Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sản phẩm của công ty Dệt Minh Khai sang thị trường Nhật Bản
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 15 năm mở cửa phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trườngđịnh hướng XHCX, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã phát triểnkhông ngừng và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn hướng ra xuất khẩu.Với tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới thông qua việc thực hiệnAFTA, tổ chức thương mại thế giới WTO…đã và đang tạo ra cho cácdoanh nghiệp Việt Nam những vận hội mới Cũng là cơ hội tốt cho cácdoanh nghiệp Dệt may Việt Nam phát huy thế mạnh xuất khẩu, mang lạinguồn ngoại tệ cho phát triển đất nước
Công ty dệt Minh Khai là một trong những đơn vị lớn của ngành côngnghiệp Hà Nội hoạt động trong lĩnh vực dệt may sản xuất các sản phẩm dệtkim, dệt thoi…Được thành lập vào những năm 1970 đã trải qua nhiềuthăng trầm biến cố song với nỗ lực chủ động sáng tạo trong sản xuất kinhdoanh
Bước sang năm 2005 công ty thực hiện chuyển đổi từ công ty Dệt MinhKhai thành công ty TNHH nhà nước một thành viên để nhằm tạo thế chủđộng lớn hơn cho công ty, giúp công ty có thể nắm lấy những thời cơ mớiđạt tới tầm phát triển cao hơn
Thị trường Nhật Bản là một thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhấtcủa Việt Nam và cũng là một thị trường truyền thống của công ty Dệt MinhKhai Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng thị trường Nhật Bản là một thịtrường khó tính, rất khắt khe với sản phẩm mới, Việt Nam muốn thâm nhậpvào thị trường này gặp không ít khó khăn từ phía Nhật Bản, cũng như cácđối thủ khác đã có mặt trên thị trường này
Để có thêm hiểu biết và mở rộng phần thị trường này từ đó đưa ranhững sản phẩm phù hợp nâng cao kim nghạch xuất khẩu nên em chọn đề
Trang 2tài “Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sản phẩm
của công ty Dệt Minh Khai sang thị trường Nhật Bản”
Luận văn này gồm 3 phần :
Chương I: Tổng quan và những đặc điểm về công ty Dệt Minh Khai Chương II: Thực trạng xuất khẩu sản phẩm của công ty Dệt Minh Khai vào thị trường Nhật Bản
Chương III: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của công ty Dệt Minh Khai sang thị trường Nhật Bản
Trong thời gian thực tập ở công ty em đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡtận tình của các cô chú trong phòng kế hoạch- thị trường của công ty DệtMinh Khai, cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn ĐìnhTrung Qua đây em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo và các côchú trong phòng kế hoạch - thị trường Công ty dệt Minh Khai đã tạo mọiđiều kiện giúp em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Vì hiểu biết của em còn hạn chế nên khoá luận này không tránh khỏinhững thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý của thấy giáo và các côchú phòng kế hoạch thị trường để em hoàn thành khoá luận này tốt hơn
Trang 3CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ
CÔNG TY DỆT MINH KHAI.
I.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY DỆT MINH KHAI
Tên công ty : Công ty dệt Minh Khai
Tên giao dịch : MIKHATEX
Trụ sở chính : 423 Minh Khai , Hai Bà Trưng , Hà Nội
- Điện thoại : 04.8624271
- Fax : 04.8624255
- Emai : mikhaitex@fpt.com
Chức năng nhiệm vụ của công ty
- Sản xuất các sản phẩm dệt thoi và dệt kim, sản phẩm may mặc và sảnphẩm liên doanh phục vụ cho nhu cầu trong nước và thị trường xuấtkhẩu
- Được nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị, phụ tùng ngành dệtmay mặc phục vụ cho nhu cầu sản xuất của công ty và thị trường
- Được làm uỷ thác xuất nhập khẩu cho các đơn vị có nhu cầu
- Được hợp tác liên doanh, làm đại lý, đại diện mở cửa hàng giới thiệu vàtiêu thụ sản phẩm của công ty và sản phẩm liên doanh với các tổ chứckinh tế trong và ngoài nước
Công ty dệt Minh Khai được khởi công xây dựng từ cuối những năm 1960,đầu những năm 1970 đã trải qua những giai đoạn phát triển rất phức tạp, cụthể như sau:
1.Giai đoạn 1970-1980
Đây là giai đoạn công ty mới thành lập và đi vào hoạt động, trong thờigian này công ty đã gặp rất nhiều khó khăn do nhà xưởng xây dựng chưa
Trang 4hoàn chỉnh, thiết bị do Trung Quốc viện trợ về lắp đặt không đồng bộ, sốmáy ban đầu của công ty chỉ có 260 máy dệt thoi khổ hẹp của Trung Quốc,tài sản cố định của công ty khi đó mới có gần 3 triệu đồng Năm 1975 lànăm đầu tiên công ty đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty mớichỉ đạt:
- Giá trị tổng sản lượng gần 3 triệu đồng
- Sản phẩm chủ yếu là khăn bông các loại
2.Giai đoạn 1980-1990
Trong thời gian này, công ty đã có một số thay đổi đó là: Năm 1983,công ty đổi tên thành Nhà máy dệt Minh Khai và được thành phố đầu tưthêm cho một dây chuyền dệt kim đan dọc của CHDC Đức (cũ) để dệt cácloại vải tuyn, rèm, valide Công ty cũng đã tập chung đầu tư theo chiều sâu,đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất, bằng mọi biện pháp kinh tế và kỹ thuậtđưa dần toàn bộ máy móc thiết bị đi vào hoạt động, phục vụ sản xuất, nhờ
đó công ty đã nâng cao được chất lượng sản phẩm Năm 1983 được sự giúp
đỡ của UNIMEX Hà Nội công ty bắt đầu xuất khẩu khăn ăn sang Nhật Bản
và từ đó thị trường Nhật Bản trở thành thị trường chủ yếu của công ty,lượng hàng xuất khẩu sang thị trường này ngày càng lớn, thị phần của công
ty trong thị trường Nhật Bản ngày càng lớn
3.Giai đoạn 1990 đến nay
Đây là giai đoạn công ty gặp nhiều khó khăn nhất, những thách thứckhắc nghiệt nhất Bước sang năm 1998, do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng tài chính trong khu vực và trên thế giới, công ty dệt Minh Khai lạiphải đối mặt với thử thách to lớn về tài chính và thị trường tiêu thụ sảnphẩm Thị trường chủ yếu của công ty là Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng tolớn của cuộc khủng hoảng tài chính Tuy vậy công ty cũng từng bước khắcphục và đi vào ổn định sản xuất
Trang 5Nhìn lại quá trình gần 30 năm xây dựng và phát triển của công ty, tuy cólúc thăng trầm, song công ty vẫn đạt được một số thành tựu đáng kể gópphần vào phát triển đất nước Điều này được thể hiện thông qua kết quảnhư sau:
- Giá trị tổng sản lượng năm 1975 công ty mới chỉ đạt được 3.045 triệuđồng, năm 2004 đã đạt 78.085 triệu đồng
- Doanh thu đạt 3,75 tỷ đồng năm 1975, năm 1990 đạt 18,5 tỷ đồng, năm
1 Đặc điểm về tổ chức bộ máy của công ty
Để thích ứng với cơ chế thị trường phức tạp và hay biến động, với địabàn hoạt động rộng và để thực hiện tốt các mục tiêu , nhiệm vụ được giao,công ty đã sử dụng mô hình tổ chức trực tuyến chức năng Đây là kiểu cơcấu được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp nhà nước hiện nay.Trong cơ cấu này các chức năng được chuyên môn hoá hình thành lên cácphòng ban Cụ thể là:
Trang 6Giám đốc công ty
Giám đốc công ty
Phòng kế hoạch thị trường
PX tẩy
nhuộm PX dệt thoi PX tẩy nhuộm PX hoàn thành
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty dệt Minh Khai.
Quản trị gia cấp cao của công ty gồm có giám đốc và hai phó giám đốc:
Giám đốc : Là người đứng đầu công ty, bảo vệ quyền lợi cho cán bộcông nhân viên, phụ trách chung về mọi vấn đề của công ty
Trang 7 Phó giám đốc sản xuất : Chịu trách nhiệm quản lý điều hành quá trìnhsản xuất, chỉ đạo sản xuất theo kế hoạch và chỉ đạo kế hoạch tác nghiệpcác phân xưởng.
Phó giám đốc kỹ thuật : Chịu trách nhiệm quản lý kỹ thuật, chất lượngsản phẩm, quản lý nguồn cung cấp điện, nước, than, phục vụ cho sảnxuất Chỉ đạo việc xây dựng các định mức vật tư và quản lý việc thựchiện an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp
Chức năng nhiệm vụ của các đơn vị :
Các phòng ban :
Phòng tổ chức – hành chính :
Giúp giám đốc xây dựng mô hình tổ chức sản xuất và quản lý trongcông ty Quản lý số lượng và chất lượng cán bộ công nhân viên Sắp sếpđào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty, xây dựng quản lý quỹtiền lương và các định mức lao động, bảo vệ an ninh trật tự trị an nội bộ,thực hiện công tác chữa bệnh tại chỗ, chăm lo sức khoẻ cho cán bộ côngnhân viên
cụ thể trong kinh tế đối ngoại
Trang 8Cơ cấu sản xuất của công ty
PX dệt thoi PX dệt kim PX tẩy nhuộm PX hoàn thành
Kho sợi Kho trung gian Kho thành phẩm
Phòng tài vụ :
Phòng tài vụ có chức năng giúp giám đốc về lĩnh vực thống kê, kếtoán tài chính, đồng thời có trách nhiệm theo dõi kiểm tra, giám sát tìnhhình thực hiện kế hoạch thu chi tiền và hạch toán kinh tế nhằm giảm chiphí nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
2 Đặc điểm về sản xuất của công ty.
Xuất phát từ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và tình hình thực tế củacông ty, cơ cấu sản xuất của công ty được tổ chức theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2 : Sơ đồ về cơ cấu sản xuất của công ty dệt Minh Khai
Trang 9Theo sơ đồ trên ta thấy cơ cấu sản xuất của công ty được tổ chứcthành 4 phân xưởng:
Phân xưởng dệt thoi: Thực hiện các công việc chuẩn bị cho trục dệt vàxuốt sợi ngang đưa vào máy dệt thành khăn bán thành phẩm theo quytrình sản xuất khăn bông
Phân xưởng tẩy nhuộm: Có nhiệm vụ thực hiện các công đoạn tẩynhuộm sấy khô và định hình các loại khăn bông, vải tuyn
Phân xưởng dệt kim: Có nhiệm vụ thực hiện các công đoạn chuẩn bị cácbôbin sợi mắc lên máy để dệt thành vải tuyn mộc theo quy trình côngnghệ sản cuất màn tuyn
Phân xưởng hoàn thành: Thực hiện các công đoạn cắt, máy, kiểm trađóng gói đóng kiện các sản phẩm khăn bông và cắt kiểm các loại vảituyn vải nối vòng theo quy trình sản xuất
Nhìn chung cơ cấu sản xuất của công ty được bố trí khá đơn giản,trong các phân xưởng trên thì phân xưởng tẩy nhuộm và phân xưởng hoànthành có vị trí quan trọng hơn
3 Đặc điểm về sản phẩm của công ty
Công ty dệt Minh Khai chuyên sản xuất các sản phẩm vải như: khăn
ăn, khăn mặt, khăn tắm, thảm chùi chân, áo choàng tắm, khăn nhà bếp cácloại, vải tuyn và màn tuyn
Sảm phẩm của công ty phong phú về chủng loại nhờ có hệ thốngmáy móc thiết bị đa dạng như máy dệt Trơn, máy dệt Dobby, máy dệtJacquard và các máy nhuộm khác
Việc thay đổi mãu mã rất nhanh chóng nhờ có hệ thống phần mềmthiết kế và các máy dệt kiếm điện tử
Tuy giá bán của công ty hiện nay không ở mức độ thấp của thịtrường nhưng vẫn được thị trường chấp nhận vì chất lượng sản phẩm ổnđịnh và đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng
Trang 10Sản phẩm của công ty qua các năm từ 2001-2004 được thể hiện qua bảngsau:
Bảng 1: Sản phẩm chủ yếu của công ty từ năm 2001- 2004
TT Danh mục sản
phẩm
Kg sản phẩm
Tỷ lệ
%
Kg sản phẩm
Tỷ lệ
%
Kg sản phẩm
Tỷ lệ
%
Kg sản phẩm
đồ sau:
Trang 116.5
Biểu đồ 1: Biểu đồ về thị trường của công ty
Nhật bản Thị trường khác
Những năm gần đây công ty mở rộng được thị trường xuất khẩu sang
Mỹ EU, một số nước Châu á như Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc nhưngkim ngạch còn ở mức khiêm tốn
Thị trường nội địa kém phát triển vì mức độ sử dụng sản phẩm trongnước không cao tuy hiện nay trình độ tiêu dùng đã nâng cao nhưng chỉ ởcác khu vực đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Các sản phẩmsản xuất cho thị trường nội địa không có nhiều vì giá không phù hợp vớithu nhập của đa phần người tiêu dùng Công ty chủ yếu bán các sản phẩmkhông xuất khẩu được với giá thấp để thu hồi nguyên liệu đầu vào Gầnđây công ty đã ký hợp đồng cung cấp sản phẩm với các siêu thị ở Hà Nội,Hải Phòng, Quảng Ninh, tiếp cận với nhu cầu của bộ phận người tiêu dùng
có thu nhập cao làm nền tảng cho việc khai thác thị trường nội địa trongthời gian tới
5 Đặc điểm về trang thiết bị máy móc, nguyên liệu sản xuất.
a) Đặc điểm về công nghệ , trang thiết bị máy móc.
Công ty hiện đang vận hành 2 loại hình công nghệ là công nghệ dệt thoisản xuất khăn bông và công nghệ dệt kim đan dọc sản xuất vải tuyn, màntuyn
Với hệ thống thiết bị bao gồm các loại thiết bị chính sau:
Trang 12 Nhóm thiết bị dệt thoi có:
Máy dệt thoi khổ rộng 1,1m : 222 chiếc
Máy dệt thoi khổ rộng 1,8m : 52 chiếc
Máy dệt kiếm khổ rộng 2,6m : 20 chiếc
Máy dệt kiếm khổ rộng 1,8m : 20 chiếc
Và các thiết bị chuẩn bị dệt
Nhóm thiết bị dệt kim :
Máy dệt kim đan dọc : 18 chiếc
Máy mắc sợi : 2 chiếc
Nhóm thiết bị tẩy nhuộm :
Nồi nấu : 3 chiếc
Máy nhuộm sợi : 1 chiếc
Máy nhuộm khăn : 5 chiếc
Máy sấy định hình : 3 chiếc
Các thiết bị phụ trợ …
Nhóm thiết bị may :
Máy may 1 kim: 110 chiếc
Máy may chỉ tết, vắt sổ : 18 chiếc
Trong hệ thống thiết bị của công ty chủ yếu là các thiết bị do Trung Quốc
và một số nước XHCN trước đây chế tạo từ năm 1965-1980 Để đáp ứngnhu cầu của thị trường và chiến lược kinh doanh của công ty, trong nhữngnăm gần đây công ty đã mạnh dạn vay vốn ngân hàng đầu tư mua sắm một
số loại thiết bị hiện đại được thể hiện qua bảng sau:
Trang 13Bảng 2 : Tình hình về đầu tư máy móc thiết bị của công ty
trong những năm qua
Năm Danh mục thiết bị Nước sản xuât
Số lượn g
2000
Máy dệt kiếm VIMATEX Máy dệt kim ECO_FLOW
Italia Đức
4 1
2001
Máy dệt kiếm VIMATEX
RINGSOFT
Máy may chỉ tết Máy may 1 kim
Máy vắt sổ YMATO
Italia Đức
Nhật Bản Nhật Bản Nhật Bản
8
1 2 10 6
2003
Máy dệt kiếm LEONARDO Máy dệt kiếm GA700-I Nồi hơi dầu COCHRAN
RINGSOFT
Máy may 2 kim
Italia Trung Quốc Scôtlen Đức Nhật Bản
4 20 1 1 3
Nguồn : Phòng kế hoạch thị trường –công ty dệt Minh Khai
Nhìn chung , trong những năm qua công ty đã đầu tư thêm một số máymóc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng do hạn chế
về nguồn vốn nên máy móc vẫn chưa đủ để đáp ứng hết nhu cầu sản xuấtNguồn vốn đầu tư cho máy móc thiết bị chủ yếu là vốn vay nhân hàng dovậy công ty cũng bi động trong việc mua sắm này
Trang 14b) Đặc điểm về nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu chủ yếu là sợi bông, trong đó sợi bông để sản xuất khănbông và áo choàng tắm chiếm 50%, sợi petex sản xuất vải tuyn và màntuyn chiếm khoảng 45% và các hợp chất thuốc nhuộm Tất cả các nguyênliệu này chủ yếu được nhập khẩu từ các nước như Ấn Độ, Đài Loan, NhậtBản, Thụy Sỹ…Lượng nguyên liệu dùng để sản xuất chủ yếu vẫn phảinhập ngoại chiếm tới 70-80% Các cơ sở trong nước thường cung cấpnguyên liệu sợi 100% cotton cho công ty nhưng với số lượng và chất lượngcòn hạn chế Đây là một khó khăn đối với công ty vì giá cả nhập khẩu caonên lợi nhuận mà công ty thu được chưa lớn, hơn thế giá trị gia công chiếm
tỷ lệ lớn, các hợp đồng gia công không ổn định…
6 Đặc điểm về lao động
Yếu tố lao động có ý nghĩa quan trọng đối sản xuất, khả năng cạnh tranhxuất khẩu của sản phẩm Chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếptới năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm, đồng thời trình độ của ngườilao động cũng ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng công nghệ , máy móc thiết
bị trong việc sản xuất sản phẩm của công ty Trình độ tay nghề bậc thợcàng cao thì sản phẩm làm ra càng có chất lượng và khả năng nắm bắt,thích nghi với công nghệ mới của người lao động càng nhanh, nhờ đó mớiđáp ứng kịp thời yêu càu của thị trường
Công ty dệt Minh Khai ngày đầu khi mới đi vào thành lập chỉ có khoảng
415 cán bộ công nhân viên, trong đó có 55 cán bộ quản lý kinh tế và kỹthuật Cho đến nay thì số lao động của công ty là 1046(31/12/2004) cán bộCNV, trong đó:
- Số lao động nữ : 832 người, chiếm 79,5% trong tổng số lao động
- Số cán bộ quản lý kỹ thuật : 80 người, chiếm 7,5% trong tổng số laođộng
- Tuổi đời bình quân của người lao động trong công ty : 35 tuổi
- Số lao động sản xuất trong công ty : 977 người, chiếm 93,4% tổng sốlao động
Bậc thợ bình quân : 3,5
Trang 15Số lượng và chất lượng lao động của công ty được thể hiện qua bảngsau :
Bảng 3 : Tình hình về lao động của công ty
Phân loại
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng Tỷ lệ %
Số lượng
Nguồn : Phòng tổ chức hành chính – Công ty dệt Minh Khai
Qua số liệu trên ta thấy:
Số lao động của công ty năm 2002 so với năm 2001 giảm 16 ngườitrong đó lao động gián tiếp giảm 11 người, lao động trực tiếp giảm 5 người
Sở dĩ có sự giảm về lao động như vậy là do số lao động nghỉ hưu, một
số dây chuyền được trang bị máy móc hiện đại, đã giảm công nhân đứngmáy, lao động của công ty phần lớn là lao động tốt nghiệp phổ thông trunghọc, trung cấp, còn lại là đại học
Trang 16Phần lớn lao động của công ty nằm trang độ tuổi từ 30-49 tuổi Năm
2002 chiếm khoảng 80% đây là độ tuổi sung sức phù hợp với những côngviệc lao động cần sức dẻo dai
Cũng giống như các doanh nghiệp trong ngành dệt khác, công ty dệtMinh Khai cũng có số lao động nữ chiếm tỷ lệ tương đối cao trong tổng sốlao động của toàn công ty ( chiếm khoảng 79,5% ) Điều đó tạo cho công tymột số thuận lợi trong sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫncòn một số mặt hạn chế ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của công ty Mặc
dù vậy, công ty dệt Minh Khai vẫn tạo mọi điều kiện cho đội ngũ lao động
để họ có thể phát huy tối đa khả năng làm việc của mình giúp nâng caonăng suất lao động
Trình độ của đội ngũ lao động cũng là một vấn đề đặt ra đối với công
ty hiện nay Nhìn chung trình độ của đội ngũ lao động trong công ty mớichỉ ở mức trung bình khá ( bậc thợ trung bình : 4 ) Số cán bộ kỹ thuật chưađược bổ xung nhiều, số công nhân kỹ thuật lành nghề tuổi đã cao, sức khoẻ
đã giảm Do đó ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, từ đó ảnh hưởng tớihoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của công ty Đồng thời nó cũngảnh hưởng tới khả năng vận hành máy móc thiết bị và trình độ công nghệcủa công ty Cán bộ quản lý trong công ty đóng vai trò rất lớn trong việcđẩy mạnh hoạt động của toàn công ty Tuy nhiên đội ngũ cán bộ quản lýnày còn thiếu, trình độ quản lý chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu quản
lý của công ty
Điều kiện lao động còn độc hại, dễ phát sinh bệnh nghề nghiệp Vớimôi trường làm việc của công nhân dệt là tiếng ồn lớn, bụi vải cao và tiếpxúc với các hoá chất Với đặc điểm trên ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻngười lao động Chính vì vậy cán bộ quản lý cần phải có những biện pháphạn chế những ảnh hưởng trên và có những hình thức trả công xứng đáng,khuyến khích cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, góp phần nâng cao năng xuất
Trang 17lao động, khả năng sáng tạo của người lao động nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh.
Qua bảng số liệu ta còn thấy tỷ lệ số lao động được bố trí làm việcđúng ngành nghề ngày một giảm; năm 2001 so với năm 2000 giảm 60người(chiếm tỷ lệ 4%) Năm 2002 so với năm 2001 thì không thay đổiNguyên nhân của sự biến động này là do công tác sắp sếp, bố trí việc làmchưa tốt, công tác tuyển chọn và quy trình công nghệ có sự thay đổi Tuynhiên công ty đã kịp thời ổn định trong công tác phân công hiệp tác trongsản xuất, thể hiện giữa năm 2001 và 2002
Với các đối tượng lao động như vậy, cần sắp sếp bộ máy tổ chức cán
bộ công nhân viên chức một cách khoa học để phát huy thế mạnh của từngngười theo phương châm: bộ máy cán bộ quản lý phải gọn nhẹ bao gồmnhững người hiểu biết, có tay nghề, biết xử lý tình huống xảy ra
III TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
Công ty dệt Minh Khai là đơn vị lớn của ngành công nghiệp Hà Nội,nhiệm vụ chủ yếu của công ty là sản xuất các loại khăn phục vụ cho xuấtkhẩu Trong thời gian đầu mới đi vào hoạt động sản xuất, công ty gặp rấtnhiều khó khăn
Năm 1983 công ty bắt đầu xuất khẩu khăn sang thị trường Nhật Bản với sựgiúp đỡ của UNIMEX Hà Nội và đã chiếm lĩnh được thị phần ngày càng lớn
Từ năm 1988 đến nay công ty được nhà nước cho phép xuất khẩutrực tiếp
Trong những năm gần đây trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biếnđộng cùng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, thêm vào đó xuấtkhẩu của ngành dệt may trong nước gặp nhiều khó khăn, để có thể giữvững và mở rộng thị trường xuất khẩu đồng thời nâng cao chất lượng côngtác tiêu thụ sản phẩm, công ty dệt Minh Khai đã không ngừng đầu tư đổi
Trang 18mới các loại máy móc thiết bị, áp dụng các quy trình công nghệ sản xuấttiên tiến để mở rộng sản xuất, tăng năng xuất lao động và chất lượng sảnphẩm, hạ giá thành Đồng thời công ty liên tục cải tiến mẫu mã đổi mới sảnphẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Tình hình kinh doanh của công ty được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4 : Các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu từ năm 2001 - 2004
Nguồn : Phòng kế hoạch thị trường –Công ty dệt Minh Khai
Từ bảng trên ta thấy: Giá trị SXCN tăng dần qua các năm (năm2001đạt 64.585 tr.đ, năm 2002 đạt 65.748 tr.đ, năm 2003 đạt 69.750 tr.đ,năm 2004 đạt 78.095 tr.đ ) điều này cho thấy công ty có xu thế phát triểntốt, tốc độ tăng trưởng ngày càng cao, kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ lệ caotrong doanh thu, khoảng 80% doanh thu Điều này có được là do sản phẩmcủa công ty chủ yếu là xuất khẩu
Trang 19Doanh thu qua các năm được thể hiện ở biểu đồ sau :
2 Tình hình xuất khẩu của công ty trong những năm qua.
Trong những năm qua, doanh thu xuất khẩu của công ty dệt Minh Khailuôn chiếm một tỷ trọng lớn từ 80-85% trong tổng doanh thu của công tyhàng năm Chính vì vậy, hoạt động xuất khẩu được coi là hoạt động quantrọng nhất của công ty Điều đó được thể hiện như sau:
Bảng 5: Tỷ trọng doanh thu xuất khẩu trong tổng doanh thu
2000
năm 2001
năm 2002
năm 2003
năm 2004
Trang 20Nguồn : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Công ty dệt Minh Khai
82.3
17.7
Biểu đồ 3: Biểu đồ tỷ trọng doanh thu xuất khẩu trong tổng doanh thu năm 2004
doanh thu xuất khẩu
tiêu dùng nội địa
Thị trưòng xuất khẩu chính của công là Nhật Bản Ngoài ra công tycòn xuất khẩu sang các thị trường như EU, Hồng Kông, Đài Loan, HànQuốc
Mặt hàng xuất khẩu chính của công ty là khăn bông các loại, bên cạnh
đó còn có màn tuyn, sản phẩm này công ty mới xuất khẩu sang thị trườngChâu Phi trong thời gian gần đây theo chương trình phòng chống sốt rétcủa Liên Hợp Quốc
Hoạt động xuất khẩu của công ty được phân biệt theo các tiêu thứcsau:
2.1.Theo thị trường xuất khẩu:
Xuất khẩu là hoạt động chính của công ty, do đó thị trường xuất khẩu
có ý nghĩa quyết định đến sự sống còn của công ty Thị trường xuất khẩuchính của công ty vẫn là Nhật Bản chiếm trên 90% kim ngạch xuất khẩu,còn lại là các thị trường khác: Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo thị trườngcủa công ty được thể hiện trong bảng sau:
Trang 21Bảng 6: Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo thị trường của công ty (từ năm 2000-2004)
Trang 22Giá trị kim ngạch xuât khẩu theo thị trường của công ty năm 2004được thể hiện qua biểu đồ sau:
93.58
5 1.42
Biểu đồ 4: Biểu đồ về kim ngạch xuất khẩu theo thị trường năm 2004
Nhật bản EU Châu á
áo choàng tắm Kim ngạch xuất khẩu của công ty sang thị trường này luônchiếm một tỷ trọng cao nhất khoảng 90% trong tổng kim ngạch xuất khẩuhàng năm Kim ngạch xuất khẩu của công ty trên thị trường Nhật Bảnkhông ngừng tăng lên Mặc dù trong những năm 1999 nền kinh tế Nhật gặpnhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khuvực,nhưng công ty vẫn duy trì được hoạt động xuất khẩu sang thị trườngnày Năm 2000 kim ngạch xuất khẩu của công ty sang Nhật đạt 3.01 triệuUSD chiếm 91.74% trong tổng kim ngạch xuất khẩu Năm 2001 kim ngạchxuất khẩu tăng lên 3.587.000 USD chiếm 88.6%, năm 2003 con số này tănglên 4.240.000 USD đạt 91.38% Sang năm 2004 kim ngạch xuát khẩu củacông ty sang thị trường này giảm 4.038.000 USD tức là chỉ bằng 95% so
22
Trang 23với năm 2003 Như vậy, ta thấy mức tăng kim ngạch xuất khẩu của công tysnag thị trường Nhật Bản không đều và không ổn định Sở dĩ như vậy là docông ty vấp phải sự cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh mạnh trong lĩnhvực dệt may là Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia….Do đó, để duy trì vàtăng doanh thu xuất khẩu vào thị trường này, công ty cần có các biện pháplàm tăng chất lượng, mẫu mã đồng thời giảm giá thành nhằm tăng khả năngcạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
*Thị trường EU
Hiện nay EU là thị trường nhập khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch lớnnhất của Việt Nam Xuất khẩu hàng dệt may sang EU chiếm hơn 40% tổngkim ngạch xuất khẩu dệt may hàng năm của Việt Nam
Đối với công ty Dệt Minh Khai thị trường EU chiếm một phần rất nhỏtrong tổng kim ngạch xuất khẩu (khoảng 3-5%)
Kim ngạch xuất khẩu vào EU của công ty không đều Năm 2000 đạt118.420 USD, Năm 2001 tăng lên 302.100 USD Tuy nhiên sang nhữngnăm tiếp theo thì kim ngạch xuất khẩu vào EU lại giảm xuống Năm 2002
là 206.140 USD, năm 2003 đạt 250.000 USD và năm 2004 lại giảm xuốngchỉ đạt 220.000 USD
Công ty thực hiện xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU chủ yếuthông qua một số các công ty thương mại trung gian trong nước như tôngcông ty dệt may Việt Nam Vinatex, tổng công ty xuất nhập khẩu mỹ nghệArexport
Do vậy, công ty không khai thác hết được thị trường này do khôngtiếp xúc trực tiếp với khách hàng, thiếu sự hiểu biết về nhu cầu và sở thíchcủa người tiêu dùng Do đó, để mở rộng thị trường xuất khẩu sang EU đòihỏi công ty phải quan tâm đến công tác nghiên cứu thị trường, xây dựngđội ngũ cán bộ nghiên cứu thị trường, cán bộ xuất nhập khẩu có năng lực
và trình độ hiểu biết giúp công ty có thêm thông tin về thị trường này
23
Trang 24*Thị trường châu Á
Bên cạnh hai thị trường Nhật Bản và EU, công ty dệt Minh Khai cònthực hiện xuất khẩu sang một số nước châu Á như: Đài Loan, Hông Kông,Hàn Quốc nhưng tỷ trọng xuất khẩu sang các nước này còn thấp Kimngạch xuất khẩu vào thị trường các nước này qua các năm 2000-2004 đượcthể hiện trong bảng sau:
Bảng 7 : Giá trị kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Châu Á
Nguồn:Phòng kế hoạch thị trường – Công ty dệt Minh Khai
Như vậy, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Châu Á của công tykhông ổn định và có xu hướng giảm sút Công ty cần có các biện phápnhằm bảo vệ duy trì và mở rộng xuất khẩu sang thị trường này
2.2 Theo mặt hàng xuất khẩu
Mặt hàng xuất khẩu chính của công ty gồm: khăn ăn, khăn mặt, khăntay, áo choàng tắm, thảm chùi chân, ga trải giường…Giá trị kim ngạch xuấtkhẩu theo mặt hàng của công ty được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 8: Kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng (từ năm 2001-2004)
Đơn vị: USD
-Khăn ăn 775.000 18 792.000 18.4 664.000 15.2 983.000 19 -Khăn mặt 1.426.00
Trang 25Qua bảng trên ta thấy sản phẩm xuất khẩu chính của công ty là khănbông các loại, sản phẩm này luôn chiếm một tỷ lệ cao trong tổng kim ngạchxuất khẩu Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu khăn bông đạt 3.037.000 USD.Năm 2002 do có khó khăn về thị trường nên kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt2.623.6000 USD Trong 3 năm tiếp theo kim ngạch xuất khẩu tăng lên,năm 2003 là 3.312.960 USD, năm 2004 là 3.020.500 USD, năm 2005 đạt3.324.000 USD Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng của công tynăm 2004 được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 5: Biểu đồ về kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng năm 2004
Đối với mặt hàng màn tuyn, công ty chủ yếu tiêu thụ ở trong nước, ítxuất khẩu ra thị trường nước ngoài Do đó kim ngạch xuất khẩu mặt hàngnày không cao, chỉ chiếm khoảng 15-20% tổng kim ngạch xuất khẩu Vìvậy để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của công ty trong những năm tới,
25
Trang 26công ty cần có biện pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng này như đẩy mạnhhoạt động nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng, ký kết nhiều hợpđồng
2.3 Theo phương thức xuất khẩu
Công ty dệt Minh Khai tiến hành xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoàitheo 2 phương thức:
- Xuất khẩu trực tiếp cho các siêu thị và các công ty thương mại tạiNhật Bản có nhu cầu
- Xuất khẩu gián tiếp thông qua các công ty thương mại trung giantrong nước và ngoài nước
Bảng 9: Kim ngạch xuất khẩu theo phương thức xuất khẩu của công ty
dệt Minh Khai (từ năm 2000-2004)
Nguồn : Phòng kế hoạch thị trường – Công ty dệt Minh Khai
Trong những năm qua công ty dệt Minh Khai thực hiện xuất khẩu trựctiếp là chủ yếu, tỷ trọng xuất khẩu theo phương thức này luôn đạt ở mứccao, trên 95% kim ngạch xuất khẩu Năm 2000 hoạt động xuất khẩu củacông ty đạt 3.150.626 USD chiếm 96 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu.Năm 2002 đạt 3.673.040 USD chiếm 98%, năm 2004 cho thấy hầu nhưcông ty chỉ thực hiện xuất khẩu trực tiếp là chính với tỷ trọng 99,3% Giátrị kim ngạch xuất khẩu của công ty năm 2004 được thể hiện qua biểu đồsau:
26
Trang 27Trên đây là khái quát về công ty và tình hình sản xuất kinh doanhcũng như tình hình về hoạt động xuất khẩu của công ty dệt Minh Khaitrong một vài năm qua.Trong những năm tới công ty cần có những biệnpháp thích hợp để đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
27
Trang 28CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY DỆT MINH KHAI VÀO THỊ TRƯỜNG
NHẬT BẢN
I KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
1 Khái quát chung về thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là một thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của ViệtNam Nhật Bản và Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, có mối quan hệ làm
ăn lâu dài Hàng hoá của Việt Nam hoàn toàn có thể chinh phục được thịtrường Nhật Bản Người tiêu dùng Nhật Bản coi trọng không chỉ đơn thuần
về số lượng, giá cả của hàng hoá và dịch vụ họ tiêu dùng mà họ ngày càngcoi trọng chất lượng, sự đa dạng và tính hữu ích của sản phẩm
*Đặc điểm về nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng sản phẩm dệt của ngườiNhật
- Nhật Bản là một quốc gia có tiềm lực mạnh về kinh tế, với dân sốtrên 130 triệu dân, thu nhập bình quân khoảng 32.000 USD / người / năm
- Nhật Bản là một thị trường tiêu dùng hàng dệt may lớn Trước đây,Nhật chủ yếu nhập các nguyên liệu dệt may như vải, sợi … Hiện nay chủyếu nhập khẩu quần áo may sẵn và các sản phẩm dệt hoàn chỉnh, khoảng70% hàng dệt may nhập khẩu của Nhật Bản là hàng dệt kim như khănbông, khăn tắm, khăn trải giường…
Nhìn chung người tiêu dùng Nhật Bản có những đặc điểm sau:
+ Đòi hỏi chất lượng cao:
Do người dân Nhật có mức sống cao nên họ yêu cầu khá khắt khe vềchất lượng, họ sẵn sàng trả giá cao cho những sản phẩm có chất lượng tốt,
có độ bề, độ tin cậy và sự tiện dụng cao, chỉ những lỗi nhỏ trong khi vậnchuyển hay khâu hoàn thiện sản phẩm như bao bì không đúng quy cách
28
Trang 29cũng dẫn đến những tác hại lớn Do vậy cần quan tâm tới khâu hoàn thiện,bao gói, vận chuyển hàng
+ Ưa chuộng sự đa dạng của sản phẩm
Với những mức thu nhập khác nhau, với những lứa tuổi khác nhau,tính cách khác nhau… người tiêu dùng Nhật sẽ lựa chọn những sản phẩmthích hợp Do vậy yêu cầu về sản phẩm là phải đa dạng về mẫu mã, chủngloại, kích cỡ, linh hoạt về giá cả sản phẩm, kiểu dáng sản phẩm… mới thuhút được khách hàng Nhật Bản
+ Nhạy cảm về giá
Người tiêu dùng Nhật Bản không chỉ yêu cầu hàng hoá chất lượngcao, mẫu mã, mầu sắc phong phú, giao hàng đúng hạn mà còn mong muốnmua hàng với giá cả hợp lý với sản phẩm mà mình mua
2 Một số nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu sản phẩm của công ty sang Nhật
Bất kỳ một doanh nghiệp nào, muốn xuất khẩu một mặt phải dựa vàonăng lực của chính mình Mặt khác, cũng phụ thuộc vào nhân tố kháchquan là thị trường của nước nhập khẩu Việc tìm hiểu về thị trường NhậtBản, về những quy định cũng như những chính sách mà chính phủ NhậtBản áp dụng đối với việc nhập khẩu hàng dệt may nói chung và của công tydệt Minh Khai nói riêng cần phải được nghiên cứu và xem xét một cách cụthể để tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này Khi xuất khẩusang thị truờng này công ty cần lưu ý một số quy định sau :
29
Trang 30Để xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản thì sản phẩm của công ty phảiđược gắn nhãn mác và tên nhà sản xuất, cụ thể như công ty Dệt Minh Khai
đã lấy nhãn mác để gắn vào sản phẩm của mình là Mikhatex Bên cạnh đó,theo quy định của Nhật Bản thì các sản phẩm xuất khẩu buộc phải dán nhãnchất lượng bao gồm các sản phẩm như khăn bông, khăn mặt, khăn tắm, áochoàng tắm, khăn trải giường, bít tất
*Một số tiêu chuẩn của Nhật Bản :
- Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản ( JIS ), đây là một trong những tiêuchuẩn được sử dụng rộng rãi ở Nhật Những sản phẩm được đóng dấu chấtlượng JIS sẽ được ưu tiên tiêu thụ
- Dấu chứng nhận chất lượng và độ an toàn của sản phẩm, các sản phẩmcủa công ty xuất khẩu sang Nhật Bản phải có dấu chữ Q ( Quality)
II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY DỆT MINH KHAI VÀO THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
1 Thực trạng hoạt động xuất khẩu sản phẩm của công ty dệt Minh Khai sang thị trường Nhật Bản.
Nhật Bản là bạn hàng truyền thống và lâu đời của công ty dệt MinhKhai Công ty dệt Minh Khai bắt đầu xuất khẩu sản phẩm sang Nhật Bản từnăm 1983, và từ đó cho tới nay đã hơn 20 năm, lượng xuất khẩu vào thịtrường này ngày càng tăng và trở thành một thị trường chính của công ty.Kim ngạch xuất khẩu sang Nhật luôn chiếm trên 90% trong tổng kim ngạchxuất khẩu của công ty Còn lại dưới 10% là kim ngạch xuất khẩu sangChâu Âu và Châu Á Điều này đã dẫn đến tình trạng công ty phụ thuộc quánhiều vào thị trường Nhật Bản và bất cứ một biến động nào ở thị trườngNhật Bản dù là nhỏ cũng ảnh hưởng tới hoạt động của công ty
Trong thị trường đầy biến động như ngày nay, để tồn tại và phát triểncông ty cần đề ra cho mình những phương án cụ thể như sau:
- Mở rộng đa dạng hoá thị trường xuất khẩu ngoài Nhật Bản, công tycần tìm các thị trường khác để tăng doanh thu xuất khẩu, nhưng để làm
30
Trang 31được điều này đòi hỏi công ty phải có nguồn lực lớn và thời gian dài để tìmhiểu và thâm nhập vào thị trường khác
- Công ty tiếp tục thâm nhập sâu vào thị trường Nhật Bản Với nềntảng có sẵn là có quan hệ làm ăn lâu đời với Nhật Bản, công ty cần cố gắnghơn để đẩy mạnh hoạt động xuất khâu sang Nhật bằng cách tìm hiểu kỹhơn thị trường này ,cải tiến đa dạng hoá sản phẩm, bảo đảm về chất lượngsản phẩm ngày một tốt hơn, hạ giá thành sản phẩm…thoả mãn ngày càngtốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng Nhật Phương hướng này không đòihỏi chi phí nhiều như phương án trên và thời gian để thực hiện cũng ngắnhơn Điều này rất phù hợp với tình hình thực tế của công ty hiện nay
1.1 Kết quả xuất khẩu sản phẩm của công ty sang Nhật
1.1.1) Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu sang Nhật
Công ty xuất khẩu sang Nhật những sản phẩm như khăn ăn, khăn mặt,khăn tắm, áo choàng tắm và một số sản phẩm khác như thảm chùi chân, gatrải giường, khăn phủ ghế…
Với sản phẩm khăn bông, công ty sản xuất từ nguyên liệu sợi bông100% nên có độ thấm nước, độ mềm mại cao, phù hợp với yêu cầu sử dụngcủa người tiêu dung
+ Kết quả xuất khẩu sang Nhật của công ty theo cơ cấu mặt hàng được thểhiện trong bảng sau:
Bảng 10 : Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu sang Nhật của công ty
74, 5
- Khăn ăn
724.030 19 696.924 18 799.758 20 821.520 17 930.217 18,
5 -Khăn mặt
32, 5
- Khăn tắm 304.855 8 348.462 9 279.915 7 289.948 6 377.115 7,5 -Sản phẩm
25, 5
Tổng KNXK 3.810.686 100 3.871.80 100 3.998.78 100 4.832.471 100 5.028.20 100
31
Trang 320 9 0
Nguồn : Phòng kế hoạch thị trường – Công ty dệt Minh Khai
Qua bảng trên ta thấy khăn bông luôn chiếm một tỷ trọng cao trong tổngkim ngạch xuất khẩu sang Nhật của công ty Trong đó kim ngạch xuất khẩukhăn mặt là cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu khăn bông và có tăngqua các năm nhưng với tốc độ chậm Năm 2001 tổng kim ngạch xuất khẩukhăn bông đạt 2.972.335USD, năm 2004 đạt 3.431.054USD, đến năm 2005đạt 3.746.009 USD ( chiếm 74,5% KNXK )Sản phẩm khăn ăn cũng có xuhướng tăng, năm 2001 đạt 724.030 USD, năm 2005 đạt 930.217 USD, vìkhăn mặt và khăn ăn là những mặt hàng thông dụng nó được dùng cả tronggia đình, các khách sạn và phục vụ cho việc ăn của mọi người, nên khănmặt luôn giữ vị trí đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Sản phẩmkhăn tắm chiếm tỷ lệ ít hơn, kim ngạch xuất khẩu khăn tắm thấp nhất là dokhăn tắm đã có một sản phẩm thay thế khác là áo choàng tắm Kim ngạchxuất khẩu áo choàng tắm của công ty sang Nhật luôn tăng lên từ năm 2001chỉ đạt 838.352 USD chiếm 22%, sang năm 2004 đã đạt 1.401.417 USD vàchiếm tới 29%, năm 2005 đạt 1.282.191 USD chiếm 25,5% Sở dĩ như vậy
là do áo choàng tắm có nhiều tiện lợi với mầu sắc phong phú, chất lượngtốt, khách hàng mặc áo choàng tắm thoải mái và lịch sự hơn là chỉ khoáckhăn tắm… hiện nay xu hướng sử dụng áo choàng tắm có xu hướng tăngnên công ty cần có hướng nghiên cứu sản xuất đa dạng hoá mẫu mã mấusắc cho mặt hang này
Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu sang Nhật năm 2005 của công ty được thể hiện
rõ hơn trong biểu đồ sau :
32
Trang 3332.5
7.5 16
25.5
Biểu đồ 7:Biểu đồ cơ cấu sản phẩm xuất khẩu sang Nhật năm 2005
khăn ăn khăn mặt khăn tắm
sp khác
áo choàng tắm
1.1.2) Kim ngạch xuất khẩu sang Nhật theo thời gian của công ty.
Thời điểm xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động xuấtkhẩu của công ty vì nó liên quan tới mọi hoạt động của công ty, từ việc lập
kế hoạch đến việc chuẩn bị các yếu tố để chuẩn bị cho hoạt động sản xuấtcủa công ty được diễn ra một cach cân đối và liên tục
Giá trị xuất khẩu sang Nhật theo thời gian của công ty dệt Minh Khai(từ năm 2000-2005 ) được thể hiện trong bảng sau :
Bảng 11: Giá trị xuất khẩu sang Nhật theo thời gian của công ty dệt
Minh Khai (từ năm 2001-2005 )
Nguồn : Phòng kế hoach thị trường – Công ty dệt Minh Khai
Nhìn vào bảng ta thấy giá trị xuất khẩu sang Nhật Bản của công tyluôn thu được kết quả cao trong quý II và quý IV, đặc biệt là trong quý IVgiá trị xuất khẩu liên tục tăng trong 3 năm từ năm 2000- 2003, năm 2001 giátrị xuất khẩu đạt 1.400.389 USD chiếm 37,3% tổng kim ngạch xuất khẩu,
33
Trang 34năm 2002 đạt 1.664.874 USD, năm 2003 đạt 1.838.446 USD, năm 2004 giátrị này giảm xuống còn 1.725.193 USD chiếm 35,7% là do chủ trương củanhà nước cần phải quan tâm hơn đến thị trường trong nước Đến năm 2005đạt 2.011.281 chiếm 40% KNXK Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu trongcác năm từ 2001-2005 tăng giảm không ổn định, kim ngạch xuất khẩu trongquý II đạt từ 35-40% và trong quý 4 đạt từ 35-46% giá trị xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu theo thời gian của công ty sang Nhật Bản năm
2005 được thể hiện trong biểu đồ sau :
13.2
37.5 9.3
40
Biểu đồ 8 : Biểu đồ về kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản theo thời gian năm 2005
quý I quý II quý III quý IV
Giá trị xuất khẩu trong 2 quý II và IV luôn đạt tỷ trọng cao là vìtrong khoảng hai thời gian này sản lượng sản phẩm xuất khẩu tăng mạnh
do có nhiều đơn đặt hàng Thời điểm quý II là vào mùa hè, số khách du lịchtới Nhật Bản tăng lên nhiều vì vậy các khách sạn cần nhiều khăn ăn, khăntăm, khăn mặt hơn Vào quý IV, do có nhiều ngày lễ, ngày tết nên ngườitiêu dùng cũng có xu hướng sử dụng sản phẩm nhiều hơn Mặt khác vàonhững dịp cuối năm thường là những tháng người bán đưa ra nhiều hoạtđộng khuyến mãi do đó đây là những tháng có tiêu dùng lớn vì vậy lượngtiêu dùng sản phẩm của công ty tăng lên là hợp lí
Như vậy yếu tố mùa vụ đã ảnh hưởng rất rõ rệt đến việc xuất khẩusản phẩm khăn bông Công ty cần phải tiến hành bố trí kế hoạch sản xuấtsao cho hợp lý vào những quý có nhu cầu lớn để kịp bố trí giao hàng cho
34
Trang 35khách Bên cạnh đó doanh nghiệp nên đa dạng hoá mặt hàng để có thể tậndụng lúc thời gian nhàn rỗi vào những tháng không có nhiều đơn đặt hàng.Điều này sẽ giúp công ty hoạt động có năng suất cao hơn, hiệu quả lớn hơn.
1.1.3) Kim ngạch xuất khẩu và doanh thu xuất khẩu sản phẩm của công ty sang Nhật Bản
Thị trường chính của công ty là thị trường Nhật Bản Giá trị kim ngạchxuất khẩu sang Nhật luôn chiếm khoảng 90% trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu của công ty Có thể nói, Nhật Bản là là bạn hàng lớn nhất và quantrọng nhất quyết định sự sống còn của công ty
Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả xuất khẩu sản phẩm của công ty sangNhật được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 12 : Kim ngạch XK và doanh thu XK sản phẩm sang Nhật của
Nguồn : Phòng kế hoạch thị trường – Công ty dệt Minh Khai
Qua bảng ta thấy, doanh thu xuất khẩu sản phẩm sang Nhật của công
ty tăng giảm không đều, bình quân trong 4 năm 2001-2004, kim ngạch xuấtkhẩu sản phẩm của công ty sang Nhật là 3.809.550 USD với tỷ giá giaodịch bình quân là 15.261(VND/USD) thì doanh thu xuất khẩu sang Nhậtđạt trên 58 tỷ đồng Năm 2005 công ty đã đạt được trên 79 tỷ đồng Sốlượng xuất khẩu sản phẩm qua các năm cũng tăng lên nhưng với mức độtăng chậm
Doanh thu xuất khẩu sản phẩm sang Nhật của công ty dệt Minh Khai( từ năm 2001-2005) được thể hiện qua biểu đồ sau :
35
Trang 36năm 2001 năm 2002 năm 2003 năm 2004 năm 2005 0
10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000 80000
1.2.1.Hình thức xuất khẩu sang Nhật
Hình thức mà công ty lựa chọn khi tiến hành xuất khẩu sản phẩmsang Nhật là xuất khẩu trực tiếp Với hình thức này, công ty đã đạt đượchiệu quả kinh doanh cao và đã thu được một lượng ngoại tệ đáng kể, điềunày chứng tỏ công ty tổ chức hoạt động kinh doanh tốt, các sản phẩm củacông ty đã được khẳng định và có vị trí trên thị trường Nhật Bản
Với phương thức xuất khẩu trực tiếp, công ty có thể nắm được nhữngthay đổi về nhu cầu thị hiếu, giá cả và phân phối ở nước ngoài Tuy nhiên,công ty phải đầu tư nguồn lực khá lớn
1.2.2 Kênh phân phối sản phẩm xuất khẩu sang Nhật
Để hoạt động tiêu thụ sản phẩm được tốt thì công ty không chỉ đưa
ra những sản phẩm tốt với mức giá phù hợp mà còn đáp ứng được đúngthời gian và địa điểm
Đối với công ty dệt Minh Khai, hệ thống phân phối sản phẩm đượctiến hành chủ yếu qua các nhà nhập khẩu nước ngoài rồi tới các siêu thị hay
36
Trang 37người tiêu dùng qua mạng lưới phân phối chính của họ Kênh phân phốisản phẩm xuất khẩu của công ty được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 3: Kênh phân phối sản phẩm sang Nhật của công ty dệt Minh
Khai
Qua mô hình trên ta có thể nhận thấy rằng kênh phân phối xuất khẩutrên thị trường Nhật Bản của công ty vẫn còn đơn giản, mới chỉ có haithành viên trong kênh
Thành viên thứ nhất trong kênh phân phối là các nhà nhập khẩu NhậtBản bao gồm các công ty thương mại ASAHI, ITOCHO, VINASEIKO,HOUEI, DAIEL, FUKIEN… đây là những nhà phân phối sản phẩm chínhcủa công ty
Thành viên thứ hai trong kênh phân phối là các nhà bán lẻ bao gồmcác siêu thị, các khách sạn, nhà hàng Với kênh phân phối này trong nhữngnăm qua công ty dệt Minh Khai đã từng bước thâm nhập và chiếm lĩnhđược thị trường Nhật Bản Hàng năm doanh thu xuất khẩu sang thị trườngNhật Bản luôn đạt mức tỷ trọng cao, góp phần đáng kể vào việc tăng lợinhuận xuất khẩu cho công ty Tuy nhiên, đây cũng là một hạn chế của công
ty vì thông tin từ người tiêu dùng cuối cùng mà công ty có được đều do cáccông ty Nhật Bản và các nhà phân phối cung cấp Công ty không có đủđiều kiện tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng để tìm hiểu nhucầu cũng như sở thích tiêu dùng của họ Vì vậy việc xuất khẩu sang thịtrường Nhật Bản của công ty phụ thuộc rất lớn vào các đơn đặt hàng củacác nhà phân phối này trên thị trường Nhật Bản Trong những năm tới công
Công ty
dệt Minh
Khai
Nhà nhập khẩu
Siêu thị tiêu dùng Người
37