I- Chấn chỉnh Ngõn sỏch Nhà nước 1945-1950 1.1 Đấu tranh xây dựng nền tài chính và tiền tệ độc lập Sau khi nước Việt Nam dõn chủ cộng hoà được thành lập, Chính phủ kêu gọi sự đóng góp tự
Trang 1chính sách tài chính, tiền tệ trong kháng chiến chống thực dân Pháp (giai đoạn 1945- 1954)
mở đầu
Cách mạng tháng Tám thành công, nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập ngày 2- 9- 1945 Khi đất nớc mới đợc thành lập, chớnh quyền cỏch mạng non trẻ, trong khi đó phải đối mặt với muụn vàn khó khăn, thỏch thức: Ngõn quỹ khỏnh kiệt, thự trong giặc ngoài Dưới sự lónh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chớ Minh, hàng loạt biện phỏp về tài chớnh tiền tệ đó được thực hiện như: Tuần lễ Vàng, Quỹ Độc lập, Phỏt hành cụng trỏi, trỏi phiếu đó nhận được sự hưởng ứng nhiệt tỡnh của nhõn dõn, gúp phần to lớn giỳp tài chớnh Nhà nước cú thờm nguồn thu, bảo đảm yờu cầu xõy dựng và củng cố chớnh quyền cỏch mạng, đấu tranh với sự xõm lược của kẻ thự
I- Chấn chỉnh Ngõn sỏch Nhà nước 1945-1950
1.1 Đấu tranh xây dựng nền tài chính và tiền tệ độc lập
Sau khi nước Việt Nam dõn chủ cộng hoà được thành lập, Chính phủ kêu gọi
sự đóng góp tự nguyện, ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân, thông qua phong trào
"Qũy độc lập" theo sắc lệnh của chính phủ ngày 4- 9- 1945,"tuần lễ vàng" đợc
tổ chức ngày 19- 9- 1945 nhằm thu góp số vàng trong nhân dân và nhất là các nhà giàu để dùng vào việc cần gấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là quốc phòng Kết quả nhân dân trong nớc và kiều bào ở nớc ngoài, một số kiều dân ở Việt Nam đã tích cực hởng ứng Qũy độc lập thu đợc 20 triệu Đông d-
ơng và tuần lễ vàng thu đợc 370 kg vàng (bằng số thuế thân và thuế điền thu của cả nớc trong 1 năm dới thời Pháp thuộc)
Những hình thức tài chính đặc biệt, dựa vào lòng dân yêu nớc của nhân dân đã mang lại kết quả đáng kể, góp phần giải quyết những khó khăn về tài chính
Trang 2trong những ngày đầu cách mạng, nhng nó cũng có nhợc điểm là không thành nghĩa vụ, không ổn định và không công bằng trong việc đóng góp Do đó, nhà nớc đã dần dần qui định sự đóng góp theo chế độ.
Để tạo điều kiện cho nhân dân an tâm sản xuất, giảm bớt su cao, thuế nặng, Chính phủ đã có biện pháp kịp thời và đúng đắn về chính sách thuế, bãI bỏ thuế bất công vô lý vào ngày 7- 9- 1945 nh thuế thân, thuế rợu, muối và thuế thuốc phiện Ngày 22- 9- 1945, miễn giảm thuế môn bài kinh doanh nhỏ dới
50 đồng, thuế chợ, xe đò, xe tay vv ngày 26- 10- 1945, Chính phủ qui định…giảm thuế điền thổ 20%, miễn thuế cho các vùng bị lụt ở Nam bộ và Nam trung bộ vv đồng thời điều chỉnh lại thuế th… ơng mại, công nghệ, thuế nhập khẩu Để bù vào khoản thiếu hụt ngân sách, Chính phủ đặt ra nguồn thu…mới: "đảm phụ đặc biệt" đánh vào ngành vận tải, bu điện, "đảm phụ quốc phòng" Chấn chỉnh các nguồn thu đi đôi với việc thành lập bộ máy quản lý thu Ngày 10- 9- 1945, Sở thuế quan và thuế thu, Nha thuế trực thu, Nha thuế trớc bạ, công sản và điền thổ vv đ… ợc thành lập
Trong lĩnh vực chi, Chính phủ thực hiện chi theo nguyên tắc tiết kiệm, tập chung cho nhiệm vụ trớc mắt lúc đó là: diệt giặc đói, giặc dốt, và giặc ngoại xâm, nhng chủ yếu là xây dựng quĩ quốc phòng, xây dựng quân đội, và khôi phục kinh tế giải quyết nạn đói
Trong lĩnh vực tiền tệ: Lúc này chúng ta cha có đồng tiền riêng, mà vẫn phải dùng tiền Đông Dơng, trong khi đó chúng ta lại không chiếm đợc ngân hàng
Đông Dơng Vì vậy, Ngân hàng đông dơng đã gây khó khăn cho chúng ta Lúc đầu chúng còn thực hiện theo lệnh của nhà nớc cấp tiền cho chính phủ ta, nhng khi thực dân Pháp quay trở lại, họ đã từ chối Ngày 17-11- 1945, Cao ủy Pháp là Đăc Giăng Liơ ký lệnh hủy bỏ toàn bộ loại giấy bạc in từ sau ngày 9- 3- 1945, loại giấy bạc in từ trớc ngày 9- 3- 1945 giảm 30% và phải đổi trong một tuần, trớc tình hình đó Chính phủ ta phải đấu tranh đòi tiếp tục cấp tiền cho chúng ta và kéo dài ngày đổi tiền
Trang 3Ngoài ra, chúng ta còn phải đối phó với tiền "tiền quan kim" và "quốc tệ", loại tiền mất giá nghiêm trọng của Trung hoa dân quốc do quân của Tởng Giới Thạch mang sang Chúng bắt chúng ta phải đổi 3.000 triệu đồng "quan kim" lấy 4.500 triệu đồng Đông Dơng để cho quân Tởng chi dùng, trong khi cả thị trờng Đông Dơng lúc đó chỉ có 2.172 triệu đồng chính quyền cách mạng phảI thực hiện chính sách vừa mềm dẻo vừa cơng quyết, chống lại âm mu gây rối
về tài chính tiền tệ và bảo vệ nền độc lập dân tộc
Cùng với đấu tranh về tiền tệ vào cuối tháng 10- 1945, chúng ta đã bí mật in tiền, in các loại tiền 5 đồng, 1 đồng, 20 đồng và tiền xu hào lẻ nh 2 hào, 5 hào tháng 12- 1945, chúng ta cho lu hành tiền lẻ 2 hào và 5 hào, để giải quyết nạn khan hiếm tiền lẻ và cho nhân dân làm quen với tiền mới của chính quyền cách mạng sau đó chúng ta từng bớc phát hành tiền trong cả nớc Đây là một thắng lợi lớn trên lĩnh vực tài chính, tiền tệ của chúng ta trong quá trình đấu tranh xây dựng nền tảng tài chính, tiền tệ sau khi giành đợc chính quyền, góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
1.2 Thực hiện nền tài chính- tiền tệ phân tán
Trong giai đoạn 1947- 1950 Đảng, Chính phủ chủ trơng thực hiện chính sách tài chính phân tán mỗi địa phơng phảI tự cấp tự túc mọi mặt, tự lo lấy các khoản chi tiêu bằng cách dựa vào nhân dân địa phơng, động viên nhân dân ủng hộ kháng chiến, Chính phủ chỉ trợ cấp một phần
chính phủ đặt chế độ thuế mới phù hợp với tình hình kháng chiến: các thứ thuế thu ở thành thị: thuế lơng bổng, lãi doanh nghiệp, lợi tức, thổ trạch đã đ… ợc bãi bỏ, còn lại thuế điền thổ, thuế môn bài, thuế sát sinh, thuế quan và thuế tr-
Trang 4Sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947, tình hình đã sáng sủa và tương đối
ổn định hơn, nên cần phải lập ngân sách để Chính phủ có phương tiện quản lý thu chi của Nhà nước, tránh chi tiêu tùy tiện, lãng phí
Hệ thống ngân sách thời chiến được đơn giản, chỉ gồm hai cấp: ngân sách Nhà nước và ngân sách xã
Ngân sách Nhà nước chia làm hai phần: phần chi thu thường do các nguồn thu thường xuyên bảo đảm (thuế, công trái, các quỹ) và phần chi tiêu quốc phòng, phần lớn dựa vào phát hành giấy bạc
Ngân sách xã đảm bảo những chi tiêu của xã, thăng bằng do những nguồn thu riêng của xã và nếu thiếu thì quỹ hỗ trợ xã hoặc ngân sách Nhà nước trợ cấp.Trong phần chi thu thường của ngân sách Nhà nước có ba loại chi quan trọng nhất là: chi hành chính (nội chính; ngoại giao, tư pháp, quốc hội, bộ máy chính quyền các cấp ), chi kinh tế (canh nông, giao thông, thủy lợi) và chi văn hóa xã hội (giáo dục, y tế, thương binh, cứu tế )
Để giảm bớt chi tiêu về bộ máy Nhà nước, năm 1950 Chính phủ đã thực hiện việc tinh giảm biên chế, chuyển bớt nhân viên hành chính sang các ngành quân sự và sản xuất Nhưng để đảm bảo đời sống cho cán bộ, bộ đội, công nhân viên chức, chế độ lương bổng được tính theo gạo (mức tối thiểu là 35kg, tối đa là 72kg)
Gia đình công nhân viên chức cũng được trợ giúp một phần (vợ 11 kg, con dưới 16 tuổi 5kg rưỡi một tháng) Vì vậy quỹ lương chiếm một vị trí rất quan trọng trong ngân sách Nhà nước, nhất là khi tiền tệ ngày một sụt giá, giá gạo không ngừng lên cao
Nhìn chung số thu của ngân sách Nhà nước chỉ đảm bảo được một phần nhỏ
số chi nên hướng phấn đấu đề ra lúc ấy là cố gắng thăng bằng phần thu chi thường và tranh thủ thu nhiều hơn chi để giành một phần kinh phí bảo đảm chi tiêu quốc phòng, giảm bớt dần việc phát hành giấy bạc Để ổn định kế hoạch ngân sách, tránh những biến động do tiền tệ bấp bênh gây nên, ngân
Trang 5sách Nhà nước ghi thu và ghi chi bằng thóc Việc cấp phát được thực hiện một phần bằng hiện vật để bớt phải dùng đồng tiền.
Theo thể lệ chi thu và kế toán đại cương ban hành năm 1948 thì tài chính Nhà nước được quản lý theo nguyên tắc tập trung, thống nhất: mọi quyền hạn về thu, chi đều tập trung ở Trung ương nhưng có ủy quyền trong phạm vi nhất định cho các địa phương Thời kỳ đầu việc ủy quyền còn hẹp, các địa phương
có ít quyền hạn thực tế nên ít quan tâm đến công tác tài chính, việc kiểm soát
bị buông lỏng, tham ô, lãng phí khá phổ biến
Từ cuối năm 1949 cấp khu được ủy quyền sử dụng phần ngân sách thuộc địa phương mình và xét duyệt các khoản chi tiêu của các cơ quan trong địa phương Việc thanh tra, kiểm tra tài chính được tăng cường bước đầu do việc thành lập Nha tổng thanh tra tài chính
Việc thành lập ngân sách xã nhằm đáp ứng yêu cầu củng cố chính quyền nhân dân ở cấp cơ sở đồng thời chấn chỉnh công tác tài chính ở xã, tránh việc huy động tùy tiện và sử dụng lãng phí tài sản của nhân dân
Việc thi hành các biện pháp nói trên để góp phần tích cực vào việc đảm bảo nhu cầu ngày càng lớn của kháng chiến, thực hiện khẩu hiệu của chiến tranh nhân dân là "toàn dân tham gia, toàn dân đóng góp"
Tãm l¹i, việc thi hành chính sách tài chính có nhiều thiếu sót: huy động
còn bình quân, chính sách thuế còn dè dặt, thu không đủ chi, dựa nhiều vào phát hành giấy bạc để chi tiêu cho quân sự và cho hành chính
Kết quả là lạm phát quá mức, đồng tiền mất giá, giá hàng thường xuyên đột biến: mức thuế động viên vừa thấp, vừa chưa đánh mạnh vào tầng lớp có nhiều thóc, nhiều tiền Thuế lại thu bằng tiền nên chỉ bảo đảm được một phần nhỏ yêu cầu chi của Nhà nước Thuế điền thổ và quỹ công lương từ năm 1950
đã chuyển sang thu bằng hiện vật, theo lũy tiến nhưng mức huy động còn chưa sát
Trang 6Cách xây dựng ngân sách không phản ánh được hoạt động của các ngành kinh
tế và sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân
Ngân sách cũng không làm cho các địa phương thấy rõ nhiệm vụ của mình đối với Nhà nước, nặng về trông chờ, ỷ lại vào trung ương Quá trình xây dựng và xét duyệt ngân sách lại quá giản đơn Việc quản lý ngân sách thiếu chặt chẽ Nhiều khoản quyên góp và khoản thu của địa phương nằm ngoài ngân sách Nhà nước, làm cho tài chính bị phân tán, nhân dân kêu ca đóng góp nhiều nhưng tiền không vào trong ngân khố quốc gia
Thời kỳ 1950 - 1951 là thời kỳ kinh tế tài chính gặp nhiều khó khăn to lớn do hoàn cảnh khách quan của cuộc kháng chiến và do nguyên nhân chủ quan của
ta, trong đó có khuyết điểm về công tác quản lý kinh tế tài chính còn nhiều lúng túng, bị động và việc tổ chức thực hiện cũng có nhiều thiếu sót
II- Thống nhất quản lý tài chính Nhà nước 1951-1954:
2.1 Sù thèng nhÊt trong qu¶n lý tµi chÝnh cña Nhµ níc
Trước năm 1951, tài chính rất phân tán, "các địa phương, các ngành còn phải
lo liệu tự túc, phải tự xoay xở lấy một phần kinh phí Các món thu cho quỹ địa phương chồng lên các món thu cho ngân sách toàn quốc Như thế đã phiền cho dân mà lại thiệt cho ngân sách toàn quốc, vì phần lớn các khoản chi tiêu
do ngân sách toàn quốc đài thọ Vì thế việc phát hành giấy bạc ngày càng tăng làm cho tiền tệ, vật giá bấp bênh, nền kinh tế quốc dân ngày càng khó khăn, ảnh hưởng đến cuộc kháng chiến lâu dài Nay yêu cầu kháng chiến ngày càng nhiều và cần phải được đảm bảo cung cấp đều đặn, sự đóng góp của nhân dân vào công cuộc kháng chiến phải được huy động đúng mức: Không quá khả năng để làm cạn nguồn đóng góp của nhân dân nhưng cũng không quá nhẹ để đến nỗi không đảm bảo được cung cấp Vì vậy việc thống nhất quản lý thu, chi tài chính phải được thực hiện một cách gấp rút"
Nội dung của chính sách thống nhất quản lý, thu chi tài chính là: các khoản thu đều do Chính phủ quy định và tập trung, thống nhất quản lý để việc
Trang 7đóng góp của nhân dân được công bằng, hợp lý hơn, khả năng của công quỹ được dồi dào thêm Mặt khác lại chấm dứt được việc địa phương đặt ra nhiều khoản đóng góp lặt vặt chồng chất lên thuế của Trung ương, có khi huy động quá khả n¨ng của nhân dân Về chi thì Chính phủ thống nhất quản lý các khoản chi tiêu của Nhà nước cho đến cấp huyện, làm cho tiền của do nhân dân đóng góp được sử dụng một cách tiết kiệm, có trọng điểm, tập trung vào việc cung cấp cho tiền tuyến
Có thống nhất quản lý thu chi ngân sách Nhà nước thì mới lãnh đạo tập trung được về chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức, mới quản lý được số người trong biên chế của Nhà nước, tránh được tình trạng thu chi không cân đối Mặt khác mới phát huy được tác dụng phân phối và phân phối lại bằng đång tiền của ng© n sách
2.2 Nhµ níc ban hµnh hính sách thuế mới:
Để tăng thu Nhà nước ban hành chính sách thuế mới, công bằng hợp lý, thích hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội và điều kiện chiến tranh Công bằng là mỗi người dân đều có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước, nhưng không phải là đóng góp ngang nhau một cách bình quân Trái lại người thu nhập nhiều thì đóng góp nhiều, thu nhập ít thì đóng góp ít, không có thu nhập thì được miễn Hợp lý là tùy theo nguồn thu nhập của mỗi người mà định số thuế phải đóng góp Không huy động quá mức để mức thuế gây trở ngại cho công việc làm
ăn hoặc đời sống của nhân dân nhưng cũng không huy động dưới mức để ảnh hưởng đến việc cung cấp cho tiền tuyến và đến công bằng xã hội
Chính sách thuế mới nhằm khuyến khích mọi người ra sức tăng gia sản xuất, làm ra nhiều của cải, nâng cao đời sống, có lợi cho bản thân, cho kháng chiến, cho nền kinh tế chung Chính sách thuế thống nhất gồm 7 thứ thuế là:
1, Thuế nông nghiệp
2, Thuế công thương nghiệp
3, Thuế hàng hóa
Trang 84, Thuế xuất nhập khẩu.
tế tai nạn Việc tăng, giảm mức thu, loại thuế, suất thuế đều do chính phủ Trung ương quy định
* §èi víi thuÕ n«ng nghiÖp
Trong chính sách tài chính mới, thuÕ n«ng nghiÖp ban hµnh ngµy 1- 5-
1951 cã vai trò đặc biệt quan trọng, cã ý nghÜa c¶ vÒ kinh tÕ vµ chÝnh trÞ- x· héi Sắc lệnh đặt ra thuế nông nghiệp quy định rõ: "Để đảm bảo cung cấp cho nhu cầu kháng chiến, phát triển sản xuất nông nghiệp, thống nhất và đơn giản chế độ đảm phụ cho dân, thực hiện đóng góp công bằng, kể từ vụ thuế 1951
1 Bãi bỏ các thứ đóng góp về nông nghiệp cho ngân sách toàn quốc và quỹ địa phương như thuế điền thổ, thuế công lương, quỹ sương túc, thóc bình dân học vụ, thóc nuôi bộ đội địa phương, thóc nộp cho quỹ xã, thóc đắp đường v.v
2 Bãi bỏ việc mua thóc định giá
3 Đặt ra thuế nông nghiệp, thu bằng thóc, tính theo hoa lợi thu hoạch bình thường hµng năm của ruộng đất Thuế nông nghiệp do người thu hoa lợi nộp Thêm vào chính s¸ch t¨ng thuế nông nghiệp sẽ thu một số phần trăm phụ thu cho ngân sách đÞa phương Ngoài hai khoản thu này, số thu hoạch của ruộng đất không phải chịu một thứ đảm phụ nào khác nữa Thuế nông nghiệp khi mới ban hành nhằm động viên mỗi năm khoảng 20% hoa lợi thường niên chịu thuế Biểu thuế nông nghiệp là biểu thuế luỹ tiÕn toàn phần, mức thấp
Trang 9nhất là 5%, mức cao nhất là 45% Tỷ lệ lũy tiến cao hay thấp là tuỳ theo số thu hoạch bỡnh quõn của một nhõn khẩu nụng nghiệp trong nụng hộ Giữa hai nụng hộ thu họach bằng nhau, thỡ nhà nào cú nhiều nhõn khẩu nụng nghiệp hơn được đúng gúp nhẹ hơn Thuế nông nghiệp thu bằng hiện vật, thu theo lũy tiến từ 6-45%, những ngời có thu nhập thấp dới 60kg/năm không phải chịu thuế Tỷ lệ thu cao nhất thực hiện với các gia đình có mức thu nhập bình quân
đầu ngời trên1.796 kg/năm tỷ lệ thu thấp nhất áp dụng đối với các hộ gia đình
có mức thu nhập bình quân đầu ngời từ 61-75 kg/ năm nếu tính chung 90% số
hộ nông dân phai nộp thuế mới, thì có 10% số hộ đợc miễn thuế
Để phự hợp với hoàn cảnh khỏng chiến, thuế nụng nghiệp ở vựng du kớch nhẹ hơn vựng căn cứ, thuế vựng căn cứ lại nhẹ hơn vựng tự do Để thể hiện chớnh sỏch dõn tộc, thuế nụng nghiệp ở miền nỳi nhẹ hơn thuế ở miền xuụi Ngay ở miền nỳi thuế nương rẫy lại nhẹ hơn thuế đỏnh vào ruộng nước Chớnh sỏch thuế nụng nghiệp khuyến khớch việc tăng gia sản xuất căn cứ vào thu hoạch bỡnh thường hàng năm để chiếu cố người chăm làm, đỏnh nặng vào người lười biếng Để thỳc đẩy việc trong hoa mầu và cõy cụng nghiệp, cú cỏch định sản lượng riờng, nhẹ hơn Thuế cũn phục vụ chớnh sỏch ruộng đất của Đảng và Nhà nước là: đối với địa chủ ngồi khụng thu tụ thuế đỏnh nặng hơn nụng dõn trực tiếp canh tỏc (thu hoạch 100 tớnh thành 125 để chịu thuế)
Tỏ điền bị búc lột tụ nờn được đúng thuế nhẹ hơn người cú ruộng (thu hoạch
100 chỉ tớnh 75 để chịu thuờ) Sản xuất nụng nghiệp cũn lệ thuộc nhiều vào thiờn nhiờn Mựa màng luụn bị thiờn tai, hạn hỏn, lụt bóo, sõu bọ đe dọa nờn thuế nụng nghiệp cú chớnh sỏch miễn giảm thớch hợp, khuyến khớch người bỏ nhiều cụng sức ra chống thiờn tai Thuế cũn cú biện phỏp để ưu đói những gia đỡnh cú cụng với khỏng chiến: Thương binh, liệt sĩ, những người đi bộ đội đều được tớnh là nhõn khẩu nụng nghiệp để giảm nhẹ thuế cho gia đỡnh Phự hợp với tỡnh hỡnh sản xuất, thuế nụng nghiệp mựa năm tớnh một lần, thu bằng thúc, vào hai vụ gặt chớnh là vụ chiờm và vụ mựa, so với thuế điền thổ cũ thỡ
Trang 10thuế nụng nghiệp là một bước tiến lớn, cú tớnh chất cỏch mạng trong chế độ đúng gúp của ta
* Đối với thuế công thơng nghiệp
Thuế công thơng nghiệp ban hành ngày 27- 7- 1951 đợc sửa đổi Chớnh sỏch thuế cụng thương nghiệp là thuế đỏnh vào cỏc ngành kinh doanh cụng nghiệp, tiểu cụng nghệ và thương nghiệp, cú mục đớch kiếm lợi, bao gồm cỏc doanh nghiệp hoạt động thường xuyờn, cú cơ sơ tương đối khỏ, cỏc quỏn hàng
và cỏc hoạt động buụn chuyến Tỷ lệ động viờn bằng thuế cụng thương nghiệp trung bỡnh là 15% doanh số, nhẹ hơn mức động viờn về thuế nụng nghiệp, lỳc
đú thương nghiệp cũn rất nhỏ bộ, phõn tỏn chưa được ổn định Thuế cụng thương nghiệp gồm nhiều hỡnh thức Đối với cỏc doanh nghiệp cú hai thứ thuế
là thuế doanh thu tớnh 1%, 2% hoặc 3% trờn tổng số tiền thu về bỏn hàng, tựy theo loại hàng; và thuế thực lói tớnh lũy tiền từ 5% đến 27% trờn số lói kinh doanh đó trừ chi phớ hợp lệ Thuế quỏn hàng tớnh luỹ tiến căn cứ vào số thu nhập ước lượng hàng thỏng Thuế buụn chuyến tớnh tỷ lệ trờn trị giỏ hàng bỏn
ra Chớnh sỏch thuế cụng thương nghiệp, ngoài tỏc dụng động viờn cỏc tầng lớp tư sản dõn tộc và tiểu tư sản cụng thương đúng gúp theo khả năng cho khỏng chiến, cũn đảm bảo thu hồi một phần tiền mặt ở thị trường để gúp phần bỡnh định vật giỏ và bảo vệ tiền tệ Thuế xuất nhập khẩu là cụng cụ để quản lý việc xuất, nhập hàng hoỏ giữa vựng tự do và vựng tạm bị chiếm, bảo vệ và phỏt triển kinh tế của vựng tự do Thuế tớnh theo giỏ hàng và thuế suất cao hay thấp là tuỳ theo yờu cầu hạn chế hay khuyến khớch xuất hoặc nhập nhiều hay
ớt, yờu cầu đấu tranh kinh tế cú lợi cho ta Hàng xuất khẩu núi chung được miễn thuế Hàng nhập hạn chế vào những thứ tối cần thiết cho cuộc khỏng chiến, gồm 116 thứ, thuế suất từ 30% trở lờn Thuế hàng húa là thuế đỏnh vào một số mặt hàng nhất định nhằm khuyến khớch sản xuất, bảo hộ cụng thương nghiệp điều tiết tiờu thụ, bảo vệ chớnh sỏch giỏ cả đồng thời điều tiết thu nhập, bảo vệ chớnh sỏch giỏ cả, đồng thời điều tiết thu nhập của cỏc tầng lớp nhõn
Trang 11dân, tích luỹ vốn cho ngân sách Nhà nước Thuế suất cao hay hạ tùy theo loại hàng, tư liệu sản xuất hay hàng tiêu dùng, hàng cần thiết hay hàng xa xỉ Thuế hàng hoá còn bổ sung cho thuế xuất nhập khẩu để bảo vệ hàng hoá nội hóa, chống việc hàng ngoại vào xâm chiếm thị trường cña ta Ngoài các thứ thuế chính kể trên, còn thuế sát sinh và thuế trước bạ mà mục đích chủ yếu là tăng thu cho ngân sách mỗi khi giết gia súc hoặc chuyển dịch tài sản Thuế tem chưa thi hành trong thời kỳ còn kháng chiến Đi đôi với việc cải tổ chính sách thuế Nhà nước còn ra chế độ quản lý chặt chẽ các khoản thu khác như chiến lợi phẩm, vật tư, tài sản ở những đô thị mới giải phóng để tập trung vào ngân sách Nhà nước, tránh sử dụng lãng phí hoặc tham ô Chế độ quản lý và thu đối với các xí nghiệp quốc doanh đầu tiên: ngân hàng, mậu dịch và một số
cơ quan sự nghiệp như bưu điện, thủy lâm có nguồn thu phải nộp vào ngân sách cũng được hình thành từ năm 1951
* ChÝnh s¸ch gi¶m chi, thùc hµnh tiÕt kiÖm
Song song với chính sách tăng thu, Nhà nước kiên quyết thi hành chính sách giảm chi, gi¶m biªn chÕ khu vùc hµnh chÝnh, chính sách tiết kiệm, tích cực, triệt để Khoản chi lớn nhất lúc ấy là chi để trả lương cho công nhân, viên chức, bộ đội nên muốn giảm chi, muốn tiết kiệm phải đi sâu nghiên cứu vấn đề tổ chức bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, vấn đề biên chế
Bộ máy Nhà nước lúc đó chưa hợp lý, người nhiều, việc ít, tổ chức cồng kềnh, hiệu suất thấp, lãng phí sức người, sức của không tập trung được cho nhu cầu tiền tuyến Có thành phố bị tạm chiếm vẫn giữ nguyên bộ máy hành chính đầy đủ khi chuyên ra vùng tự do Có tỉnh chỉ còn vài xã tự do nhưng cũng tổ chức đủ các cơ quan chuyên môn Trong từng cơ quan, dù nhỏ nhất, cũng có đủ các bộ phận: hành chính, quản trị, tài vụ, kế toán, nghiệp vụ Trong bộ máy nghiệp vụ lại phân công máy móc, có người chuyên làm công tác nghiên cứu, người chuyên điều hành công việc hàng ngày Như vậy bộ