Nước không thể thiếu đối với cuộc sống của con người và nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành sự sống trên trái đất
Trang 1MỤC LỤC
Chương I: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC SẠCH.
I Tổng quan nguồn nước.
II Tổng quan về nguồn nước dưới đất.
III Tiêu chuẩn chất lượng nước.
IV Tình hình xử lý và phân phối nước sạch tại TP.HCM.
Chương II: LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ.
I Các phương pháp xử lý nước dưới đất.
II Cơ sở lựa chọn công nghệ xử lý.
III Đề xuất dây chuyền công nghệ xử lý.
IV Thuyết minh dây chuyền công nghệ.
Chương III: TÍNH TOÁN THIẾT KẾ CÁC CÔNG TRÌNH ĐƠN VỊ.
I Các thông số tính toán.
II Tính toán các công trình đơn vị.
Tài liệu tham khảo
CHƯƠNG I:TỔNG QUAN VỀ NƯỚC
SẠCH
I.TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NƯỚC:
1.Vai trò của nguồn nước đối với đời sống con người:
Trang 2-Nước không thể thiếu đối với cuộc sống của con người và nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành sự sống trên trái đất.Nước tham gia tích cực vào phản ứng lý, hóa học, sự hình thành và tích lũy chất hữu cơ, là dung môi của rất nhiều chất và đóng vai trò dẫn đường cho các muối đi vào cơ thể con người.
-Trong các khu đô thị và nông thôn, nước sạch dùng để phục vụcho dân sinh.Trong công nghiệp, nông nghiệp…nước được dùng cho nhiều mục đích khác nhau nhằm tạo ra các sản phẩm phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân
2.Tài nguyên nước trong tự nhiên:
Vòng tuần hoàn nước trong tự nhiên
-Tổng lượng nước trên trái đất có khoảng 1.390.000.000
km3,trong đó 97% nước trên Trái Đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông
băng và các mũ băng ở các cực Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dưới dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí
Nước trong các lục địa khoảng 8.600.000 km3,trong đó:
Trang 3-Các sông 40.000 km3
-Các hồ nước ngọt 90.000 km3
-Các hồ nước mặn và biển nội địa 105.000 km3
-Tổng cộng nước mặn trong lục địa 235.000 km3
Độ ẩm của đất:
-Nước dưới độ sâu đến 800m: 4.000.000 km3
-Nước dưới đất ở độ sâu lớn hơn 800m: 4.300.000 km3
Tổng cộng lượng nước ngầm: 8.300.000 km3
Băng ở các cực của trái đất khoảng : 29.000.000 km3
Lượng nước trong các đại dương khoảng: 1.350.000.000 km3
Từ những con số trên cho thấy lượng nước dùng cho sinh hoạt và sản xuất chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ so với lượng nước có trong tự nhiên.Tuy vậytrên thế giới có rất nhiều vùng thiếu nước ngọt
-Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngậpnước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất
-Ở Việt Nam với lượng mưa trung bình năm khoảng 1960 mm phân
bố tương đối đều, nước ta lại có mạng lưới sông ngòi dày đặc nên lưu lượngnước mặt rất phong phú (324km3/năm)
- Nước ngầm là nước xuất hiện ở tầng sâu dưới đất, thường từ 40,60-70 có khi 120-150 và cũng có khi tới 180m
30-Nước ngầm được thẩm thấu từ trên xuống, hoặc cũng có thể từ nơi xa chảy
về Dòng nước ngầm xuất hiện trên một lớp đất hoặc đá hoàn toàn không thấm nước Qua các lớp đá sỏi đã bị hấp phụ hết các tạp chất nên chất lượng nước ngầm sạch,ổn định Nước ngầm có thể có những túi lớn nằm rải rác trong lòng đất, cũng có thể chảy thành mạch Trữ lượng nước ngầm khá lớn
và rất quan trọng cho cấp nước ở thành phố và nông thôn vùng phèn mặn…
Trang 4Nước ngầm được khai thác từ các tầng chứa nước dưới đất chất lượng nước ngầm phụ thuộc vào thành phần khoáng hóa và cấu trúc địa tầng mà nươc ngầm thấm qua Do vậy chảy qua các địa tầng chứa cát và granit thường có tính axit và chứa ít chất khoáng Khi nước ngầm chảy qua địa tầng chứa đá vôi thò nước thường có độ cứng và độ kiềm hydrocacbonat khá cao Ngoài
ra đặc trưng chung của nước ngầm là:
-Độ đục thấp
-Nhiệt độ và thành phần hóa học tương đối ổn định
-Không có oxy nhưng có thể chứa nhiều khí như:CO2,H2S…
-Chứa nhiều khoáng chất hòa tan chủ yếu là:sắt, mangan, canxi, magie
và flo
-Không có sự hiện diện của vi sinh vật
Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc,chỉ có khoảng 2/3(60%) dân số Việt Nam được sử dụng nước sạch theo tiêu chuản chất lượng nước của Liên Hiệp Quốc (Báo cáo diễn biến môi trường nước Việt Nam 2003)
II:TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NƯỚC DƯỚI ĐẤT
1.Gới thiệu về nước dưới đất:
Nước dưới đất là nước chảy trong mạch kín ở dưới đất, là các túi nướcthông nhau hoặc là nước chảy sát với tầng đá mẹ, thường ở độ sâu từ 30- 40m và cũng có khi sâu hơn, có thể tới 180m
Nước dưới đất được hình thành là do nước được thấm từ trên xuống, hoặc từ nơi xa chảy về Dòng nước ngầm xuất hiện trên một lớp đất hoặc đá hoàn toàn không thấm nước Qua các lớp cát sỏi đã bị hấp phụ hết các tạp chất nên lượng nước dưới đất thường sạch và ổn định Nước dưới đất có thể chia thành nước dưới đất tầng mặt và nước dưới đất tầng sâu Đặc điểm chung của nước dưới đất là có khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp tạo thanh các mạch nước dưới đất theo địa hình
Theo không gian phân bố, một lớp nước dưới đất tầng sâu thường có
ba vùng chức năng:
Vùng thu nhận nước
Vùng chuyển tải nước
Vùng khai thác nước có áp
Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường khá
xa, từ vài chục đến vài trăm km Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường
có áp lực Đây là loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định
Nước dưới đất được khai thác từ các tầng chứa nước dưới đất, chất lượng nước dưới đất phụ thuộc vào thành phần khoáng hóa và cấu trúc địa
Trang 5tầng mà nước thấm qua Do vậy nước chảy qua các địa tầng chứa cát và granit thường có tính axit và chứa ít chất khoáng Khi nước dưới đất chảy qua địa tầng chứa đá vôi thì nước thường có độ cứng và độ kiềm
hydrocacbonat khá cao
Thành phần của nước cứng
Các đặc trưng chung của nước ngầm:
- Độ đục thấp
- Nhiệt độ và thành phần hóa học tương đối ổn định
- Không chứa oxy nhưng có thể chứa nhiều khí như: CO2, H2S…
- Chứa nhiều khoáng chất hòa tanchu3 yếu là: sắt, mangan, canxi, magie và flo
- Không có sự hiện diện của vi sinh vật
Ưu và nhược điểm khi sử dụng nước ngầm:
Trang 6- Chù động hơn trong vấn đề cấp nước cho các vùng hẻo lánh, dân
cư thưa, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay bởi vì nước ngầm có thể khai thác với nhiều công suất khác nhau
- Để khai thác nước ngầm có thể sử dụng các thiết bị điện như bơm
li tâm, máy nén khí, bơm nhúng chìm hoặc các thiết bị không cần điện như các loại bơm tay Ngoài ra nước ngầm còn được khai tháctập trung tại các nhà máy nước ngầm, các xí nghiệp, hoặc khai thácphân tán tại các hộ dân cư Đây là ưu điểm nổi bật của nước ngầm trong vấn đề cấp nước nông thôn
- Giá thành xử lí nước ngầm nhìn chung rẻ hơn so với nước mặt
Nhược điểm:
- Một số nguồn nước ngầm ở tầng sâu được hình thành từ hàng trăm năm, hàng nghìn năm và ngày nay nhận được rất ít sự bổ cập từ nước mưa Và tầng nước này nói chung không thể tái tạo hoặc khả năng tái tạo rất hạn chế Do vậy trong tương lai cần phải tìm nguồnnước khác thay thế khi các tầng nước này bị cạn kiệt
- Việc khai thác nước ngầm với qui mô và nhịp điệu quá cao cũng sẽlàm cho hàm lượng muối trong nước tăng lên từ đó dẫn đến việc tăng chi phí cho việc xử lý nước trước khi đưa vào sử dụng
- Khai thác nước ngầm với nhịp điệu cao sẽ làm cho mực nước ngầm hạ thấp xuống, một mặt làm cho quá trình nhiễm mặn tăng lên, mặt khác làm cho nền đất bị võng xuống gây hư hại các công trình xây dựng – một trong các nguyên nhân gây hiện tượng lún sụtđất
- Khai thác nước ngầm một cách bừa bãi cũng dễ dẫn đến tình trang
ô nhiễm nguồn nước ngầm
2 Các thành phần có trong nước ngầm:
Chất lượng nước ngầm nói chung là tốt, ít có trường hợp bị nhiễm bẩn hữu cơ, ở nhiều vùng có thể sử dụng trực tiếp không cần làm sạch Tuy nhiên, nước ngầm thường có tổng khoáng hóa cao, nhiều khi chứa các chất khí hòa tan, có nhiều chất sắt và mangan Hàm lượng sắt dao động từ vài mg/l đến hàng chục mg/l Ở nhiều vùng có nguồn bị nhiễm mặn hoặc có độ cứng cao
Trang 7Một loại nước ngầm tồn tại trong đất( phạm vi từ 1m đến 15m) thực chất là nước mặt, thường được gọi là nước ngầm “ mạch nông” Chất lượng nước ngầm mạch nông ở nhiều vùng khá tốt, nhưng nhiều vùng cũng chỉ khá hơn nước mặt một chúc vì bị ảnh hưởng trực tiếp của nước mặt bị ô nhiễm và thời tiết Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều vùng dân cư nông thôn không chỉ dựa vào loại nguồn nước này để phục vụ cho các nhu cầu đời sống hàng ngày Nước dưới đất nhìn chung là nguồn nước tốt, thuận lợi khi khai thác sử dụngcho các mục đích sinh hoạt, ăn uống.
Chất lượng nước ngầm phụ thuộc vào nguồn gốc của nước ngầm, cấu trúc địa tầng của khu vực và chiều sâu địa tầng nơi khai thác nước Ở các khu vực được bảo vệ tốt, ít có nguồn thải gây nhiễm bẩn, nước ngầm nói chung được bảo vệ về mặt vệ sinh và chất lượng khá ổn định
a Các ion có thể có trong nước ngầm:
Ion canxi Ca²+ :
Nước ngầm có thể chứa Ca2+ với nồng độ cao Trong đất thường chứa nhiều
CO2 do quá trình trao đổi chất của rễ cây và quá trình thủy phân các tạp chất hữu cơ dưới tác động của vi sinh vật Khí CO2 hòa tan trong nước mưa theo phản ứng sau:
CO2 + H2O H2CO3
Axit yếu sẽ thấm sâu xuống đất và hòa tan canxi cacbonat tao ta ion Ca2+
2H2CO3 + 2CaCO3 Ca(HCO3)2 + Ca2+ + 2HCO3
-Ion magie Mg2+:
Nguồn gốc của các ion Mg2+ trong nước ngầm chủ yếu từ các muối magie silicat và CaMg(CO3)2, chúng hòa tan chậm trong nước chứa khí CO2 Sự có mặt Ca2+ và Mg 2+ tạo nên độ cứng của nước
Trang 8Ion NH4+:
Các ion NH4+ có trong nước ngầm có nguồn gốc từ các chất thải rắn và nướcsinh hoạt, nước thải công nghiệp, chấy thải chăn nuôi, phân bón hóa học và quá trình vận động của nitơ
Ion bicacbonat HCO3
-Được tạo ra trong nước nhờ quá trình hòa tan đá vôi khi có mặt khí CO2:CaCO3 + CO2 + H2O Ca2+ + 2HCO3-
4Fe(OH)3 + 8H+ 4Fe2+ + O2 + 10H2O
Khi tiếp xúc với oxy hoặc các tác nhân oxy hóa, ion Fe2+ bị oxy hóa thành ion Fe3+ và kết tủa thành các bông cặn Fe(OH)3 có màu nâu đỏ Vì vậy, khi vừa bơm ra khỏi giếng, nước thường trong và không màu, nhưng sau mật thời gian để lắng trong chậu và cho tiếp xúc với không khí, nước trở nên đụcdần và đáy chậu xuất hiện cặn lắng màu đỏ hung
Trang 9Trong các nguồn nước mặt sắt thường tồn tại thành phần của các hợp chất hữu cơ Nước ngầm trong các giếng sâu có thể chứa sắt ở dạng hóa trị II của các hợp chất sunfat và clorua Nếu trong nước tồn tại đồng thời
đihyđrosunfua (H2S) và sắt thì sẽ tạo ra cặn hòa tan sunfua sắt FeS Khi làm thoáng khử khí CO2 hyđrocacbonat sắt hóa trị II sẽ dễ dàng bị thủy phân và
bị oxy hóa để tạo thành hyđroxit sắt hóa trị III
4Fe2+ + 8HCO3- + O2 + 2H2O 4Fe(OH)3 + 8CO2
Trong qui trình xử lý sắt trong nước ngầm, điều quan trọng là biết được điềukiện để chuyển sắt hóa trị II thành sắt hóa trị III và hyđroxit sắt (II) và
hyđroxit sắt (III) được tạo thành từ trạng thái hòa tan sang cặn lắng
Với hàm lượng sắt cao hơn 0.5 mg/l, nước có mùi tanh khó chịu, làm vàng quần áo khi giặt, làm hỏng sản phẩm của các ngành dệt may, giấy, phim ảnh,
đồ hộp Trên dàn làm nguội, trong các bể chứa, sắt hóa trị II bị oxy hóa sắt hóa trị III, tạo thành bông cặn, các cặn sắt kết tủa có thể làm tắc hoặc giảm khả năng vận chuyển của các ống dẫn nước Đặc biệt là có thể gây nổ nếu nước đó dùng làm nước cấp cho các nồi hơi Một số ngành công nghiệp có yêu cầu nghiêm ngặt đối với hàm lượng sắt như dệt, giấy, sản xuất phim ảnh…
Nước có chứa ion sắt, khi trị số pH < 7.5 là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn sắt phát triển trong các đường ống dẫn, tạo ra cặn lắng gồ ghề bám vào thànhống làm giảm khả năng vận chuyển và tăng sức cản thủy lực của ống
Ion mangan:
Mangan thường tồn tại song song với sắt ở dạng ion hóa trị II trong nước ngầm và dạng keo hữu cơ trong nước mặt Do vậy việc khử mangan thườngđược tiến hành đồng thời với khử sắt Các ion mangan cũng được hòa tan trong nước từ các tầng đất đá ở điều kiện yếm khí như sau:
6MnO2 + 12H+ 6Mn2+ + 3O2 + 6H2O
Mangan II hòa tan khi bị oxy hóa sẽ chuyển dần thành mangan IV ở dạng hyđroxit kết tủa, quá trình oxy hóa diễn ra như sau:
Trang 102Mn(HCO3)2 + O2 + 6H2O 2Mn(OH)4 + 4H+ + 4HCO3
-Khi nước ngầm tiếp xúc với không khí trong nước xuất hiện cặn hyđroxit sắtsớm hơn vì sắt dễ bị oxy hóa hơn mangan và phản ứng oxy hóa sắt bằng oxyhòa tan trong nước xảy ra ở trị số pH thấp hơn so với mangan Để oxy hóa mangan trị số pH cần thiết >9.5 Cặn mangan hóa trị cao là chất xúc tác rất tốt trong quá trình oxy hóa khử mangan cũng như khử sắt Cặn hyđroxit mangan hóa trị IV Mn(OH)4 có màu hung đen
Trong thực tế cặn và chất lắng đọng trong đường ống, trên các công trình là
do các hợp chất sắt và mangan tạo nên, vì vậy tùy thuộc vào tỉ số của chúng,cặn có thể có màu từ hung đỏ đến màu nâu đen Quá trình oxy hóa diễn ra ngay với các chất dễ oxy hóa, do vậy , để oxy hóa hàm lượng mangan xuốngđến 0.2mg/l, pH của nước phải có giá trị xấp xỉ bằng 9
Kết quả thực nghiệm cho thấy khi pH < 8 và không có chất xúc tác thì quá trình oxy hóa mangan (II) thành (IV) diễn ra rất chậm, độ pH tối ưu thường trong khoảng từ 8.5 đến 9.5
Với hàm lượng tương đối thấp, ít khi vượt quá 5mg/l Tuy nhiên, với hàm lượng mangan trong nước lớn hơn 0.1mg/l sẽ gây nhiều nguy hại trong việc
sử dụng giống như trong trường hợp nước chứa sắt với hàm lượng cao
3 Các chất khí hòa tan trong nước ngầm:
Trang 11Thường khi nước có dư lượng oxy sẽ có chất lượng tốt Tuy nhiên, nước ngầm mạch nông phụ thuộc nhiều vào nguồn nước mặt, nếu nước mặt bị ô nhiễm thì nó cũng sẽ bị ảnh hưởng.
PO43- cũng như các vi sinh vật gây bệnh Xử lý nước nhiễm bẩn là công việc khá khó khăn để đạt được các chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt Do vậy các khu vực khai thác nước ngầm cấp cho sinh hoạt và công nghiệp cần phải được bảo vệ cẩn thận, tránh bị nhiễm bẩn nguồnnước Để bảo vệ nguồn nước ngầm cần khoanh vùng khu vực bảo vệ
và quản lý, bố trí các nguồn thải ở khu vực xung quanh
Tóm lại, trong nước ngầm có chứa các cation chủ yếu là Na+, Ca2+,
Mg2+, Fe2+, Mn2+, NH4+ và các anion HCO3-, SO42-, Cl- Trong đó các ion Ca2+, Mg2+ chỉ tồn tại trong nước ngầm khi nước này chảy qua tầng đá vôi Các ion Na+, Cl-, SO42- có trong nước ngầm trong các khu vực gần bờ biển, nước bị nhiễm mặn Ngoài ra, trong nước ngầm có thể có nhiều nitrat do phân bón hóa học của người dân sử dụng quá liều lượng cho phép Thông thường thì nước ngầm chỉ có các ion Fe2+,
Trang 12Mn2+, khí CO2, còn các ion khác đều nằm trong giới hạn cho phép của TCVN đối với nước cấp cho sinh hoạt.
4 Nước ngầm ở Việt Nam:
Việt Nam là quốc gia có nguồn nước dưới đất khá phong phú về trữ lượng và chất lượng Nhưng việc khai thác sử dụng nước dưới đất ở Việt Nam còn thấp so với nước mặt Nước ngầm tồn tại trong các lỗ hỏng và các khe nứt của đất đá được tạo thành trong các giai đoạn trầm tích của đất đá hoặc do sự thẩm thấu thắm của nguồn nước mặ, nước mưa…Nước ngầm có thể tồn tại cách mặt đất vài mét, vài chục hay hàng trăm mét
Do nhu cầu khai thác nước dưới đất để cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản tăng nhanh dễ dẫn đến nguy cơ cạn kiệt và ô nhiễm các nguồn nước dưới đất, làm cho nhiều nguồn nước dưới đất ở ven biển đang dễ bị nhiễm mặn
Đối với các hệ thống cấp nước cộng đồng thì nguồn nước ngầm luôn
là nguồn ưa thích Bởi vì, các nguồn nước mặt hay bị ô nhiễm và lưu lượng khai thác phải phụ thuộc váo biến động theo mùa Nguồn nước ngầm ít chịu tác động bởi con người Chất lượng nước ngầm thường tốt hơn chất lượng nước mặt nhiều Trong nước ngầm hầu như không có các hạt keo và các hạt
lơ lửng, vi trùng và vi sinh vật gây bệnh thấp
Nhiệt độ Tương đối ổn định Thay đổi theo mùa.Chất rắn lơ lửng Rất thấp hầu như không
Khí CO2 hòa tan Có nồng độ cao Rất thấp hoặc bằng 0
Trang 13Khí O2 hòa tan Thường không tồn tại Gần như bảo hòa.
Một số điểm khác nhau giữa nước ngầm và nước mặt:
Các nguồn nước ngầm hầu như không chứa rong tảo, một trong những
nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước Thành phần đáng quan tâm trong nước ngầm là các tạp chất hòa tan do ảnh hưởng của điều kiện địa tầng thời tiết, nắng mưa, các quá trình phong hóa vá sinh hóa trong khu vực Ở những vùng có điều kiện phong hóa tốt, có nhiều chất bẩn và lượng mưa lớn thì lượng nước ngầm dễ bị ô nhiễm bởi các chất khoáng hòa tan, các chất hữu
cơ mùn lâu ngày theo nước mưa thấm vào đất
Ngoài ra nước ngầm cũng có thể bị nhiễm bẩn do tác động của con người Các chất thải của con người và động vật, chất thải sinh hoạt, chất thải hóa học và việc sử dụng phân bón hóa học…tất cả các chất thải đó theo thời gian
sẽ thấm vào nguồn nước, tích tụ dần và làm ô nhiễm nguồn nước ngầm Đã
có không ít nguồn nước ngầm do bị tác động bởi con người đã bị ô nhiễm bởi các hợp chất hữu cơ khó phân hủy, các vi khuẩn gây bệnh đặc biệt nhất
là các hóa chất độc hại như là kim loại nặng, dư lượng thuốc trừ sâu và
không loại trừ bởi các chất phóng xạ
III: QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT :
TT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính
Giới hạn tối đa cho phép Phương pháp thử Mức độ
Trang 14TT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính
Giới hạn tối đa cho phép Phương pháp thử Mức độ
A
Trong khoảng
TCVN 6492:1999 hoặc
SMEWW 4500 - NH 3 C hoặc
A
-TCVN 6195 - 1996 (ISO10359 - 1 - 1992) hoặc SMEWW 4500 - F -
A
14 E coli hoặc Coliform chịu
nhiệt
Vi khuẩn/
TCVN6187 - 1,2:1996 (ISO 9308 - 1,2 - 1990) hoặc SMEWW 9222
A
Bảng giới hạn các chỉ tiêu chất lượng
Trang 15bể mưa, máng lần, đường ống tự chảy)
IV:TÌNH HÌNH NƯỚC SẠCH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:
Hiện tại thành phố hồ chí minh có các hình thức sử dụng nước sau đây:
- Sử dụng nước qua đồng hồ nước: chiếm đa số trong nội thành (80% trong nội thanh cũ và 56% trong nội thành mới) Tuy nhiên ở khu vực ngoại
vi tỉ lệ hộ sử dụng đồng nước của công ty cấp nước chỉ chiếm 21% bởi vì mạng lưới cấp nước kém hoặc không có mạng lưới cấp nước Ngoài ra còn tồn tại tình trạng nhiều hộ sử dụng chung một đồng hồ nước do chưa cấp được đồng hồ riêng
- Sử dụng nước từ giếng tư nhân hoặc đổi nước Đây là loại hình sử dụng nước khi hệ thống phân phối nước không tới được các khu vực này hoặc có tới nhưng không cấp đủ nước tiêu dùng Giếng tư nhân là loại hình cấp nước chính ở nội thành mới và vùng ngoại vi (chiếm từ 34 – 45 %) Đổi nước (hoặc dùng nước của láng giềng) là giải pháp chủ yếu trong khu vực nội thành cũ nơi mà điều kiện nhà cửa không thuận lợi cho việc khoan
giếng Tỷ lệ này khá cao trong vùng ngoại vi (34%), đặc biệt là ở Bình Chánh và Nhà Bè (nơi mà chất lượng nước ngầm xấu)
Nhìn chung hiện trạng phân phối nước của thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều tồn tại sau:
- Không phân phối đủ lượng nước cần cho các đối tượng tiêu thụ
- Ý thức sử dụng nước của người tiêu dùng kém, nhiều vùng cuối mạng nhân dân tự đực ống xây bể ngầm, lắp máy bơm hút trực tiếp từ đườngống gây tụt áp cho toàn mạng
- Phân bố không đầu dẫn chênh lệch lớn trong tiêu thụ
- Khả năng cung cấp nước của các nhà máy không đáp ứng nhu cầu dùng nước cho người dân
Trang 16-Tỷ lệ thất thoát lớn (1985: lượng nước thất thoát chiếm 29%, 1993 –
1994 là 40%, hiện tại lượng nước thất thoát giảm còn khoảng 31,5%)
-Phần lớn hệ thống phân phối quá cũ do tuổi thọ từ 50 năm trở lên, chưa được cải tạo và thay thế
→ Tóm lại tình hình cung cấp nước hiên tại là cung không đủ cầu Hệ thống
cấp nước quá cũ và quá tải, hệ thống mạng phân phối chưa đủ để đưa nước tới các khu vực mới phát triển Vì vậy phải cần thiết cải tạo và mơ rộng hệ thống cấp nước.
CHƯƠNG II: LỰA CHỌN CÔNG
cung cấp nước có chất lượng tốt,không có chứa các chất vẩn đục gây ra mùi, màu,vị của nước
cung cấp đầy đủ các thành phần khoáng chất cần thiết cho việc bảo vệ sức khỏe của con người
nước sau khi xử lý phải thỏa mãn tiêu chuẩn "tiêu chuẩn vệ sinhđối với chất lượng nước cấp cho ăn uống và sinh hoạt" (bộ y tế
số 1329/2002/BYT/QĐ ngày 18/4/2002)
Trang 17A/ phương pháp xử lý nước
phương pháp cơ học:
nước từ nguồn được bơm cấp 1 phun qua giàn mưa thành nhưng tia nhỏ để oxy của không khí tác dụng vơi Fe2+ thành Fe3+ Nước sau khi qua giàn mưa được dẫn đi đến bể lắng rôi đến bể lọc chứa các vật liệu lọc (than hoạt tính, cát,đá…)phương pháp hóa học:
là phương pháp dung hóa chất ,các phản ứng hóa học trong quá trình xư lí nước
nếu nước có độ đục cao chứng tỏ có nhiều tạp chất hữu cơ , vi sinh vật phù du thì dung phèn và chất tạo keo tụ
nước chứa nhiều ion kim loại (có độ cứng lớn) thì xử lí bằng vôi hoặc xô đa hoặc dung phương pháp trao đỏi ion
nước chứa nhiều khí hòa tan H2S thì xử lí bằng phương pháp oxy hóa ,clo hóa,phèn
Nước chứa nhiều sắt thì oxy hóa Fe2+ bằng oxy không khí (làmthoáng giàn mưa, thùng quạt gió) hoặc dung các chất oxy hóa
đẻ xử lý…
Nước chứa nhiều mangan tương tự như xử lí sắ đó là khử mangan bằng cách làm thoáng hay dung các chất oxy hóa mạnhnhư clo,ozon, kali penmanganat,để oxy hóa Mn2+ thành Mn4+Nước chứa nhiều vi khuẩn thì phải khử trùng bằng clo,ozon Phương pháp vi sinh:
Trên thế giới hiện nay phương pháp xử lí bằng vi sinh đang được nghiên cứu và có 1 số nơi đã áp dụng trong phương pháp này 1 số loại vi sinh đã được nuôi cấy và đưa vào quá trình xử lí nước với liều lượng nhỏ nhưng hiệu quả cao Tuy nhiên cho đến nay những kết quả nghiên cứu của phương pháp này chưa rộng rãi