có ảnh hưởng của thủy triều hoặc đã thoát ly thủy triều như do bị khô
hạn, mặn bốc lên nhiều, đôi khi có lớp muối trắng ở trên mặt Đất mặn nhiều nhưng
thường chưa phân hóa, tầng mặt màu nâu xám, tích lũy nhiều hữu cơ, đất thường có Giây Đất tương đối kiềm nhưng hàm lượng lân thấp Để sử dụng đất này, cần phải
tạo mặn, biện pháp chủ yếu là rửa mặn bằng nước ngọt Những năm đầu còn mặn có
thể trồng cói, các năm độ mặn giảm có thể cây lúa
* Đất mặn ít và trung bình( M):
- Diện tích 1150ha Phân bố ở các xã Hộ Hải, Nhơn Hải huyện Ninh Hải
- Đất mặn ít và trung bình, đã có sự phân hóa phẫu diện, màu nâu đến nâu xám,
vài nơi đã có tầng loang lỗ và rải rác có kết vón Đất có thành phần cơ giới nhẹ, chua,
mùn khá cao, các chất khác vào loại trung bình Loại đất này có nhiều khả năng sử dụng vào nông nghiệp Chủ yếu là cấy lúa, nhưng vẫn cần rửa mặn và tăng cường phân bón
* Đất mặn kiềm (MRỤ- còn gọi là đất Cà Giang:
- Diện tích 202 ha, có ở phía Tây nam huyện Ninh Hải Ở Việt Nam loại đất này có duy nhất ở Ninh Thuận
- Nguồn gốc có thể hình thành từ trầm tích mặn kiềm hoặc do sản phẩm phong
hóa của đá mẹ giàu kiềm và thuộc vùng bán khô hạn, lượng mưa nhỏ hơn lượng bốc hơi
Tóm lại:
+ Các loại đất mặn thường phân bố ở các vùng địa hình thấp hoặc ven cửa sông
đỗ ra biển, mùn, N-P205 - K20 tổng số tương đối cao Phản ứng môi trường tùy theo loại đất, đất mặn (Ít chua), đất mặn nhiều và đất mặn kiềm (phản ứng kiềm) Hướng
xử dụng: Vùng chủ động nước, không bị ảnh hưởng thủy triều có thé trồng hoa màu,
vùng không chủ động nước có thể làm đồng muối hoặc nuôi tôm
Trang 34
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Diện tích 17.922 ha chiếm 5,2% tổng diện tích tự nhiên, gồm 4 loại:
* Đắt phù sa được bồi hàng năm:
- Diện tích 690 ha, phân bố chủ yếu ven sông Cái - do phù sa bồi đắp hàng năm, vùng cửa sông còn ảnh hưởng của biển Địa hình tương đối thấp Thành phần
cơ giới khá phức tạp, chủ yếu là thịt trung bình đến thịt nhẹ Đất non trẻ, phẫu điện
ít phân hóa Đất khá chua, mùn tương đối khá nhưng các chất dinh dưỡng tương đối
thấp
- Đất có nhiều khả năng sản xuất nông nghiệp, canh tác dé dàng, thích hợp
nhiều loại cây trồng Hướng sử dụng chính là trồng các loại cây hoa màu (khoai lang,
ngô, cao lương), cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, đậu, mía, thuốc lá, bông ) Biện pháp cải tạo chủ yếu là giải quyết nước tưới và phân bón
* Đất phù sa không được bôi (P):
- Diện tích 11736 ha
- Đây là vùng đất tốt của tỉnh, phân bố ở tất cả các vùng đồng bằng các huyện
thị Được bồi đắp bởi các con sông trong tỉnh, có địa hình cao hơn đất phù sa được bồi
đắp hàng năm hoặc đo đắp đê ngăn nước sông Loại đất này còn trẻ, ít phân hóa phẫu
điện
-_ Đất phù sa không được bồi đắp hầu hết các tầng đất dày, thành phần cơ giới
từ thịt trung bình đến thịt nhẹ, tý lệ sét khá cao (34%) Đất ít chua, giàu mùn tỷ lệ CN
trung bình, chứng tỏ mùn có chất lượng khá tốt Đạm tống số ở mức trung bình, lân
tông số trung bình, nhưng lân dễ tiêu khá 10-20 mg/100g đất, lượng Ca, Mg khá Nhìn chung đây là đất có độ phì khá, tiềm năng nông nghiệp lớn Hiện tại loại đất này hầu
hết trồng lúa và hoa màu, trên đất thé cư trồng cây ăn trái Nhìn chung cây trồng phát
triển tốt, cho năng suất cao, Đây là loại đất tốt cần ưu tiên phát triển các loại cây trồng
có giá trị kinh tế cao như bông, lạc, mía Kết hợp với các loại cây lương thực như
khoai lang, ngô Biện pháp cải tạo cần chú ý hoàn chỉnh hệ thống thủy nông để thâm canh tăng vụ cây trồng và tăng cường phân bón đề bồi dưỡng, bảo vệ và cải tạo đất
* Đất phù sa Giây (Pg):
- Diện tích 5184 ha
- Phân bố rộng rãi ở các vùng địa hình thấp, ở Ninh Phước thường bị ngập úng
nước gây hiện tượng Giây (yếm khí) Hầu hết là đất có tầng dày, mùn màu xám, thoát nước kém Đất chua nhưng độ phì khá, rất thích hợp với trồng lúa
- Hiện tại do chưa thoát nước tốt nên đa số chỉ cấy được có một vụ, hướng sử
dụng chủ yếu là thoát nước để cấy 2 vụ, kết hợp bón vôi và cày ải để cải tạo đất
Trang 35
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
* Đất phù sa suối (Py):
- Diện tích 312 ha
- Đó là các đải đất phù sa nhỏ hẹp ven suối vùng đổi núi - địa hình khá cao,
thành phần cơ giới nhẹ, chưa phân hóa phẫu diện, đất khá dày, độ phì nhiêu thấp Dat
phù sa suối có khả năng tận dụng trồng hoa màu lương thực nhưng cần bón phân và chú ý lịch thời vụ để tránh lũ
B Các loại đất thuộc vững đổi núi
- Đất có nguồn gốc phù sa cổ, bị rửa trôi mạnh nên thường có màu xám đến xám
trắng Tầng mặt có màu đậm hơn do có tích lũy mùn, tầng đất thường dày (79%), các vùng đất có tầng mỏng đo có nhiều kết vón hoặc đá ong Có thành phần cơ giới nhẹ, tỷ
lệ cát 50-60% do đó đất có khả năng giữ nước và giữ màu kém Đắt chua, hàm lượng mùn thấp, tỷ lệ C/N: 5/9 chứng tỏ min bi phan giải kiệt Các chất tổng số và dễ tiêu đều thuộc loại thấp và rất thấp
- Đất tuy có độ phì thấp, nhưng có điều kiện thích hợp với các loại cây hoa màu
và cây công nghiệp ngắn ngày như khoai, sắn, đận, bông Biện pháp cải tạo là cung cấp nước tưới, bón nhiều phân nhất 14 phân hữu cơ và phân xanh
* Đất bạc màu trên đá macma axit và đá cát (Ba):
- Diện tích 29.189 ha Phân bố hầu hết các vùng đồi núi trong tỉnh
- Đây là đất hình thành trên sản phẩm của đá macma axit và đá cát Do vậy, đa phần đất có thành phần cơ giới nhẹ Phần nhiều khá đồng nhất So đất xám bạc màu
trên phù sa cổ, loại đất này có tầng đất mỏng nhiêu hơn, nhiều kết vón và đá ong hơn
và địa hình có độ dốc cao hơn Về tính chất hóa học, đất xám bạc màu trên đá macma
a xít và đất cát có độ chua cao, dinh dưỡng các loại đều thấp, khả năng giữ nước và giữ
màu kém (thấp hơn cả đất xám bạc màu trên phù sa cổ)
- Sản xuất trên đất này cho hiệu quả thấp, rất cần có đầu tư để cải tạo Yếu tố cần đầu tư là nước tưới và phân bón Cây trồng thích hợp là loại cây hoa màu và cây ăn quả thích hợp là cây điều
* Đất xám nâu vàng bán khô (XE):
- Diện tích 30.700 ha Phân bố ở những vùng bán sơn địa trong tỉnh
- Nguồn gốc hình thành trên đá macma a xit va phù sa cỗ thuộc vùng có khí hậu
khô hạn Tuy nguồn gốc không giàu kiềm nhưng do ít bị rửa trôi nên loại đất này có
pH cao (5,5 - 6,5), độ no bazo cao (80-90%) Địa hình chủ yếu là bằng và lượn sóng
Trang 36
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
nhẹ Đất có màu nâu đến nâu xám, thành phần cơ giới nhẹ, tầng tích tụ có tỷ lệ sét cao hơn Đất lớp mặt có nhiều sỏi sạn và đá lộ đầu, hàm lượng dinh dưỡng thấp
- Loại đất này có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, nhưng cần
đầu tư cải tạo lớn là nước tưới và tăng cường phân bón để trồng các loại hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả (điều)
5) Nhóm đất đỏ vàng
Diện tích 184.477 ha chiếm 53,78% tông điện tích tự nhiên, gồm 7 loại:
* Dat dé ving ban khé han (Dk):
- Diện tích 2230 ha Phân bố ở các vùng thị xã Phan Rang - Tháp Chàm Đây
cũng là dat duy nhất Việt Nam có ở vùng này
- Được hỉnh thành trên loại đá Andezit, một loại macma trung tinh gần kiềm, trong điều kiện khí hậu khô khan, ít mưa, ít bị rửa trôi nên đất có độ pH cao, đất có
màu đỏ và thành phần cơ giới tương đối nặng Địa hình bằng phẳng đến lượn sóng
nhẹ Đất có hàm lượng nghèo dinh dưỡng cao, tổng cation trao đổi khá
- Loại đất này có khả năng thích hợp với nhiều loại cây trồng và có điều kiện sản xuất thuận lợi Nên phát triển cây ăn quả dài ngày như: điều hoặc các loại cây ngắn hạn như: thuốc lá, mía nhưng cần đầu tư phân bón nhất là phân hữu cơ N, P, K
* Đất đỏ nâu trên đá macma bzơ và trung tính: (Fk)
- Diện tích 3.990 ha, chủ yếu được hình thành trên đá bazan Đất có tầng khá
dày, thành phần cơ giới nặng địa hình cao dốc là chủ yếu Vì vậy tuy độ phì cao nhưng ít có khả năng cho sản xuất nông nghiệp
- Hiện tại một số đất nâu đỏ nân đã được khai thác sử dụng, đây là loại quý hiếm
của tỉnh, nên dành cho cây công nghiệp đài ngày và cây ăn quả Nhưng cần đầu tư phân bón và nước tưới
* Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất:
- Diện tích 9.054 ha (2,64%), phân bố rải rác tất cả các huyện thị trong tỉnh
- Đất được hình thành trên đá mẹ phiến sét, nghèo thạch anh nên thành phần cơ giới khá nặng
- Màu sắc đỏ vàng là chủ yếu, kiến trúc cục, hạt nhỏ, đất chua, mùn trung bình,
đạm và lân tổng số trung bình, nhưng lân dé tiêu nghèo Nhìn chung loại đất này có
độ phì khá cao, khả năng nông nghiệp lớn và mộ số diện tích có tầng dày và độ đốc
lớn
* Đất vàng đỏ trên đá macma axit(Fa):
- Đây là loại đất có diện tích lớn nhất của tỉnh 154.895 ha, phân bố hầu hết ở các vùng đặc biệt là vùng núi cao
- Đất có tầng dày khá, nhưng phân lớn trên độ đốc cao Vì vậy, khả năng sử
dụng cho nông nghiệp không lớn Nhìn chung loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ
Trang 37
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
* Dat nau vàng trên phù xa cổ (Fp):
- Dién tich khá lớn 9,199 ha( 2,66%), phan bố ở các vùng bán địa địa hình cao
hơn đất xám phù sa cỗ
- Đất có tầng dày, độ dốc thấp, thành phần cơ giới chú yếu là thịt nhẹ (tỷ lệ cát
gần 50%) thoát nước nhanh Đất chua, hàm lượng mùn tương đối thấp, các chất dinh dưỡng đều vào loại nghèo Tuy có độ phi không cao nhưng đây lả loại đất có khả năng nông nghiệp lớn, thích hợp nhiều loại cây trồng Sản xuất trên đất này cần có nước tưới và phân bón nhiều Có thể sử dụng đa dạng các loại cây trồng từ hoa màu, lương thực, cây công nghiệp ngăn ngày, dài ngày và cây ăn quả
* Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq):
- Diện tích 2.959 ha Phân bố ở các vùng bán sơn địa, địa hình ở đây cao hơn đất
xám trên phù sa cỗ
- Đất có tầng dày là chính, độ đốc thấp, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nhẹ tỷ
lệ gần 50%) thoát nước nhanh Đất chua, hàm lượng mùn tương đối thấp, các chất
dinh dưỡng đều vào loại nghèo Tuy có độ phì không cao nhưng đây là loại đất có khả năng nông nghiệp lớn, thích hợp nhiều loại cây trồng Sản xuất trên đất này cần có
nước tưới và phân bón nhiều Có thể sử dụng đa dạng các loại cây trồng từ hoa màu,
lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và cây ăn quả
* Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa (Fl)
- Diện tích 2230ha, phân bố rải rác trong tỉnh Đây là loại đất đỏ vàng đo trồng
lúa nước lâu năm hình thành Đất vẫn còn giữ bản chất của nguồn gốc đá mẹ nhưng bị biến đổi như có hiện tượng Giây, có độ dày và độ phi thường cao hơn do được đầu tư
chăm sóc
- Đất sử đụng trồng lúa và màu Yêu cầu thiết yếu là phải có nước và phân bón,
kể cả bón vôi vì độ chua cao
6) Nhóm đất mùn vàng đỏ trên macma a xit (Ha):
- Diện tích khá lớn 15.000 ha (4,37%) thuộc vùng có độ cao trên 1000m
- Hầu hết đất có tầng mỏng và độ dốc cao trên 25°
` Loại đất này không có khá năng sản xuất nông nghiệp, dành để bảo vệ rừng đầu
nguôn
7) Đất thung lung dốc tụ(D)
- Diện tích 873 ha (0,25%) Phân bố các khe thung lũng vùng đồi núi Đất hình
thành do sản pham bao mòn, rửa trôi từ trên đồi núi không xa đưa tới
Trang 38
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
- Địa hình thường thấp trũng đọng nước Thành phần cơ giới phụ thuộc sản phẩm bồi tụ và điều kiện lắng đọng Đặc điểm chung là đất có tầng dày thành phần cơ giới khá nặng Hàm lượng mùn cao, nhưng các chất dinh dưỡng đều nghèo
- Loại đất này có thể khai phá trồng lúa nước nhưng cần ca nước tưới và tiêu, Rất
cần bón vôi và lân
8) — Đấtxói mòn trơ sói đá (E):
Đây là loại đất đã bị bào mòn, rửa trôi mạch, mất khả năng sản xuất nông nghiệp Trong tỉnh có diện tích khá lớn 16.925 ha, chiếm 4,95% diện tích tự nhiên Loại đất này chỉ để phục hồi rừng hoặc có điều kiện thì trồng rừng, tạo thành hệ sinh thái môi
II.5.3 Đánh giá về đặc điểm thổ nhưỡng đât đai tỉnh Ninh Thuận
Trong tổng số 335.200 nghìn ha đất tự nhiên, 187.850ha (56%) giành cho Lâm
nghiệp (gồm rừng đầu nguồn, phòng hộ, đất núi cao, độ dốc lớn, hoặc đất tầng mỏng,
nhiều đá lộ, ít có khả năng nông nghiệp); 32.264 ha đất khác (7%) (gồm thé cu, đất khu quan sy, cén cát, đất xói mòn tro sỏi đá, sông, hồ, vũng ) còn lại 115.086 (37%)
ha đất có khả năng nông nghiệp (đất déc <= 15°) phân bế chủ yếu ở vùng đồng bằng ven biển của tỉnh
Để phát huy hiệu quả kinh tế của 115.000ha đất có khả năng nông nghiệp của
tỉnh phụ thuộc rất nhiều vào công tác thủy lợi hóa của tỉnh nhà
Trang 39
Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
CHƯƠNG HI
HIEN TRANG VA KẾ HOẠCH
PHAT TRIEN KINH TE - XA HOI TINH NINH THUAN
HI.I Hiện trạng kinh tế - xã hội
TH1.1 Hiện trạng dân sinh
Từ tháng 1/1992 tỉnh Ninh Thuận được tách ra từ tỉnh Thuận Hải cũ, có 3 huyện
và 1 thị xã với tống số 43 xã 9 Phường và 2 thị tran
Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2001 là: 519.918 người Mật độ dân số bình quân 152(người/km?), các dân tộc trong tỉnh chủ yếu là người Kinh sau đó là dân tộc Chăm,
Rắc Lây
Bảng III-1: Bảng tông hợp đặc điểm dân số và diện tích tự nhiên của từng huyện
TT Huyện, thị xã Diện tích tự Dân số Mậtđộ | Đơn vị hành chính
nhiên (người) dân số
1) Giới thiêu chung
Sau khi được tách ra từ tỉnh Thuận Hải cũ tháng 1/1992, Ninh Thuận cùng với cả
nước đã đi dân vào thể ôn định và tăng trưởng kinh tế, từng bước hòa nhập và phát
triển theo cơ chế thị trường có định hướng XHCN Các số liệu tổng hợp thể hiện thực
trạng phát triển kinh tế của tỉnh những năm gần đây như sau:
Đề tài KC.08.22 36
Trang 40Chương trình KHCN cấp Nhà nước KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
Đơn vị: ha
diện tích | Ninh Ninh Phan N.Phước
Tổng diện tích đất tự nhiên | 335.227 | 180.148 | 57.118 | 7.974 89.987 U- Đất nông nghiệp 45.947 | 13.434 | 10.238 | 3.593 18.679