1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định

193 901 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Nước Và Vệ Sinh Môi Trường Tại 6 Huyện Của Tỉnh Bình Định
Trường học Viện Phát Triển Bền Vững Vùng Nam Bộ
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2010
Thành phố Bình Định
Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trình bày về tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định

Trang 1

VIỆN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG NAM BỘ (SISD)

TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ PHÁT TRIỂN (CRCD)

BÁO CÁO TỔNG HỢP

KHẢO SÁT CƠ BẢN VỀ TÌNH HÌNH NƯỚC VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TẠI 6 HUYỆN CỦA TỈNH BÌNH ĐỊNH

Năm 2010

Trang 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

UBND : Ủy ban nhân dân

NS&VSMT : Nước sạch và vệ sinh môi trường

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

PVS : Phỏng vấn sâu

Trang 3

MỤC LỤC

A GIỚI THIỆU 6

B PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

I CÁC TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU 7

II PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN 7

1 Chọn mẫu định lượng 7

2 Chọn mẫu định tính 8

3 Thu thập thông tin thứ cấp 9

C KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 9

PHẦN I ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ 9

I CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG 9

1 Các thể chế và quan hệ giữa các thể chế quản lý nhà nước về môi trường 9

2 Nguồn nhân lực của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường 12

3 Công tác kiểm tra, giám sát về nước sạch và vệ sinh môi trường 12

4 Công tác lưu trữ và báo cáo định kỳ 14

5 Công tác tập huấn và truyền thông 16

6 Sự tham gia của các tổ chức, đoàn thể 17

7 Kết quả thực hiện các chỉ số cơ bản về môi trường năm 2009 18

8 Công tác quy hoạch 22

9 Nhận xét chung về công tác quản lý nhà nước đối với NS&VSMT 23

II Thực trạng của các dự án cung cấp nước tập trung, xử lý rác thải, nước thải và vệ sinh môi trường tại vùng dự án 25

1.Đối với lĩnh vực cung cấp nước tập trung 25

2.Đối với lĩnh vực xử lý rác 29

3.Đối với lĩnh vực nước thải 31

PHẦN II ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH 32

I MÔ TẢ NGƯỜI TRẢ LỜI VÀ HỘ TRONG MẪU KHẢO SÁT 32

1.Đặc điểm người trả lời 32

2.Đặc điểm hộ gia đình 33

II NƯỚC SINH HOẠT 35

1 Thực trạng nguồn nước sinh hoạt hiện nay của các hộ dân cư 36

Trang 4

1.1 Thực trạng nguồn nước hiện nay của các hộ dân không dùng

nước máy 36

1.2 Thực trạng nguồn nước hiện nay của các hộ có nước máy 37

2 Chất lượng nước phân theo mục đích sử dụng 38

2.1 Chất lượng nước uống 38

2.2 Chất lượng nước nấu ăn 39

2.3 Chất lượng nước tắm rửa 39

3 Chất lượng nước phân theo nguồn cung cấp 41

3.1 Chất lượng nước giếng đào 41

3.2 Chất lượng nước giếng khoan 42

3.3 Chất lượng nước máy 45

4 Tiếp cận nguồn nước và phương tiện trữ nước 46

5 Các biện pháp xử lý nước trước khi dùng 47

6 Mức nước sử dụng của hộ gia đình 49

7.Đánh giá dịch vụ cung cấp nước máy cho hộ gia đình 49

8 Nhận thức của người dân về lý do không sử dụng nước máy 53

9 Nhận thức của người dân ở những nơi chưa có nước máy 53

III RÁC VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG 55

1 Thực trạng thu gom và xử lý rác thải, nước thải và vệ sinh môi trường của các hộ dân cư 55

1.1 Tình hình xử lý rác thải của các hộ dân cư 55

1.2 Tình hình xử lý nước thải của các hộ dân cư 56

1.3 Các vấn đề khác về vệ sinh môi trường của các hộ dân cư 57

2 Nhận thức của người dân về việc thu gom, xử lý rác, nước thải và vệ sinh môi trường, dịch bệnh 58

2.1 Đánh giá của người dân về tình hình rác thải, nước thải và vệ sinh môi trường nói chung 58

2.2 Đánh giá ảnh hưởng của rác, nước thải và vệ sinh môi trường đối với sức khỏe phân theo 6 huyện, 12 xã .60

3 Đánh giá sự cần thiết về việc sử dụng các dịch vụ thu gom rác và mức độ sẵn sàng tham gia của các hộ dân cư 60

3.1 Sự cần thiết của dịch vụ thu gom rác 60

3.2 Mức độ sẵn sàng tham gia dịch vụ thu gom rác của người dân 61

4 Đánh giá dịch vụ thu gom rác thải hiện có tại vùng khảo sát 62

4.1 Các dịch vụ thu gom rác hiện có tại địa phương 62

4.2 Đánh giá của người dân trong vùng khảo sát về các dịch vụ hiện có 63

Trang 5

5 Công tác truyền thông và nâng cao nhận thức của người dân về vệ

sinh môi trường 65

5.1 Thực trạng công tác truyền thông tại các địa bàn khảo sát 65

5.2 Một số đề xuất về công tác tuyên truyền, vận động 66

PHẦN III: CÁC ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH 68

I.ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CUNG CẤP VÀ SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH 68

1.Đề xuất đối với cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội 68

1.1 Nâng cao ý thức người dân trong việc bảo vệ nguồn nước và sử dụng nước hợp vệ sinh .68

1.2 Cần có cơ chế thống nhất việc phát triển các công trình cấp nước tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh, để thuận lợi trong quá trình quản lý, vận hành công trình cũng như việc lồng ghép các nguồn vốn có hiệu quả 68

1.3 Ban hành các chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân nông thôn, hộ nghèo, vùng đồng bào dân tộc sử dụng nước hợp vệ sinh 69

2.Đề xuất đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước sạch 70

2.1 Trước khi triển khai dự án cung cấp dịch vụ nước sạch cần có sự tham khảo ý kiến của người dân về các chỉ báo cơ bản .70

2.2 Trong quá trình thực hiện và quản lý dự án, cần có sự kiểm tra chặt chẽ và thường xuyên cải thiện, nâng cao chất lượng nước cung cấp 70

II.ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ RÁC VÀ THU GOM RÁC THẢI, XỬ LÝ NƯỚC THẢI 71

1 Nâng cao ý thức của người dân trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường thông qua mô hình thành lập các nhóm tự quản trong khu vực 71

2.Đẩy mạnh công tác truyền thông, giữ gìn vệ sinh chung nhằm thay đổi hành vi của người dân .72

3.Đầu tư, hỗ trợ cho các đơn vị dịch vụ thu gom rác nhằm cải tiến chất lượng dịch vụ thu gom rác thải 73

4.Đầu tư vào hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, chăn nuôi và sản xuất: 74

III MỘT SỐ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY NGƯỜI DÂN SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG 74

1 Chính sách ngắn hạn 74

2 Chính sách dài hạn 74

PHỤ LỤC

Trang 6

A GIỚI THIỆU

Bình Định là một trong những địa phương nghèo và có mật độ dân số cao Mặc dù điều kiện kinh tế và cơ sở hạ tầng ở nông thôn đã được cải thiện đáng kể trong những năm qua, đời sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn và đang đối mặt với nhiều thách thức ngày càng tăng lên về môi trường Nước sạch, xử lý chất thải rắn, nước thải… lànhững vấn đề chính về môi trường ở nông thôn mà chính quyền và người dân đang rấtquan tâm hiện nay Với 6 huyện trong vùng khảo sát thì trừ Tây Sơn là huyện trung du,các huyện còn lại (Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước, và An Nhơn) đều là những huyện đồng bằng và huyện ven biển Do vậy, nguồn nước bị nhiễm phèn hoặc nhiễm mặn là khá phổ biến Mặt khác, việc sử dụng bừa bãi các nguồn nước ngầm, và sự nhiễm bẩn nguồn nước từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, và chất thải sinh hoạt của dân cư với mật độ ngày càng cao… là những tác nhân chính làm cho môi trường bị ô nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt và sức khỏe của người dân

Mục đích chính của cuộc khảo sát này là:

1 Mô tả định lượng về tình trạng hiện nay của vùng dự án liên quan đến:

o Các vấn đề nước sinh hoạt, rác thải, nước thải, và vệ sinh môi trường;

o Mức độ cung ứng dịch vụ nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường hiện nay;

o Mức độ nhận thức về các vấn đề liên quan đến nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường;

o Khả năng và sự sẵn sàng của người dân trong việc chi trả cho các dịch vụ nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường đã được cải thiện

2 Mô tả năng lực của các cơ quan nhà nước và các tổ chức cung ứng dịch vụ, gồm cả các tổ chức tư nhân, trong công tác thực thi chương trình, dự án cũng như công tácvận hành và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng của dự án

3 Xây dựng các chỉ số cơ bản cho từng kết quả dự kiến của khung logic để làm cơ sở sau này so sánh với các thành tựu mà dự án đạt được, bao gồm các chỉ số đối với các cơ quan phụ trách về quy hoạch, thiết kế, thực thi các hệ thống cấp nước nông thôn và các hệ thống quản lý rác thải rắn được tăng cường; và các chỉ số về nâng cao nhận thức trong việc sử dụng nước ăn uống an toàn và bảo vệ nguồn nước cũng như việc bảo vệ môi trường thông qua việc thu gom và xử lý chất thải rắn

Báo cáo tổng hợp bao gồm 4 hợp phần chính Trước hết, báo cáo sẽ trình bày phươngpháp nghiên cứu, bao gồm cả các cách tiếp cận, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu Tiếp đến, báo cáo sẽ phân tích thực trạng các dự án cung cấp nước sạch tập trung, thu gom rác, bãi rác, và các dự án vệ sinh môi trường khác, các cơ quan quản lý nhà

Trang 7

nước và các tổ chức cung ứng dịch vụ liên quan đến các lĩnh vực trên Trong phần này,một số lĩnh vực liên quan đến công tác kế hoạch, thực thi, giám sát, theo dõi dự án, lưutrữ dữ liệu, các chương trình tập huấn và sử dụng các tiến bộ kỹ thuật sẽ được tìm hiểu.Phần tiếp đến trình bày các đặc điểm của hộ gia đình, thực trạng sử dụng các nguồn nước, xử lý rác, và các lĩnh vực vệ sinh môi trường khác, nhận thức của người dân về các vấn đề trên, khả năng và mức độ sẵn sàng sử dụng các dịch vụ cung cấp nước sạch tập trung và thu gom chất thải rắn được tăng cường trong tương lai Dựa trên các kết quả phân tích trên, phần cuối cùng sẽ đề xuất các chính sách về nước và vệ sinh môi trường.

B PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I CÁC TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU

Cuộc khảo sát được tiến hành từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau Cách tiếp cận đầu tiên và quan trọng nhất là từ các bên có liên quan, gồm: Bên thụ hưởng: hộ gia đình; Bêncung ứng: các công trình cấp nước, thu gom rác và vệ sinh môi trường; Bên quản lý nhànước: các cơ quan quản lý nhà nước; Bên hỗ trợ: các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội,cộng đồng Cách tiếp cận tiếp theo là thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau, gồm: Bản hỏi định lượng và thảo luận nhóm hộ gia đình; Bản thu thập thông tin các cơ quan,

tổ chức và phỏng vấn sâu các cá nhân có vai trò quan trọng; Các báo cáo, tư liệu thứ cấp; và Các quan sát thực địa Cuối cùng, cuộc khảo sát được tiếp cận từ nhiều cấp, theo chiều dọc và theo chiều ngang: cá nhân, cộng đồng, xã, huyện, tỉnh, và các tổ chức đồng cấp tương ứng

II PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN

1 Chọn mẫu định lượng

Yêu cầu của công tác chọn mẫu là (1) vừa phản ảnh được thực trạng sử dụng nguồn nước, xử lý rác thải và vệ sinh môi trường của hộ gia đình nông thôn, (2) vừa đánh giá được chất lượng dịch vụ cung cấp nước sạch tập trung và thu gom rác ở nông thôn hiện nay trong điều kiện mà số hộ gia đình có sử dụng các dịch vụ này chiếm tỷ trọng nhỏ Công tác chọn mẫu được thực hiện theo 2 giai đoạn

Giai đoạn 1: Chọn điểm khảo sát (đơn vị chọn là xã/thị trấn) Mỗi huyện sẽ chọn 2 xã/thị

trấn Mỗi xã/thị trấn sẽ chọn 2 thôn Tổng cộng, có 24 thôn của 12 xã/thị trấn thuộc 6huyện được chọn để khảo sát

Bước 1: Chọn xã/thị trấn khảo sát với tiêu chí dựa vào tình trạng nguồn nước sử dụng

và xử lý rác thải hiện nay, mức độ cung ứng dịch vụ nước và xử lý rác thải: tốt, không tốt, chưa có (đối với những điểm chưa có dịch vụ thì xác định thêm tiêu chí: cụm dân cư tập trung,đường giao thông), và nhu cầu bức thiết Quá trình lựa chọn xã/thị trấn được tham vấn và thống nhất với lãnh đạo các địa phương, nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay Danh sách các xã/thị trấn được trình bày trong bảng 1

Trang 8

Bước 2: Mỗi xã chọn 2 thôn với tiêu chí: (1) đối với xã có dịch vụ cung cấp nước sạch thì

chọn các thôn có dịch vụ; đối với xã chưa có dịch vụ thì chọn 1 thôn trung tâm xã và 1thôn cách xa trung tâm xã Danh sách 24 thôn khảo sát được trình bày trong bảng 2

Giai đoạn 2: Chọn đơn vị điều tra Mỗi thôn chọn 30 hộ gia đình (có sử dụng dịch vụ

nước máy hay không có dịch vụ tùy vào điều kiện của địa phương) để khảo sát bằng bản hỏi định lượng Tổng số hộ được khảo sát là 720 hộ gia đình gồm 2 nhóm Nhóm 1 gồm các hộ tại nơi có đường ống nước máy Nhóm này gồm các hộ gia đình (i) có sử dụng

nước máy và có đồng hồ chính thức; (ii) có sử dụng nước máy nhưng không có đồng hồ (những hộ sử dụng vòi công cộng); (iii) có đường ống nước máy nhưng không sử dụng nước (2) Nhóm 2 gồm những hộ tại nơi không có đường ống nước máy.

Bước 1: Làm việc với Ủy ban Nhân dân xã/thị trấn để lấy danh sách hộ gia đình 2 thôn

đã xác định ở giai đoạn 1

Bước 2: Chọn mẫu theo nguyên tắc ngẫu nhiên hệ thống, xác định 30 hộ gia đình ở mỗi

thôn để khảo sát Cách thức là lấy tổng số hộ gia đình có trong danh sách do cán bộ địa phương cung cấp chia cho số hộ cần khảo sát, có được khoảng cách sau khi chia và lấy khoảng cách đó làm bước nhảy để chọn hộ

Kết quả chọn được 720 hộ gia đình ở 24 thôn, trong đó có khoảng 1/3 số hộ thuộc nhóm

có sử dụng nước sạch tập trung; 2/3 số hộ còn lại thuộc nhóm không sử dụng nước sạchtập trung (kể cả những hộ có đường ống chính chạy qua nhưng không sử dụng nước sạch tập trung)

Nguyên tắc đổi mẫu: Các trường hợp trong danh sách mẫu không thực cư trú trên địa

bàn hoặc có nhà nhưng không thực ở, đã chuyển đi nơi khác; không gặp được trongsuốt thời gian khảo sát thực địa; hoặc từ chối hợp tác trả lời bản hỏi thì chọn hộ thay thế Chọn mẫu thay thế bằng cách lấy hộ kế tiếp phía dưới danh sách; nếu không được sẽ lấy hộ kế tiếp phía trên trong danh sách Thực tế, mỗi thôn có khoảng 1-2 trường hợp hộ

đi làm ăn xa không thể tiếp cận được Tỷ lệ đổi mẫu thấp giúp cho cuộc khảo sát đảm bảo độ tin cậy của thông tin thu thập được

Xác định người đại diện cho hộ gia đình để trả lời: đối tượng là chủ hộ hoặc vợ/chồng

chủ hộ Nếu đối tượng này không thể tham gia trả lời được thì người thay thế có thể lànhững người có mối quan hệ mật thiết và hiểu biết các vấn đề chung của hộ

Trang 9

nhiên, có 5 trong tổng số 36 cuộc thảo luận nhóm là nhóm hỗn hợp, gồm cả chính quyền địa phương, các tổ chức cung ứng dịch vụ, đoàn thể, và đại diện các hộ dân Số cuộc thảo luận nhóm, số người tham gia, và sự phân bố theo địa bàn nghiên cứu được thể hiện chi tiết ở bảng 4

3 Thu thập thông tin thứ cấp

Cuộc khảo sát cũng thu thập các báo cáo, số liệu thống kê hiện có ở địa phương nhằm

bổ sung cho các thông tin do nhóm khảo sát trực tiếp thu thập ở hiện trường Các nguồn thông tin trên có tính chất bổ sung lẫn nhau, làm cơ sở cho các phân tích

C KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

PHẦN I ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ

I CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

1 Các thể chế và quan hệ giữa các thể chế quản lý nhà nước về môi trường

UBND tỉnh thống nhất chỉ đạo quản lý nhà nước tất cả các hoạt động liên quan đến quản

lý tài nguyên nước, môi trường, chất thải sinh hoạt và chất thải trong sản xuất trên địa bàn tỉnh; đồng thời phân công, phân cấp chỉ đạo thực hiện cho các sở, ban, ngành, vàUBND cấp dưới

o Sở Tài nguyên và Môi trường

Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên

và môi trường, bao gồm: đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, địa chất, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ, quản lý tổng hợp về biển và hải đảo; thực hiện các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Định được thực hiện theo Quyết định số 603/QĐ-UBND, ngày 19/08/2009 của UBND tỉnh Chi cục Bảo vệ môi trường, trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, có chức năng giúp Sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh

Sở Tài nguyên và Môi trường giúp UBND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh: chỉ đạo, tổ chức thực hiện chiến lược,chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường; chỉ đạo định kỳ tổ chức đánhgiá hiện trạng môi trường; tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường; chỉ đạocông tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường;

Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan rà soát, xây dựng đồng bộ hệ thống các văn bản pháp quy (pháp luật, quy phạm, quy chế) trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước

và chất thải rắn nhằm quản lý, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước; phòng chống,

Trang 10

khắc phục ô nhiễm môi trường; tổ chức lập và quản lý quy hoạch về tài nguyên nước, cấp phép các dự án công trình khai thác tài nguyên nước theo thẩm quyền.

Chi cục Bảo vệ môi trường có chức năng tham mưu cho Giám đốc Sở Tài nguyên và Môitrường ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành, phê duyệt các văn bản pháp luật, chương trình, kế hoạch, dự án, đề án về bảo vệ môi trường trênđịa bàn tỉnh và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, chương trình, kế hoạch, dự án,

đề án về bảo vệ môi trường do các cơ quan nhà nước ở Trung ương, UBND tỉnh, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành

o Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Chịu trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện quy hoạch cấp nước trênđịa bàn tỉnh; là đầu mối phối hợp với các Sở, ngành địa phương xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện quy hoạch, phát triển hệ thống công trình cấp nước phục vụ sản xuất vàsinh hoạt của người dân nông thôn;

Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương xây dựng các văn bản pháp quy thuộc lĩnh vực cấp nước và vệ sinh nông thôn;

Chỉ đạo Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn xây dựng các mô hình

xử lý nước quy mô hộ gia đình, tập huấn nâng cao năng lực quản lý, vận hành cho lực lượng cán bộ, công nhân trực tiếp quản lý, vận hành các công trình cấp nước tập trung trênđịa bàn tỉnh; chuẩn bị, tuyển dụng, đào tạo nguồn nhân lực để quản lý, vận hành sauđầu tư các công trình cấp nước tập trung nông thôn do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Trung tâm làm chủ đầu tư một cách có hiệu quả

o Sở Xây dựng

Sở Xây dựng chịu trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện quy hoạch tổng thể chất thải rắn trên địa bàn tỉnh; là đầu mối phối hợp với các sở, ngành địa phương xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện quy hoạch;

Thẩm định quy hoạch xây dựng các dự án xử lý chất thải rắn; kiểm tra, giám sát việc xây dựng phát triển công trình dự án theo quy hoạch;

Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương xây dựng các văn bản pháp quy thuộc lĩnh xây dựng và phát triển công trình xử lý chất thải rắn

o UBND các huyện, thành phố

UBND các huyện, thành phố có trách nhiệm tổ chức, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhànước về tài nguyên nước và vệ sinh môi trường thuộc địa bàn quản lý;

Phối hợp với các sở, ngành lập kế hoạch dự án đầu tư phát triển công trình cấp nước và

xử lý rác thải trên địa bàn; tổ chức quản lý quy hoạch cấp nước và quy hoạch tổng thể quản lý chất thải rắn theo nội dung đã được phê duyệt;

Chỉ đạo các phòng chức năng, UBND các xã, thị trấn trực thuộc tổ chức thành lập các đơn vị quản lý, vận hành công trình cấp nước tập trung và các đơn vị thu gom, xử lý chất thải rắn đảm bảo hoạt động có hiểu quả

Trang 11

Ở cấp huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn giúp UBNDhuyện, thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trên địa bàn huyện, thành phố theo quy định của pháp luật, chịu sự quản lý trực tiếp của UBND huyện, thành phố; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường.

Phòng Tài nguyên và Môi trường giúp UBND cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn cấp huyện: Chỉ đạo, tổ chứcthực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường; tổ chứcđăng ký và kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường; tuyên truyền, giáo dụcpháp luật về bảo vệ môi trường; chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm phápluật về bảo vệ môi trường; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về bảo vệmôi trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và các quy định khác củapháp luật có liên quan; thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trườngtheo uỷ quyền của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh; chỉ đạocông tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của UBND cấp xã

o Ủy ban Nhân dân xã, thị trấn

UBND cấp xã, thị trấn có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trườngtại địa phương theo quy định; bố trí cán bộ địa chính phụ trách về bảo vệ môi trường; cótrách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương theo quyđịnh sau đây: Chỉ đạo, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môitrường, giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn, khu dân cư thuộc phạm vi quản lý củamình; tổ chức vận động nhân dân xây dựng nội dung bảo vệ môi trường trong hươngước của cộng đồng dân cư; hướng dẫn việc đưa tiêu chí về bảo vệ môi trường vào trongviệc đánh giá thôn, làng, khu phố và gia đình văn hóa; kiểm tra việc chấp hành pháp luật

về bảo vệ môi trường của hộ gia đình, cá nhân; phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các

vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo

vệ môi trường cấp trên trực tiếp; quản lý hoạt động của thôn, làng, tổ dân phố và tổ chức

tự quản về giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường trên địa bàn

Các tổ chức đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân phối hợp với các

sở, ban, ngành có liên quan tăng cường công tác thông tin - giáo dục - truyền thông, vận động xã hội, vận động hội viên tích cực tham gia các đợt vận động của các cấp về nước sạch, rác thải và vệ sinh môi trường, đồng thời xem đây là một trong những tiêu chí đánhgiá hội viên cuối năm; là lực lượng nồng cốt từ tỉnh đến cơ sở hưởng ứng và triển khai, hành đồng “Tuần lễ Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn”, Ngày Môitrường Thế giới; góp phần tích cực trong việc thay đổi hành vi sử dụng nước hợp vệ sinh trong sinh hoạt, nâng cao nhận thức, thay đổi tích cực các hành xử lý rác thải tại hộ gia đình và khu dân cư

Với các thể chế trên, về cơ bản, công tác quản lý nhà nước về môi trường đã được tổ chức một cách hệ thống theo chiều dọc và chiều ngang, và được phân công các chức năng, nhiệm vụ một cách rõ ràng Trên thực tế, tùy điều kiện cụ thể, một số phòng, bancấp huyện được phân công đảm trách một một số chức năng, nhiệm vụ khác nhau liênquanđến một số lĩnh vực nước, rác, phòng chống dịch và vệ sinh môi trường

Trang 12

2 Nguồn nhân lực của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường

Kết quả tổng hợp từ báo cáo về nguồn nhân lực của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở các địa phương cho thấy, số cán bộ công chức làm việc tại các sở, ban, ngành ở cấp tỉnh liên quan đến nước sạch và vệ sinh môi trường (NS&VSMT) là 75người, trong đó 28 người có trình độ đại học về NS&VSMT và 47 người có trình độ trung cấp về NS&VSMT Điều này cho thấy nguồn nhân lực ở cấp tỉnh có chất lượng tương đối cao, đáp ứng được các yêu cầu cơ bản đối với công tác quản lý nhà nước về môi trường Năm 2009, các cơ quan cấp tỉnh đã tham dự 8 khóa tập huấn chuyên môn về NS&VSMT

Tuy nhiên, đối với lĩnh vực cấp nước, nguồn nhân lực ở cấp huyện, xã rất hạn chế Cấp huyện không có cán bộ chuyên trách mà làm việc theo hình thức kiêm nhiệm, trình độ chuyên môn có phần hạn chế Đối với cấp xã hiện nay không có cán bộ đảm đươngnhiệm vụ này mà được giao cho cán bộ địa chính-xây dựng thực hiện Vì vậy, công tác thu thập số liệu và lưu trữ ở cấp cơ sở hiện nay còn rất thiếu và không có hệ thống

“Đa số những cán bộ chuyên trách về lĩnh vực về nước và vệ sinh môi trường chưa qua đào tạo chuyên môn (có tình trạng là một số cán bộ có kinh nghiệm quản lý thì lại hết nhiệm kỳ và một người mới chưa có kinh nghiệm lên thay thế) Thỉnh thoảng có tập huấn cho các chuyên viên kỹ thuật từ 5 – 10 ngày (nhưng cũng là do những người đi trước tập huấn cho những người sau.) Do đó cần nâng cao năng lực cán bộ (TLN cán bộ huyện

Phù Mỹ, Bình Định, 2010);

“Phòng chỉ quản lý về mặt nhà nước, không quản lý trực tiếp mà chủ yếu kiêm nhiệm không có cán bộ chuyên trách Nguồn nhân lực hiện nay thiếu, không chuyên sâu Công tác phối hợp giữa các ngành không đồng đều cộng với nguồn nhân lực có trình độ chênh lệch giữa các ban ngành nên sự thống nhất và thực thi không cao (PVS cán bộ quản lý

huyện Hoài Nhơn);

“Về chuyên môn 50% đạt yêu cầu, còn lại các ngành chưa phù hợp Rất nhiều người lúng túng khó khăn trong công việc, vì không có chuyên môn ngành môi trường Hiện nay, có

1 kỹ sư xây dựng, 1 kiến trúc sư qui hoạch đô thị, 1 trung cấp giao thông, 1 cử nhân kinh

tế, 3 cao đẳng [điện, hóa nhiệt, chế tạo cơ khí], nên rất khó khăn trong thực hiện công tác nước sạch và vệ sinh môi trường (PVS cán bộ quản lý huyện An Nhơn).

Hiện nay, nguồn nhân lực về lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn ở cơ sở gặp rất nhiều khó khăn kể cả lĩnh vực quản lý nhà nước lẫn lực lượng thực hiện nhiệm

vụ Một số đơn vị cấp nước cán bộ chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ chuyênngành Vì thế, trong thời gian đến Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn) sẽ tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ quản

lý, vận hành cho lực lượng cán bộ, nhân viên kỹ thuật vận hành các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh

3 Công tác kiểm tra, giám sát về nước sạch và vệ sinh môi trường

Công tác kiểm tra, giám sát nước sạch và vệ sinh môi trường được thực hiện theo các quiđịnh hiện hành

Trang 13

o Đối với cấp nước sinh hoạt

Công tác kiểm tra giám sát chất lượng nước cấp được thực hiện theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02: 2009/BYT cụ thể như sau:

- Giám sát trước khi đưa nguồn nước vào sử dụng: Xét nghiệm tất cả các chỉ tiêu thuộc mức độ A, B do cơ sở cung cấp nước thực hiện

- Giám sátđịnh kỳ:

+Đối với các chỉ tiêu thuộc mức độ A: Xét nghiệm ít nhất 01 lần/03 tháng do cơ sở cung cấp nước thực hiện; Kiểm tra, giám sát, xét nghiệm ít nhất 01 lần/06 tháng do các cơquan có thẩm quyền thực hiện (lấy mẫu nước tại 100% các cơ sở cung cấp nước trênđịa bàn được giao quản lý; lấy mẫu nước ngẫu nhiên đối với nước do cá nhân, hộ gia đình tự khai thác để sử dụng cho mục đích sinh hoạt);

+Đối với các chỉ tiêu thuộc mức độ B: Xét nghiệm ít nhất 01 lần/06 tháng do cơ sở cung cấp nước thực hiện; Kiểm tra, giám sát, xét nghiệm ít nhất 01 lần/01 năm do cơ quannhà nước có thẩm quyền thực hiện (lấy mẫu nước tại 100% các cơ sở cung cấp nước trên địa bàn được giao quản lý; lấy mẫu nước ngẫu nhiên đối với nước do cá nhân, hộ giađình tự khai thác để sử dụng cho mục đích sinh hoạt)

- Các trường hợp phải thực hiện giám sát đột xuất: Khi kết quả kiểm tra vệ sinh nguồn nước hoặc điều tra dịch tễ cho thấy nguồn nước có nguy cơ bị ô nhiễm; Khi xảy ra sự cố môi trường có thể ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh nguồn nước; Khi có các yêu cầu đặc biệt khác Việc thực hiện giám sát đột xuất và lựa chọn mức độ giám sát do cơ quannhà nước có thẩm quyền thực hiện

o Đối với lĩnh vực vệ sinh môi trường

Trách nhiệm thực hiện và kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường: Tổ chức,

cá nhân có phát sinh chất thải có trách nhiệm thực hiện đúng các nội dung của Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt hoặc Bản cam kết bảo vệ môi trường hay Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường đã được xác nhận (nếu có); Định kỳ 06 tháng một lần, lập báo cáo về tình hình phát sinh và quản lý chất thải rắn gửi Sở Tài nguyên vàMôi trường Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra việcthực hiện các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường

Công tác kiểm tra giám sát bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo định

kỳ 6 tháng/1lần; ngoài ra tuỳ tình hình cụ thể, các cơ quan chức năng tổ chức đoàn kiểm trađột xuất đối với các cơ sở sản xuất, các cơ sở xử lý chất thải, các địa điểm bị ô nhiễm

để kịp thời có biện phát khắc phục nhằm hạn chế ô nhiễm

Các nội dung cần kiểm tra, giám sát bao gồm:

- Kiểm tra tình trạng vệ sinh chung nguồn nước nguyên liệu: tường rào bảo vệ xung quanh giếng khoan; các công trình xây dựng (kể cả công trình của nhà máy nước); các đường ống cống, kênh mương, rãnh nước thải chạy qua; gia súc, gia cầm hoặc các loại vật nuôi khác; rác thải, phân người, phân gia súc, xác súc vật; biển báo giới hạn khu vực bảo vệ nguồn nước; bộ phận chắn rác

Trang 14

- Kiểm tra quy trình xử lý nước bao gồm: bể, hồ chứa nước ban đầu; bộ phận khử sắt, mangan (nếu có); bể keo tụ và lắng; bể lọc; hệ thống (bể) khử trùng; bể chứa sau xử lý; hoá chất để xử lý nước (loại, tên, nguồn gốc, tình hình bảo quản, hạn sử dụng, cách sử dụng, số lượng dự trữ); bộ phận pha chế hoá chất xử lý; kho hoá chất xử lý; thiết bị phòng hộ khi có sự cố (đối với các nhà máy nước); bộ phận kiểm soát chất lượng nước;

- Kiểm tra các kết quả xét nghiệm chất lượng nước của nhà máy trong khoảng thời gian

từ lần kiểm tra trước đến thời điểm hiện tại và các hồ sơ lưu trữ liên quan đến chất lượng nước;

- Kiểm tra chất lượng nước sinh hoạt: Thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02: 2009/BYT (kiểm tra về mặt hoá lý và vi sinh)

Việc kiểm tra giám sát được giao cho các cấp nào có thẩm quyền như sau:

- Ngành nông nghiệp (chỉ kiểm tra về cấp nước): Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn), UBND huyện, thành phố (Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/ Phòng Kinh tế);

- Ngành Tài nguyên, môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường (Chi cục Bảo vệ môi trường), Phòng Tài nguyên và Môi trường

- Ngành Y tế: Sở Y tế (Trung tâm Y tế Dự phòng), Phòng Y tế (Đội Y tế dự phòng);

- Ngành Khoa học, công nghệ: Sở Khoa học và Công nghệ (Trung tâm Phân tích và kiểm nghiệm)

Trong những năm qua công tác triển khai giám sát về cấp nước và môi trường trên địa bàn tỉnh thực hiện tương đối tốt Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số đơn vị thiếu ý thức về bảo vệ môi trường, vì lợi nhận cá nhân đôi lúc bất hợp tác với các đoàn kiểm tra, giám sát về môi trường; đến lúc các cơ quan chức năng sử dụng các chế tài áp đặt, biện pháp hành chính thì mới hợp tác nhưng cũng rất miễn cưỡng

Kết quả khảo sát ở bảng 5 cho thấy: Ở cấp tỉnh, công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện hàng quí, hàng năm, và đột xuất Nội dung kiểm tra tập trung ở chủ yếu vào 3 nội dung là đánh giá chất lượng nước, vệ sinh môi trường, và hiện trạng các công trình cấpnước tập trung nông thôn Đối với các huyện thì công tác kiểm tra thường là đột xuất Các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, và An Nhơn có báo cáo về công tác kiểm tra, giám sát này mặc dù chưa đầy đủ, nhưng các huyện còn lại thì thông tin chưa được thống kê, lưutrữ Trên thực tế, công tác kiểm tra, giám sát về nước sạch và vệ sinh môi trường theo định kỳ ở cấp huyện chưa thường xuyên và đạt được hiệu quả cao Nhiều vi phạm về việc gây ô nhiễm môi trường như sản xuất mì ở xã Hoài Hương, chăn nuôi gia súc trongkhu dân cư, nước thải và rác thải… chỉ được nhắc nhở và chưa có biện pháp xử lý rốt ráo

4 Công tác lưu trữ và báo cáo định kỳ

Công tác lưu trữ được thực hiện theo các qui định của các cơ quan quản lý nhà nước, cụ thể như sau:

o Phân công trách nhiệm

Trang 15

- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm lưu trữ các tài liệu có liênquan về phát triển hạ tầng cấp nước (cấp nước sinh hoạt, thuỷ lợi) và kết quả triển khai thực hiện các chỉ báo trên địa bàn tỉnh; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kinh

tế có trách nhiệm lưu trữ các tài liệu có liên quan đến công trình hạ tầng cấp nước và cáckết quả triển khai thực hiện trên địa bàn huyện, thành phố;

- Sở Tài nguyên và Môi trường (Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường) là đơn vị được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ thu thập, xây dựng, xử lý, lưu trữ, khai thác, cung cấp thông tin thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh; Phòng Tàinguyên và Môi trường có trách nhiệm lưu trữ toàn bộ giữ liệu về tài nguyên môi trường trên địa bàn huyện, thành phố; Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm lưu trữ toàn

bộ giữ liệu về tài nguyên môi trường trên địa bàn quản lý

o Các loại tài liệu cần được lưu trữ và thời gian lưu trữ

- Dữ liệu về tài nguyên nước gồm: số lượng, chất lượng nước mặt, nước dưới đất; số liệu điều tra khảo sát địa chất thủy văn; các dữ liệu về khai thác và sử dụng tài nguyênnước; quy hoạch các lưu vực sông, quản lý, khai thác, bảo vệ các nguồn nước; kết quả cấp, gia hạn, thu hồi, cho phép, trả lại giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyênnước; trám lấp giếng khoan; các dữ liệu về các yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên nước

- Dữ liệu về môi trường gồm: các kết quả điều tra, khảo sát về môi trường; dữ liệu, thông tin về đa dạng sinh học; dữ liệu, thông tin về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; kết quả về giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết; danh sách, thông tin về các nguồn thải, chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; các khu vực bị

ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; kết quả điều tra, khảo sát về hiện trạng môi trường, chất thải nguy hại, chất thải rắn thông thường; thông tin, dữ liệu quan trắc môi trường được phép trao đổi; kết quả cấp, gia hạn, thu hồi các loại giấy phép về môi trường (bảng 6)

Đến nay, hầu hết các dữ liệu về tài nguyên môi trường đã được cập nhận lưu trữ theo đúng quy định Thông qua các ứng dụng công nghệ tin học vào công tác lưu trữ dữ liệu;

vì thế việc khai thác cập nhận dữ liệu thực hiện khá thuận lợi

Tuy nhiên, vẫn còn một số lĩnh vực, đơn vị công tác lưu trữ chưa được chú trọng nhất là

ở cấp cơ sở, trang thiết bị phục vụ công tác lưu trữ còn thô sơ, không đáp ứng được yêucầu, cán bộ lưu trữ không có chuyên môn nghiệp vụ dẫn đến tình trạng tài liệu bị hưhỏng, khả năng sử dụng bị hạn chế

Ở cấp huyện, vì không có một cơ quan chuyên trách về tất cả những lĩnh vực liên quanđến môi trường nên cũng gây khó khăn cho việc quản lý nhà nước về môi trường ở cấp

cơ sở Hiện trạng hiện nay là các phòng ban phụ trách tổ chức quản lý nước sạch và vệ sinh môi trường mỗi huyện mỗi khác và nhiệm vụ được giao cũng không giống nhau dẫn đến khó khăn trong việc cập nhật các số liệu định kỳ về các chương trình hiện đang hoạt động tại địa phương, và khó thống nhất để xây dựng một bức tranh toàn cảnh về vấn đề này Mặc dù, hiện nay các huyện có phòng, ban phụ trách về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn nhưng khung nhiệm vụ cần thực hiện những chỉ báo cụ thể (về đầu tư

Trang 16

xây dựng, vận hành, khai thác quản lý, mức độ cung cấp dịch vụ, tình trạng hoạt động, bảo dưỡng, sửa chữa và công tác kiểm tra, giám sát chất lượng nguồn nước theo định kỳ) trong quá trình hoạt động của các công trình nước, công trình thu gom rác thải, công trình xử lý chất thải rắn thì vẫn chưa được xây dựng để đánh giá thành tựu và hạn chế của từng công trình Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy: “Chức năng, nhiệm vụ quản lý của

phòng chưa được qui định cụ thể, còn mang tính chung, quản lý còn mơ hồ Công việc thường nhật không làm cụ thể, chỉ có báo cáo định kỳ không thường xuyên Về mặt nguyên tắc phải báo cáo hàng quí, trong năm nhưng hiện nay làm không nổi (PVS Cán

bộ quản lý Phòng Công Thương, huyện Phù Mỹ)”.

5 Công tác tập huấn và truyền thông

Ở cấp tỉnh, công tác truyền thông được thực hiện đều đặn, đặc biệt là "Tuần lễ Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn" và Ngày Môi trường Thế giới Phương thức thực hiện truyền thông khá đa dạng: cổ động, ba nô tuyên truyền, hành động nhằm thay đổi nhận thức; tập huấn nâng cao nhận thức về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho người dân vùng hưởng lợi; truyền thông vận động qua các kênh thôn tin đại chúng (đài, báo), xây dựng các tiểu phẩm ngắn, các phóng sự chuyên đề phát trên đàiPhát thanh, đài truyền hình tỉnh Phạm vi truyền thông được thực hiện trên địa bàn toàntỉnh, đặc biệt chú ý đến vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Hầu hết những người tham gia là cán bộ quản lý chuyên ngành từ tỉnh đến có sở; cán bộ lãnhđạo các hội đoàn thể cấp huyện; lãnh đạo xã, cán bộ phụ trách và các hội đoàn thể các cấp; cán bộ thôn, làng và hộ dân vùng hưởng lợi; ngành giáo dục (học sinh, giáo viên),ngành y tế (cán bộ y tế) Tuy nhiên, phạm vi ảnh hưởng và độ thấm của những hoạt động này đối với người dân đến đâu thật sự là vấn đề cần quan tâm

Bảng 7 cung cấp một mô tả tóm tắt về các hoạt động tập huấn và truyền thông ở cấp tỉnh

và huyện Kết quả cho thấy, ở cấp tỉnh đã có 29 đợt tập huấn thu hút tổng cộng 1455 lượt người tham gia Nội dung của các cuộc tập huấn này là rất quan trọng, chẳng hạn

để tập huấn, triển khai, và đánh giá kết quả thực hiện Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá nước sạch và VSMT nông thôn, và nâng cao nhận thức cơ bản về NS&VSMT nông thôn

Ở cấp huyện, Hoài Nhơn cũng có nhiều hoạt động tập huấn và truyền thông liên quanđến triển khai thực hiện Bộ chỉ số NS&VSMT cũng như nâng cao nhận thức cho cán bộ chính quyền, đoàn thể cấp cơ sở Các hoạt động này cũng thu hút đền 3506 lượt người tham gia Phù Mỹ, An Nhơn, Tuy Phước cũng có các hoạt động tập huấn và truyền thông, nhưng tập trung chủ yếu vào việc triển khai thực hiện Bộ chỉ số NS&VSMT nông thôn, và thu hút ít người tham gia hơn Các huyện khác cũng triển khai dạng hoạt động này nhưng không có thông tin

Ở cấp cơ sở, nguồn nhân lực làm về công tác tập huấn, tuyên truyền không có chuyênmôn về nước và vệ sinh môi trường Kết quả các cuộc phỏng vấn sâu cho thấy: Các hoạt động tập huấn, tuyên truyền hiện nay theo kiểu phong trào hoặc tổ chức lồng ghép với các chương trình khác Đặc biệt ở cấp xã, các chương trình tập huấn, truyền thông còn

mờ nhạt và thiếu nguồn nhân lực có chuyên môn sâu về nước và vệ sinh môi trường

“Chưa có chương trình nào tuyên truyền về nước sạch cũng như rác thải và vệ sinh môi trường nói chung Thường thì khi có việc gì thì xã chỉ có vận động người dân thực hiện sao cho hợp vệ sinh thôi, chứ chính ngay những người có trách nhiệm quản lý như chúng

Trang 17

tôi, cũng như các hội đoàn thể không có chuyên môn thì làm sao nói được Cán bộ kiêm nhiệm thôi chứ chưa có chuyên trách, chưa có cán bộ chuyên môn, chưa có bài bản trong việc động viên, tuyên truyền (PVS cán bộ quản lý xã Cát Lâm, huyện Phù Cát); (ii) Chưa có khóa tập huấn nào vệ sinh môi trường nào ở xã này, chưa ai đề cập đến vấn đề

vệ sinh môi trường cụ thể như nước sạch, rác và môi trường nói chung, chưa có tổ chức tuyên truyền về môi trường Đội ngũ tuyên truyền không có chuyên môn, chủ yếu là có một anh ở lĩnh vực địa chính, đất đai làm kiêm luôn môi trường Từ trước đến hiện nay chưa có đợt nào được đi tập huấn về môi trường hết Nếu như có chương trình nào về môi trường cũng như nước sạch thì cần có những khóa tập huấn có nội dung cụ thể, kế hoạch thực hiện như thế nào cho rõ ràng và có một khoản kinh phí thì xã đứng ra quản

lý tốt, và có thể phối hợp làm được, xã có thể đứng ra tuyên truyền vận động (PVS quản

lý xã Mỹ Châu, huyện Phù Mỹ) “Đối với công tác tập huấn thì chưa có lần nào tập huấn

về vệ sinh môi trường, cũng chưa có tài liệu gì để tham khảo cho chính thức về vệ sinh môi trường Đó là khó khăn trong việc nâng cao năng lực cho cán bộ cũng như cho người dân địa phương ý thức hơn về lĩnh vực này Về tuyên truyền thì xã cũng có những buổi tiếp xúc cử tri nói chuyên đề về môi trường do xã tự soạn và lòng ghép với các chuyên đề khác” (PVS cán bộ quản lý xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước)

6 Sự tham gia của các tổ chức, đoàn thể

Kết quả khảo sát cho thấy, các hoạt động thực tế thu hút người dân và thu hút học sinh tham gia hiện nay còn khá khiêm tốn Hai chương trình chính là tố chức mitting “Tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn” và hoạt động hưởng ứng “NgàyMôi trường Thế giới” Các hoạt động thu hút học sinh tham gia ở các huyện khảo sát chưa thu thập được số liệu cụ thể, nhưng kết quả các cuộc phỏng vấn sâu cho thấy rằng, các hoạt động tập huấn - truyền thông - giáo dục chưa thật sự được chú ý ở các cơ sở trường học “Hiện nay nhà trường chưa có hoạt động tập huấn cũng như công tác tuyên

truyền cho học snh về vấn đề môi trường Vì không có nguồn nhân lực, không có chuyên môn, không nằm trong quy chế, quy định của trường, và đặc biệt là không có nội dung và kinh phí cho việc tuyên truyền trong nhà trường Sự thiết sót này thiết nghĩ đó không phải

là trách nhiệm của nhà trường.” (PVS cán bộ quản lý Trường THCS Mỹ Hiệp, huyện Phù

Mỹ) “Về lĩnh vực nguồn nước và vệ sinh môi trường nói chung thì nhà trường không có

chức năng giáo dục vì nó quá chuyên sâu và vượt quá khả năng của nhà trường và không đúng với chăng năng nhiệm vụ của nhà trường Nhà trường không có giáo viên, cán bộ nào chuyên về lĩnh vực trên, chỉ có cán bộ y tế học đường phụ vụ chăn sóc sức khỏe cho các em tại trường thôi.” (PVS cán bộ quản lý Trường THCS Tây Sơn, huyện

Tây Sơn)

Các chương trình phóng sự, tuyên truyền thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng tập trung chủ yếu ở cấp tỉnh, còn cấp huyện không có thông tin về các chươngtrình này Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, hình thức mà các tổ chức, đoàn thể sử dụng tuyên truyền thường xuyên là tuyên truyền miệng, thực hiện lồng ghép với các cuộc họp khác ở địa phương “Đa số các đoàn thể chỉ tuyên truyền trong các cuộc họp và đa số là tuyên truyền miệng, thiếu hình ảnh tuyên truyền Chưa có những chuyên đề riêng để trực tiếp tuyên truyền cho người dân Riêng bên Hội Phụ nữ cũng có những đợt tuyên truyền riêng, cũng có tuyên truyền lồng ghép, tổ chức giao lưu, hái hoa kiến thức, hội thảo, tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh đó còn có những chương trình hỗ trợ

Trang 18

khác như giải ngân cho vay vốn xoay vòng để làm nhà vệ sinh, nhà tắm Những hộ gia đình chưa có trong danh sách giải ngân thì có những quỹ tiết kiệm của Hội phụ nữ (5 triệu/ hộ) Năm 2008 đã thành lập Hội Bảo vệ môi trường Có những chương trình tuyên truyền về dùng các vật dụng chai lọ, vứt rác thải, dịch cúm gia cầm Về vấn đề tổ chức truyền thông, không phụ thuộc theo mức độ nào Truyền thông nhóm nhỏ thì truyền miệng, lớn thì mượn máy chiếu, thuê âm thanh) (TLN cán bộ huyện Phù Mỹ) “Các đoàn thể, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân vận động tuyên truyền thường xuyên nhưng chỉ theo dạng lồng ghép Hằng năm huyện cũng có kinh phí tổ chức tập huấn cho các tuyên truyền viên

ở xã (tập huấn riêng, theo chuyên đề, 1 lần/năm) Tuy nhiên khi về đến thôn thì chỉ thực hiện theo cách lồng ghép Hội Phụ nữ nhận tài liệu từ Trung tâm Nước sạch rồi photo gửi cho các cộng tác viên Công tác viên sẽ dựa vào tài liệu để truyền đạt đến người dân Không có người có chuyên môn để phổ biến sâu cho người dân, vì vậy phải phối hợp với các ban ngành Năng lực tuyên truyền của cán bộ ở xã nghe 10 chỉ tuyên truyền 7 Theo từng cấp thì nội dung tuyên truyền sẽ bị mất dần đi, không còn đầy đủ như ban đầu.”

(TLN cán bộ huyện Tuy Phước)

7 Kết quả thực hiện các chỉ số cơ bản về môi trường năm 2009

Bảng 8 trình bày các chỉ số cơ bản về nguồn nước và tỷ lệ hộ sử dụng năm 2009 phân theo địa bàn Đối với cấp độ tỉnh, có khoảng 18,6% số hộ nông thôn (kể cả các thị trấn)

sử dụng nước máy (đồng hồ riêng và công cộng), số còn lại chủ yếu là sử dụng nước giếng đào và giếng khoan Trong số này, có 80,1% số giếng đào và 86,4% số giếng khoan hợp vệ sinh

Kết quả cũng cho thấy sự phân bố các nguồn nước máy là rất khác nhau giữa 6 huyện

và 12 xã được khảo sát Phù Mỹ, Tuy Phước, và An Nhơn là 3 huyện có số hộ sử dụng nước máy bằng đồng hồ riêng cao hơn mức bình quân chung (tương ứng là 11,6%,14,7%, và 15,5%) Tỷ lệ cao này không thuộc các xã được khảo sát vì cuộc khảo sát làtập trung chủ yếu vào những địa bàn khó khăn về nguồn nước Đối với giếng đào thì sự chênh lệch về tỷ lệ nước hợp vệ sinh không lớn dù các vùng phía bắc và gần biển có tỷ

lệ thấp hơn Tỷ lệ nước hợp vệ sinh ở giếng khoan cao hơn và khá đồng đều, trừ trường hợp xã Hoài Hương có tỷ lệ thấp (49,1%) Một số xã không thống kê được đối với một vài chỉ số Điều này một lần nữa cho thấy công tác thống kê, lưu trữ ở cấp cơ sở cònnhiều yếu kém Các chỉ báo trên là hết sức cơ bản để đánh giá thực trạng nguồn nước

và chất lượng nguồn nước mà người dân nông thôn đang sử dụng

Mặc dù tỷ lệ sử dụng nước ở các cơ quan, tổ chức không lớn so với hộ dân cư, bộ phận này có ý nghĩa quan trọng vì liên quan đến phúc lợi của dân cư Trường học, trạm y tế, bệnh viện là những nơi rất cần sử dụng nguồn nước sạch Kết quả từ Bảng 9 cho thấy, nguồn nước sử dụng cho các cơ quan, công sở chủ yếu là giếng khoan, chiếm đến 90%,

dù một số nơi cũng có sử dụng giếng đào khá phổ biến như ở huyện Phù Mỹ Số cơquanđơn vị sử dụng nước máy còn rất ít, chiếm tỷ lệ không đáng kể Nhìn chung, các cơquan,đơn vị đều có nguồn nước giếng đào hoặc giếng khoan; một số cơ sở có số lượng nguồn cung cấp nước nhiều hơn một nguồn Nhà trẻ, trạm y tế, bệnh viện, trường học,

và cơ quan nhà nước là những nơi có nguồn cung cấp nước tương đối đầy đủ Tuy nhiên, ở một số nơi vẫn không có nước, đặc biệt là các trường học ở huyện Phù Mỹ

Trang 19

Trong tổng số 193 cơ sở trường học có đến 84 cơ sở (chiếm 43,5%) không có nguồn cung cấp nước Một số huyện như Phù Cát, Tây Sơn, và An Nhơn không có thông tin,cho thấy công tác thống kê, lưu trữ chưa được đảm bảo.

Kết quả từ các cuộc phỏng vấn sâu cho thấy: “Nhà trường hiện nay vẫn sử dụng giếng

khoan, chất lượng nước ở 5 điểm trường đều bị nhiễm phèn Mỗi điểm trường đều có 1 vòi nước Thực tế mỗi điểm có 3 phòng phải xây dựng 3 vòi nước, nhưng thiếu kinh phí

để làm Nhà trường đã xét nghiệm nước nhưng không đạt (PVS cán bộ quản lý Trường

tiểu học số 3, xã Hoài Hương, huyện Hoài Nhơn) “Hiện nay,Trung tâm Y tế huyện sử

dụng nguồn nước giếng khoan và giếng đào (15 giếng khoan và 4 giếng đào) Nguồn nước bị nhiễm phèn, giếng khoan bị phèn nhiều hơn giếng đào Nguồn nước Trung tâm Y

tế chỉ bơm lên bồn rồi sử dụng, chưa qua xử lý Có 2 lý do khiến Trung tâm Y tế huyện hiện nay chưa sử dụng nước máy: (1) Do nguồn nước mới bất đầu hoạt động khoảng 3 –

4 tháng nay nên chưa thực hiện hợp đồng được (2) Trung tâm Y tế cảm thấy chi phí cho khoản này lớn nên còn đang lưỡng lự Trên toàn huyện, chưa có Trạm y tế xã nào có nguồn nước máy, chủ yếu là nước giếng khoan và giếng đào.” (PVS quản lý Trung tâm Y

tế huyện Phù Cát)

Về vấn đề vệ sinh, kết quả từ bảng 10 cho thấy, tính chung cho toàn bộ nông thôn của tỉnh Bình Định, tỷ lệ hộ gia đình gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh chiếm 50,2%, trong đó khoảng 28,5% là nhà tiêu tự hoại, 14,5% là nhà tiêu 2 ngăn Điều này cũng có nghĩa làkhoảng 50% số hộ ở nông thôn không có nhà vệ sinh hoặc có nhà tiêu chưa hợp vệ sinh, một tỷ lệ rất cao Tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh cao nhất là ở huyện Hoài Nhơn, thị trấn Phú Phong của huyện Tây Sơn, thị trấn Bình Định của huyện An Nhơn và xã Phước Lộc của huyện Tuy Phước Ngược lại, một số nơi như huyện Phù Cát, xã Vĩnh An của huyện Tây Sơn có tỷ lệ hộ không có nhà tiêu hoặc nhà tiêu không hợp vệ sinh rất cao Nhà tiêu

có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sức khỏe và sự lây lan các loại bệnh liên quan đến tiêu hóa Do vậy, đây là một trong những chỉ báo quan trọng nhất về vệ sinh môi trường

mà một số địa phương chưa đạt cần nỗ lực trong thời gian tới

Đối với các cơ quan, tổ chức, thì hầu hết đều có nhà tiêu, chủ yếu là nhà tiêu tự hoại, nhưng vẫn còn một tỷ lệ nhỏ chưa có nhà tiêu (bảng 11) Tỷ lệ trường học ở huyện Phù

Mỹ không có nhà tiêu là rất cao (86 cơ sơ không có nhà tiêu, chiếm đến 44,6% trên tổng

số các cơ sở trường học của huyện) Một số chợ, cơ quan huyện vẫn chưa có nhà tiêu.Hoài Nhơn và An Nhơn là hai huyện có các tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh cao nhất Tuy nhiên, do thông tin thu thập được về các chỉ số này từ một số huyện không đầy đủ nênkhông thể so sánh một cách hệ thống vấn đề này Dù vậy, các chợ và trường học vẫn lànơi có tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh thấp hơn so với các cơ quan nhà nước Sự thiếu hụt thông tin ở một số huyện cho thấy công tác kiểm tra, thống kê và lưu trữ các chỉ số cơbản ở cấp huyện và xã là chưa tốt

Nhìn chung, các công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường trong các trường học, trạm y tế và các cơ sở công cộng khác ở nông thôn mặc dù đã được quan tâm nhưng kết quả đạt được còn khiêm tốn so với nhu cầu thực tế Nhiều trường học còn thiếu các công trình cấp nước và vệ sinh hoặc có nhưng không đáp ứng được nhu cầu Nếu so sánh kết quả đạt được trên đây với các mục tiêu đề ra theo Quyết định số 104/QĐ-TTg ngày

25/08/2000 là “t ất cả các nhà trẻ, trường học và các cơ sở giáo dục khác, các bệnh viện,

Trang 20

trạm xá, công sở, chợ ở nông thôn có đủ nước sạch và có đủ hố xí hợp vệ sinh”, thì chưa

có mục tiêu nào hoàn hảo

o Về quản lý rác thải

Theo thống kê của các đơn vị quản lý thu gom, vận chuyển chất thải rắn tại các huyện/thành phố trong tỉnh, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh trên địa bàn tỉnh Bình Định khoảng 306,6 tấn/ngày Trong đó lượng chất thải rắn của thành phố Quy Nhơn chiếm 58% lượng chất thải rắn của cả tỉnh

Công tác thu gom: Trênđịa bàn thành phố Quy Nhơn tỷ lệ thu gom đạt khoảng 58%, các thị trấn, thị tứ khoảng 15-30% khối lượng rác phát sinh

Chất thải rắn y tế: Khoảng 700 tấn/năm, trong đó chất thải rắn y tế nguy hại khoảng 100 tấn/ năm (Nguồn: Quy hoạch tổng thể quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp

trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2020)

Bảng 12 trình bày tỷ lệ các cơ quan, tổ chức có hệ thống xử lý rác thải và nước thải của các huyện được khảo sát Kết quả cho thấy, các trạm y tế, bệnh viện có tỷ lệ áp dụng các biện pháp xử lý rác và nước thải cao hơn các loại hình cơ sở khác, đặc biệt là ở huyện Hoài Nhơn Chợ là một trong những nơi có tỷ lệ này thấp nhất Các cơ sở sản xuất qui

mô lớn cũng phải có hệ thống xử lý rác và nước thải nhưng các báo cáo chưa thống kê

và lưu trữ đầy đủ Sự phân tán trong việc giao chức năng nhiệm vụ cho các cơ quanquản lý ở những lĩnh vực khác nhau về môi trường, mà chưa có một tổ chức bao quátchung nên nhiều huyện không cung cấp được các thông tin này

Số cơ sở có hệ thống xử lý nước thải và rác thải đúng qui trình, bảo đảm vệ sinh ở các huyện khảo sát vẫn còn rất hiếm Hiện nay, các cơ sở trạm y tế, chợ, các cơ sở này sử dụng hệ thống xử lý nước thải và rác thải tự chế, không đảm bảo vệ sinh môi trường chung cho cộng đồng Về chăn nuôi, với các hộ gia đình chăn nuôi qui mô lớn thì những năm có một số chương trình của ngành nông nghiệp, khoa học công nghệ, môi trường

hỗ trợ xây lắp hầm biogas cho vùng nông thôn để giảm thiểu ô nhiễm trong chăn nuôi Tuy nhiên hộ nuôi qui mô trung bình còn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề xử lý chất thải Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy: “Một số hộ có hầm biogas để xử lý chất thải từ chăn

nuôi heo, có qui mô trung bình khoảng 70 con/hộ chăn nuôi, còn một số thì họ chưa có hầm biogas, làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Thật ra, với số lượng chăn nuôi lớn thì khi hầm chứa đầy, xả ra cũng gây ô nhiễm và có mùi hôi (PVS cán bộ quản lý xã

Cát Tiến, huyện Phù Cát) “Xã có một chợ, tính ra một tháng có 5 lần nhóm chợ, mỗi lần

nhóm chợ có một người thu gom rác Gần chợ có bãi đất trống nhỏ nhỏ, sau khi tan chợ thì người gom rác đốt, hoặc chôn để làm sạch rác ở chợ.” (PVS cán bộ quản lý xã Mỹ

Châu, huyện Phù Mỹ) “Y tế xã có xử lý rác theo phân loại y tế, nghĩa là loại nào thuộc

rác y tế thì họ đốt rồi chôn lấp.” (PVS cán bộ quản lý xã Mỹ Châu, huyện Phù Mỹ)

Mặc dù đạt được các chỉ tiêu cơ bản, công tác tổ chức quản lý thống nhất kết quả thực hiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh chưa đồng bộ Hiện nay, việc triển khai đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh do nhiều sở, ban, ngành, đơn vị cùng thực hiện Vìvậy, việc thu thập số liệu, quản lý, đánh giá chất lượng công trình gặp rất nhiều khó khăn

Trang 21

Công tác quản lý, khai thác các công trình cấp nước tập trung sau đầu tư của các cấp chính quyền, nhất là cấp huyện, cấp xã chưa thật sự được quan tâm đúng mức Hầu hết các công trình sau khi hoàn thành, bàn giao cho chính quyền cấp xã quản lý khai thác, công nhân vận hành thiếu chuyên môn nghiệp vụ, các vật liệu phụ, hóa chất ít được bổ sung, thay thế; quá trình quản lý, vận hành bị cắt giảm bớt công đoạn không tuân thủ quy trình vận hành, dẫn đến chất lượng nước, chất lượng phục vụ ngày càng giảm; công trình hoạt động không hiệu quả, công tác duy tu bảo dưỡng thực hiện chưa tốt, khá nhiều công trình không phát huyđược hiệu quả đầu tư.

Công tác chỉ đạo lồng ghép các chương trình, dự án trên cùng địa bàn chưa được quan tâm thực hiện Việc huy động các nguồn lực, các thành phần kinh tế và vốn trong nhân dân vùng hưởng lợi để đầu tư mở rộng mạng cấp nước đến từng hộ gia đình còn chậm, làm cho các dự án cấp nước tập trung chậm phát huy hiệu quả

Công tác giáo dục truyền thông, vận động xã hội có vai trò rất quan trọng, nhưng sự quan tâm chỉ đạo thực hiện lĩnh vực này còn nhiều hạn chế, cả về phương tiện truyền thông và năng lực cán bộ

Công tác xã hội hóa trong lĩnh vực cấp nước sạch và các dịch vụ vệ sinh môi trường nông thôn chưa phát triển, thiếu mô hình mẫu, mô hình thí điểm để học tập và nghiêncứu áp dụng rộng rãi trên địa bàn tỉnh

Công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt và y tế đã đạt được một số kết quả khích lệ nhưng chưa đều Ở các thị trấn, thị tứ mới đạt được bước đầu (khoảng 15-30% khối lượng); các vùng nông thôn khác, hầu hết rác thải được chôn lấp, đốt hoặc vứt ra các sông suối, mương rạch gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Công tác xã hội hóa, tư nhân hóa quản lý chất thải rắn được các địa phương triển khai nhưng còn thiếu cơ chế khuyến khích hỗ trợ cho các đơn vị này; phần lớn các địa phương phải cấp bù kinh phí cho các đơn vị này để duy trì hoạt động

Công tác tái chế, tái sử dụng, chế biến phân vi sinh đã có mô hình nhưng hiệu quả manglại chưa được khẳng định rõ ràng Lò đốt xử lý chất thải rắn y tế đã được đầu tư nhưngcũng mới chỉ được hình thành ở ba cơ sở y tế (Bệnh viện khu vực Bồng Sơn, khu vực Phú Phong và bệnh viện Lao phổi) công suất chỉ đáp ứng được khối lượng chất thải tại

Công tác phân loại rác thải tại nguồn chưa được thực hiện, mặt dù đã có những mô hình,

dự án thí điểm nhưng đều thất bại sau khi dự án kết thúc

Mặc dù đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, song nghiêm túc nhìn nhận, việc triển khai, chỉ đạo thực hiện Luật Bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh vẫn còn những hạn chế, bất cập và cả những yếu kém Chẳng hạn, công tác kiểm tra, xử lý vi phạm Luật Bảo vệ môi trường tại những danh nghiệp thuộc các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tuy

Trang 22

được tăng cường nhưng rất ít tác dụng Các loại nước thải, khói bụi, tiếng ồn… gây ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa được khắc phục, phần lớn các doanh nghiệp chưa thực hiện việc thải nước thải vào hệ thống thu gom nước thải chung của khu công nghiệp.

Đối với các huyện, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại các cụm công nghiệp chưa thật được chú trọng, một số doanh nghiệp chưa thực hiện việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, chỉ có khoảng 50% số đơn thực hiện việc lập hồ sơ về môi trường; hầu hết các cụm công nghiệp đều chưa xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung Tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều cụm công nghiệp vẫn chưa có giải pháp khắc phục

Ngoài ra, số doanh nghiệp vi phạm về môi trường bị xử lý so với thực tế chưa nhiều; mức xử phạt còn quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn; nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh thiếu ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường

8 Công tác quy hoạch

o Về cung cấp nước sạch

Quyết định số 5284/QĐ-BNN-KH, ngày 20/11/2000 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn về việc phê duyệt quy hoạch cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bình Định giai đoạn 2000-2010 (hiện nay, đơn vị tư vấn đang triển khai rà soát

bổ sung điều chỉnh quy hoạch này) Theo đó, đến hết năm 2010 tỉnh Bình Định phải đạt được các chỉ tiêu sau:

+ 85% dân cư nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh để sử dụng với số lượng 60 lít/người/ngày;

+ 70% số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh để sử dụng;

+ 100% cơ sở giáo dục, trường học, trạm y tế vùng nông thôn có nước và nhà tiêu hợp

vệ sinh

Theo Quy ho ạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đến năm 2020, đến

2015, 100% dân cư có nguồn nước sạch cho sinh hoạt, và đến 2020, tất cả dân cư nôngthôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60 lít/người/ngày,

sử dụng hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, giữ vệ sinh môi trường làng,xã

o Về xử lý chất thải rắn

Quyết định số 637/QĐ-UBND, ngày 27/8/2009 của UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch

tổng thể quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.

Theo đó, đến năm 2015, 100% lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại thành phố Quy Nhơn; 70% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh đối với các đô thị khác được thu gom và xử lý; 100% chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị được phân loại tại nguồn Mục tiêu đến năm 2020, 80% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh đối với cácđô thị khác được thu gom và xử lý

Trang 23

Như vậy, các mục tiêu về nước sạch, vệ sinh và rác thải rắn đã được hoạch định cho những mốc 2010, 2015, và 2020 Công tác quy hoạch trên địa bàn tỉnh đã được UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai thực hiện Tuy nhiên, công tác quihoạch cũng bộc lộ một số hạn chế: Chỉ xây dựng mục tiêu nước sạch và môi trường ở nông thôn nhưng chưa đặt các mục tiêu tương ứng đối với việc xử lý chất thải rắn Chưaxây dựng các mục tiêu đạt được về xử lý nước thải Công tác triển khai đầu tư xây dựng gặp nhiều khó khăn vì các đề án quy hoạch thường thiếu tính thực tiễn, mục tiêu pháttriển chưa đề cập đến nội lực của cộng đồng mà chủ yếu xây dựng dựa trên chỉ tiêu kế hoạch là chính, có lúc chưa thật sự phù hợp với nhu cầu của cộng đồng dân cư vùnghưởng lợi, mức độ tham gia của người dân trong các đề án quy hoạch chưa thật rõ nét,kinh phíđầu tư xây dựng còn hạn chế.

Tuy nhiên, sự ra đời của các đề án quy hoạch nói trên đã đề ra chiến lược, định hướng bức tranh toàn cảnh về cấp nước và quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh, là căn cứ để các sở, ngành, địa phương lập kế hoạch triển khai thực hiện, đồng thời là cơ sở để kêugọi các nhà đầu tư tham gia thực hiện, thu hút nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế

Đối với các huyện được khảo sát, các chỉ số cơ bản về nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh như sau: Đến cuối 2010 thì ít nhất 82% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và tăng lên100% vào năm 2015 Một số huyện phải đạt mức cao hơn như An Nhơn và Tuy Phước (đạt mức 90% năm 2010) Đến cuối 2010, các huyện phải đạt ít nhất 60% số hộ có nhàtiêu hợp vệ sinh, và tăng lên 85% vào năm 2015 (bảng 13)

Đến cuối năm 2010, 50% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh đối với các thị trấn, thi tứ, điểm dân cư tập trung nông thôn được thu gom và xử lý; 80% chất thải rắn phát sinh từ các khu, cụm công nghiệp được phân loại, thu gom và xử lý bằng những phươngpháp thích hợp

Đến năm 2015, 70% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh đối với các thị trấn, thi

tứ, điểm dân cư tập trung nông thôn được thu gom và xử lý; 100% chất thải rắn phát sinh

từ các khu, cụm công nghiệp được phân loại, thu gom và xử lý bằng những phươngpháp thích hợp

Đến cuối năm 2010, 100% khối lượng chất thải từ các cơ sở sản xuất được xử lý đạt tiêuchuẩn quy định trước khi thải ra môi trường

9 Nhận xét chung về công tác quản lý nhà nước đối với NS&VSMT

o Về nước sạch và vệ sinh

Tóm lại, trong những năm qua được sự quan tâm chỉ đạo tích cực của các cấp Ủy Đảng, UBND tỉnh, các sở, ban ngành có liên quan của tỉnh đã tích cực xây dựng các văn bản pháp quy về lĩnh vực cấp nước và vệ sinh trên địa bàn tỉnh nhằm làm căn cứ để triển khai điều hành, thực hiện; đã xây dựng được các dự án quy hoạch chuyên ngành phục

vụ công tác giám sát triển khai thực hiện; xây dựng các quy chế để điều hành thực hiện.Tuy nhiên, cấp nước và vệ sinh nông thôn là một trong số những lĩnh vực rất khó thực hiện, khó kiểm soát, lợi nhuận thấp, thậm chí bị thua lỗ kéo dài, hoạt động phục vụ làchính Vì vậy, công tác xã hội hoá về các lĩnh vực này gặp rất nhiều khó khăn, không thu

Trang 24

hút được các thành phần kinh tế tham gia; một số đơn vị hoạt động về cấp nước và vệ sinh nông thôn hiện nay đều phải cấp bù ngân sách để duy trì hoạt động.

Trong những năm gần đây công tác quản lý và phát triển hạ tầng cấp nước sạch nông thôn đã tạo được bức tranh khá khả quan Đến nay, trên địa bàn nông thôn Bình Định cơbản phần nào đã khắc phục được tình trạng thiếu nước sinh hoạt vào mùa nắng hạn Việc triển khai đầu tư xây dựng và đưa vào vận hành các dự án cấp nước sạch nông thôn có quy mô lớn đã được thực hiện như: Cấp nước Đông Khu đông Tuy Phước, cấp nước hai xã Bình Tường và Vĩnh An huyện Tây Sơn, cấp nước 9 thị trấn đã tạo ra được

bộ mặt nông thôn một diện mạo mới, đầy triển vọng Bên cạnh đó công tác quản lý, vận hành các công trình cấp nước sạch nông thôn đang từng bước được chuyên nghiệp hoá, với tinh thần đầy trách nhiệm của ngành nông nghiệp Việc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao nhiệm vụ cho Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn trực tiếp quản lý, vận hành công trình cấp nước sạch nông thôn bước đầu đã tạo được bức tranh khá khả quan Với đội ngũ cán bộ có chất lượng như hiện nay, trong vài nămđến Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ là hạt nhân trong công tác quản lý, vận hành công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh

Trong những năm đến từ nhiều nguồn vốn khác nhau, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ triển khai đầu tư xây dựng các công trình có quy mô lớn, cấp nước liên xã,liên huyện (cấp nước Phù Cát, cấp nước xã Tây Giang và Tây Thuận-Tây Sơn, cấp nước xã Nhơn Hoà-An Nhơn, cấp nước Đông nam Hoài Nhơn, cấp nước ven biển PhùMỹ ) Đây là một trong những động lực tích cực để đưa đời sống kinh tế-xã hội vùngnông thôn phát triển, tiếp cận dần với khu vực đô thị

Tuy nhiên, công tác quản lý sau đầu tư hiện nay vẫn còn một số bất cập nhất là các dự

án, công trình dođịa phương quản lý xây dựng, công trình đầu tư từ nguồn vốn Chươngtrình 134, 135; công tác quản lý, vận hành chưa được quan tâm đúng mức, phần lớn các công trình được giao về địa phương quản lý (Uỷ ban nhân dân xã) hoặc các tổ chức năng lực không đáp ứng được yêu cầu; công tác duy tu bảo dưỡng chưa được chú trọng, công trình nhanh xuống cấp hư hỏng không phát huy được hiệu quả gây lãng phívốn đầu tư

o Về quản lý rác thải

Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp và các ngành chức năng; trong những năm gần đây, công tác thu gom và xử lý rác thải trên địa bàn tỉnh đã cónhững bước chuyển biến tích cực Đến nay, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã quy hoạch

và đầu tư xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn; tuy nhiên, phần lớn các bãi chôn lấp chất thải rắn của các huyện là bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, không có hình thức xử lý nước

rỉ rác, chất thải rắn được đổ một cách tự do Các bãi chôn lấp mang tính chất tạm thời, không có tường bao; công tác quản lý, vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn thực hiện chưathật tốt đã phát tán ô nhiễm ra môi trường xung quanh

Hiện nay, chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh chưa được phân loại tại nguồn; toàn bộ khối lượng chất thải được thu gom và vận chuyển bằng xe cơ giới đến bãi chôn lấp Tại bãi chôn lấp một số chất thải có thế tái chế được phân loại, thu gom bởi đội ngũ thu nhặt phế liệu, còn lại đều được chôn lấp, hoặc đốt; khối lượng chất thải được dùng để sản xuất phân compost là khôngđáng kể

Trang 25

Đối với các huyện tình hình thu gom chất thải rắn mới chỉ được thực hiện tại các thị trấn, thị tứ và khu dân cư dọc các trục đường chính Tỷ lệ thu gom đạt thấp chiếm khoảng 15-30%; Các đơn vị thu gom, xử lý chất thải hầu hết hoạt động không hiệu quả, ngân sách phải bù lỗ hàng năm Mô hình hoạt động hiện nay khá đa dạng như: Hợp tác xã, Hạt Giao thông công chính, doanh nghiệp tư nhân tuy nhiên, trang thiết bị phục vụ công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn của một số đơn vị còn thô sơ (huyện Tây Sơn, huyện Phù Cát chưa có xe chuyên dùng).

II Thực trạng của các dự án cung cấp nước tập trung, xử lý rác thải, nước thải và

vệ sinh môi trường tại vùng dự án

1 Đối với lĩnh vực cung cấp nước tập trung

Theo Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, trên địa bàn tỉnh hiện có

119 công trình cấp nước tập trung nông thôn với nhiều loại hình cấp nước và mô hìnhquản lý, vận hành khác nhau (bảng 14a,14b,14c) Về loại hình cấp nước, có 84 công trình tự chảy và 34 công trình bơm dẫn Về mô hình quản lý, có 3 công trình thuộc Trung tâm Nước sạch, 7 công trình thuộc Công ty cấp thoát nước, 8 công trình thuộc Doanh nghiệp, 4 công trình thuộc Ban Quản lý cấp huyện, 6 công trình thuộc Hợp tác xã, và 91công trình thuộc UBND xã quản lý Trong số 6 mô hình quản lý các công trình nước sạch nông thôn trên, mô hình do UBND xã quản lý là phổ biến nhất

Trong những năm qua, công tác triển khai đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung nông thôn được thực hiện từ nhiều nguồn vốn khác nhau như: Chương trình Mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Chương trình 134, 135; vốn vay (WB, ADB); vốn di dân tái định cư; vốn tài trợ (Vương quốc Bỉ, Hà Lan, Jibic, Tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam)…

Từ các nguồn vốn trên tỉnh đã đầu tư xây dựng được nhiều công trình có quy mô khá lớn như: Công trình cấp nước Phước Sơn của huyện Tuy Phước (cấp nước cho 32.000 người), Dự án cấp nước 9 thị trấn (cấp nước cho 110.435 người); Công trình cấp nước 2

xã Bình Tường và Vĩnh An của huyện Tây Sơn (cấp nước cho 13.000 người)… bước đầu đã mang lại hiệu quả rất khả quan Trong những năm đến, cũng từ các nguồn vốn trên, tỉnh tiếp tục đầu tư các công trình, dự án có quy mô lớn như: Công trình cấp nước huyện Phù Cát (vốn tài trợ của Vương quốc Bỉ, cấp nước cho người dân ở 7 xã thuộc 2 huyện Phù Cát và Tuy Phước); Công trình cấp nước xã Nhơn Hoà của huyện An Nhơn(cấp nước cho khoảng 28.000 người); Công trình cấp nước Đông Nam huyện Hoài Nhơn(cấp nước cho người dân 4 xã), Công trình cấp nước cho các xã ven biển huyện Phù Mỹ (cấp nước cho người dân 5 xã); Công trình cấp nước xã Nhơn Hậu và xã Nhơn Mỹ của huyện An Nhơn

Nhìn chung đội ngũ cán bộ quản lý, vận hành công trình cấp nước tập trung nông thôn trên địa bàn các huyện hiện nay có mặt bằng khá thấp, chủ yếu tập trung ở tuyến cơ sở,

ở một số đơn vị cán bộ chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ

Về thiết bị, công nghệ, 24/119 công trình có công nghệ, thiết bị xử lý nước hoàn chỉnh Trong đó, một số công trình có hệ thống điều khiển hoàn toàn tự động (Công trình cấp Phước Sơn của huyện Tuy Phước, và các công trình cấp nước thuộc Dự án 9 thị trấn)

Trang 26

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những công trình khá thô sơ (chủ yếu là công trình cấp nước tự chảy ở các xã miền núi), chất lượng nước cấp thường không kiểm soát được.Nhìn chung, nhiều công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh không phát huy được hiệu quả, trong đó chủ yếu là các công trình công suất nhỏ do địa phương quản lý có hiệu suất hoạt động thấp, công trình nhanh xuống cấp Để kịp thời khắc phục những tồn tại trên, ngày 03/03/2010 UBND tỉnh đã ban hành Quy chế quản lý, khai thác, sử dụng

các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tỉnh Bình Định Đây là một trong những căn

cứ để các ngành, các cấp kiểm tra, giám sát, triển khai thực hiện

Hiện nay, công tác truyền thông nâng cao nhận thức về nước sạch nông thôn phần lớn

do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thực hiện; các cấp các hội đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở rất ít tham gia Các công trình, dự án do cấp huyện, các ban ngành khác quản lý thực hiện thì gần như công tác truyền thông nâng cao nhận thức cho người dân vùng dự án không được thực hiện

Tại 6 huyện của vùng dự án có tổng số 33 dự án cung cấp nước sạch tập trung, trong đó

có 5 công trình ở Hoài Nhơn, 10 công trình ở Phù Mỹ, 5 công trình ở Phù Cát, 5 côngtrình ở An Nhơn, 4 công trình ở Tuy Phước, và 4 công trình ở Tây Sơn Về công nghệ, 19/33 công trình có công nghệ, thiết bị xử lý nước hoàn chỉnh Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những công trình khá đơn giản (lắng, lọc không có thiết bị khử trùng), chất lượng nước cấp thường không kiểm soát được Về mô hình quản lý, hiện nay có 14 công trình

do UBND xã quản lý, 8 công trình do doanh nghiệp quản lý, 3 công trình do Ban quản lý huyện quản lý, 5 công trình do hợp tác xã quản lý, và 3 công trình là do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường quản lý Về công suất thiết kế, hầu hết là các công trình nhỏ

và vừa, từ những công trình với chỉ 50 m3/ngày cung cấp cho làng Giang của xã Vĩnh Ancho đến công trình có công suất đến 3.850 m3/ngày cho cư dân cụm Bồng Sơn-TamQuan Bên cạnh một số công trình phát huy được công suất, nhiều công trình chỉ mới khai thác 30% công suất hoặc hư hỏng, không sử dụng được Những công trình nhỏ thường là do UBND xã hoặc hợp tác xã quản lý, trong khi các công trình có qui mô lớn hơn thường do các doanh nghiệp hoặc Trung tâm Nước sạch quản lý (bảng 14d)

Nhìn chung lực lượng quản lý, vận hành các công trình cấp nước trên địa bàn 6 huyện vùng dự án còn nhiều hạn chế Lực lượng quản lý có trình độ cao, đáp ứng được yêucầu chuyên môn chủ yếu tập trung tại các nhà máy cấp nước Phước Sơn (Tuy Phước), cấp nước Bình Tường (Tây Sơn), cấp nước Nhơn Tân (An Nhơn), cấp nước 9 thị trấn vàmột vài công trình do Ban quản lý cấp huyện quản lý Cán bộ phụ trách ở các công trình

do UBND các xã quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu chuyên môn Vì thế, trong tươnglai các đơn vị quản lý vận hành cần phải có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực có trình độ caođể làm chủ các dây chuyền công nghệ mới

Về qui chế hoạt động, các công trình thuộc địa bàn 6 huyện (trừ công trình cấp nước làng Giang của xã Vĩnh An và công trình cấp nước xã Bình Tân) là đối tượng áp dụng của Quy chế quản lý, khai thác, sử dụng các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn

tỉnh Bình Định.

Về công tác truyền thông, đây là địa bàn chiếm hơn 85% dân số nông thôn toàn tỉnh; địa hình đa dạng (miền núi, đồng bằng, ven biển); thành phần dân tộc và nhận thức của

Trang 27

người dẫn cũng rất khác nhau Vì vậy, công tác truyền thông, nâng cao nhận thức về nước sạch phần lớn được tập trung ở các địa phương này.

Tương tự như tình trạng chung của tỉnh, công tác quản lý, vận hành các công trình cấp nước tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, nhất làcông tác tài chính Một số công trình thu không đủ bù chi phí thường xuyên, hoạt động thua lỗ kéo dài, không phát huy được năng lực công trình như:

o Các công trình cấp nước xã Hoài Hải, cấp nước khu tái định cư Hoài Hải, cấp nước

xã Hoài Mỹ của huyện Hoài Nhơn;

o Các công trình cấp nước thôn 7 và cấp nước thôn 9 xã Mỹ Thắng; cấp nước xã Mỹ Phong; cấp nước xã Mỹ Thọ, cấp nước xã Mỹ Tài của huyện Phù Mỹ;

o Công trình cấp nước ba xã phía đông An Nhơn;

o Các công trình cấp nước tập trung nông thôn do UBND cấp xã quản lý

Nguyên nhân chính dẫn đến các tình trạng trên là do:

o Sản lượng nước cấp quá thấp do người dân sử dụng rất tiết kiệm, phần lớn các hộ dân chỉ sử dụng nước máy để ăn uống còn mọi sinh hoạt khác sử dụng nguồn nước giếng không đảm bảo vệ sinh

o Trìnhđộ chuyên môn của cán bộ, công nhân quản lý, vận hành một số đơn vị còn hạn chế; chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, một số đơn vị cấp nước thiếu trách nhiệm, chưa thật sự quan tâm đến chất lượng nước cấp; công tác duy tu bảo dưỡng

ítđược thực hiện, chất lượng nước cấp không đảm bảo

o Công tác điều tra, khảo sát chuẩn bị đầu tư của một số công trình thực hiện chưa thật tốt dẫn đến tình trạng công trình hoàn thành không có người sử dụng; công tác khảo sát, khoan thăm dò nguồn nước, phân tích chất lượng nguồn nước, lựa chọn công nghệ xử lý không phù hợp dẫn đến chất lượng nước cấp không đảm bảo, tạo ra tâm

lý tiêu cực từ phía người dân

Việc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn bước đầu đi vào quản lý, vận hành công trình cấp nước tập trung nông thôn đã mang lại những hiệu quả rõ rệt, đãtạo ra một cách nhìn mới về công tác quản lý, vận hành công trình Bên cạnh đó có thể

kể đến một số mô hình như Ban quản lý dự án cấp nước huyện và Hợp tác xã đã gópphần tạo ra sự đa dạng các loại hình hoạt động

Để có được các đánh giá sâu hơn về thực trạng của các công trình cấp nước, cuộc khảo sátđã phân tích điển hình hoạt động của 13 công trình cấp nước tại các thị trấn huyện vàcác xã trong vùng dự án Bảng 15 trình bày các nguồn vốn và suất vốn đầu tư của các công trình Kết quả cho thấy, tính bình quân đối với 13 công trình cấp nước nông thôn, tổng giá trị đầu tư cho một công trình là khoảng 9,4 tỷ đồng, trong đó khoảng 25% là từ ngân sách nhà nước, 66% là từ các nguồn tài trợ quốc tế, 5,6% là từ sự đóng góp của dân hoặc các đơn vị tự đầu tư, và 3,2% còn lại là từ khu vực tư nhân Điều này cho thấy với những công trình cấp nước, nguồn tài chính từ ngân sách và quốc tế đóng vai trò chủ yếu, khu vực tư nhân và cộng đồng còn có vai trò khá khiêm tốn Tuy nhiên, qui mô đầu

tư giữa các dự án cấp nước, và sự đóng góp của ngân sách và quốc tế là rất khác nhau

Trang 28

Có những dự án lớn như Công trình cấp nước thị trấn Bồng Sơn, Tam Quan, Hoài Tân,Hoài Hảo chủ yếu là từ nguồn viện trợ quốc tế, nhưng có những công trình nhỏ nhưCông trình cấp nước xã Phước Sơn (Tuy Phước) thì sự đóng góp của ngân sách lớn hơn.

Bình quân, công suất thiết kế của các công trình này là khoảng 1500 m3/ngày, với qui mô nhỏ nhất là 500 m3/ngày và lớn nhất là 3850 m3/ngày Tùy vào tổng mức đầu tư và côngnghệ sử dụng, suất vốn đầu tư cho 1 m3/ngày là khoảng 6 triệu đồng, trong đó suất đầu

tư thấp nhất là 1,7 triệu và cao nhất là 20 triệu đồng Tương ứng với tổng mức đầu tư vàcông nghệ sử dụng, bình quân một công trình cấp nước cho khoảng 3300 hộ, và suất đầu tư cấp nước 1 hộ là khoảng 2,8 triệu đồng Đa số các công trình có suất đầu tư/hộ từ 1-2 triệu, nhưng một số trường hợp lên đến trên 4 triệu đồng

Kết quả từ bảng 16 cho thấy trừ một vài công trình được thực hiện ngay trước và saunăm 2000, đa số công trình chỉ mới đưa vào sử dụng từ năm 2009, trong đó chỉ một ít công trình sử dụng nguồn nước mặt, còn hầu hết là sử dụng nguồn nước ngầm So với công suất thiết kế, các công trình nước trên hiện nay chỉ mới khai thác ở mức bình quân

là 43% sản lượng nước Trong số này, có những công trình đã đạt mức khai thác thiết

kế như Công trình cấp nước ở xã Phước Sơn (100%), Công trình cấp nước ở xã Phước Thuận (97,8%) thuộc huyện Tuy Phước và Nhà máy nước Tây Sơn (93,3%) Đây là trong

số các công trình đã được đưa vào sử dụng sớm nhất (năm 1996, 2005, và 2001 tươngứng) Trong khi đó, hầu hết các công trình mới đưa vào sử dụng năm 2009 chỉ đạt mức công suất 20-30% so với công suất thiết kế Điều này cho thấy, cần phải có thời gian đủ lâu để mở rộng mạng lưới và tăng mức sử dụng nước của các hộ dân cư So với hiệu suất khai thác công suất nước, tỷ lệ hộ sử dụng nước thực tế so với thiết kế cao hơn rất nhiều (64,4% số hộ) Ở nhiều công trình mới đưa vào vận hành, mặc dù tỷ lệ hộ sử dụng nước rất cao, nhưng tỷ lệ khai thác công suất nước rất thấp, chẳng hạn ở Công trình cấp nước thị trấn Bồng Sơn, Tam Quan, Hoài Tân, Hoài Hảo, các tỷ lệ tương ứng trên là 53,1% và11,6%.Điều này chứng tỏ rằng mức tiêu thụ nước bình quân cho một hộ gia đình là rất thấp so với mongđợi “Hiện nay tình trạng sử dụng nước của các hộ dân so với tham vọng ban đầu thì không thành công, công suất sử dụng chiếm khoảng 20% so công suất thiết kế Tính bền vững về cấp nước chưa cao Số lượng nước cung cấp từ công trình cấp nước hiện đang bị giảm sút so với các số lượng đăng ký sử dụng ban đầu vì có một số hộ vẫn còn

sử dụng nhiều nguồn nước khác do liên quan đến lợi ích kinh tế của hộ (PVS quản lý

Công ty cấp thoát nước tỉnh Bình Định, 2010)” Mức tiêu thụ thấp này là một nguyênnhân quan trọng hàng đầu dẫn đến tình trạng thu không đủ chi của các đơn vị cung cấp dịch vụ

Ngoài ra, một chỉ báo hết sức quan trọng về chất lượng của các công trình cấp nước là

tỷ lệ thất thoát nước Dựa trên thông tin có được từ 10 công trình cấp nước, tỷ lệ thất thoát nước bình quân là 24,2% Đây là một tỷ lệ cao so với các công trình mới được đầu

tư Công trình có tỷ lệ thất thoát nước thấp nhất là Nhà máy cấp nước thị trấn Phù Mỹ (12%) và Công trình cấp nước 3 xã khu Đông An Nhơn (17%) Một số công trình có mức thất thoát nước lên đến 30-40% như cấp nước thị trấn Bình Định, cấp nước thị trấn Tuy Phước Đây là một trong những vấn đề quan trọng cần ưu tiên giải quyết để tăng hiệu quả sử dụng nước

Trang 29

Về nguồn nhân lực đang vận hành các công trình cấp nước, kết quả từ bảng 17 cho thấy qui mô trung bình là khoảng 7 người/công trình, trong đó từ 1-2 người có trình độ kỹ sư,3-4 người có trình độ trung cấp và 2 lao động có được đào tạo về kỹ thuật Về cơ bản, nguồn nhân lực này đáp ứng được yêu cầu quản lý, vận hành công trình nước Tuy nhiên, nguồn nhân lực này phân bố không đồng đều Số kỹ sư chỉ tập trung vào một số công trình quan trọng Chẳng hạn, trong tổng số 20 kỹ sư thì Công trình cấp nước thị trấn Bồng Sơn, Tam Quan, Hoài Tân, Hoài Hảo có 6 kỹ sư và Nhà máy cấp nước Phù Mỹ có

4 kỹ sư, chiếm 1/2 số kỹ sư Một số công trình nhỏ, chẳng hạn cấp nước xã Phước Sơn

và cấp nước xã Phước Thuận (Tuy Phước) được quản lý bởi chủ yếu là lao động kỹ thuật Hầu hết các công trình cấp nước đều có xây dựng qui chế quản lý và có cử người tham gia các lớp tập huấn về nước hàng năm Tuy nhiên, thông tin cụ thể về số người tham dự ở một số công trình là không đầy đủ Hầu hết các công trình được khảo sát này

là theo mô hình doanh nghiệp nên nguồn nhân lực, qui chế quản lý, và tập huấn hàngnăm đáp ứng được các yêu cầu cơ bản về quản lý công trình Ở các công trình do UBND

xã quản lý, chất lượng nguồn nhân lực thấp hơn và công tác xây dựng qui chế và tập huấn nâng cao năng lực chưa được chú trọng

Giá nước là một yếu tố ảnh hưởng đến mức sử dụng nước của khách hàng và hiệu quả kinh tế của công trình cấp nước Kết quả từ bảng 18 cho thấy, mức giá 1m3 nước cho sinh hoạt của hộ dân cư là khoảng 3000đồng, cho sinh hoạt cơ quan là khoảng 4000đồng và cho kinh doanh là khoảng 6000đồng Tuy nhiên, mức giá rất khác nhau tùyvào công trình nước; các công trình nước sạch nông thôn được hưởng giá ưu đãi so với mức giá nước thông thường

Tất cả công trình cung cấp nước sạch nông thôn dù sử dụng bất kỳ công nghệ nào cũngđều phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản Nước được xét nghiệm hóa sinh định kỳ đốivới các chỉ số qui định Tuy nhiên, giống như đặc điểm chung của các công trình cấp nước sạch nông thôn của tỉnh Bình Định, nhiều công trình cấp nước nhỏ, sử dụng công nghệ thấp, thường là do UBND xã quản lý, việc đánh giá kiểm định nước chưa được quan tâmđúng mức, khó kiểm soát chất lượng nước

2 Đối với lĩnh vực xử lý rác

Hiện nay trên địa bàn 11 huyện, thành phố của tỉnh Bình Định, chỉ có huyện An Lão làchưa có bất kỳ hoạt động thu gom rác nào Các huyện miền núi khác như Vĩnh Thạnh, Vân Canh cũng có hoạt động thu gom rác ở chợ và trục đường chính của thị trấn Ngoàithành phố Qui Nhơn có mạng lưới thu gom rác khá hoàn chỉnh do Công ty TNHH môi trường đô thị Qui Nhơn hoạt động tại 16/20 phường, xã và Ban quản lý dự án Quản lý chất thải rắn và sản xuất phân compost dựa vào cộng đồng ở phường Nhơn Phú, cáchuyện còn lại đều chỉ tổ chức thu gom rác ở các thị trấn và một số xã có cộng đồng dân

cư sống tập trung

Bảng 19 trình bày các đơn vị thu gom rác, phạm vi hoạt động, và nơi đổ rác tại 6 huyện được khảo sát Hoài Nhơn có sự tham gia của hai đơn vị thu gom rác là Công ty TNHHNguyên Tín trên phạm vi 9 xã, thị trấn và Hợp tác xã Nông nghiệp Bồng Sơn Tây ở thị trấn Bồng Sơn Ở Phù Mỹ và Phù Cát, việc thu gom rác do Hạt Giao thông Công chính huyện đảm trách, gồm 5 xã, thị trấn ở mỗi huyện Ở An Nhơn, có hai đơn vị là Công tyMôi trường đô thị An Nhơn hoạt động trên địa bàn 5 xã, thị trấn (gồm cả 2 xã của huyện

Trang 30

Tuy Phước) và Công ty TNHH Nhơn Thọ hoạt động trên phạm vi 5 xã Ở Tuy Phước, Công ty TNHH Môi trường cây xanh Hà Thanh thu gom rác ở 11 xã và 2 thị trấn trên địa bàn huyện Ở Tây Sơn, Hợp tác xã nông nghiệp dịch vụ Phú Phong II đảm trách việc thu gom rác ở 4 xã, thị trấn của huyện Một số huyện như An Nhơn, Tuy Phước, và HoàiNhơn có hoạt động thu gom rác trên phạm vi rộng hơn các huyện còn lại Tuy nhiên,không phải toàn bộ dân số thuộc các xã, thị trấn nằm trong phạm vi thu gom rác đều tham gia vào dịch vụ này Công tác thu gom rác thực hiện chủ yếu ở các thị trấn và các

hộ dân nông thôn cư trú tập trung trên các trục đường chính mà thôi

Trên địa bàn tỉnh hiện nay, nơi đổ rác lớn nhất là bãi rác Long Mỹ, TP Qui Nhơn, có diện tích 30.000m2 Mặc dù được qui hoạch và quản lý tốt hơn các nơi khác, bãi rác này cũngmới chỉ đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật cơ bản và cũng đang có dấu hiệu quá tải Công ty TNHH Môi trường cây xanh Hà Thanh của huyện Tuy Phước cũng sử dụng bãi rác này

Sự phản ứng của cư dân chung quanh bãi rác Long Mỹ đối với việc chuyển rác về đây cho thấy tình trạng ô nhiễm của các bãi rác đối với môi trường và sinh hoạt của người dân chung quanh, và trở thành vấn đề nóng bỏng không chỉ ở đây mà còn ở nhiều địa phương khác trong tỉnh Ngoài một số bãi rác có qui mô tương đối rộng (từ 10.000m2trở lên) ở các huyện Tây Sơn, Phù Cát, An Nhơn, các bãi rác còn lại đều có diện tích rất nhỏ, chỉ vài ngàn mét vuông Hoài Nhơn cung cấp một ví dụ điển hình cho những khó khăn trong việc qui hoạch bãi rác ổn định lâu dài và xa khu dân cư Không xã nào muốn qui hoạch bãi rác ở địa bàn mình, dẫn đến tình trạng chia cắt và tạm thời trong việc xử lý rác sau khi thu gom.Địa điểm qui hoạch bãi rác là một vấn đề xã hội và môi trường mang tính thời sự và rất khó giải quyết hiện nay

Trong quá trình thu gom chất thải từ nguồn phát sinh, phần lớn các địa phương đều thực hiện khá tốt Nguồn nhân lực trực tiếp thu gom, xử lý chất thải rắn về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu hiện tại Ở các huyện, mỗi đơn vị thu gom có khoảng 5-7 người trực tiếp thu gom và xử lý Tuy nhiên, phần lớn lực lượng lao động này là lao động phổ thông, học vấn thấp, và không được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ Một số đơn vị thu gom rác thải chưa có xe chuyên dùng để vận chuyển rác đến bãi chôn lấp như huyện Tây Sơn, huyện Phù Cát (hiện nay đang sử dụng xe ben để vận chuyển)

Công nghệ xử lý rác hiện nay chỉ là đốt tại bãi, đào hố để chôn lấp, và rắc vôi để giữ vệ sinh môi trường Việc phân loại rác tại nguồn chưa được thực hiện, rác chưa được tái chế, tái sử dụng, ngoại trừ công nhân vệ sinh lựa giấy vụn và nhôm nhựa để bán kiếm thêm thu nhập một cách tự phát Một số bãi chôn lấp chất thải rắn của các địa phươngmang tính tạm thời, phần lớn không có tường bao, bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, không có hình thức xử lý nước rỉ rác, chất thải rắn được đổ một cách tự nhiên Côngđoạn xử lý hiện nay chủ yếu là khử mùi, diệt trung và chôn lấp Bãi chôn lấp được xây dựng theo kiểu khô nửa chìm, nửa nổi Công tác xử lý tại các bãi chôn lấp thực hiện chưa thật tốt, gây ô nhiễm phát sinh ra môi trường xung quanh

Hầu hết các đơn vị thu gom và xử lý chất thải rắn trên là đơn vị hoạt động công ích vàmột số doanh nghiệp tư nhân Phần lớn các đơn vị này được chính quyền địa phương hỗ trợ kinh phí mua sắm thiết bị, hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí xử lý rác tại bãi chôn lấp để các đơn vị này duy trì hoạt động vì khoản thu không đủ để bù chi.Thu nhập của người lao động còn thấp (600.000-1.000.000đồng/người/tháng) Sự thua

Trang 31

lỗ của các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực này là do mức thu phí từ các hộ gia đình thấp (10.000 đồng/hộ/tháng), trong khi địa bàn hoạt động ở nông thôn rộng, dân cư thưa thớt, chi phí thời gian cho việc thu gom một đơn vị rác thải lớn, cự ly vận chuyển xa (bình quân

40 km, cả đi về); phần lớn khối lượng rác thu gom đều đưa đi chôn lấp, không được tái

sử dụng, tái sản xuất

Hành vi thải rác của người dân còn nhiều hạn chế, việc tuân thủ thời gian, địa điểm tập kết rác chưa được thực hiện nghiêm túc dẫn đến công nhân thu gom phải mất nhiều thời gian để thu nhặt Trong những năm gần đây, công tác truyền thông vận động xã hội về bảo vệ môi trường đã được các cấp, các ngành, các hội đoàn thể quan tâm và bước đầu nhận thức của người dân đã được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, để những hành vi của một bộ phận người dân thay đổi theo hướng tích cực thì cần phải tăng cường công tác truyền thông một cách thường xuyên, liên tục hơn

3 Đối với lĩnh vực nước thải

Hiện nay, trên địa bàn 6 huyện của vùng dự án chưa có công trình xử lý nước thải tập trung nào Nước thải sinh hoạt, chăn nuôi và sản xuất hiện nay do các tổ chức và cánhân có phát sinh tự xử lý trước khi thải ra môi trường

Các loại hình xử lý nước thải được áp dụng phổ biến hiện nay:

o Đối với hộ gia đình: Xử lý bằng hầm biogas, với quy mô từ 2,5-20m3, phục vụ các hộ sản xuất nhỏ Đây là loại công nghệ khá đơn giản, dễ thi công, và vận hành thuận tiện

o Đối với các cơ sở sản xuất: Thường áp dụng công nghệ xử lý Hiếu khí (các cơ sở

sản xuất chế biến thực phẩm), lắng lọc (các cơ sở sản xuất đá xây dựng) trước khi thải ra môi trường

Hiện nay, nước thải trong sinh hoạt, chăn nuôi và sản xuất là một trong những vấn đề rất được quan tâm Tình trạng chất thải, nước thải chăn nuôi từ các gia trại, trạng trại gây ô nhiễm môi trường trong khu dân cư vùng nông thôn đến mức báo động Một số cơ sở sản xuất gần như không xử lý nước thải hoặc xử lý không đạt yêu cầu nhưng vẫn thải ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng

Công tác quản lý nhà nước về nước thải hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn, một số cơ

sở sản xuất thường hay xử lý đối phó khi có đoàn kiểm tra, thậm chí bất hợp tác với cơquan chức năng

Trang 32

PHẦN II ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH

I MÔ TẢ NGƯỜI TRẢ LỜI VÀ HỘ TRONG MẪU KHẢO SÁT

1 Đặc điểm người trả lời

Cuộc khảo sát đã phỏng vấn bằng bản hỏi định lượng với 720 người đại diện cho hộ gia đình Trong số những người trả lời, chủ hộ hoặc vợ/chồng chủ hộ chiếm 86,7% và namgiới chiếm hơn 52% Không có sự khác biệt nhau nhiều khi so sánh giữa các xã, cáchuyện với nhau Về thành phần dân tộc, người Kinh chiếm tuyệt đại đa số, với 91,8%, và8,2% còn lại là người Bana, tập trung ở xã Vĩnh An, huyện Tây Sơn

Do người trả lời chủ yếu là chủ hộ hoặc vợ/chồng chủ hộ nên thường tập trung vào nhómtrung niên trở lên Tuổi bình quân của người trả lời là 47 Nhóm tuổi dưới 30 chỉ chiếm 10,3%, trong khi nhóm 30-50 chiếm đến 51,9% và trên 50 là 37,8% Cơ cấu tuổi này chothấy những người trả lời có kinh nghiệm và sự am hiểu tình trạng gia đình và cộng đồng nơi mình sinh sống

Học vấn của người dân nông thôn chỉ đạt mức trung bình (bảng 20) Những người có trìnhđộ cấp 1 trở xuống chiếm đến 28,8%, có trình độ cấp 2 chiếm tỷ lệ 46,7%, trong khi

có trình độ cấp 3 trở lên chiếm 24,6% trong mẫu khảo sát Nam giới có trình độ học vấn cấp 3 trở lên cao hơn phụ nữ Mức độ khác biệt giữa các huyện không lớn, ngoại trừ huyện An Nhơn nổi trội hơn, với 38,7% số người được hỏi có trình độ học vấn cấp 3 do đóng góp của thị trấn Bình Định Tuy nhiên, sự khác biệt là rất đáng kể khi so sánh mức học vấn giữa các thị trấn và các xã Có đến 59,3% số người được hỏi ở thị trấn BìnhĐịnh có trình độ học vấn cấp 3, tiếp đến là thị trấn Phú Phong, với 42,9% Trong khi đó,

tỷ lệ này ở hầu hết các xã là dưới 20%, trừ xã Phước Thắng đạt 33,9% Cá biệt ở xã cónhiều người Bana sinh sống, xã Vĩnh An, chỉ có 7% số người có học vấn cấp 3, trong lúc

cóđến 78,9% số người chỉ có học vấn cấp 1 Sự khác biệt về học vấn có thể ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức và mức độ sẵn sàng của người dân đối với việc tiếp cận các dịch

vụ nước, rác thải, và vệ sinh môi trường

Cơ cấu nghề nghiệp phản ánh trình độ phát triển kinh tế, điều kiện sống, và ở một mức

độ nhất định nhận thức của dân cư Kết quả bảng 21 cho thấy, sản xuất nông lâm ngưnghiệp là hoạt động chủ yếu của những người trả lời, chiếm khoảng 59,7% Những người làm phi nông nghiệp, bao gồm các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, buôn bán dịch

vụ, và làm việc trả lương theo ngày công như thợ hồ, thợ mộc… chiếm khoảng 24% Chỉ một bộ phận nhỏ (6,7%) là cán bộ viên chức, thường là những người có học vấn cao, cónghề nghiệp ổn định, và có vị trí xã hội ở nông thôn Khoảng 10% dân số là những người già yếu hoặc nội trợ, không tham gia lao động Cơ cấu nghề nghiệp này là khá đặc trưngcho xã hội nông thôn Việt Nam

So sánh giữa các địa phương với nhau, có 2 khác biệt đáng kể Một là sự khác biệt ở một mức độ nhất định về tỷ lệ phi nông nghiệp giữa các xã Một số xã tập trung chủ yếu vào sản xuất nông lâm ngư nghiệp nên tỷ lệ lao động phi nông nghiệp rất thấp như Vĩnh

An, Cát Lâm, và Mỹ Châu Ngược lại, một số xã có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khá cao như Tam Quan Nam (39%), Phước Thắng (33,9%), Phước Lộc (30,5%) Các nghề tiểu thủ công nghiệp dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại chỗ như chế tạo sản phẩm xơ dừa, đan lát… đóng vai trò quan trọng đối với các hoạt động phi nông nghiệp ở

Trang 33

các xã Hầu hết các xã còn lại có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp dao động trên dưới 20%

Sự khác biệt thứ hai rõ nét hơn là giữa các xã với các thị trấn Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ở thị trấn Bình Định chiếm 50,9% và ở thị trấn Phú Phong là 31,7% Cơ cấu nghề nghiệp trên phản ánh trình độ phát triển cao hơn, mức tập trung dân cư đông đúc hơncủa các thị trấn và một số xã có hoạt động phi nông nghiệp cao so với các xã còn lại.Điều này có thể có ảnh hưởng đối với khả năng tiếp nhận các dịch vụ nước sạch, thu gom rác và vệ sinh môi trường

2 Đặc điểm hộ gia đình

Các đặc điểm cơ bản của hộ gia đình được khảo sát liên quan đến vấn đề nghiên cứu được trình bày ở bảng 22 Qui mô trung bình của hộ là 4,3 người và không có sự khác nhauđáng kể nào giữa các xã và các huyện Tỷ lệ hộ nghèo khoảng 12,5% nhưng có sự khác nhau khá lớn giữa các huyện và các xã Tuy Phước và An Nhơn là hai huyện có tỷ

lệ hộ nghèo thấp nhất, tương ứng là 4,1% và 5,9% Các xã thuộc hai huyện này cũng lànhững địa phương có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất Các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, và PhùCát có tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn một chút so với mức trung bình Xã dân tộc ít người miền núi – Vĩnh An – có tỷ lệ hộ nghèo đặc biệt cao, chiếm đến 64,9% trong tổng số hộ khảo sát Các thị trấn Bình Định và Phú Phong cũng có tỷ lệ hộ nghèo thấp Ngoài ra, số hộ gia đình chính sách trong tổng số 720 hộ được khảo sát tại 24 xã/thị trấn chiếm13,6%.Một số xã có tỷ lệ hộ gia đình chính sách cao như Tam Quan Nam (28,3%) và HoàiHương (16,4%) của huyện Hoài Nhơn, Mỹ Hiệp (19,7%) và Mỹ Châu (16,7%) của huyện Phù Mỹ, Vĩnh An (17,5%) của huyện Tây Sơn Tỷ lệ hộ nghèo và hộ gia đình chính sáchcao thường tập trung ở những vùng kháng chiến và điều kiện khó khăn

Nhà ở là một chỉ báo cơ bản phản ánh điều kiện sống của dân cư Do thường xuyên đối mặt với bão lũ, hầu hết nhà ở của hộ gia đình là nhà kiên cố và bán kiên cố (99,2%), trong đó số hộ có nhà ở bán kiên cố là 55,3% Số hộ ở nhà tạm bợ chỉ chiếm 0,8% Sự khác biệt về chất lượng nhà ở giữa các xã là không đáng kể, ngoại trừ Vĩnh An có chất lượng nhà ở thấp hơn, với 89,5% nhà ở bán kiên cố Các thị trấn Bình Định và PhúPhong tỷ lệ nhà ở kiên cố cao (chỉ 28.8% và 38.1% nhà bán kiên cố) Hầu hết các hộ gia đình đều có sử dụng nguồn điện thắp sáng Tuy nhiên, một yếu tố cần phải tính đến đối với khả năng tiếp cận nguồn nước máy và thu gom rác, nước thải là khoảng cách từ nhàđến đường chính Tính chung, có khoảng 22,4% số hộ có nhà các đường chính trên100m Một số xã như Mỹ Châu, tỷ lệ này lên đến 73,3% Nhà ở phân bố không tập trung

và xađường chính là một trở ngại không nhỏ cho việc tiếp cận các dịch vụ nước sạch và

vệ sinh môi trường

Một đặc điểm khác cần lưu ý là việc chăn nuôi gia súc ở nông thôn Có đến 53,1% số hộ gia đình có chăn nuôi gia súc, thường là trong vườn, gần nhà ở Một số xã có tỷ lệ hộ chăn nuôi đặc biệt cao như Mỹ Châu (91,7%), Mỹ Hiệp (73,8%) của huyện Phù Mỹ, CátLâm (82,5%) của huyện Phù Cát, và Vĩnh An (80,7%) của huyện Tây Sơn Ngay cả ở thị trấn Phú Phong cũng có đến 28,6% số hộ có chăn nuôi gia súc Đây là một trong những nguồn chính gây ô nhiễm nguồn nước và không khí ở nông thôn

Thu nhập là một trong những chỉ báo quan trọng nhất thể hiện mức sống của dân cư và

là cơ sở quan trọng để đánh giá khả năng sử dụng các dịch vụ nước sạch và vệ sinh môi

Trang 34

trường Mức thu nhập và cơ cấu thu nhập được trình bày ở bảng 23 Tính chung, mức thu nhập bình quân nhân khẩu của hộ là 877 ngàn đồng/tháng Mức thu nhập có sự khác nhau đáng kể giữa các địa phương Địa phương có thu nhập cao nhất là thị trấn BìnhĐịnh (1498 ngàn đồng/tháng), tiếp đến là thị trấn Phú Phong (1298 ngàn đồng/tháng),nhưng hai xã Phước Thắng và Phước Lộc của huyện Tuy Phước cũng có mức thu nhập bình quân đầu người trên 1 triệu đồng/tháng Các xã còn lại có mức thu nhập thấp hơntrung bình,đặc biệt các hộ ở xã Vĩnh An của huyện Tây Sơn có mức thu nhập bình quânđầu người chỉ 314 ngàn đồng/tháng, thấp hơn rất nhiều so với các địa phương còn lại.

Về cơ cấu thu nhập, nguồn thu từ buôn bán dịch vụ, lao động làm thuê, và từ trồng trọt chiếm tỷ lệ cao nhất, tương ứng là 21,2%, 20,4%, và 18,8% Tiền lương thường xuyên,chăn nuôi gia đình, và tiền hưu trí, trợ cấp cũng là những nguồn thu đáng kể, tương ứng

là 16,9%, 10,6%, và 9,9% Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình cho thấy, thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 30% tổng thu nhập Các khoản thu nhập từ laođộng làm thuê, buôn bán dịch vụ chiếm khoảng 40% Nguồn thu từ tiền lương trong khuvực kinh tế chính thức chỉ tập trung chủ yếu ở một bộ phận nhỏ dân cư làm việc cho các

cơ quan hành chính sự nghiệp ở địa phương

Tuy nhiên, cơ cấu thu nhập có sự khác biệt rất lớn giữa các địa phương, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên tại chỗ Một số xã có nguồn thu từ trồng trọt chiếm trên 30%tổng thu nhập như Hoài Hương, Mỹ Châu, Cát Lâm, Nhơn An, Vĩnh An Trong khi đó,một số địa phương có tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp rất thấp, như thị trấn Bình Định (1,3%), thị trấn Phú Phong (4,6%), xã Phước Lộc (11,5%) Một số xã có tỷ trọng nguồn thu cao từ chăn nuôi gồm các xã Tam Quan Nam, Hoài Hương của huyện Hoài Nhơn,

Mỹ Châu của huyện Phù Mỹ, Cát Lâm của huyện Phù Cát, và Vĩnh An của huyện Tây Sơn Những nơi có mật độ dân số cao như hai thị trấn thì tỷ trọng nguồn thu từ chăn nuôi

là không đáng kể Vai trò quan trọng của nguồn thu từ chăn nuôi ở một số địa phươngđặt ra một thách thức không nhỏ trong việc qui hoạch hoặc hạn chế chăn nuôi gia súc trong khu vực ở của cư dân nông thôn

Tỷ trọng nguồn thu từ lao động làm thuê không có sự khác biệt lớn giữa các địa phương

vì sự phổ biến và linh hoạt của thị trường lao động làm thuê, nhưng khoản thu từ buôn bán dịch vụ và tiền lương thì có sự khác biệt rất lớn, phụ thuộc vào vị trí thuận lợi hay không Ngoài thị trấn Bình Định và thị trấn Phú Phong có vị trí nổi bật, một số xã cũng có

tỷ trọng thu nhập từ hai nguồn này khá cao như Phước Thắng, Phước Lộc của huyện Tuy Phước Thông thường, đây là những địa phương có trình độ phát triển cao hơn và

cóđiều kiện hơn để tiếp nhận các dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường

Phân tích sâu hơn sự phân bố thu nhập giữa các nhóm dân cư (được trình bày ở bảng 24) cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa 5 nhóm thu nhập 20% nhóm thu nhập thấp nhất chỉ có 257 ngàn đồng/người/tháng, trong khi 20% nhóm thu nhập cao nhất là 1940ngàn đồng/người/tháng Mặc dù sự khác biệt giữa 2 nhóm này trong toàn mẫu khảo sát

là 7,5 lần, nhưng sự khác biệt tập trung chủ yếu là giữa 3 nhóm dưới với 2 nhóm trên: 1 ;1,9 ; 2,7 ; 3,9 ; 7,5 Mức độ khác biệt giữa 5 nhóm thu nhập ở các địa phương có khácnhau nhưng không đáng kể Dù sao, với mức thu nhập khiêm tốn của 20% nhóm thấp nhất, các khoản phi phí nếu có cho nước, rác, và vệ sinh môi trường, dù không lớn cũng

Trang 35

rất khó khăn đối với những hộ này Đây thật sự là một vấn đề cần phải tính đến khi xây dựng các dự án về nước sạch và vệ sinh môi trường cũng như giá bán sản phẩm.

Mức chi tiêu và cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình được trình bày ở bảng 25 Tính chungcho cả 6 huyện, mức chi tiêu bình quân nhân khẩu/tháng của hộ gia đình là 508 ngànđồng, trong đó chi cho ăn uống chiếm 46,2%, chi cho học hành là 19,9%, chi cho chămsóc sức khỏe là 4,8%, và chi tiền điện là 4,1% Bốn khoản chi cơ bản và quan trọng nhất chiếm đến 75% tổng chi của hộ gia đình Chỉ 1/4 số chi tiêu của hộ là dành cho tất cả các nhu cầu còn lại Điều này cho thấy, mức sống của các hộ dân được khảo sát là khánghèo Tính trung bình, số tiền mà mỗi hộ phải trả cho tiền nước và tiền rác hiện nay chỉ khoản 2 ngàn/tháng và 1 ngàn/tháng tương ứng, chiếm 0,5% cho tiền nước và 0,2% chotiền rác trong tổng chi của hộ gia đình Nếu chỉ tính riêng cho những người có sử dụng dịch vụ nước máy hoặc thu gom rác (sẽ được phân tích ở phần sau) thì tỷ trọng này sẽ tăng lên vì chỉ khoảng 1/3 số hộ là có sử dụng nước máy và số hộ có sử dụng dịch vụ thu gom rác còn ít hơn nhiều Tỷ trọng chi cho tiền nước và tiền rác trong tổng chi hiện nay là cơ sở quan trọng cho các triển vọng mở rộng các dịch vụ trên trong tương lai

II NƯỚC SINH HOẠT

Nguồn nước sử dụng trong sinh hoạt về cơ bản được phân thành 2 nguồn chính: (1) từ các dự án cấp nước sạch tập trung (để cho đơn giản bắt đầu từ đây được gọi là nước máy) và (2) từ các nguồn nước do hộ gia đình tự khai thác như giếng đào, giếng khoan,

và một số loại nước khác Các nguồn nước này được sử dụng chủ yếu cho các mục đích: uống, nấu ăn, tắm rửa, và tưới cây Việc phân loại các mục đích sử dụng khác nhau là cần thiết để đánh giá cơ cấu và tiềm năng sử dụng nước của hộ gia đình trongtương lai

Mặc dù tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước máy ở nông thôn rất khiêm tốn, thực trạng hoạt động và chất lượng dịch vụ nước máy cũng cần được đánh giá để nâng cao và mở rộng các chương trình cung cấp nước sạch nông thôn Do vậy, ở những nơi có hệ thống cung cấp nước máy, các hộ sử dụng nước máy được phỏng vấn sẽ được gia trọng nhằm tạo

ra một dung lượng mẫu đủ lớn để có thể phân tích Do vậy, tỷ lệ những hộ sử dụng nước máy trong mẫu khảo sát không phản ảnh đúng tỷ lệ trên thực tế Trong phân tích thực trạng nguồn nước, ngoài các mô tả chung, các hộ sử dụng và không sử dụng nguồn nước máy sẽ được thực hiện riêng biệt

Kết quả bảng 26 về cơ cấu của các hộ theo tình trạng nguồn nước trong mẫu khảo sát gồm: 449 hộ ở nơi không có nước máy, chiếm 62,4% trong tổng số; 243 hộ ở nơi có sử dụng nước máy, chiếm 33,8%; và 28 hộ ở nơi có đường ống nước máy nhưng không sử dụng, chiếm 3,9% Các tỷ lệ này phân bố không đều giữa các xã và các huyện, tùy thuộc vào tình trạng ở nơi đó có nước máy hay không Một số xã có tỷ lệ hộ sử dụng nước máy cao như xã Vĩnh An và thị trấn Phú Phong của huyện Tây Sơn, thị trấn Bình Định của huyện An Nhơn, xã Phước Thắng của huyện Tuy Phước Trong khi đó, phần lớn các xãcòn lại có tỷ lệ hộ ở nơi không có nước máy rất cao Ngoài ra, có một số hộ có đường ống nước gần nhà nhưng không sử dụng cũng được khảo sát nhằm tìm hiểu lý do của việc không sử dụng này Việc phân thành 3 nhóm cho phép phân tích các vấn đề khác

Trang 36

nhau liên quan đến nhu cầu về nguồn nước, chất lượng dịch vụ, và những hạn chế cần khắc phục

1 Thực trạng nguồn nước sinh hoạt hiện nay của các hộ dân cư

1.1 Thực trạng nguồn nước hiện nay của các hộ dân không dùng nước máy

Bảng 27 trình bày thực trạng nguồn nước uống của các hộ gia đình không dùng nước máy Về cơ bản, nguồn nước uống được sử dụng phổ biến nhất ở nông thôn là giếng đào (chiếm 55,5%), tiếp đến là giếng đóng (28,2%) Một tỷ lệ khá đáng kể sử dụng nước đóng bình (8%) và nước bồn (4,9%), thường là mua từ nơi khác chở về Việc sử dụng nước giếng khoan ở những nơi có thể khoan được trở nên phổ biến trong những năm gần đây khi lưới điện được đưa về nông thôn Tuy nhiên các ý kiến của người dân trong các cuộc thảo luận nhóm cho thấy điều này còn phụ thuộc vào việc nguồn nước ngầm ở nơi đó có bị nhiễm phèn hoặc nhiễm mặn không, có bị vướng đá không, nguồn nước giếng có dồi dào và có chất lượng tốt không? Đây là những nguyên nhân quan trọng giải thích cho sự khác nhau khá lớn về tỷ lệ hộ sử dụng nước giếng khoan giữa các địa phương Hầu như các hộ ở hai xã thuộc huyện Phù Mỹ chỉ sử dụng nước giếng đào.Ngược lại, số hộ sử dụng giếng đóng ở huyện An Nhơn cao nhất và gấp đôi số hộ sử dụng giếng đào (57,1% so với 26,2%) Một số địa phương như xã Vĩnh An, xã Phước Thắng, và thị trấn Bình Định, nơi có hệ thống cấp nước tập trung thì ít sử dụng nước giếng khoan hoặc giếng đào

So với nguồn nước dùng để uống, tỷ lệ các nguồn nước dùng để nấu ăn cũng tương tự, mặc dù tỷ lệ dùng nước đóng bình giảm đáng kể, trong khi tỷ lệ sử dụng nước giếng khoan và giếng đào tăng lên (bảng 28) Lý do của sự khác biệt này là vì nước uống được quan tâm hơn về chất lượng, nhiều khi phải mua, trong khi người dân có thể dùng nguồn nước tại chỗ để nấu ăn

Tương tự như với mục đích để uống và nấu ăn, giếng khoan và giếng đào là hai nguồn nước chủ yếu được dùng để tắm rửa Điểm khác nhau duy nhất là các hộ dân khôngdùng nước phải mua như nước bồn cho việc tắm rửa, mà chỉ dùng nguồn nước tại chỗ(bảng 29) Khuôn mẫu này là tương đồng ở tất cả các địa phương, kể cả các thị trấn, trừ

xã Vĩnh An được sử dụng miễn phí từ các nguồn nước công cộng Điều này cho thấy giới hạn của việc sử dụng nước nếu phát triển các dự án cung cấp nước tập trung ở nông thôn

Đối với nguồn nước dùng để tưới cây của hộ, ngoài giếng khoan và giếng đào, các hộ dân còn sử dụng những nguồn nước khác (bảng 30) Các quan sát và trao đổi với người dân của nhóm nghiên cứu cho thấy các nguồn nước khác phổ biến nhất là từ các ao đàocạn trong vườn, đất trồng hoa màu Việc sử dụng nguồn nước tại chỗ này giúp giảm chi chí về tiền điện khi sử dụng máy bơm từ giếng đóng

Kết quả phân tích đối với 4 mục đích sử dụng nước quan trọng nhất là uống, nấu ăn, tắm rửa, và tưới cây cho thấy: Đối với những hộ không có nước máy hiện nay thì giếng đàovẫn là nguồn nước chính nhưng giếng khoan cũng rất quan trọng và là nguồn nước chính ở một số địa phương Một tỷ lệ nhỏ hộ gia đình dùng nước đóng bình để uống, hoặc nước bồn để uống và nấu ăn, nhưng với mục đích tắm giặt thì hầu hết chỉ sử dụng nước giếng khoan và giếng đào, với mục đích tưới cây thì còn sử dụng đáng kể nguồn

Trang 37

nước ao hồ Điều này cho thấy nhu cầu về nguồn nước là khác nhau cho các mục đích

sử dụng khác nhau và cung cấp các gợi ý cho công tác đánh giá nhu cầu tiềm năng về tiêu thụ nước trong thời gian tới

1.2 Thực trạng nguồn nước hiện nay của các hộ có nước máy

Có sự khác nhau cơ bản về việc sử dụng các nguồn nước cho những mục đích khác nhau của những hộ có nước máy so với những hộ không có nước máy Ngoài ra, việc sử dụng thêm các nguồn nước tại chỗ khác ngoài nước máy là một chỉ báo quan trọng để hiểu được tình trạng sử dụng nước của những hộ này và đánh giá khả năng tiêu thụ nước của hộ đối với các dự án cung cấp nước máy trong tương lai

Kết quả từ bảng 31 cho thấy, đối với mục đích để uống và để nấu ăn thì tương ứng cóđến 96,7% và 99,6% số hộ sử dụng nước máy Điều này là hoàn toàn dễ hiểu, vì nước máy đảm bảo về vệ sinh theo các tiêu chuẩn nước sạch nông thôn của chính phủ Việt Nam Nhìn chung, không có sự khác biệt đáng kể về mức độ sử dụng nước máy giữa cácđịa phương Tuy nhiên, một số ít hộ gia đình có sử dụng nước giếng khoan để uống.Các cuộc thảo luận với người dân cho thấy, một số ít trường hợp nước máy nặng mùiClo hoặc khi gặp sự cố thường xuyên thì người dân sử dụng nước giếng khoan, hoặc giếng khoan có chất lượng nước tốt thì họ vẫn sử dụng nước giếng khoan

Bảng 32 trình bày các nguồn nước dùng để tắm rửa và tưới cây của những hộ trên Điều cần lưu ý là mặc dù có nước máy nhưng chỉ có 53,1% số hộ sử dụng nguồn nước nàycho mục đích tắm rửa, 46,9% số hộ còn lại sử dụng những nguồn nước khác Nước giếng khoan được sử dụng nhiều thứ hai (chiếm 23%) và tiếp đến là giếng đào (8,6%).Mức độ sử dụng các nguồn nước cho các mục đích tắm rửa dao động khá lớn giữa cácđịa phương Các hộ ở huyện Hoài Nhơn, Tuy Phước, Tây Sơn có tỷ lệ sử dụng nước máy cho tắm rửa đạt khoảng 60-70%, trong khi ở huyện An Nhơn, tỷ lệ này là dưới 30%

Tỷ lệ sử dụng các nguồn nước giếng khoan và giếng đào cũng rất khác nhau, tùy thuộc chủ yếu vào việc hộ gia đình có giếng khoan hay giếng đào Ở huyện Tuy Phước, có đến 29,5% số hộ sử dụng giếng khoan, còn ở huyện An Nhơn thì tỷ lệ này thậm chí lên đến 45,6 Thị trấn Bình Định có tỷ lệ sử dụng giếng khoan cho việc tắm rửa cao nhất, chiếm 63% Ngược lại ở xã Nhơn An thì có đến 72% là sử dụng nước giếng đào để tắm rửa

Sự chia sẻ rất đáng kể của các nguồn nước khác ngoài nước máy cho các mục đích ít

ưu tiên hơn so với để uống và nấu ăn như tắm giặt là một tính chất rất quan trọng cần tínhđến khi dự báo mức tiêu thụ nước máy khi phát triển các dự án

Với mục đích tưới cây, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước máy còn thấp hơn, chiếm 32,9%,

dù vẫn là nguồn quan trọng nhất Giếng khoan cũng là một nguồn cung cấp quan trọng, chiếm 24,7% trong tổng số hộ Ngoài ra, nguồn nước khác chiếm đến 28,4%, chủ yếu làcác aođào trong vườn, rất thuận tiện cho nông dân trong việc tưới hoa màu của họ Cácquan sát thực địa và các trao đổi của nhóm nghiên cứu với người dân và cán bộ địa phương cho thấy, đa số người dân chỉ sử dụng nước máy cho các mục đích ăn, uống, vàmột phần cho việc tắm rửa Mặc dù có gần 1/3 số hộ có sử dụng nước máy để tưới cây,

họ chỉ dùng để tưới cây kiểng chứ không phải tưới hoa màu trong vườn, nên thực tế mức tiêu thụ nước cho hoạt động này không cao Gần 1/2 số hộ có nước máy sử dụng đồng thời giếng khoan hoặc giếng đào cho các mục đích ít ưu tiên hơn là tắm rửa và tưới cây Nếu chỉ sử dụng cho mục đích ăn uống thì số lượng nước máy tiêu dùng hàng

Trang 38

tháng của một hộ hiện nay là rất thấp Nhiều ý kiến cho rằng, do việc cung cấp nước máy

ở nông thôn còn khá mới mẻ, khi mà hộ gia đình đã có sẵn giếng khoan và giếng đào rồi, thì họ sẽ tiếp tục sử dụng các nguồn nước này cho đến khi nào không sử dụng được nữa họ mới chuyển sang dùng nước máy Người dân sẽ chuyển sang sử dụng nhiều hơn nước máy sau khi các giếng khoan không còn sử dụng được nữa nếu chi phí phảitrả cho nước máy không quá cao Tuy nhiên, nước giếng đào vốn có tuổi thọ rất lâu sẽ vẫn được sử dụng ít nhất cho việc tưới cây và một phần cho tắm rửa

2 Chất lượng nước phân theo mục đích sử dụng

Chất lượng nguồn nước sử dụng của các hộ dân cư được đánh giá theo hai cách: (1) nhận xét cảm quan đối với 4 tính chất là màu sắc, mùi, vị, độ trong của nước, và (2) nhận xét chung về chất lượng nước theo 4 cấp là tốt, khá, trung bình, và dưới trung bình Cácnhận xét trên được dùng để đánh giá chất lượng các nguồn nước được sử dụng cho 3 mục đích chính là uống, nấu ăn, và tắm rửa

2.1 Chất lượng nước uống

Về mặt cảm quan, trên 80% số hộ cho rằng nguồn nước dùng để uống là không màu,không mùi, không vị, và không đục Tỷ lệ nước không có vị lạ đạt tới 95,8% Tuy nhiên,nguồn nước uống của gần 20% số hộ còn lại là vẫn còn có màu, có mùi, có vị lạ, và bị đục (bảng 33) Mặc dù chỉ là các tính chất cảm quan, nhưng nó phản ánh chất lượng của nguồn nước và cho thấy ít nhất là 1/5 số nguồn nước này không thích hợp cho việc sử dụng của người dân

Các quan sát và trao đổi của nhóm nghiên cứu với người dân ở địa phương cho thấy, nước ở một số nơi có màu vàng nhạt hoặc đậm tùy mức độ nhiễm phèn của từng vùng

cụ thể Mức độ nhiễm phèn tăng cao hơn trong mùa khô và do vậy nước có màu vànghơn Nguồn nước ở một số nơi còn có mùi tanh, thường là do nơi ấy có nhiều bùn Tuynhiên, ở những nơi mà nguồn nước ngầm bị nhiễm các chất thải sản xuất thì nước còn

có mùi hôi Mặc dù tỷ lệ có vị lạ thấp hơn so với các tính chất còn lại, nguồn nước ở một

số nơi bị nhiễm mặn và do vậy có vị mặn và không ngọt như nước bình thường Ngoài

ra, nước giếng đào ở một số nơi còn bị đục, phổ biến nhất là vào mùa khô hạn hoặc ngập lụt, vì nhiều tạp chất trong nguồn nước Mặc dù tỷ lệ đánh giá có khác nhau giữa các địa phương, độ chênh lệch là không lớn, trừ xã Hoài Hương của huyện Hoài Nhơn

và xã Cát Tiến ở huyện Phù Cát Các đánh giá cảm quan về nguồn nước uống ở hai xãnày kém hơn các xã còn lại Gần một nửa số hộ ở Cát Tiến cho rằng nước uống có màu

và có mùi, gần 1/3 cho rằng nước bị đục Hơn 1/4 số hộ ở Hoài Hương cũng nhận xét rằng nước có màu và có mùi Nhiều người dân cho rằng nguồn nước sông, rạch ở HoàiHương bị ô nhiễm bởi ngành chế biến khoai mì từ xã Hoài Hảo và làm ô nhiễm cả nước giếng khi bị ngập lụt Đây là một trong những lý do quan trọng khiến họ đánh giá chất lượng nguồn nước giếng mà họ sử dụng không có chất lượng tốt Trong khi đó, Cát Tiến

là một trong những nơi bị nhiễm phèn nặng, nhiều bùn ở trong lòng đất và thường không

đủ nước sinh hoạt vào mùa khô hạn

Đánh giá của người dân về chất lượng nguồn nước uống được thể hiện ở bảng 34 Nhìnchung, người dân đánh giá khá cao về chất lượng nguồn nước này, với 62,1% tốt, 19,9% khá, 15,6% trung bình, và chỉ có 2,5% cho rằng dưới trung bình Mặc dù các nhận định này mang tính chủ quan, nó cho thấy trong nhận thức của người dân, nguồn nước mà hộ

Trang 39

gia đình đang sử dụng về cơ bản là có thể chấp nhận được, trừ một số nơi không đápứng yêu cầu và cần phải có nguồn thay thế.

Tuy nhiên, chất lượng của nguồn nước được đánh giá khá chênh lệch giữa các địa phương Chất lượng nước uống ở ba huyện phía Bắc là Hoài Nhơn, Phù Mỹ, và Phù Cátthấp hơn so với ba huyện ở phía Nam là Tuy Phước, An Nhơn, và Tây Sơn Một phần của sự khác nhau này là ba huyện sau có tỷ lệ sử dụng nước máy cao hơn và chất lượng nước máy tốt hơn Tuy nhiên, sự đánh giá này cũng phản ánh chất lượng nguồn nước ở một số địa phương còn chưa tốt Chẳng hạn, tỷ lệ đánh giá chất lượng nước tốt

ở xã Cát Tiến của huyện Phù Cát chỉ đạt mức 28,3% Đây là một trong những nơi mànhiều chỉ báo cho thấy có sự khó khăn về nguồn nước

2.2 Chất lượng nước nấu ăn

Đối với nguồn nước dùng để nấu ăn, các đánh giá cảm quan của người dân cũng tương

tự như đối với nguồn nước dùng để uống, nhưng có chất lượng thấp hơn một chút (bảng 35) Các khuôn mẫu này là phù hợp với tỷ lệ các nguồn nước được hộ gia đình sử dụng cho mục đích uống và nấu ăn Đối với mục đích uống, một số hộ dân sử dụng nước đóng bình, trong khi vẫn nấu ăn bằng nước giếng đào hoặc giếng khoan Đây là lý do các tỷ lệ

về không màu, không mùi, không vị, và không đục đều thấp hơn, nhưng không nhiều so với các chỉ tiêu của nước uống

Một cách tương tự, đánh giá chung về chất lượng nước nấu ăn cũng thấp hơn một chút

so với chất lượng nước uống, theo đó tỷ lệ đánh giá chất lượng tốt giảm đi một ít trongkhi chất lượng khá, trung bình và dưới trung bình tăng lên một tương ứng (bảng 36) Nóichung, các địa phương được khảo sát cũng thể hiện xu hướng chung này Theo đó, chất lượng nguồn nước nấu ăn tốt chỉ chiếm hơn 1/5 số hộ ở xã Cát Tiến của huyện Phù Cát

và 1/3 số hộ ở xã Hoài Hương của huyện Hoài Nhơn, hai xã đánh giá chất lượng nước kém nhất trong số 12 xã được khảo sát

2.3 Chất lượng nước tắm rửa

So với nguồn nước uống và nước nấu ăn, các nhận xét cảm quan về nguồn nước dànhcho tắm rửa được đánh giá thấp hơn nhiều (bảng 37) Chỉ trên 70% số hộ cho rằng nguồn nước tắm rửa đạt yêu cầu về màu, mùi, và độ trong, và 90% số hộ đánh giá làkhông có vị lạ Các đánh giá này cũng phù hợp với nguồn nước mà hộ gia đình sử dụng Trong nhận thức của nhiều người dân nông thôn, nguồn nước tắm rửa chưa phải là một

ưu tiên so với nước uống và nấu ăn Do vậy, họ có thể tắm trực tiếp từ nguồn nước sông, giếng đào, giếng khoan, trong số đó có những nguồn nước bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, đục, và nhiều tạp chất lơ lửng trong nước Tình trạng nguồn nước và cách sử dụng nước của các hộ dân ở xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước cũng phản ảnh những tính chất chung của nhiều xã ven biển như Hoài Hương của huyện Hoài Nhơn, Cát Tiến của huyện Phù Cát, và một số nơi khác

Trang 40

Hộp 1: Thực trạng nguồn nước ở xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước

- Nguồn nước nhiễm phèn đến 95% và rất thiếu nước sạch

- 50% số hộ sử dụng nước bình để uống Đa số người già thì đun sôi nước để pha trà,cònlại sử dụng nước giếng khoan có lọc để nấu ăn

- Hầu như giếng khoan nào sâu thì đều bị phèn (khoảng 7m thì đã bị phèn, nếu khoansâu hơn nữa thì lại bị mặn, đụng đá và cũng tốn thêm chi phí)

- Có 2loại phèn: Phèn sắt thì nước màu vàng Thứ 2 là nước bị phèn nhưng khi múc lênmàu vẫn trong và lại có mùi tanh, để lâu thì chuyển màu vàng Tuy nhiên vẫn đủ nước

để sử dụng Giếng đào thì lại bị thiếu nước vào mùa khô nên họ sử dụng thêm giếngkhoan (50% có cả giếng khoan và giếng đào), nếu không có giếng khoan thì đi xin nướchàng xóm

- Tắm giặt sử dụng bằng nước giếng khoan

(TLN h ộ dân thôn Mỹ Phước 2, Phước Lộc, Tuy Phước)

Chất lượng nước tắm rửa thấp hơn so với chất lượng nước uống và nấu ăn Đánh giácủa các hộ về chất lượng của nguồn nước tắm rửa như sau: 51,3% số hộ cho rằng tốt, 21,7% cho rằng khá, 22% cho rằng trung bình, và 5% cho rằng dưới trung bình (bảng 38) Kết quả này cho thấy các mức độ ưu tiên khác nhau cho những mục đích sử dụng nước khác nhau So với các địa phương khác, người dân ở xã Hoài Hương của huyện Hoài Nhơn có đánh giá thấp nhất về chất lượng nước tắm rửa, với chỉ 6,6% tốt, 14,8% khá, 65,6% trung bình, và 13,1% dưới trung bình Đánh giá này phù hợp với ý kiến của người dân nơi đây về việc nguồn nước mặt ở Hoài Hương bị ô nhiễm do nước thải của các hộ sản xuất tinh bột mì ở xã Hoài Hảo khi mưa lớn làm ngập lụt cả giếng nước của vùng này Chất lượng nguồn nước ở Cát Tiến cũng không được người dân đánh giá cao Chất lượng nước tắm rửa không tốt là nguyên nhân quan trọng hàng đầu gây ngứa ngáy, các bệnh ngoài da, và bệnh phụ khoa

Hộp 2: Ảnh hưởng của nguồn nước đến sức khỏe

- Có đến 70% phụ nữ bị mắc bệnh phụ khoa và bị bệnh ghẻ do tắm giặt ngay trên sông(khiđóng đập, nước nhiều)

(TLN nam và n ữ thôn An Điềm, xã Cát Lâm, huyện Phù Cát)

- Sau khi có nguồn nước sạch người dân đánh giá rằng da dẻ của mình hồng hào hơn,quần áo giặt trắng hơn

(TLN h ộ dân thôn Tư Cung, xã Phước Thắng, huyện Tuy Phước)

- Thiếu nước sinh hoạt, người dân ở đây vẫn còn xài nước sông dù biết rằng nước sông

ở đây dơ và ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khoẻ của phụ nữ như bệnh phụ khoa, trẻ viêm mắt, viêm da (do trẻ em lớn một chút là tắm ở sông)

(TLN h ộ dân thôn Lạc Điền, Phước Thắng, huyện Tuy Phước)

Ngày đăng: 24/04/2013, 13:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Danh sách 24 thôn của 12 xã/thị trấn thuộc 6 huyện được chọn để khảo sát - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 2 Danh sách 24 thôn của 12 xã/thị trấn thuộc 6 huyện được chọn để khảo sát (Trang 75)
Bảng 1: Danh sách 12 xã/thị trấn của 6 huyện được chọn để khảo sát - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 1 Danh sách 12 xã/thị trấn của 6 huyện được chọn để khảo sát (Trang 75)
Bảng 4: Số lượng các cuộc thảo luận nhóm phân theo xã và huyện - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 4 Số lượng các cuộc thảo luận nhóm phân theo xã và huyện (Trang 76)
Bảng 7: Tập huấn và truyền thông về NS&VSMT năm 2009 phân theo tính/huyện - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 7 Tập huấn và truyền thông về NS&VSMT năm 2009 phân theo tính/huyện (Trang 78)
Bảng 8: Nguồn nước và tỷ lệ hộ sử dụng năm 2009 phân theo tỉnh/huyện - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 8 Nguồn nước và tỷ lệ hộ sử dụng năm 2009 phân theo tỉnh/huyện (Trang 79)
Bảng 9: Nguồn  nước và tỷ lệ cơ quan sử dụng năm 2009 phân theo huyện - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 9 Nguồn nước và tỷ lệ cơ quan sử dụng năm 2009 phân theo huyện (Trang 80)
Bảng 11: Số cơ quan có nhà tiêu hợp vệ sinh  năm 2009 phân theo huyện - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 11 Số cơ quan có nhà tiêu hợp vệ sinh năm 2009 phân theo huyện (Trang 82)
Bảng 14a: Các công trình cấp nước tập trung ở địa bàn tỉnh Bình Định  2 - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 14a Các công trình cấp nước tập trung ở địa bàn tỉnh Bình Định 2 (Trang 84)
Bảng 14b: Giá trị đầu tư của các công trình cấp nước tập trung ở địa bàn tỉnh - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 14b Giá trị đầu tư của các công trình cấp nước tập trung ở địa bàn tỉnh (Trang 88)
Bảng 14c: Mô hình quản lý của các công trình cấp nước tập trung ở địa bàn tỉnh - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 14c Mô hình quản lý của các công trình cấp nước tập trung ở địa bàn tỉnh (Trang 92)
Bảng 14d: Các công trình cấp nước tập trung ở 6 huyện thuộc vùng dự án - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 14d Các công trình cấp nước tập trung ở 6 huyện thuộc vùng dự án (Trang 96)
Bảng 20: Các đặc điểm giới tính, tuổi và học vấn của người trả lời phân theo xã và huyện - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 20 Các đặc điểm giới tính, tuổi và học vấn của người trả lời phân theo xã và huyện (Trang 101)
Bảng 32: Thực trạng nguồn nước tắm rửa và tưới cây của hộ có nước máy - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 32 Thực trạng nguồn nước tắm rửa và tưới cây của hộ có nước máy (Trang 113)
Bảng  34:  Đánh  giá  về  chất  lượng  nước  uống  của  hộ  gia  đình phân theo xã và huyện - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
ng 34: Đánh giá về chất lượng nước uống của hộ gia đình phân theo xã và huyện (Trang 115)
Bảng 39: Tính chất của giếng đào của hộ gia đình phân theo xã và huyện - tình hình nước và vệ sinh môi trường tại 6 huyện của tỉnh Bình Định
Bảng 39 Tính chất của giếng đào của hộ gia đình phân theo xã và huyện (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w