Xác định tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt khu ký túc xá B3 Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Trang 1I.ĐẶT VẤN ĐỀ.
I. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ bảo vệmôi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng Thực hiện Luật Bảo vệ môitrường, Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về tăng cường côngtác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian qua đã có những chuyểnbiến tích cực Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoànthiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường Nhậnthức về bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân đã được nânglên; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước đượchạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã đạt đượcnhững tiến bộ rõ rệt Những kết quả đó đã tạo tiền đề tốt cho công tác bảo vệmôi trường trong thời gian tới
Ngày 29/5/2008, kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII thông qua Nghị quyết
về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh liênquan Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2008 Theo đó thành phố HàNội mở rộng có diện tích tự nhiên 334.470,02ha (3.344,7002km2) và dân số là6.232.940 người.Trong đó Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội thuộc khu vựcngoại thành Hà Nội là một trong số những trường có diện tích lớn nhất trong cảnước cụ thể là 200.3ha, với số lượng sinh viên là khoảng 25000 sinh viên Hiệnnay, trên địa bàn Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội có 1 khu kí túc sau đạihọc và 1 khu kí túc cho du học sinh và 8 khu kí túc cho sinh viên.Với số lượngkhu kí túc xá tương đối lớn này đã giải quyết vấn đề nhà ở cho một số lượng lớnsinh viên nhưng nó cũng có những bất cập đặc biệt là vấn đề rác thải
Trang 2Khu kí túc xá B3 thuộc Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội là khu kítúc dành cho nữ với thải lượng rác thải tương đối lớn mà chủ yếu là rác thải sinhhoạt.Xuất phát từ những thực tiễn của vấn đề trên chúng tôi tiến hành thực hiện
“ Kiểm toán chất thải rắn sinh hoạt khu vực kí túc xá B3 Trường
đại học Nông Nghiệp Hà Nội”
II Mục đích, yêu cầu của đề tài
Các số liệu thu thập được phải đảm bảo độ chính xác và tin cậy
Chỉ ra được những điểm nổi bật trong hiện trạng các thành phần rác thảicủa khu kí túc xá b3 Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Tính tổng lượng rác thải của khu kí túc xá b3 Trường Đại Học NôngNghiệp Hà Nội
Chỉ ra được những mặt hạn chế và tích cực của công tác quản lý rác thảitrong khu kí túc xá b3 Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Trang 3 Đưa ra được các giải pháp mang tính khả thi, phù hợp với khu kí túc xá b3Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội.
Trang 4II.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
II.1 Chất thải rắn và phát sinh chất thải rắn.
Chất thải là toàn bộ các loại vật chất được con người trong các hoạt động kinh tế- xã hội, bao gồm các hoạt động sản xuất và hoạt dộng sống duy trì sự tồn tại của cộng đồng Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại dịch
vụ, du lịch giao thông sinh hoạt tại các gia đình trường học…
Lượng chất thải phát sinh do nhiều yếu tố như tăng trưởng và phát triển sản xuất, sự gia tăng dân số, quá tình đô thị hóa, công nghiệp, sự phát triển của điều kiện sống, trình độ dân trí
a/ Phát sinh rác thải trên thế giới:
Nhìn chung lượng phát sinh rác thải ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau, phụthuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số, và thói quen tiêu dùng của nước đó Tỷ
lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầungười
Bảng 1 : Lượng phát sinh rác thải ở một số nước trên thế giới
Băng cốc( Thái
Lan)|
Singapo Hồng koong New York( mỹ)
1.6kg/người/ngày 2kg/người/ngày 2.2kg/người/ngày 2.65kg/người/ngày
Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhaugiữa các nước Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm 60-70% ở Trung Quốc, chiếm78% ở Hồng Kong, 48% ở philippin và 37% ở Nhật Bản, ở nước ta chiếm 80%
Trang 5Theo đánh giá của ngân hành thé giới, các nước có thu nhập cao chỉ có khoảng25-35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng chất thải đô thị.
Các số liệu thống kê gần đây về tổng lượng chất thải ở Anh cho thấy hàng nămLiên Hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong số đó, ước tính 46,6 triệu tấnrác thải sinh hoạt, chỉ có 60% số này được chôn lấp, 34% được tái chế, 6%đượctthieeu đốt Chỉ tính riêng chất thải thực phẩm, theo dự án khảo sát được thựchiện từ tháng 10/2006- 3/2008, chất thải thực phẩm được tạo ra từ hộ gia đìnhnhiều hơn tới hàng tấn so với chất thải bao bì, chiếm 19% chất thải đô thị Tổng
số hàng năm các hộ gia đình ở Anh phát sinh 6,7 triệu tấn chất thải thực phẩm,chỉ riêng ở England là 5,5 triệu tấn, trong đó 4,1 triệu tấn là thực phẩm vẫn cóthể sử dụng được Trung bình mỗi hộ gia đình thải ra 276 kg chất thải thựcphẩm/năm hay 5,3kg/tuần Trong đó có 3,2kg vẫn có thể sử dụng lại được
Theo thống kê mới đây của Bộ Môi Trường Nhật Bản, hàng năm nước này cókhoảng 450 triệu tấn rác thải Trong đó có 25% rác sinh hoạt, và có tơi 70% rácsinh hoạt được tái chế thành phân hữu cơ, góp phần giảm bớt nhập khẩu phânbón, cung cấp kịp thời và chủ động hơn cho sản xuất nông nghiệp
Mỗi ngày ở Singapo thải ra 16000 tấn rác Ở đây, rác được phân loại tại nguồn,nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày được quay lại các nhà máy để tái chế
Nhìn chung trên thế giới, việc thu gom và xử lý rác thải mang tinh chất quy mô
và có kĩ thuật hơn rất nhiều, đặc biệt ở những nước phát triển
b/ Tình hình phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam
Theo Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004, năm 2004, trên cả nước đã phát sinh 15 triệu tấn chất thải rắn (CTR) trong đó khoảng 250.000 tấn chất thải nguy hại CTR sinh hoạt (đô thị và nông thôn) chiếm khối lượng lớn với số
Trang 6lượng khoảng 13 triệu tấn, CTR công nghiệp phát sinh vào khoảng 2,8 triệu tấn
và CTR từ các làng nghề là 770.000 tấn Do quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh
mẽ, tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt đang tăng nhanh trung bình đạt 0,7-1,0
kg/người/ngày và có xu hướng tăng đều 10-16% mỗi năm Theo nghiên cứu của
Bộ Xây dựng năm 2009, tổng khối lượng CTR phát sinh cả nước năm 2008 vào khoảng 28 triệu tấn, trong đó lớn nhất là CTR đô thị chiếm gần 50%, CTR nôngthôn chiếm 30%, lượng còn lại là CTR công nghiệp, y tế và làng nghề Dự báo tổng lượng CTR cả nước có thể sẽ phát sinh khoảng 43 triệu tấn vào năm 2015,
67 triệu tấn vào năm 2020 và 91 triệu tấn vào năm 2025, tăng từ 1,6 đến 3,3 lần
so với hiện nay
Biểu đồ 1: Tỉ lệ các chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay
Tỷ lệ các chất thải rắn ở Việt Nam hiện
chất thải sinh hoạt chất thải khác
Bảng 2: Thành phần rác thải sinh hoạt
Thành phần chất thải % khối lượng
Rau, thực phẩm thừa, chất hữu cơ
Trang 7Giấy, bao bì giấy 2.1
Nguồn: HOWADICO, 06-2002
* Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động: phòng ngừa và giảm thiểu phát sinh CTR; phân loại tại nguồn; thu gom, vận chuyển; tăng cường tái sử dụng, táichế; xử lý và tiêu huỷ
Công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay còn chưa tiếp cận được với phương thức quản lý tổng hợp trên quy mô lớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế (3R) để giảm tỷ lệ chất thải phải chôn lấp Hoạt động giảm thiểu phát sinh CTR, một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong quản lý chất thải, còn chưa được chú trọng Chưa có các hoạt động giảm thiểu CTR sinh hoạt Ở quy mô công nghiệp, số cơ sở áp dụng sản xuất còn rất ít, khoảng 300/400.000 doanh nghiệp Hoạt động phân loại tại nguồn chưa được áp dụng rộng rãi, chỉ mới được thí điểm trên qui mô nhỏ ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Tỷ lệ thu gom chất thải ở các vùng đô thị trung bình đạt khoảng 80-82%, thấp nhất là đô thị loại IV
(65%), ở Hà Nội cao hơn (90%); ở các điểm dân cư nông thôn ~ 40-55%
Khoảng 60% khu vực ở nông thôn chưa có dịch vụ thu gom chất thải, chủ yêu dựa vào tư nhân hoặc cộng đồng địa phương Tỷ lệ thu gom, vận chuyển CTR tuy đã tăng dần song vẫn còn ở mức thấp, chủ yếu phục vụ cho các khu vực đô
Trang 8thị, chưa vươn tới các khu vực nông thôn Xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển CTR tuy đã được phát triển nhưng chưa rộng và chưa sâu, chủ yếu đượchình thành ở các đô thị lớn Năng lực trang thiết bị thu gom, vận chuyển còn thiếu và yếu, dẫn tới tình trạng tại một số đô thị đã thực hiện phân loại CTR tại nguồn nhưng khi thu gom, vận chuyển lại đem đổ chung làm giảm hiệu quả của việc phân loại Tái sử dụng và tái chế chất thải mới chỉ được thực hiện một cáchphi chính thức, ở qui mô tiểu thủ công nghiệp, phát triển một cách tự phát, không đồng bộ, thiếu định hướng và chủ yếu là do khu vực tư nhân kiểm soát Công nghệ xử lý CTR chủ yếu vẫn là chôn lấp ở các bãi lộ thiên không đạt tiêu chuẩn môi trường với 82/98 bãi chôn lấp trên toàn quốc không hợp vệ sinh Các
lò đốt rác chủ yếu dành cho ngành y tế và chỉ đáp ứng được 50% tổng lượng chất thải y tế nguy hại Việc phục hồi môi trường đối với các cơ sở xử lý CTR còn nhiều hạn chế Tình trạng đổ chất thải không đúng nơi quy định còn xảy ra, gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng
Vì vậy , vừa qua bộ xây dựng đã xây dựng chương trình xử lý chất thải rắn sinhhoạt áp dụng công nghệ hạn chế chôn lấp giai đoạn 2009-2020 với quan điểmkét hợp đầu tư khuyến khích huy động các thành phần kinh tế tham gia đầu tưtrong lĩnh vực xử lý chất thải rắn sinh hoạt, đảm bảo đến năm 2020 các địaphương đều được đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý chất thải răn sinh hoạt ápdụng công nghệ, hạn chế chôn lấp
Giai đoạn 2009- 2015 sẽ có 85% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinhđược thu gom, xử lý, đảm bảo môi trường ,trong đó có hơn 60% được tái chế,tái sử dụng, sản xuất phân hữu cơ, hoặc đốt rác thu năng lượng Giai đoạn 2006-
2020 sẽ có 90% tổng lượng chất thải rắn được thu gom và xử lý đảm bảo môitrường, trong đó có 85% được tái chế, tái sử dụng, sản xuất phân hữu cơ và đốtthu hồi năng lượng
Trang 92 Kiểm toán chất thải (KTCT)
Thời gian qua, mặc dù đã tích cực thực hiện nhiều biện pháp, nhưng xu hướng
ô nhiễm môi trường ở nước ta vẫn tiếp tục gia tăng Nguyên nhân là do các giải pháp phòng ngừa và kiếm soát ô nhiễm chưa được thực hiện một cách hiệu quả
và đồng bộ Công tác quản lý chất thải ở các cơ sở sản xuất mới chỉ tập trung vào xử lý ở "cuối đường ống", mà chưa chủ trọng đến các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn tại nguồn Một trong những công cụ để kiểm soát, giảm thiểu phát sinh chất thải gây ô nhiêm môi trường trong các cơ sở sản xuất là kiểm toán chất thải (KTCT)
Cùng với sản xuất sạch hơn, KTCT là công cụ quản lý môi trường nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa ô nhiễm ngay từ quá trình sản xuất tại cơ sở công nghiệp KTCT bao gồm việc rà soát, kiểm tra các quá trình sản xuất, xác định nguồn thải và khối lượng chất thải, tính toán cân bằng vật chất, xác định các vấn đề trong vận hành sản xuất, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải ra môi trường Có thể nói, KTCT là một lĩnh vực chuyên sâu của kiểm toán môi trường (KTMT), được tiêu chuẩn hóa bằng ISO 14010 và ISO
14011:1996
Mặc dù, được thể hiện khác nhau ở nhiều nước, song một quy trình KTCT thường được thực hiện với các bước: Khảo sát quá trình, thu thập số liệu về đầu vào, đầu ra của các công đoạn sản xuất (nguyên liệu, năng lượng, nước và sản phẩm); Xác định loại hình, nguồn, khối lượng chất thải; Nghiên cứu tính toán cân bằng vật chất; Xác định các nguyên nhân gia tăng chất thải; Nghiên cứu, đề xuất và xác định hiệu quả kinh tế của các giải pháp giảm thiểu chất thải; Thực hiện các giải pháp giảm thiểu phát sinh chất thải
Trang 10KTCT có thể do một nhóm kiểm toán độc lập, hoặc cũng có thể do chính bản thân doanh nghiệp thực hiện, với sự tham gia của một đơn vị quan trắc, phân tích môi trường Các yếu tố cần thiết cho việc thực hiện thành công KTCT tại
cơ sở công nghiệp bao gồm: Sự cam kết hợp tác, quyết tâm cải thiện ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp; Xác định quy mô, trọng tâm của kiểm toán; Đề xuất các giải pháp khả thi, đảm bảo tính kinh tế khi thực hiện
Nếu thực hiện KTCT tốt thì không chỉ giảm thiểu việc phát sinh chất thải ra môitrường, giảm thiểu ô nhiễm mà còn tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, nước, giảm sự lãng phí tài nguyên, đem lại giá trị kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất
và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Đặc biệt, thực hiện KTCT còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, hạn chế biến đổi khí hậu hiện là vấn đề nóng trên thế giới
Áp dụng KTCT ở một số nước trên thế giới
Từ năm 1980, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng về KTCT Quy trình KTCT đối với từng ngành đã được lập, nhiều tài liệu, sách về KTCT đã được xuất bản
Ở Ôxtrâylia, KTCT trong các ngành công nghiệp đã được giới thiệu như là một công cụ hỗ trợ cho việc quản lý chất thải, bên cạnh các công cụ khác như sản xuất sạch hơn và đánh giá vòng đời sản phẩm Cục Các ngành công nghiệp cơ bản, Công viên, Nước và Môi trường của bang Tasmania, Ôxtrâylia đã khuyến cáo các doanh nghiệp nên sử dụng KTCT, với các nội dung như xác định các nguồn thải, số lượng và các loại chất thải được tạo ra; Xác định nguyên nhân làm gia tăng chất thải; Thiết lập các mục tiêu/giải pháp và thứ tự ưu tiên cho việc giảm phát sinh chất thải
Trang 11Một số ngành công nghiệp đặc thù gây tổn hại tới môi trường như khai thác mỏ,sản xuất hóa chất thì được khuyến khích tuân thủ theo các Quy chế về Thực hành quản lý môi trường tốt nhất (BPEM), được chính quyền Ôxtrâylia thiết kế riêng cho mỗi ngành Ví dụ, đối với ngành khai thác mỏ đã được Cục Bảo vệ môi trường Úc ban hành quy chế năm 1995, trong đó bao gồm quy định về KTCT và nộp báo cáo kiểm toán hàng năm.
Bỉ, là thành viên của Cộng đồng châu Âu (EU) nên phải tuân theo những quy định về môi trường do EU ban hành, trong đó có Quy trình kiếm toán quản lý sinh thải (EMAS), năm 2001 Đến năm 2004 đã có 150 doanh nghiệp ở các tỉnh thuộc vùng Flanders của Bỉ tham gia thực hiện EMAS và sau đó là 22 doanh nghiệp khác Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp tự nguyện áp dụng các quy trình này không chỉ với mục đích nhằm đạt được các chứng chỉ môi trường Một trong những công ty đầu tiên của Bỉ thực hiện KTCT là Công ty Shred it Belgium Công ty này, năm 2007, đã tái chế 1.650 tấn chất thải và thực hiện tính toán
"Dấu chân các-bon", làm giảm lượng cacbon từ hoạt động vận tải, trở thành Công ty đầu tiên của Bỉ đạt C02 trung tính
Tại Canada, theo quy định Ontario 102/94 của Bộ Môi trường và Năng lượng, các cơ sở sản xuất bắt buộc thực hiện KTCT Quy định này nêu rõ, các cơ sở giáo dục, bệnh viện, nhà nghỉ, khách sạn, cơ sở sản xuất, các tòa nhà công sở, nhà hàng và các cơ sở kinh doanh phải thực hiện chương trình giảm thiểu chất thải, bao gồm 4 bước trong đó có thực hiện KTCT Thời gian một báo cáo KTCT phải được lưu trữ dưới dạng file ít nhất 5 năm và phải chỉ ra được loại vật liệu hoặc sản phẩm nào được doanh nghiệp sử dụng là vật liệu hoặc sản phẩm tái chế Bên cạnh đó, Canada rất chú trọng tới việc xem xét quy trình sản xuất của doanh nghiệp như là một thông tin đầu vào để thực hiện kiểm toán, từ
đó đề xuất các khâu giảm thiểu chất thải cũng như nguyên liệu sản xuất
Trang 12Ở Ấn Độ, khái niệm KTMT trong ngành công nghiệp chính thức được giới thiệu từ tháng 3/1992 với mục đích chung là giảm sự lãng phí tài nguyên và thúc đẩy sử dụng công nghệ sạch nhằm giảm thiểu phát thải Bộ Môi trường và Rừng đã ban hành thông tư số GSR 329(E) vào tháng 3/1992, đưa ra yêu cầu bắt buộc nộp Báo cáo KTMT hàng năm đối với các cơ sở công nghiệp, trong đóphải thể hiện các thông tin về quản lý từng nguồn thải Để thúc đẩy hoạt động KTMT, Ban Kiểm soát ô nhiễm quốc gia (CPCB) đã tổ chức tập huấn, đào tạo, thực hiện các mô hình trình diễn và xây dựng hướng dẫn KTMT cho các ngành công nghiệp ô nhiễm cao như thuốc bảo vệ thực vật, giấy và bột giấy, đồ uống, dệt nhuộm.
Đối với Thái Lan, hoạt động KTCT đã nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức và doanh nghiệp Viện Công nghệ châu Á (AIT) đã đưa nội dung này vào đào tạo từ những năm đầu thập kỷ 90 Các dự án KTCT cũng được thực hiện ở nhiều nhà máy công nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau như sản xuất bánh kẹo, tinh bột, giấy, cao su
Ở Singapo, KTCT được cụ thể hóa như là một chiến lược tối thiểu hóa phát sinhchất thải, bao gồm 8 bước: Cam kết của lãnh đạo; Lựa chọn nhóm/bộ phận làm việc về tối thiểu hóa phát sinh chất thải; Thực hiện kiểm toán chất thải; Xác định chi phí của việc giảm phát sinh chất thải; Phát triển, xây dựng các phương
án giảm thiểu chất thải; Đánh giá khả năng tiết kiệm và sắp xếp ưu tiên các lựa chọn/giải pháp; Xây dựng kế hoạch giảm thiểu chất thải; Thực thi và cải tiến kế hoạch
Hiện nay, có nhiều doanh nghiệp đã thực hiện chiến lược tối thiểu hóa chất thải như: Công ty TNHH Baxter Healthcare Pte, Công ty TNHH Chevron Oronite, Công ty TNHH IMM Singapo Pte, Công ty TNHH Kyoei Engineering Singapo
Trang 13Pte, Công ty TNHH Sony Display Device Pte, Công ty TNHH Tetra Pak JurongPte
Ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Lan và nhiều nước khác, các hoạt động KTCT được lồng ghép trong các công cụ kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm như sản xuấtsạch hơn, KTMT, đánh giá vòng đời sản phẩm Mục tiêu chính của các công cụ này là nhằm hướng đến việc giảm thiểu phát sinh, kiểm soát ô nhiễm do chất thải gây ra
Tình hình nghiên cứu và áp dụng KTCT ở ViệtNam
Ở Việt Nam hiện nay, KTMT và KTCT đã được đưa vào giảng dạy ở một số trường đại học và cao đẳng trong cả nước, song chưa nhiều và mới chỉ dừng ở các vấn đề tổng quát mà chưa đi sâu vào các lĩnh vực cụ thể Việc áp dụng KTCT trong các cơ sở sản xuất cũng mới dừng ở một vài dự án thí điểm như
"Kiểm soát ô nhiễm môi trường" của UNDP năm 1995 ở một số nhà máy tại Việt Trì và Biên Hòa; đề tài "Điều tra, đánh giá đề xuất việc KTCT công nghiệptại 5 khu công nghiệp, khu chế xuất" của Cục Bảo vệ môi trường năm 2005; đề tài "Nghiên cứu áp dụng KTCT trong công nghiệp quốc phòng" của Trung tâm Khoa học, Kỳ thuật và Công nghệ Quân sự (Bộ Quốc phòng) năm 2004; đề tài
"KTCT tại các làng nghề tái chế kim loại và đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm" của Viện Khoa học Công nghệ Môi trường -Đại học Bách khoa
Hà Nội năm 2005; Nghiên cứu và áp dụng thí điểm về KTCT cho Nhà máy giầyThượng Đình, Hà Nội và Công ty TNHH Thuộc da Đông Hải do Tổng cục Môi trường thực hiện năm 2008
Nguyên nhân của tình trạng số lượng doanh nghiệp áp dụng KTCT cũng như sản xuất sạch hơn (ISO 14000) còn thấp là do Nhà nước chưa có những chính sách cụ thể để trực tiếp hoặc gián tiếp bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện
Trang 14Ngoài ra, nhận thức và hiểu biết về KTCT và các lợi ích mà nó mang lại cũng chưa cao Các quy trình KTCT chưa được nghiên cứu, xây dựng cho các ngành công nghiệp như ở một số nước trên thế giới Các sổ tay hướng dẫn kỳ thuật về KTCT chưa được ban hành và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng doanh nghiệp Bên cạnh đó, ở nước ta cũng chưa có các nghiên cứu đề xuất chính sách khuyến khích áp dụng KTCT trong quản lý môi trường.
Một số công cụ giảm thiểu
Trong bổi cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nguồn tài nguyên đang bị khai thác, sử dụng không bền vững, biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, trên thế giới đã hình thành trào lưu tăng trưởng xanh với mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và giảm nhẹ biến đổi khí hậu ơ nước
ta, với chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, ô nhiễm môi trường do chất thải đã và đang ngày càng gia tăng Vì vậy, việc áp dụng các công cụ phòng ngừa và kiểm soát
ô nhiễm, trong đó có KTCT đang là một yêu cầu cấp thiết
Để đẩy mạnh việc triển khai áp dụng KTCT, về phía các cơ quan quản lý Nhà nước cần thực hiện một số giải pháp sau:
Xây dựng sổ tay hướng dẫn KTCT cho ngành công nghiệp nói chung và cho một số ngành công nghiệp nói riêng Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục, nâng cao nhận thức về KTCT Khuyến khích, hỗ trợ phát triểndịch vụ tư vấn về KTCT
Nghiên cứu xây dựng và ban hành chính sách khuyến khích/bắt buộc áp dụng KTCT trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh Đảm bảo một lộ trình nhất định để các doanh nghiệp có thể hiểu rõ các quy định cũng như có phương án
Trang 15chuyển đổi, thay thế và điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp với điều luật quy định.
Cần có các chế tài khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp tự nguyện áp dụng và
cơ chế thúc đẩy hoạt động KTCT thông qua cạnh tranh theo hình thức dịch vụ
Xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về chất thải và KTCT Áp dụng các tiêu chuẩn mà các nước đã áp dụng nhằm thống nhất quản lý chất thải
Đối với các doanh nghiệp, cần chủ động nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng KTCTtrong các hoạt động sản xuất của mình để hướng tới bảo vệ môi trường và tiết kiệm các chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh
Để góp phần thực hiện các giải pháp này, từ năm 2009, Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và môi trường đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường giao tổ chức triển khai thực hiện Dự án "Áp dụng thử nghiệm KTCT trong quản lý môi trường ngành công nghiệp Việt Nam ", thực hiện trong 3 năm (2Ỏ09 - 2012)
Dự kiến, Dự án sẽ nghiên cứu, xây dựng sổ tay KTCT cho ngành công nghiệp nói chung và 10 ngành công nghiệp nói riêng, đồng thời hướng tới xây dựng chính sách yêu cầu các doanh nghiệp phải triển khai KTCT, sử dụng KTCT nhưmột công cụ kiểm soát ô nhiễm trong thời gian tới
Trang 16II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Rác thải sinh hoạt tại khu vực KTX B3 Trường Đại Học Nông Nghiệp HàNội
3.2Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu đề tài nghiên cứu, tôi tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:
- Nghiên cứu các văn bản về quản lý rác thải, rác thải sinh hoạt.
- Điều tra về hiện trạng phát sinh, tình hình phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt khu KTX B3, Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
- Tiến hành thu gom, phân loại, cân rác tại khu KTX B3
- Trên cơ sở lý luận và các số liệu phân tích về thực trạng rác thải sinh hoạt khu KTX B3 đưa
ra được nhận xét về những ưu, nhược điểm và những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý rác thải sinh hoạt.
- Từ kết quả thực ngoại suy lượng rác thải phát sinh của khu ký túc trong một tuần và trong một năm.
- Đánh giá hiệu quả của việc giảm thiểu rác bằng các hình thức tái chế và tái sử dụng.
- Đề xuất một số giải pháp để quản lý rác thải sinh hoạt khu KTX theo hướng tốt hơn.
Trang 173.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1Quy trình kiểm toán môi trường
a) Lập kế hoạch kiểm toán
- Xác định được sự đồng tình ủng hộ của ban quản lý ký túc và sinh viên các
phòng ở của khu KTX B3.
- Xác định phạm vi và địa điểm kiểm toán: Rác thải sinh hoạt tại khu vực KTX B3 Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội.
- Mục tiêu chính của cuộc kiểm toán:
+Từ kết quả thực ngoại suy lượng rác thải phát sinh của khu ký túc trong một tuần và trong một năm.
+ Đánh giá hiệu quả của việc giảm thiểu rác bằng các hình thức tái chế và tái sử dụng.
+ Đề xuất một số giải pháp để quản lý rác thải sinh hoạt khu KTX theo hướng tốt hơn.
- Lập nhóm kiểm toán: nhóm trưởng là kiểm toán viên trưởng, các thành viên còn lại là kiểm toán viên.
b) Thực hiện cuộc kiểm toán
* Hoạt động trước kiểm toán:
- Lập kế hoạch kiểm toán tại hiện trường:
+ Thời gian: từ 30/9 đến 6/10
+ Địa điểm: khu KTX B3 Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội.
+ Tiến hành phân chia nhiệm vụ cho các thành viên trong đội kiểm toán
+ Thời gian dự kiến kiểm toán là 1 tuần, thời lượng kiểm toán mỗi ngày từ 17h- 18h30.
- Chuẩn bị bảng câu hỏi trước kiểm toán và danh mục kiểm tra (Phụ lục 1)
- Tổng hợp các thông tin nền và các thông tin về khu KTX B3.
- Thăm quan địa điểm kiểm toán: Khu KTX B3.
Trang 18- Lập bảng câu hỏi điều tra, khảo sát (Phụ lục 1)
- Xem xét lại kế hoạch kiểm toán và kiểm tra lại dụng cụ phục vụ cho công tác kiểm toán.
+ Cân tất cả các rác thu được cùng 1 lúc, xác định tổng khối lượng
+ Cân tổng rác thu được của từng phòng
+ Cân riêng khối lượng rác đã phân loại
* Hoạt động sau kiểm toán.
- Tổng hợp lại các thông tin, số liệu thu thập được
- Xử lý số liệu
- Chuẩn bị báo cáo kiểm toán
- Lấy ý kiến tham khảo
- Hoàn thành báo cáo kiểm toán cuối cùng.
c) Kế hoạch hành động
3.3.2Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập các số liệu thứ cấp về số phòng ở và phòng chức năng, số lượng sinh viên trong một phòng thông qua phòng công tác chính trị và công tác sinh viên của trung tâm dịch vụ trường học.
+ Các số liệu thứ cấp về phí thu gom rác, phí vận chuyển,… qua phiếu điều tra tổ vệ sinh môi trường (Phụ lục 1)
Trang 19- Thu thập các số liệu sơ cấp về khối lượng, thành phần chất thải sinh hoạt ở mỗi phòng thông qua bảng hỏi, phiếu điều tra thông qua mẫu phiếu điều tra ( phụ lục 1)
- Quá trình thực nghiệm đi thu gom, phân loại và cân rác ở một số phòng của khu KTX B3 và tổng hợp thành bảng số liệu theo mẫu (phụ lục 1)
- Từ các số liệu thu thập được ở bảng trên tiến hành tổng hợp thành bảng số liệu các loại rác
thải phát sinh trong ngày theo mẫu (phụ lục 1)
3.3.3Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Phương pháp này được sử dụng trong đề tài với mục đích tham khảo ý kiến của các thầy cô trong ngành môi trường, các cán bộ làm công tác môi trường Mặt khác, thực hiện tra cứu sách báo, các công trình nghiên cứu đã công bố từ lựa chọn, thừa kế và vận dụng có chọn lọc, phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài.
3.3.4.Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
- Phương pháp này tổng hợp tất cả số liệu đã thu thập được từ các phương pháp trên đồng thời
xử lý các số liệu thông qua các phần mềm như excel, word…
- Tính toán lượng rác thải phát sinh trong một năm của ký túc B 3 bằng: lượng rác thải trung bình của một phòng/tuần* số phòng*số tuần trong năm
- Tính toán tổng lượng thức ăn thừa phát sinh từ ký túc trong một năm bằng: Lượng thức ăn thừa phát sinh trung bình trong ngày của khu KTX B3 * 365 ngày.
- Từ tổng lượng thức ăn thừa phát sinh trong năm sẽ tính toán được lượng phân compost tạo
ra bằng 50- 60% lượng chất hữu cơ ban đầu Từ đó sẽ tính được số tiền thu được nếu tận dụng lượng chất thải hữu cơ làm phân compost
- Tính toán tổng lượng nilon phát sinh từ ký túc trong một năm sẽ bằng: Lượng túi nilon phát sinh trung bình của KTX B3 /ngày * 365 ngày.
- Tính toán tổng lượng giấy vụn phát sinh từ KTX B3 trong một năm sẽ bằng : Lượng phát sinh hàng ngày của của khu KTX B3 * 365 ngày.
Trang 20IV.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả điều tra thực tế
Ngày lấy mẫu : Thứ 2 ngày 03 tháng 10 năm 2011
Trang 22Biểu đồ 2: Thành phần các loại rác thải trong ngày thứ 2
Ngày lấy mẫu : Thứ 3 ngày 04 tháng 10 năm 2011
Trang 24Ngày lấy mẫu : Thứ 4 ngày 05 tháng 10 năm 2011
Trang 25Chất thải
Tổng 750 1540 1220 845 210 1220 1680 7465
Biểu đồ 4: Thành phần các loại rác thải trong ngày thứ 4
Ngày lấy mẫu : Thứ 5 ngày 06 tháng 10 năm 2011
Trang 26Túi bóng 300 400 110 150 400 300 300 1960Nhựa
Trang 27Ngày lấy mẫu : Thứ 6 ngày 30 tháng 9 năm 2011