1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giáo trình luật ngân hàng việt nam phần 1 TS võ đình toàn

110 554 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 650,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với thuộc tính chung của pháp luật là được bảo đảm thực hiện bằng Nhà nước nên pháp luật ngân hàng có chức năng quan trọng đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống ngân hàng, tổ chức tí

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Đại học huế trung tâm đào tạo từ xa

Chủ biên: TS. Võ đình toàn

Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam

Nhà xuất bản Công an nhân dân

Hà nội - 2006

Trang 2

MỤC LỤC

Lời giới thiệu 6

Chương I: Khái niệm chung về ngân hàng và pháp luật ngân hàng 7

I Khái niệm hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng 7

1 Khái niệm hoạt động ngân hàng 7

2 Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng 8

II Khái niệm và nguồn quy phạm pháp luật ngân hàng 10

1 Khái niệm pháp luật ngân hàng 10

2 Nguồn pháp luật ngân hàng 11

Câu hỏi hướng dẫn học tập 13

Chương II: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 14

I Vị trí, vai trò và chức năng của Ngân hàng Nhà nước 14

1 Vị trí pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 14

2 Chức năng của Ngân hàng Nhà nước 16

II Thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước 17

1 Những thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước 17

2 Thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng ngân hàng trung ương 18

III tổ chức và điều hành Ngân hàng Nhà nước 19

1 Tổ chức hệ thống Ngân hàng Nhà nước 19

2 Lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước 21

IV Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước 22

1 Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia 22

2 Hoạt động phát hành tiền 24

3 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước 25

4 Hoạt động thanh toán và ngân quỹ 26

5 Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối 27

6 Hoạt động thanh tra ngân hàng 27

Câu hỏi hướng dẫn học tập 29

Chương iii: Tổ chức tín dụng 30

I Khái quát chung về các tổ chức tín dụng Việt Nam 30

1 Khái niệm tổ chức tín dụng 30

2 Chức năng của tổ chức tín dụng 34

3 Phân loại các tổ chức tín dụng 36

II Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng 41

III Thành lập, cấp giấy phép hoạt động, kiểm soát đặc biệt, giải thể, phá sản, thanh lý tổ chức tín dụng 42

1 Quy chế thành lập và cấp giấy phép hoạt động đối với tổ chức tín dụng 42

2 Quy chế kiểm soát đặc biệt 47

Trang 3

3 Phá sản, giải thể tổ chức tín dụng 50

IV cơ cấu tổ chức, lãnh đạo và điều hành tổ chức tín dụng 51

1 Cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng 51

2 Lãnh đạo và điều hành tổ chức tín dụng 52

V Quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức tín dụng 53

1 Các quyền cơ bản của tổ chức tín dụng 53

2 Các nghĩa vụ cơ bản của tổ chức tín dụng 58

Câu hỏi hướng dẫn học tập 62

Chương IV: Cho vay 63

I Khái niệm về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng 63

II Phân loại cho vay 67

III Nguyên tắc cho vay 68

1 Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích 68

2 Nguyên tắc hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng 68

IV Hợp đồng tín dụng 69

1 Khái niệm hợp đồng tín dụng 69

2 Bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng 70

3 Trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng tín dụng 71

4 Nội dung của hợp đồng tín dụng 73

5 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng tín dụng 73

6 Hiệu lực của hợp đồng tín dụng 75

V Bảo đảm tiền vay và các biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng 76 1 Khái niệm bảo đảm tiền vay 76

2 Các biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng 78

Câu hỏi hướng dẫn học tập 87

Chương V: Bảo lãnh ngân hàng 88

I Khái niệm bảo lãnh ngân hàng, các loại bảo lãnh ngân hàng 88

1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng 88

2 Các loại bảo lãnh ngân hàng 91

II Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng 96

1 Chủ thể quan hệ pháp luật bảo lãnh ngân hàng 96

2 Phạm vi bảo lãnh ngân hàng 99

3 Hợp đồng bảo lãnh, cam kết bảo lãnh 100

4 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật bảo lãnh ngân hàng .104

5 Quy trình giao dịch bảo lãnh ngân hàng 106

Câu hỏi hướng dẫn học tập 110

Trang 4

Chương vI: Chiết khấu giấy tờ có giá 111

I Khái niệm và đặc điểm của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá 111

1 Khái niệm giấy tờ có giá 111

2 Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá 112

II Pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá 113

1 Chủ thể quan hệ chiết khấu 113

2 Điều kiện giấy tờ có giá được chiết khấu 115

3 Phương thức chiết khấu giấy tờ có giá 116

4 Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá 117

5 Thủ tục chiết khấu giấy tờ có giá 119

6 Quyền truy đòi của tổ chức tín dụng trong trường hợp giấy tờ có giá không được thanh toán khi đến hạn 120

Câu hỏi hướng dẫn học tập 122

Chương Vii: Cho thuê tài chính 123

I Khái niệm cho thuê tài chính và pháp luật cho thuê tài chính 123

1 Khái niệm, bản chất cho thuê tài chính, các phương thức cho thuê tài chính 123

2 Lợi ích của hoạt động cho thuê tài chính 127

3 Pháp luật về cho thuê tài chính 128

II Địa vị pháp lý của công ty cho thuê tài chính 129

1 Khái niệm và phân loại công ty cho thuê tài chính 129

2 Cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty cho thuê tài chính 131

3 Cơ cấu tổ chức, quản trị và điều hành công ty cho thuê tài chính 132

4 Hoạt động của công ty cho thuê tài chính 135

III Hợp đồng cho thuê tài chính 136

1 Khái niệm hợp đồng cho thuê tài chính 136

2 Ký kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính 137

3 Nội dung các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cho thuê tài chính 140

Câu hỏi hướng dẫn học tập 144

Chương Viii: Dịch vụ trung gian thanh toán 145

I Tổng quan về dịch vụ thanh toán 145

1 Khái niệm về trung gian thanh toán và dịch vụ thanh toán 145

2 Vai trò của dịch vụ thanh toán 146

II mở và sử dụng tài khoản thanh toán 147

1 Chế độ mở tài khoản 147

2 Chế độ sử dụng tài khoản thanh toán 149

III Các hình thức thanh toán qua trung gian thanh toán 150

1 Hình thức thanh toán thông qua séc 150

Trang 5

2 Hình thức thanh toán thông qua uỷ nhiệm chi - chuyển tiền 153

3 Hình thức thanh toán thông qua uỷ nhiệm thu 154

4 Hình thức thanh toán thông qua thư tín dụng 156

5 Hình thức thanh toán thông qua thẻ ngân hàng 158

Câu hỏi hướng dẫn học tập 160

Chương ix: Ngoại hối 161

I Khái niệm ngoại hối và pháp luật về ngoại hối 161

1 Khái niệm ngoại hối và hoạt động ngoại hối 161

2 Khái niệm pháp luật về ngoại hối 165

II Pháp luật quy định thẩm quyền quản lý nhà nước về ngoại hối 168

1 Thẩm quyền quản lý nhà nước về ngoại hối 168

2 Đối tượng quản lý nhà nước về ngoại hối 169

III Pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động ngoại hối 171

1 Quyền và nghĩa vụ của người cư trú 171

2 Quyền và nghĩa vụ của người không cư trú 176

3 Hoạt động ngoại hối của tổ chức tín dụng 178

IV Pháp luật điều chỉnh các giao dịch ngoại hối 181

1 Pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán ngoại hối 181

2 Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư bằng ngoại hối 184

3 Giao dịch vay và cho vay ngoại hối 186

Câu hỏi hướng dẫn học tập 189

Trang 6

Lời giới thiệu

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước ta đã sớm quan tâm xây dựng chính sách tiền tệ - ngân hàng phục vụ kháng chiến và kiến quốc Ngày 06 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đây là văn bản pháp luật đặt cơ

sở pháp lý đầu tiên cho việc xây dựng hệ thống ngân hàng của chế độ mới

Hơn nửa thế kỷ qua, Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện pháp luật

về ngân hàng, hình thành trong hệ thống pháp luật bộ phận pháp luật điều chỉnh các quan hệ quản lý nhà nước về ngân hàng, quan hệ kinh doanh ngân hàng và quy định

địa vị pháp lý của các ngân hàng, các tổ chức tín dụng Bộ phận pháp luật này ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Do đó, người hành nghề luật cần phải

Giáo trình này do TS Võ Đình Toàn làm chủ biên và các tác giả tham gia biên soạn là một số giảng viên, nghiên cứu viên, nhà khoa học của Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội, Viện Nhà nước và Pháp luật, Văn phòng Chính phủ Mặc dù được biên soạn nghiêm túc nhưng giáo trình không thể tránh khỏi hạn chế, thiếu sót, tập thể tác giả mong nhận được sự góp ý của bạn đọc để giáo trình ngày càng được hoàn thiện

Trung tâm Đào tạo từ xa

Đại học Huế

Trang 7

Chương I Khái niệm chung về ngân hàng

và pháp luật ngân hàng

i Khái niệm hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng

1 Khái niệm hoạt động ngân hàng

Ngày nay, do sự phát triển đa dạng của hệ thống ngân hàng và của các tổ chức tín dụng nên khái niệm hoạt động ngân hàng được dùng để chỉ hoạt động của nhiều chủ thể như ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng vv Mặc dù phạm vi và mục đích hoạt động ngân hàng có sự khác nhau nhưng các hành vi được xem là hoạt động ngân hàng đều là hành vi kinh tế có đối tượng là tiền tệ

Tiền tệ là đối tượng của hoạt động ngân hàng được xem là căn cứ để phân biệt hoạt động ngân hàng với các hoạt động khác trong nền kinh tế Việc xem xét hai ví dụ sau sẽ làm rõ điều này:

về Chênh lệch giữa doanh thu bán vải và chi phí là lãi của nhà máy

Trong cả hai trường hợp trên, mục đích của nhà máy dệt và của ngân hàng đều nhằm thu lợi nhuận nhưng đối tượng giao dịch hoàn toàn khác nhau Sự khác nhau thể hiện ở chỗ: để thu được lợi nhuận, nhà máy dệt phải ứng tiền vốn ra để mua nguyên liệu, vật liệu, sản xuất ra vải và thu tiền về Như vậy đối tượng tạo ra lợi nhuận của nhà máy là hàng hoá Khác với nhà máy dệt, đối tượng kinh doanh của ngân hàng luôn luôn

là tiền tệ

Trang 8

Tính nghề nghiệp là cơ sở để xem một hành vi có đối tượng là tiền tệ được xem là hoạt động ngân hàng Trong đời sống xã hội, có nhiều loại hành vi có đối tượng là tiền

tệ nhưng không được xem là hoạt động ngân hàng vì không mang tính nghề nghiệp Ví dụ: một cá nhân cho một người khác vay tiền

Phổ biến ở các nước trong các văn bản pháp luật, không có định nghĩa tổng quát về hoạt động ngân hàng mà thường liệt kê các giao dịch được xem là hoạt động ngân hàng

Ví dụ: Luật ngành tín dụng Cộng hoà liên bang Đức năm 1992 quy định 9 loại nghiệp vụ ngân hàng và còn dự liệu quyền quy định thế nào là hoạt động ngân hàng cho Bộ trưởng Bộ Tài chính Liên bang

Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 20/2004/QH11 ngày 15/6/2004) quy định: hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền gửi này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán

Theo quy định trên đây thì hoạt động ngân hàng gắn với mục đích kinh doanh nên các hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (với tư cách là ngân hàng trung ương) được xem là biệt lệ Bởi vì, với nhiệm vụ và quyền hạn được pháp luật quy định, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoạt động quản lý nhà nước và các hoạt

động ngân hàng nhằm mục tiêu thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

2 Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng

2.1 Ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương là tổ chức thực hiện các hoạt động tiền tệ, dịch vụ ngân hàng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Ngày nay, ở các nước, tuỳ thuộc vào cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước và quan

điểm của các nhà lập pháp mà ngân hàng trung ương được tổ chức theo các dạng chủ yếu sau:

Thứ nhất, mô hình ngân hàng trung ương là cơ quan công quyền Theo dạng này, ngân hàng trung ương có vị trí pháp lý và nhiệm vụ, quyền hạn của một cơ quan nhà nước

Ví dụ: ở Malaysia, ngân hàng trung ương là cơ quan nằm trong cơ cấu tổ chức của

Bộ Tài chính ở Việt Nam, Trung Quốc, ngân hàng trung ương là cơ quan của Chính phủ

Thứ hai, mô hình ngân hàng trung ương không nằm trong bộ máy nhà nước Một

số quốc gia, pháp luật không quy định vị trí pháp lý của ngân hàng trung ương trong

bộ máy nhà nước Tuy vậy, ngân hàng trung ương không hoàn toàn độc lập với Nhà nước mà các hoạt động chủ yếu của nó vẫn nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

do Nhà nước đặt ra

Trang 9

ở mỗi quốc gia, việc sử dụng tiền tệ và sự ổn định của nó có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Do đó, để phát huy tính tích cực và hạn chế những

ảnh hưởng tiêu cực của tiền tệ đối với nền kinh tế và xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải hoạch định quan điểm chính thức về những phương hướng và biện pháp sử dụng tiền

tệ Hệ thống quan điểm chính thức của một nhà nước về phương hướng và biện pháp

sử dụng tiền tệ gọi là chính sách tiền tệ quốc gia

Hình thức sở hữu ngân hàng trung ương hiện nay được áp dụng phổ biến ở các nước là sở hữu nhà nước thông qua việc thành lập hoặc quốc hữu hoá Cá biệt ở một số nước, ngân hàng trung ương được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần như Hoa

Kỳ, Hungari v.v Mặc dù được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần nhưng ngân hàng trung ương loại này vẫn bị chi phối bởi sự điều khiển của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và chịu sự phê chuẩn của Nhà nước đối với người quản trị và điều hành

Ngoài dấu hiệu thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phát hành tiền cũng là một dấu hiệu để nhận dạng ngân hàng trung ương Tuy vậy, cá biệt ở một số nước, do sử dụng đồng tiền chung khu vực làm phương tiện thanh toán chính thức của quốc gia hoặc việc phát hành giao cho Bộ Tài chính thực hiện nên ngân hàng trung ương không

có chức năng phát hành tiền

2.2 Tổ chức tín dụng

Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng Điều

20 Luật Các tổ chức tín dụng có giải thích: tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành

lập và hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng, với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền gửi này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán

Tổ chức tín dụng được phân chia thành hai loại là ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động

ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một

số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì sự khác biệt cơ bản giữa tổ chức tín dụng là ngân hàng với tổ chức tín dụng phi ngân hàng là phạm vi được phép thực hiện

Trang 10

hoạt động kinh doanh Ngân hàng không bị hạn chế thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, còn tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không được làm dịch vụ thanh toán

Do bản chất của tổ chức tín dụng là doanh nghiệp nên mặc dù ngân hàng trung

ương ở nước ta (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) có các hoạt động ngân hàng như cho vay, chiết khấu, bảo lãnh nhưng không nhằm mục tiêu lợi nhuận nên không phải là

tổ chức thuộc hệ thống các tổ chức tín dụng

II Khái niệm và nguồn quy phạm pháp luật ngân hàng

1 Khái niệm pháp luật ngân hàng

Hoạt động kinh doanh ngân hàng có đối tượng kinh doanh là tiền tệ, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao và phản ứng dây chuyền của các hậu quả

Ví dụ: Một ngân hàng thương mại cho các khách hàng kinh doanh vay tiền Các khách hàng gặp rủi ro đã không trả được nợ cho ngân hàng Do đó, ngân hàng không

đủ tiền để trả cho các tổ chức, cá nhân cho ngân hàng này vay tiền

Mặt khác, với vai trò trung gian, các tổ chức tín dụng có vai trò rất quan trọng trong việc tập trung vốn cho nền kinh tế

Thực tiễn phát triển ở các quốc gia trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại

đã chỉ ra rằng, tính tích cực và tiêu cực có thể phát sinh từ hoạt động của các tổ chức tín dụng đã đặt ra yêu cầu là Nhà nước phải thực hiện việc quản lý nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh tổ chức, hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng và các hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế

Với thuộc tính chung của pháp luật là được bảo đảm thực hiện bằng Nhà nước nên pháp luật ngân hàng có chức năng quan trọng đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, pháp luật là công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước

đối với tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng và các hoạt động ngân hàng của các

tổ chức khác Để thực hiện việc quản lý này, Nhà nước tiến hành nhiều loại hoạt động quản lý nhưng pháp luật đóng vai trò là cơ sở cho các hoạt động đó Ví dụ: trên cơ sở pháp luật, Ngân hàng Nhà nước tiến hành các hoạt động cấp giấy phép kinh doanh ngân hàng cho các tổ chức tín dụng

Thứ hai, pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ tổ chức và hoạt động của tổ

chức tín dụng, các tổ chức khác được phép hoạt động ngân hàng

Về phương diện tổ chức, pháp luật quy định các loại hình tổ chức tín dụng và các tổ chức khác được phép hoạt động ngân hàng Việc Nhà nước quy định loại chủ thể được hoạt động ngân hàng là rất cần thiết Bởi vì, hoạt động ngân hàng là loại hoạt động mang tính nghiệp vụ cao nên không phải bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cũng có thể hoạt

động hiệu quả Ngoài các quy định về mô hình tổ chức hoạt động ngân hàng, pháp luật

Trang 11

còn điều chỉnh các quan hệ tổ chức của tổ chức tín dụng Ví dụ: pháp luật quy định cơ cấu bộ máy của từng loại hình ngân hàng, tổ chức tín dụng v.v

Ngoài các quy định về tổ chức, pháp luật còn đóng vai trò là công cụ để Nhà nước

điều chỉnh các hoạt động ngân hàng nhằm bảo đảm để chúng phát sinh, vận động theo những trật tự phù hợp với lợi ích minh bạch và công bằng giữa các bên liên quan và ý chí của Nhà nước Ví dụ: pháp luật quy dịnh các điều kiện để tổ chức tín dụng thực hiện cấp tín dụng dưới hình thức cho vay

Các hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng nhiều mặt đối với nền kinh tế và đời sống xã hội Do đó, Nhà nước áp dụng nhiều biện pháp bảo đảm an toàn cho các hoạt động ngân hàng trong đó có việc sử dụng pháp luật Chính vì vậy, đảm bảo an toàn cho hoạt

động ngân hàng là một nhiệm vụ điều chỉnh của pháp luật

Tập hợp các quy phạm pháp luật có chức năng và nhiệm vụ điều chỉnh như trên tạo thành pháp luật ngân hàng

Trong nền kinh tế, ngoài các hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, hoạt động ngân hàng còn có thể do các tổ chức không phải tổ chức tín dụng thực hiện Để đảm bảo tính bình đẳng trong hoạt động ngân hàng, hoạt động ngân hàng của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng cũng thuộc phạm vi áp dụng của pháp luật ngân hàng

Tóm lại, pháp luật ngân hàng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước tổ chức và quản lý hoạt động ngân hàng, quy định địa vị pháp lý của hệ thống tổ chức tín dụng, đồng thời điều chỉnh hoạt

động ngân hàng của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng nhưng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng

2 Nguồn pháp luật ngân hàng

Các quy phạm pháp luật ngân hàng được Nhà nước ban hành ở các loại văn bản quy phạm pháp luật sau:

- Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 (sửa đổi);

- Các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước;

- Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997, được sửa đổi, bổ sung năm 2003;

- Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, được sửa đổi, bổ sung năm 2004;

- Các văn bản pháp luật do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Ví dụ: Pháp lệnh thương phiếu

- Các văn bản pháp luật do Chính phủ ban hành Ví dụ: Nghị định

159/2003/NĐ-CP về cung ứng và sử dụng séc

- Các văn bản pháp luật do Ngân hàng Nhà nước ban hành, các văn bản liên bộ về hoạt động ngân hàng Ví dụ: Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

Trang 12

Các quy phạm pháp luật tác động lên các quan hệ xã hội bằng hai phương pháp

điều chỉnh:

Thứ nhất, các quy phạm pháp luật ngân hàng trao cho các bên quan hệ bình đẳng

trong việc thoả thuận về các quyền và nghĩa vụ trong giới hạn của pháp luật Cách thức tác động này áp dụng đối với các quan hệ kinh doanh ngân hàng và hoạt động của tổ chức tín dụng không mang tính quản lý nhà nước ở các nước phân chia hệ thống pháp luật thành "luật công" và "luật tư" thì bộ phận pháp luật này được xem như thuộc về "luật tư" Cũng cần lưu ý rằng, với tư cách là một chủ thể kinh doanh, tổ chức tín dụng còn chịu sự điều chỉnh của các bộ phận pháp luật khác có liên quan như pháp luật doanh nghiệp, pháp luật dân sự, pháp luật cạnh tranh

Thứ hai, các quy phạm pháp luật ngân hàng bắt buộc các bên tham gia quan hệ xã

hội trong lĩnh vực ngân hàng phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định, nếu xử sự trái với yêu cầu của Nhà nước thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền (một bên tham gia quan hệ) có quyền áp dụng chế tài theo quy định của pháp luật Phương thức tác động này của pháp luật gọi là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng Do

đó, bộ phận quy phạm pháp luật này được xem là "luật công" ở các nước có sự phân chia

hệ thống pháp luật thành "luật công" và "luật tư"

Trang 14

Chương II Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

I Vị trí, vai trò và chức năng của Ngân hàng Nhà nước

1 Vị trí pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Tiền tệ và ngân hàng là những phạm trù kinh tế tồn tại khách quan, gắn bó mật thiết với nhau Các chính sách tiền tệ được thực hiện trong nền kinh tế không thể tách rời vai trò, vị trí của các ngân hàng trong hoạt động phát hành tiền, điều hòa lưu thông tiền tệ, kinh doanh tín dụng và các dịch vụ tiền tệ khác

Tuy nhiên, ở các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế một quốc gia, vị trí, vai trò

và chức năng hệ thống ngân hàng cũng được nhận thức và vận dụng khác nhau

Trên thế giới cho đến nay, ở hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường đều tổ chức hệ thống ngân hàng thành hai nhóm (hai hệ thống): nhóm thứ nhất là ngân hàng trung ương, thực hiện chức năng phát hành tiền, thực hiện chính sách tiền tệ, cung cấp các phương tiện thanh toán; nhóm thứ hai là các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng độc lập khác, thực chất là các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ ngân hàng

ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng trước đổi mới (1986) là hệ thống ngân hàng một cấp Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân thống nhất toàn ngành Theo mô hình này, ngân hàng trung ương vừa là cơ quan quản lý nhà nước vừa là tổ chức có chức năng kinh doanh tiền tệ Các ngân hàng chuyên doanh là các tổ chức kinh doanh tín dụng nhưng không phải là các tổ chức độc lập về mặt pháp lý (không có tư cách pháp nhân) và về mặt hạch toán, chịu sự chỉ đạo bằng các biện pháp hành chính từ phía Ngân hàng trung ương Do đó, xét về bản chất, hệ thống ngân hàng này không có sự tách biệt chức năng ngân hàng trung ương với chức năng kinh doanh Cũng chính vì vậy, thời kỳ này, ở Việt Nam, không có ngân hàng thương mại theo đúng nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ

Sự nghiệp đổi mới nền kinh tế đất nước đặt ra yêu cầu tổ chức và hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng phải được đổi mới phù hợp với những điều kiện mới của nền kinh tế Nghị định 65-HĐBT ngày 28/5/1986 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Ngân hàng Nhà nước là văn bản pháp luật đầu tiên, đặt nền móng cho việc cải tổ hệ thống ngân hàng Tiếp đó

Trang 15

là sự ra đời hai pháp lệnh về ngân hàng vào năm 1990 (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã tạo lập cơ

sở để cải tổ hệ thống ngân hàng một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp mà nội dung cơ bản là tách chức năng quản lý nhà nước, chức năng ngân hàng trung ương với chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Sau hơn 7 năm thực hiện hai pháp lệnh về ngân hàng ban hành năm 1990, năm 1997 Nhà nước ta ban hành hai đạo luật về ngân hàng là Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng

Sự phân định rõ chức năng của hai hệ thống ngân hàng vừa phát huy được hiệu quả quản lý nhà nước, thực hiện các chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng trung

ương, vừa đảm bảo tính độc lập và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại, tránh khỏi sự điều hành mang tính chất hành chính trực tiếp của Ngân hàng trung ương

Đến nay, sau một thời gian thực hiện hai đạo luật về ngân hàng ban hành năm

1997, để khắc phục những bất cập chưa phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, Nhà nước ban hành Luật sửa đổi một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2003) và Luật sửa đổi một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (2004)

Điều 1 Luật Ngân hàng Nhà nước quy định: "Ngân hàng Nhà nước là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Nội dung điều luật trên đã xác định một cách khái quát vị trí pháp lý của Ngân

hàng Nhà nước với tư cách là cơ quan của Chính phủ, có vị trí ngang Bộ Người đứng

đầu Ngân hàng Nhà nước (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) là thành viên của Chính phủ Tuy nhiên, không giống như các Bộ khác chỉ với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước, thực hiện nhiệm vụ thông qua những quyền hạn hoàn toàn có tính hành chính, Ngân hàng Nhà nước vừa là cơ quan quản lý nhà nước lại vừa có tư cách Ngân hàng Trung ương, nên mặc dù có vị trí pháp lý như các Bộ nhưng nhiệm vụ quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước có nhiều điểm khác biệt

Trên thế giới có nhiều mô hình tổ chức ngân hàng trung ương, hoặc là một tổ chức

độc lập, hoặc nằm trong Chính phủ Do quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng, các ngân hàng trung ương thường thuộc sở hữu nhà nước (do Nhà nước thành lập hoặc Nhà nước quốc hữu hoá), cá biệt có những trường hợp ngân hàng trung ương tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần mà Nhà nước là cổ đông chính (như Ngân hàng trung

ương Hoa Kỳ, được gọi là Cục dự trữ Liên bang Mỹ - FED) Tuy nhiên, cho dù ngân hàng trung ương là cơ quan của Chính phủ hay một tổ chức độc lập với Chính phủ thì ngân hàng trung ương vẫn luôn nắm giữ vị trí là cơ quan thực hiện chính sách vĩ mô

về tiền tệ nhằm quản lý và ổn định thị trường tiền tệ và phát hành, cung cấp các phương tiện thanh toán

Trang 16

ở Việt Nam, kể từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến nay, Ngân hàng Trung ương đều được đặt trong cơ cấu tổ chức Chính phủ, là cơ quan của Chính phủ Tuy mỗi thời kỳ phát triển của đất nước, vị trí, chức năng của Ngân hàng Nhà nước có những thay đổi hay điều chỉnh, nhưng trong các giai đoạn ấy, Ngân hàng Nhà nước đều

có chức năng của ngân hàng trung ương

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ, là một pháp nhân có vốn pháp định do Ngân sách nhà nước cấp Do đó, trong các hoạt động ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước luôn có tính độc lập tương đối, khác với các cơ quan khác của Chính phủ Điều này tạo thuận lợi cho Ngân hàng Nhà nước trong các hoạt động có tính nghiệp vụ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Với vị trí pháp lý trên đây, Ngân hàng Nhà nước có vai trò rất quan trọng: “Hoạt

động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế

- xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1)

2 Chức năng của Ngân hàng Nhà nước

Với vị trí là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ(2) Theo quy định của Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước năm

1990, mặc dù nhà làm luật đã nhận thức được hai chức năng cơ bản này của Ngân hàng Nhà nước, nhưng sự thể hiện trong quy định còn chưa rõ ràng, không tách bạch

được thành nhóm những hoạt động nào thuộc chức năng cơ quan quản lý nhà nước, hoạt động nào thuộc chức năng Ngân hàng Trung ương (xem Điều 3 Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1990) Trong Luật Ngân hàng Nhà nước 1997 đã phân tách

rõ ràng hai chức năng này Đây có thể nói là một bước tiến bộ trong hoạt động lập pháp

Chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng là chức năng cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Là cơ quan của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước thay mặt Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc thực thi các chính sách quản lý vĩ mô về tiền tệ, quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng và toàn bộ hệ thống tổ chức tín dụng; bảo đảm tính hiệu quả của các chính sách tiền tệ và sự hoạt

động bình thường của toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng như hoạt động ngân hàng của các chủ thể khác trong nền kinh tế

Trang 17

Chức năng thứ hai của Ngân hàng Nhà nước là chức năng Ngân hàng trung

ương được thể hiện ở nhiều thẩm quyền hoạt động như phát hành tiền, cung cấp các phương tiện thanh toán cho các ngân hàng thương mại, hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả, làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ như làm đại lý và thực hiện một số dịch vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước, vay nợ nước ngoài theo sự uỷ thác của Chính phủ

Để thực hiện các chức năng trên đây, Ngân hàng Nhà nước có các nhiệm vụ và quyền hạn được pháp luật quy định là cơ sở pháp lý để Ngân hàng Nhà nước thực hiện các chức năng và thể hiện vai trò của mình trong quản lý nhà nước cũng như trong việc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng Các nhiệm vụ và quyền hạn này về mặt pháp

lý được khái quát thành những thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước

II Thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước

1 Những thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước

- Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước Chính sách tiền tệ quốc gia là bộ phận rất quan trọng của chính sách kinh tế tài chính nằm trong chiến lược phát triển đất nước nên thẩm quyền này của Ngân hàng Nhà nước thể hiện rõ vai trò quan trọng của cơ quan này

- Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để Chính phủ xem xét trình Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này; xây dựng chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng Việt Nam Do Ngân hàng Nhà nước là cơ quan chuyên môn của Chính phủ nên được Chính phủ giao nhiệm vụ trực tiếp xây dựng chính sách tiền tệ quốc gia Tuy nhiên việc quyết định chính sách tiền tệ quốc gia thuộc về Quốc hội và Chính phủ là cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo

- Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền;

- Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng, trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quyết định; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; quyết định giải thể, chấp thuận chia, tách, hợp nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật;

- Kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng; kiểm soát tín dụng; xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền;

- Quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ;

- Chủ trì lập và theo dõi kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế;

- Quản lý hoạt động ngoại hối và quản lý hoạt động kinh doanh vàng;

Trang 18

- Ký kết, tham gia điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy

động ngân hàng Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Nhà nước trong việc xây dựng chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, dự kiến tổng mức tạm ứng cho ngân sách nhà nước trong năm tiếp theo và thực hiện các quy định khác của Luật này về quan hệ giữa Bộ Tài chính với Ngân hàng Nhà nước Ngoài các cơ quan quản lý ở trung ương,

luật còn quy định trách nhiệm phối hợp của các cơ quan địa phương: “Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát, kiểm tra việc thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng tại địa phương”

Bên cạnh đó vai trò giám sát và tuyên truyền pháp luật của các tổ chức chính trị -

xã hội cũng rất quan trọng: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia với các cơ quan nhà nước trong việc giám sát thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân thực hiện các quy

định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng”(1)

2 Thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng ngân hàng trung ương

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được pháp luật quy định giữ chức năng Ngân hàng trung ương Trong thời kỳ nền kinh tế tập trung bao cấp, do Nhà nước độc quyền trong lĩnh vực ngân hàng nên tổ chức và cơ chế hoạt động của Ngân hàng Nhà nước có tư cách là một pháp nhân thống nhất toàn ngành, tất cả các hệ thống ngân hàng chuyên doanh chỉ là những bộ phận phụ thuộc được phân công thực hiện nhiệm vụ chứ không phải là những tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập

Hiện nay, với cơ chế của hệ thống ngân hàng hai cấp, có sự phân chia, tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng với chức năng kinh doanh tiền tệ Về mặt tổ chức cũng hình thành nên một hệ thống ngân hàng cấp hai (các

Trang 19

ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác) có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập Ngân hàng Nhà nước thực hiện vai trò chức năng là Ngân hàng trung

ương theo đúng nghĩa của nó, đó là chức năng phát hành tiền, tổ chức và điều hành thị trường tiền tệ, kiểm soát và đảm bảo sự hoạt động bình thường và phát triển lành mạnh hệ thống tín dụng Để thực hiện chức năng này, Ngân hàng Nhà nước được pháp luật quy định là một pháp nhân có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước và có các thẩm quyền sau:

- Tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền; thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế và tiêu huỷ tiền Đây là chức năng quan trọng nhất mà Ngân hàng trung

ương là cơ quan duy nhất được thực hiện theo sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ

- Thực hiện tái cấp vốn nhằm cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế Hoạt động này của Ngân hàng Nhà nước nhằm hỗ trợ nguồn vốn

cho nền kinh tế thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại Đây là một nội dung hoạt động quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia mà Ngân hàng Nhà nước với tư cách là chủ thể điều khiển thị trường vừa là thành viên tham gia thị trường

- Kiểm soát Dự trữ quốc tế; quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước Ngân hàng Nhà

nước có khả năng kiểm soát được cung cầu về ngoại hối do có vốn pháp định riêng, chủ động điều tiết thị trường ngoại hối Với lợi thế như vậy, Ngân hàng Nhà nước

được Chính phủ giao cho quản lý nguồn dự trữ ngoại hối của Nhà nước

- Tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân hàng, làm dịch vụ thanh toán, quản lý việc cung ứng các phương tiện thanh toán Hoạt động này của Ngân hàng Nhà nước

giúp cho hệ thống các ngân hàng thương mại hoạt động thông suốt, đem lại nhiều tiện ích hơn cho nền kinh tế

- Làm đại lý và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước Với

nghiệp vụ và điều kiện của mình, Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Kho bạc Nhà nước trong việc thực hiện ngân sách nhà nước và quản lý quỹ ngân sách nhà nước

- Tổ chức hệ thống thông tin và làm các dịch vụ thông tin ngân hàng Đây là hoạt

động nhằm giúp cho hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả, sát với thị trường, đảm bảo an toàn cho hệ thống tín dụng, đặc biệt là trong giai đoạn thông tin bùng nổ và khó kiểm soát như hiện nay

III tổ chức và điều hành Ngân hàng Nhà nước

1 Tổ chức hệ thống Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước được tổ chức thành hệ thống tập trung thống nhất gồm bộ máy điều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính đặt tại Hà Nội, các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các văn phòng đại diện trong và ngoài nước

và các đơn vị trực thuộc khác

Trang 20

- Trụ sở chính của Ngân hàng Nhà nước đặt tại Hà Nội, là trung tâm lãnh đạo và

điều hành, bao gồm:

+ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; các Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước

+ Các đơn vị giúp thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và chức năng ngân hàng trung ương: Vụ chính sách tiền tệ; Vụ chiến lược phát triển ngân hàng; Vụ quan hệ quốc tế; Vụ quản lý ngoại hối; Vụ các ngân hàng;

Vụ các tổ chức tín dụng hợp tác; Vụ pháp chế; Vụ tín dụng; Vụ kế hoạch tài chính; Vụ nghiệp vụ phát hành và kho quỹ; Vụ tổ chức cán bộ; Thanh tra ngân hàng; Sở giao dịch; Cục công nghệ tin học; Văn phòng; Cục quản trị

Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ương là các đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng Nhà nước Các chi nhánh được thực hiện các hoạt động ngân hàng theo sự uỷ quyền và phân cấp của Ngân hàng Nhà nước mà không phải là tổ chức độc lập Do vậy, hoạt động của chi nhánh chính là hoạt động của Ngân hàng Nhà nước tại các địa phương

Chi nhánh chịu sự lãnh đạo tập trung thống nhất từ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh được thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây theo uỷ quyền của Thống đốc:

- Kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng trên địa bàn được phân công;

- Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

và giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác trên địa bàn;

- Quyết định giải thể, chấp thuận chia, tách, hợp nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng trên địa bàn;

- Thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn và cho vay thanh toán;

- Cung ứng dịch vụ thanh toán, ngân quỹ và các dịch vụ ngân hàng khác cho các

tổ chức tín dụng và Kho bạc Nhà nước;

- Thực hiện các uỷ quyền khác theo quy định của pháp luật

Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng Nhà nước, có nhiệm vụ đại

diện theo sự uỷ quyền của Thống đốc Văn phòng đại diện không được tiến hành hoạt

động nghiệp vụ ngân hàng Thống đốc quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của chi nhánh, văn phòng đại diện của Ngân hàng Nhà nước Hiện nay, văn phòng đại diện Ngân hàng Nhà nước được thành lập ở Thành phố Hồ Chí Minh và ở nước ngoài Thực chất, văn phòng đại diện thực hiện nhiệm vụ đại diện cho Thống đốc trong quản

lý nhà nước cũng như những nhiệm vụ khác trong hoạt động của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Văn phòng đại diện giống với Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước ở chỗ, chúng đều không có tư cách pháp nhân, nên trong hoạt động đều nhân danh Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước có nhiều quyền hạn cụ thể hơn, đặc biệt là được phép hoạt động ngân hàng, còn Văn phòng đại diện không được thực hiện

Trang 21

thẩm quyền này Với vai trò như vậy, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước có mặt ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương còn Văn phòng đại diện chỉ có ở những nơi cần thiết

Ngân hàng Nhà nước còn có các đơn vị sự nghiệp làm công tác nghiên cứu, đào tạo, ứng dụng, các doanh nghiệp trực thuộc sản xuất các phương tiện chuyên dùng phục vụ cho hoạt động ngân hàng Các chủ thể này trực thuộc Ngân hàng Nhà nước nhưng đều

có tư cách pháp nhân như Học viện Ngân hàng, Thời báo ngân hàng, Tạp chí ngân hàng

2 Lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước

Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay có sự thay đổi quan trọng trong việc quy định lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước so với Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước năm 1990 Theo pháp lệnh này, việc quản trị Ngân hàng Nhà nước

do Hội đồng quản trị đảm nhiệm, còn Thống đốc có nhiệm vụ điều hành Hội đồng quản trị gồm có Chủ tịch là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Phó Chủ tịch là Phó Thống đốc thứ nhất, 4 uỷ viên cấp thứ trưởng đại diện của Bộ Tài chính, Bộ Thương nghiệp, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư, 4 uỷ viên khác được chọn trong số chuyên gia kinh tế, tiền tệ Việc bổ nhiệm và miễn nhiệm các uỷ viên Hội đồng quản trị đại diện của các bộ, Uỷ ban Nhà nước, do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban hữu quan cùng Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định Việc bổ nhiệm và miễn nhiệm các uỷ viên khác của Hội đồng quản trị do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định Nhiệm kỳ của mỗi uỷ viên Hội đồng quản trị là 5 năm

Ngân hàng Nhà nước đặt dưới quyền điều hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là thành viên Hội đồng Bộ trưởng Giúp việc Thống đốc có một số Phó Thống đốc, trong đó có một Phó Thống đốc thứ nhất Thống

đốc Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu bao gồm điều hành hoạt

động của Hội đồng quản trị, thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị và đại diện cho Ngân hàng Nhà nước

Thể hiện tinh thần đổi mới của Hiến pháp 1992, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định việc lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đảm nhiệm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là thành viên Chính phủ, chịu trách nhiệm lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước Thống đốc có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước

được quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các quy định của Luật tổ chức Chính phủ;

Trang 22

- Chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực mình phụ trách;

- Đại diện pháp nhân Ngân hàng Nhà nước trong các quan hệ

Việc bỏ Hội đồng quản trị trong cơ cấu lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước đảm bảo trách nhiệm cao của người đứng đầu, đồng thời với cơ cấu gọn nhẹ hơn, các quyết định sẽ nhanh chóng hơn, phù hợp với vị trí Ngân hàng Nhà nước là cơ quan của Chính phủ Thực tế trong những năm thực hiện vừa qua, cơ cấu lãnh đạo cá nhân Thống đốc đã đem lại những thành tựu đáng kể trong việc điều hành thị trường tiền tệ

và hệ thống các tổ chức tín dụng

IV Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước

1 Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy kinh

tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân

Mục đích của chính sách tiền tệ quốc gia là cân bằng cung và cầu tiền tệ Hiện nay hầu hết các quốc gia đã từ bỏ hệ thống kim bản vị(1), đồng tiền thường được thả nổi tỷ giá nhưng vẫn có sự kiểm soát của Nhà nước ở những mức độ khác nhau Cùng với việc sử dụng tiền giấy, nguy cơ làm mất cân bằng cung cầu tiền tệ rất dễ xảy ra Nếu nền kinh tế thiếu tiền sẽ ảnh hưởng đến khả năng đầu tư và tốc độ tăng trưởng Ngược lại, nếu nền kinh tế thừa tiền sẽ dễ dẫn đến lạm phát, gia tăng thất nghiệp và suy giảm các chính sách kinh tế của Nhà nước Thông thường, chính sách tiền tệ có hai loại là chính sách thắt chặt tiền tệ và chính sách mở rộng tiền tệ Tuỳ tình trạng của nền kinh tế mà Nhà nước thực hiện các biện pháp phù hợp

Trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và trình Chính phủ các dự án chính sách tiền tệ, kế hoạch cung ứng tiền bổ sung hàng năm, trên cơ sở quy luật cung cầu lưu thông tiền tệ, thực hiện đưa thêm tiền vào lưu thông hoặc rút bớt tiền từ lưu thông ra Để làm được như vậy, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, dự trữ bắt buộc, tỷ giá hối đoái, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ khác

- Công cụ Tái cấp vốn

Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc tái cấp vốn cho các ngân hàng theo những hình thức: Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng(2), chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu

hàng đã cho khách hàng vay

Trang 23

và các giấy tờ có giá khác; cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ

có giá khác(1)

- Công cụ Lãi suất

Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn Trước đây, lãi suất cơ bản là căn cứ bắt buộc để các ngân hàng thương mại xác định lãi suất kinh doanh như lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay Hiện nay, lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố không còn là căn cứ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại, nhưng giá trị tham khảo của chúng vẫn còn rất nhiều giá trị

- Công cụ Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa đồng Việt Nam và đồng tiền nước ngoài(2) Tỷ giá hối

đoái của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường

có sự điều tiết của Nhà nước Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam

- Công cụ Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước

để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi với mức từ 0%

đến 20% tổng số dư tiền gửi tại mỗi tổ chức tín dụng trong từng thời kỳ Việc trả lãi

đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc của từng loại hình tổ chức tín dụng, từng loại tiền gửi trong từng thời kỳ do Chính phủ quy định

- Công cụ Nghiệp vụ thị trường mở

Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán ngắn hạn tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các loại giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Ngày nay, Ngân hàng trung ương ở các nước thường sử dụng nghiệp vụ thị trường

mở như một công cụ để điều hành Chính sách tiền tệ là bởi vì những nghiệp vụ khác như chiết khấu, tái chiết khấu hoặc tái chiết khấu thương phiếu tỏ ra bị động trước sự thay đổi nhanh chóng, thường xuyên của giá trị đồng nội tệ Nghiệp vụ thị trường mở cho phép Ngân hàng trung ương chủ động hơn trong việc điều hoà khối cung tiền tệ, qua đó ổn định giá trị đồng tiền

Để thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước sử dụng cơ chế hợp

đồng Thông qua việc giao kết hợp đồng mua bán giấy tờ có giá mà Ngân hàng Nhà nước can thiệp một cách hữu hiệu vào khối cung tiền tệ trong lưu thông, góp phần

ngân hàng, tín phiếu Kho bạc Nhà nước

Trang 24

thực hiện Chính sách tiền tệ Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 thì hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay bằng cầm cố giấy tờ có giá trong nghiệp vụ tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước chỉ áp dụng đối với giấy tờ có giá ngắn hạn Trong thời gian thực hiện, bộ phận thị trường tiền tệ này hoạt

động tẻ nhạt, không khuyến khích được đầu tư, cũng như không đạt được kỳ vọng của nhà làm luật trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Chính vì vậy, Luật sửa

đổi một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành năm 2003 đã cho phép thực hiện các nghiệp vụ trên đối với tất cả các loại giấy tờ có giá

Bên cạnh các công cụ nêu trên, Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng việc can thiệp vào thị trường vàng và thị trường ngoại hối để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Trong những trường hợp đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước có thể ấn định hạn mức tín dụng

Có thể thấy trong việc sử dụng các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia,

hệ thống các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác có vai trò rất lớn Không phải bất cứ một công cụ nào đều mang tính hành chính (ví dụ như lãi suất hay nghiệp vụ thị trường mở chẳng hạn) nên việc hợp tác chặt chẽ giữa Ngân hàng Nhà nước với các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác có ý nghĩa quan trọng Việc sử dụng linh hoạt các công cụ trên đây sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước kiểm soát được thị trường tiền tệ, nhằm thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia, kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền so với hàng hoá, ngoại tệ, góp phần kích thích nền kinh tế tăng trưởng cao

được lập Quỹ dự trữ phát hành và Quỹ nghiệp vụ phát hành trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước để quản lý tiền dự trữ phát hành Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền, phát hành và tiêu huỷ tiền

Ngân hàng Nhà nước quy định tiêu chuẩn phân loại tiền rách nát, hư hỏng không

đủ tiêu chuẩn lưu thông; đổi, thu hồi các loại tiền rách nát, hư hỏng do quá trình lưu thông

Trang 25

Căn cứ nhu cầu tiền mặt của nền kinh tế và yêu cầu ổn định tiền tệ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ cho công bố lưu hành các loại tiền mới chưa phát hành Tiền mới được hiểu là loại tiền có mẫu mã mới hoặc mệnh giá mới Cho nên việc ban hành tiền mới không phải là thay đổi hệ thống tiền tệ mà chỉ làm thay đổi cơ cấu tiền tệ cho phù hợp hơn, với chất lượng đồng tiền tốt hơn và sử dụng thuận tiện hơn Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm thiết kế mệnh giá, kích thước, trọng lượng, hình vẽ, hoa văn và các đặc điểm khác của tiền giấy, tiền kim loại trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Ngoài ra, Chính phủ có thể xem xét đình chỉ lưu hành một số loại tiền không còn phù hợp Khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thu hồi tiền đình chỉ lưu hành, công bố lưu hành tiền mới, Ngân hàng Nhà nước phải thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đảm bảo cho nhân dân nhận thức đầy đủ và thực hiện thu hồi và rút khỏi lưu thông các loại tiền không còn thích hợp và phát hành các loại tiền khác thay thế

Ngoài việc phát hành tiền cho lưu thông, Ngân hàng Nhà nước còn phát hành tiền mẫu và tiền lưu niệm Tiền mẫu là đồng tiền chính thức của Việt Nam, có thêm chữ ''tiền mẫu'' hoặc chữ ''Specimen'' Tiền mẫu được dùng làm chuẩn để đối chứng trong nghiệp vụ phát hành tiền và không có giá trị làm phương tiện thanh toán trong lưu thông Tiền lưu niệm là đồng tiền tượng trưng không có giá trị làm phương tiện thanh toán, được phát hành cho mục đích sưu tập, lưu niệm hoặc mục đích khác

Ngân hàng Nhà nước thực hiện phát hành tiền vào lưu thông và thu tiền từ lưu thông về thông qua dịch vụ ngân quỹ, thanh toán và các hoạt động nghiệp vụ khác của Ngân hàng Nhà nước cho khách hàng

3 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước

Là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đồng thời là Ngân hàng trung ương nên Ngân hàng Nhà nước có các hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước được thực hiện trong một phạm vi hẹp và có những đặc

điểm khác với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước không phải vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng trung ương, nhằm đảm bảo sự hoạt động bình thường và an toàn của hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng, cũng như đáp ứng yêu cầu của thị trường tiền tệ hoặc các yêu cầu khác của Chính phủ trong các vấn đề tài chính tiền tệ

Thứ hai, hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước chỉ thực hiện cho tổ chức tín dụng là ngân hàng Ngoài ra, để bù đắp những thiếu hụt tạm thời của Ngân sách Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước tạm ứng cho ngân sách theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Trang 26

Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước được thực hiện trong những trường hợp sau đây:

- Ngân hàng Nhà nước cho các tổ chức tín dụng là ngân hàng vay ngắn hạn dưới hình thức tái cấp vốn bao gồm: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay có bảo đảm bằng cầm

cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác Hình thức tái cấp vốn chỉ thực hiện đối với các tổ chức tín dụng là ngân hàng, còn các tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được vay theo hình thức này Sở dĩ có quy định này bởi lẽ: (i) ngân hàng là những tổ chức tín dụng có quy mô lớn, có tầm ảnh hưởng rộng đến hệ thống ngân hàng, do vậy việc tái cấp vốn cho các ngân hàng sẽ giúp cho việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia được thuận lợi; (ii) mặc dù Ngân hàng Nhà nước có vốn pháp định lớn, nhưng không thể đủ bao quát hết việc tái cấp vốn cho tất cả các tổ chức tín dụng

- Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, Ngân hàng Nhà nước cho vay đối với tổ chức tín dụng tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng Khi tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, ngoài việc áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt, giải trừ tài khoản dự trữ bắt buộc, nếu không đủ, Ngân hàng Nhà nước sẽ cho tổ chức tín dụng vay các khoản vay đặc biệt để phục hồi tình trạng thanh toán bình thường Việc cho vay trên đây thể hiện rõ vai trò Ngân hàng trung ương của Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo sự an toàn của hệ thống tín dụng Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định khoản vay này phải được ưu tiên thanh toán(1)

- Ngân hàng Nhà nước theo sự chỉ định của Chính phủ đứng ra bảo lãnh cho tổ chức tín dụng vay vốn nước ngoài Nếu tổ chức tín dụng đó không trả được nợ vay, thì Ngân hàng Nhà nước sẽ đứng ra trả nợ thay, và tổ chức tín dụng sẽ phải hoàn trả khoản nợ đó

- Ngân hàng Nhà nước tạm ứng cho ngân sách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Đây là một quyền hạn tương đối đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Bởi lẽ, khi thực hiện ngân sách nhà nước, các khoản chi trong năm được lấy từ nguồn thu của ngay năm đó, cho nên có thể tại một thời điểm đầu năm, nguồn thu không đủ bù đắp khoản chi Khi đó, Ngân hàng Nhà nước có thể cho ngân sách trung ương tạm vay Để tránh tình trạng có thể gây ra lạm phát, pháp luật quy định khoản tạm ứng này phải được hoàn trả trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định

4 Hoạt động thanh toán và ngân quỹ

- Ngân hàng Nhà nước mở tài khoản và thực hiện các giao dịch cho các tổ chức tín dụng, các ngân hàng nước ngoài và tổ chức tiền tệ, ngân hàng quốc tế

Trang 27

- Ngân hàng Nhà nước tổ chức hệ thống thanh toán liên ngân hàng và cung cấp các dịch vụ thanh toán

- Ngân hàng Nhà nước mở tài khoản và thực hiện các giao dịch cho Kho bạc Nhà nước; làm đại lý cho Kho bạc Nhà nước trong việc tổ chức đấu thầu, phát hành và thanh toán tín phiếu, trái phiếu kho bạc

- Thực hiện các giao dịch thanh toán bằng tiền mặt và không dùng tiền mặt theo yêu cầu của chủ tài khoản

- Để thực hiện chức năng và nhiệm vụ Nhà nước giao Ngân hàng Nhà nước được

mở tài khoản ở ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệ, ngân hàng quốc tế

5 Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối

Ngân hàng Nhà nước là cơ quan chuyên môn được Chính phủ giao nhiệm vụ quản

lý nhà nước về ngoại hối và hoạt động ngoại hối Ngân hàng Nhà nước là cơ quan cấp

và thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác; kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động ngoại hối; điều hành thị trường ngoại hối

Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc quản lý dự trữ ngoại hối của Nhà nước bao gồm: ngoại tệ tiền mặt, số dư ngoại tệ trên tài khoản, tiền gửi ở nước ngoài, thương phiếu và các giấy tờ có giá khác của nước ngoài được tính bằng ngoại tệ hoặc vàng tiêu chuẩn quốc tế Ngân hàng Nhà nước trực tiếp còn thực hiện hoạt động ngoại hối như mua, bán ngoại hối trên thị trường trong nước và quốc tế nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

6 Hoạt động thanh tra ngân hàng

Thanh tra ngân hàng là một nội dung của hoạt động quản lý nhà nước về tiền tệ

và hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Do vậy, hoạt động thanh tra ngân hàng do thanh tra chuyên ngành về ngân hàng thuộc bộ máy Ngân hàng Nhà nước

đảm nhiệm

Hoạt động thanh tra ngân hàng được thực hiện đối với tất cả các tổ chức tín dụng

và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng, nhằm đảm bảo sự an toàn trong hoạt

động của hệ thống tín dụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và phục vụ chính sách tiền tệ quốc gia

Hoạt động thanh tra ngân hàng được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra và pháp luật ngân hàng

Trong quá trình thanh tra, thanh tra ngân hàng có quyền yêu cầu đối tượng bị thanh tra cung cấp các tài liệu cần thiết liên quan đến nội dung thanh tra, kiến nghị các biện pháp giải quyết và áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng như xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật

Trang 28

Các tổ chức được thanh tra phải thực hiện các yêu cầu của thanh tra; chấp hành các quyết định xử lý của thanh tra ngân hàng Đồng thời các đối tượng này có quyền khiếu nại, khởi kiện với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi của thanh tra viên cũng như các kết luận hay quyết định của thanh tra mà mình cho là không hợp lý; yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi, quyết định không đúng pháp luật của thanh tra ngân hàng gây ra

Trang 29

Câu hỏi hướng dẫn học tập

1 Anh (chị) hãy nêu vị trí pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam?

2 So sánh chức năng của Ngân hàng Nhà nước với chức năng của các cơ quan cấp Bộ khác?

3 Nêu khái quát quá trình phát triển về chức năng và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước?

4 Chính sách tiền tệ quốc gia là gì? Vai trò của Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia?

5 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước có đặc điểm gì?

Trang 30

Chương iii

tổ chức tín dụng

I Khái quát chung về các tổ chức tín dụng Việt Nam

1 Khái niệm tổ chức tín dụng

ở thời kỳ sơ khai của lịch sử, khi con người tồn tại với cuộc sống tự cấp, tự túc qua hoạt động săn bắt, hái lượm thì nhu cầu trao đổi dường như không tồn tại Đến khi con người biết chinh phục, cải tạo tự nhiên, biết sản xuất bằng các công cụ lao động tiên tiến hơn thì họ đã tạo ra nhiều của cải hơn mức cần dùng Mặc dù vậy, sự dư thừa của một loại sản phẩm cũng không thể đáp ứng đủ những nhu cầu tổng thể của mỗi cá thể, nhất là khi nhu cầu tổng thể đó càng tăng lên cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại Từ đó làm nẩy sinh nhu cầu trao đổi sản phẩm giữa các cá thể Một quá trình “đổi vật lấy vật” cũng không tồn tại được lâu bởi sự bất tiện và tính khó cân bằng

về mặt lợi ích trong quan hệ trao đổi Thực tế đó đã thôi thúc con người phải tìm ra một phương tiện trao đổi tiện lợi, phổ biến, ổn định hơn, đó là tiền tệ

Nguồn tiền tệ của mỗi chủ thể được gia tăng do sự nhập vào của các nguồn tài sản

và giảm bớt do những thanh toán và chi tiêu Chính quá trình nhập và xuất đó tạo nên

sự chu chuyển của các luồng tiền tệ, làm phát sinh nhu cầu tiền tệ Các chủ thể tài chính không thể thoả mãn nhu cầu tiền tệ bằng cách phát hành tiền (bởi đó là đặc quyền của Ngân hàng Nhà nước trung ương) hoặc không phải lúc nào cũng đạt được thông qua sự trao đổi của cải hoặc dịch vụ Nhu cầu tiền tệ của các chủ thể (trước hết của các thương nhân và nhà kinh doanh) dẫn đến sự ra đời của những tổ chức trung gian đóng vai trò môi giới, thu nhận các nguồn vốn của người có nhu cầu cung ứng rồi cấp tín dụng cho người có nhu cầu vốn và làm các dịch vụ tiền tệ khác Các tổ chức trung gian kinh doanh tiền tệ như vậy được gọi là các tổ chức tín dụng

Nếu như các tổ chức tín dụng, trước hết là ngân hàng đã được biết đến từ khá lâu trong lịch sử của nhiều quốc gia(1) thì ở Việt Nam mãi đến thế kỷ XIX tổ chức ngân

có từ 500 năm trước công nguyên: xem Ngô Quốc Kỳ: Một số vấn đề pháp lý cơ bản về hoạt động của ngân hàng - NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr 20-21

Trang 31

hàng mới xuất hiện Mặc dù vậy, do tính chất phức tạp và đa dạng của hoạt động kinh doanh tiền tệ nên người ta khó có thể tìm thấy một khái niệm chung cho các loại hình tổ chức tín dụng trong quy định của pháp luật của các quốc gia Có nước (như CHLB Đức) người ta liệt kê trong Luật về hệ thống tín dụng một danh mục các loại giao dịch ngân hàng Một doanh nghiệp được coi là tổ chức tín dụng khi nó thực hiện một cách thường xuyên các giao dịch được diễn tả trong danh mục đó hoặc khi nó hoạt

động trong một phạm vi, mà phạm vi đó đòi hỏi một hoạt động giao dịch ngân hàng

được tổ chức bằng cách thức kinh doanh Các doanh nghiệp cũng có tư cách như một tổ chức tín dụng, nếu như chúng thu nhận các phần vốn đầu tư hoặc các phương tiện tài chính có khả năng thanh toán của công chúng và đảm nhiệm việc cấp tín dụng với trách nhiệm riêng(3) Trái lại, ở nước ta Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 đã đưa ra một khái niệm chung về tổ chức tín dụng Theo đó

(khoản 1 Điều 20), định nghĩa tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt

động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán

Như vậy, theo định nghĩa này, tổ chức tín dụng trước hết mang những đặc tính của doanh nghiệp Điều đó có nghĩa rằng, các tổ chức tín dụng là các tổ chức kinh tế,

có tài sản riêng, được thành lập một cách hợp pháp để tiến hành các hoạt động chủ yếu

là kinh doanh Tính chất này của các tổ chức tín dụng cho thấy: việc thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể, phá sản của các tổ chức tín dụng trước hết phải tuân theo các nguyên tắc chung của các luật về chủ thể kinh doanh tương ứng Chẳng hạn, đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, ngoài việc tuân thủ theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, còn phải tuân thủ các quy định của Luật doanh nghiệp Nhà nước Tương tự như vậy các quy định của Luật doanh nghiệp, của Luật Hợp tác xã và của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng được áp dụng tương ứng đối với các ngân hàng, tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh, với các tổ chức tín dụng hợp tác và với các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Trong sự chấp hành đồng thời các quy định của pháp luật, một nguyên tắc pháp lý được đặt ra là, nếu có những khác nhau về cùng một vấn đề giữa Luật Các

tổ chức tín dụng và các luật về chủ thể kinh doanh khác thì Luật Các tổ chức tín dụng

được ưu tiên áp dụng Việc áp dụng đồng thời luật riêng về các tổ chức tín dụng và các

1999, tr11

Schmidt, Oeffentliches Wirtschaftsrecht, Besonderer Teil1, Springer -Verlag, 1995 trang 476-477

Trang 32

luật về chủ thể kinh doanh cũng được quy định tương tự trong pháp luật của nhiều quốc gia khác(1)

Do các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nên bên cạnh những đặc điểm chung nhất nói trên của doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng còn có thêm các đặc điểm mang tính chất riêng sau đây:

Thứ nhất, các tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động kinh doanh, dịch vụ thông

qua phương tiện chủ yếu là tiền tệ và các giấy tờ có giá trị như tiền

Quá trình kinh doanh của các tổ chức tín dụng có thể biểu thị vắn tắt trong sơ đồ như sau:

Trong quan hệ vay, cho vay tiền tệ nói trên, người cung cấp tiền tệ không hoàn toàn là người thừa vốn Nói chính xác hơn, đây là người hạn chế nhu cầu sử dụng khoản tiền cho vay trong một thời gian nhất định Đổi lại, họ đòi hỏi tổ chức tín dụng phải trả một khoản tiền lợi tức (L1) tính theo phần trăm của số tiền cho vay trong thời gian vay (lãi suất vay)

Khác với người cung cấp tiền tệ, tổ chức tín dụng có tư cách là người đi vay và người cho vay Nói cách khác, tổ chức tín dụng chắp nối nhu cầu của người vay với nhu cầu của người cho vay Tuy nhiên, tổ chức tín dụng không phải là người trung gian hoặc người môi giới, vì tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm độc lập về tài sản trong quan

hệ vay và cho vay L2 là lợi tức của tổ chức tín dụng tính theo phần trăm của số tiền cho người có nhu cầu tiền tệ vay trong thời hạn vay (lãi suất cho vay) Đương nhiên, lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng luôn luôn cao hơn lãi suất vay của người cung cấp tiền tệ Nhưng điều này không nói lên hiệu quả hoạt động của tổ chức tín dụng Nếu như tổ chức tín dụng không tháo khoán được các khoản vay thì tổ chức tín dụng đó cũng dễ rơi vào tình trạng thua lỗ Đây là một trong những biểu hiện của trách nhiệm

độc lập về tài sản của tổ chức tín dụng Lãi suất vay trong L1 và lãi suất cho vay trong L2 là giá cả của dịch vụ vay và luôn luôn được tổ chức tín dụng điều chỉnh cho phù hợp với trần lãi suất cho vay của Ngân hàng Nhà nước công bố ở từng thời kỳ, cũng như phù hợp với điều kiện hoạt động, với tình hình cung cầu vốn từng thời kỳ và tính chất rủi ro của từng khoản vay, với thời hạn vay và cho vay Chính vì vậy, lãi suất vay và lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng được xác định không hoàn toàn phụ thuộc trực

hàng thương mại được thành lập theo Luật Ngân hàng thương mại và Luật Công ty của nước CHND Trung Hoa

Trang 33

tiếp vào ý chí của người cung cấp tiền tệ và người có nhu cầu về tiền tệ Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất vay của tổ chức tín dụng được xem như

“hàn thử biểu” của quan hệ cung - cầu tiền tệ và khả năng cung ứng tiền tệ của tổ chức tín dụng

Thứ hai, hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu, thường xuyên và mang tính nghề

nghiệp của tổ chức tín dụng là hoạt động ngân hàng

Theo khoản 7 Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng, hoạt động ngân hàng là hoạt

động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Với các nội dung như vậy, hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng được xác định về mặt hành vi tương đồng với hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước (so sánh với khoản 3 Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước ngày 26/12/1997) Tuy nhiên, phương thức tạo lập nguồn tiền tệ và đối tượng được cung cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước và của các tổ chức tín dụng không hoàn toàn giống nhau(1) Tương tự như ở các nước khác, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan duy nhất (độc quyền) có đặc quyền phát hành tiền (khoản 1 Điều 23 Luật Ngân hàng Nhà nước) Tiền phát hành vào lưu thông được ghi vào một tài khoản ở tài sản “Nợ”

đối với nền kinh tế và được cân đối bằng tài sản “Có” của Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước chỉ cung ứng các dịch vụ tiền tệ cho các tổ chức tín dụng Trái lại, các

tổ chức tín dụng là ngân hàng không có quyền phát hành tiền nên nó phải tạo lập nguồn tiền tệ bằng cách huy động vốn (vay) của công chúng theo các hình thức như: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn; vay vốn của các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước Trong hoạt động tín dụng, tổ chức tín dụng có thể thực hiện theo các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác(1) theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

Trong mối quan hệ với Ngân hàng Nhà nước như đã đề cập ở trên, để hiểu hơn về các tổ chức tín dụng cũng cần phải phân biệt chúng với các doanh nghiệp tài chính hoặc các tổ chức dịch vụ tài chính khác, vì các tổ chức tài chính cũng thực hiện các hoạt động ngân hàng nhưng không thường xuyên, chẳng hạn như: công ty bảo hiểm, công ty môi giới đầu tư, công ty cho thuê tài chính, công ty môi giới cho vay giữa các tổ chức tín dụng

Như vậy, tính chất thường xuyên và tính nghề nghiệp trong thực hiện hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt tổ chức tín dụng với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác

điện tử

Trang 34

Thứ ba, tổ chức hoạt động của tổ chức tín dụng được đặt dưới sự điều chỉnh chặt

chẽ của các quy định pháp luật so với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác

Do hoạt động kinh doanh và làm dịch vụ tiền tệ của tổ chức tín dụng có liên quan

đến nhiều đối tượng khách hàng và có ảnh hưởng rộng lớn đến hoạt động của nền kinh

tế trên cả hai phương diện: tích cực và tiêu cực, nên các quy định của pháp luật đối với

tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng ở bất cứ quốc gia nào cũng cần phải được xây dựng chặt chẽ

Trong khi các doanh nghiệp kể cả công ty cổ phần, đều có thể được ra đời một cách khá dễ dàng thông qua thủ tục đăng ký kinh doanh thì đối với các tổ chức tín dụng không thể đơn giản như vậy, bởi nó phải trải qua hai thủ tục: xin phép thành lập (hoặc xin giấy phép hoạt động ngân hàng) và đăng ký kinh doanh, với các điều kiện về vốn pháp định, về chuyên môn của người quản lý, điều hành (Điều 22 Luật Các tổ chức tín dụng) Ngoài ra, ngay cả khi đã có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng nếu tổ chức tín dụng không đáp ứng được các điều kiện hoạt

động (theo Điều 28 Luật Các tổ chức tín dụng) thì tổ chức tín dụng cũng chưa thể

được tiến hành các hoạt động ngân hàng

Trong quá trình hoạt động, tổ chức tín dụng không phân biệt hình thức sở hữu đều chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước và của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác Các tổ chức tín dụng chịu sự quản lý thống nhất của Ngân hàng Nhà nước cũng là một trong những dấu hiệu để phân biệt chúng với các loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực khác Các tổ chức tín dụng chịu

sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước thể hiện trước hết ở việc tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước về: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng; lãi suất tái chiếu khấu, lãi suất tối đa về cho vay; tỷ giá hối đoái; chế độ báo cáo và thanh tra ngân hàng; bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng Do yêu cầu giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tín dụng như vậy cho nên quyền tự do kinh doanh của các tổ chức tín dụng thường bị giới hạn hơn trong sự so sánh với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác

2 Chức năng của tổ chức tín dụng

2.1 Chức năng phân phối lại tiền tệ

Chức năng phân phối lại tiền tệ của tổ chức tín dụng được xác định phù hợp với sự tồn tại tất yếu của chủ thể này trong nền kinh tế Ngân hàng Nhà nước là cơ quan duy nhất có thẩm quyền phát hành tiền nhưng không trực tiếp đưa tiền vào lưu thông (chuyển giao cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân) mà thông qua Quỹ nghiệp vụ phát hành tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước và Quỹ nghiệp vụ phát hành của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước hoặc với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Sau đó, thông

Trang 35

qua việc chi của các tổ chức này, tiền mới được đưa vào lưu thông trong công chúng Như vậy, các tổ chức tín dụng có vai trò quan trọng, là cầu nối thứ hai đưa tiền vào lưu thông

Sự tạo lập và phân phối lại tiền tệ của tổ chức tín dụng còn biểu hiện theo một phương thức khác Trong hoạt động kinh doanh và tiêu dùng các chủ thể kinh doanh thường có nhu cầu vốn để chi tiêu Song không phải chủ thể nào cũng cân đối thăng bằng được các khoản thu, chi Sự thiếu hụt trong chi tiêu là yếu tố đầu tiên phát sinh nhu cầu vay vốn Một yếu tố khác của nhu cầu vay vốn tín dụng là việc sử dụng tiền vay vào việc đáp ứng các nhu cầu có tính chất thời vụ như: trả lương, bù đắp vốn cho phần hàng hoá dự trữ, tồn kho, chi tiêu trước các khoản dựa vào nguồn vốn được cung cấp nhưng chưa đến hạn được nhận

Trong những trường hợp này, vốn tín dụng là vốn ứng trước thay thế cho những thu nhập có thể thu được trong tương lai gần Ngoài ra, lý do vay vốn tín dụng cũng còn xuất phát từ sự tính toán từ hiệu quả của đầu tư trong sự so sánh mức độ chênh lệch của lợi nhuận thu được với lãi suất và chi phí phải trả cho số tiền đi vay Ngược lại, nếu sự chênh lệch này là âm thì người đầu tư cũng có thể gửi vốn vào các tổ chức tín dụng mà không đầu tư Cuối cùng, những hạn chế tín dụng tạm thời của Nhà nước,

sự mất giá của đồng nội tệ trong quan hệ với ngoại tệ mạnh cũng là những nguyên

do của sự phát triển nhu cầu vay nội tệ

Đóng vai trò trung gian tài chính, tổ chức tín dụng tham gia vào quá trình phân phối lại tiền tệ bằng việc thu nhận các khoản tiền của người có nhu cầu cho vay để cho người có nhu cầu vay vay lại Tham gia vào sự phân phối tiền tệ, các tổ chức tín dụng

đóng vai trò trung gian, đứng giữa những người có nhu cầu về tín dụng và những người cung ứng tín dụng

2.2 Chức năng trung gian thanh toán

Trong quan hệ tài sản, người có nghĩa vụ thanh toán có thể thực hiện việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt hoặc uỷ nhiệm cho các tổ chức tài chính trung gian thanh toán (bằng tiền mặt hoặc không sử dụng tiền mặt) Hình thức thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt nhanh chóng, thuận lợi, kín đáo, ít bị ràng buộc như séc, phù hợp với các giao dịch dân sự phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của con người Tuy nhiên việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt tuy là hình thức phổ biến của xã hội nhưng sẽ phát sinh nhiều vấn đề bất tiện cho cả người tiêu dùng, người sản xuất, kinh doanh và Nhà nước Bởi lẽ, để đáp ứng nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt, Nhà nước

và người chi trả phải đảm bảo số lượng tiền mặt cần thiết Điều này làm tăng thêm chi phí in, đúc, quản lý, bảo quản, vận chuyển, tiếp nhận tiền mặt

Trong hình thức thanh toán thông qua trung gian tài chính với hoạt động dịch vụ thanh toán, các ngân hàng, tổ chức tín dụng thực hiện việc chi trả hộ theo uỷ nhiệm của người chi trả hoặc thu hộ số tiền được hưởng theo yêu cầu của người thụ hưởng

Trang 36

Bằng các phương tiện thanh toán đa dạng, sử dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại, các

tổ chức thanh toán trung gian đảm bảo việc thanh toán nhanh chóng, an toàn và hiệu quả, nhất là đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn và người chi trả ở cách xa người thụ hưởng Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, sự hoàn hảo của dịch vụ ngân hàng và hệ thống ngân hàng cũng như sự thay đổi thói quen trong thanh toán của người dân thì thanh toán qua trung gian tài chính sẽ trở thành phổ biến hơn

Đến lượt nó, sự gia tăng sử dụng dịch vụ ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng trong việc huy động vốn và tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để cho vay và đầu tư Nhờ đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tổ chức và khả năng thanh toán của nó

Chức năng cung ứng dịch vụ thanh toán cũng là một trong những căn cứ để phân biệt tổ chức tín dụng là ngân hàng với tổ chức tín dụng phi ngân hàng như các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính

2.3 Chức năng tạo lập tiền tệ và thủ quỹ

Khác với ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng không có thẩm quyền phát hành tiền Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng có thể tạo ra tiền tín dụng thông qua các hoạt động nhận tiền gửi, mua tài sản (vàng, ngoại tệ, trái phiếu, động sản) của khách hàng Sau đó bằng hoạt động cho vay các tổ chức tín dụng đưa tiền vào lưu thông Như vậy, các tổ chức tín dụng đã phát hành tiền tệ Nếu nhu cầu rút tiền về của khách hàng vượt quá khoản tiền mặt mà tổ chức tín dụng có thì tổ chức tín dụng có thể bán tài sản

có của mình cho Ngân hàng Nhà nước để mua bổ sung tiền mặt Khoản tiền mặt này sẽ

được ghi ở tài sản “Nợ” của bản tổng kết tài sản của Ngân hàng Nhà nước Ngược lại, nếu khách hàng gửi vào tổ chức tín dụng nhiều tiền mặt, tổ chức tín dụng sẽ lấy tiền mặt đó gửi vào tài khoản của mình mở tại Ngân hàng Nhà nước (vì việc lưu giữ tiền mặt thường rủi ro và không có nhiều lợi ích) và ghi "Có" vào tài khoản của mình Cũng tương

tự như vậy, việc thực hiện các kế toán ghi sổ trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng hoặc giữa các tổ chức tín dụng với nhau khi thực hiện việc thanh toán cho khách hàng của mình đã tạo ra tiền tệ - đồng tiền ghi sổ Như vậy, khách hàng có khả năng sở hữu đồng thời hai loại tiền tệ: tiền mặt do Ngân hàng Nhà nước phát hành và tiền ghi sổ do tổ chức tín dụng phát hành

Cuối cùng, do các tổ chức tín dụng tham gia vào dịch vụ thanh toán nên được quyền quản lý các phương tiện thanh toán và đóng thêm vai trò thủ quỹ cho khách hàng

3 Phân loại các tổ chức tín dụng

3.1 Căn cứ vào tính chất sở hữu trong vốn điều lệ, các tổ chức tín dụng ở nước ta

được phân thành các nhóm sau:

- Tổ chức tín dụng nhà nước;

Trang 37

- Tổ chức tín dụng cổ phần;

- Tổ chức tín dụng hợp tác;

- Tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài

+ Tổ chức tín dụng nhà nước là loại hình doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước đầu

tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý để hoạt động ngân hàng Các tổ chức tín dụng nhà nước có thể kể đến trước hết là các ngân hàng thương mại nhà nước như: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Ngoài ra, tổ chức tín dụng nhà nước còn là các ngân hàng chính sách hoạt động không vì mục đích lợi nhuận cũng như các tổ chức tín dụng phi ngân hàng có vốn đầu tư chiếm ưu thế của Nhà nước

+ Tổ chức tín dụng cổ phần là doanh nghiệp hoạt động ngân hàng, được thành

lập trên cơ sở góp vốn của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác Tổ chức tín dụng

cổ phần bao gồm ngân hàng thương mại cổ phần, công ty tài chính cổ phần và công

ty cho thuê tài chính cổ phần Về hình thức và bản chất, tổ chức tín dụng cổ phần thuộc loại hình công ty cổ phần Vì vậy, về tổ chức và hoạt động, tổ chức tín dụng cổ phần chịu sự điều chỉnh đồng thời của Luật Doanh nghiệp và của Luật Các tổ chức tín dụng

+ Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân

hàng, do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng theo Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống

Tổ chức tín dụng hợp tác bao gồm: ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng và các hình thức khác

+ Tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài là các tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

3.2 Căn cứ vào phạm vi nghiệp vụ được phép hoạt động, tổ chức tín dụng được chia thành hai loại: ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng

- Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân

hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Do có đủ thẩm quyền tiến hành các hoạt động ngân hàng nên các ngân hàng có quyền hoạt động huy động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau, có quyền hoạt động tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Ngoài ra, ngân hàng còn được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng và hoạt động tín dụng như: đầu tư dưới các hình thức góp vốn, mua cổ phần; tham gia thị trường tiền tệ; kinh doanh ngoại hối và vàng; uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng; kinh doanh bất động sản; kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm

Trang 38

ở nước ta, theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác

- Ngân hàng thương mại

Loại hình ngân hàng này được thành lập để tiến hành kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận Được xếp vào nhóm ngân hàng thương mại là: ngân hàng thương mại nhà nước; ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi ngánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên, theo quy định của Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ về tổ chức hoạt động của Ngân hàng thương mại thì Ngân hàng thương mại chỉ bao gồm các Ngân hàng thương mại nhà nước và Ngân hàng thương mại cổ phần của Nhà nước và nhân dân

Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thực hiện hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước Ngân hàng thương mại nhà nước chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng thương mại cổ phần là tổ chức tín dụng có ít nhất 35 cổ đông (trường hợp Ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động trong lĩnh vực nông thôn phải có ít nhất

25 cổ đông), trong đó phải có cổ đông là doanh nghiệp Nhà nước hoặc công ty cổ phần

có vốn góp của doanh nghiệp Nhà nước trên 30% vốn Điều lệ Các cổ đông còn lại là các cá nhân và tổ chức khác Tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được mua cổ phần của những ngân hàng thương mại cổ phần khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Đây là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt được thành lập theo mô hình Tổng công ty nhà nước Ngân hàng này có chức năng huy động vốn dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trong nước và ngoài nước để đầu tư phát triển, kinh doanh đa năng tổng hợp

về tài chính, tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng; làm Ngân hàng đại lý, Ngân hàng phục vụ cho đầu tư phát triển từ các nguồn vốn của Chính phủ, các tổ chức tài chính, tiền tệ, các tổ chức kinh tế xã hội, đoàn thể cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật về Ngân hàng

- Ngân hàng chính sách xã hội:

Ngân hàng này ra đời theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo trước đây (thành lập theo Quyết định số 230/QĐ-NH5 ngày 01/9/1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Ngân hàng chính sách xã hội là một pháp nhân, có con dấu, có tài sản và hệ thống giao dịch từ trung ương đến địa phương Vốn điều lệ của Ngân hàng này là năm nghìn

Trang 39

tỷ đồng và được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ Ngân hàng chính sách xã hội hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, không cần tỷ lệ dự trữ bắt buộc, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước Trong quá trình hoạt

động, Ngân hàng chính sách xã hội được huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp để cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác

- Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long

Ngân hàng này là doanh nghiệp Nhà nước, có chức năng chủ yếu là huy động và tiếp nhận các nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước bằng các hình thức thích hợp để đầu tư cho các chương trình phát triển nhà ở, phát triển kinh

tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long; hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng

và ngân hàng

Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long hoạt động trên nguyên tắc tự chủ về tài chính, tự cân đối các khoản thu, chi, có trách nhiệm bảo toàn và phát triển các nguồn vốn kinh doanh của mình Tuy nhiên, Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long có thể được nhận vốn tài trợ, vốn uỷ thác đầu tư từ Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chương trình phát triển nhà ở, và xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và sản xuất, kinh doanh vùng đồng bằng sông Cửu Long Trong những trường hợp đó, Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long được xét miễn giảm thuế, được để lại phần lợi tức của số vốn điều lệ để bù đắp một phần chi phí

vụ và cải thiện đời sống của các thành viên Trong hoạt động tín dụng, tổ chức tín dụng hợp tác được huy động vốn của các thành viên và của các tổ chức, cá nhân để cho các thành viên vay Việc cho các đối tượng không phải là thành viên vay phải được Đại hội đồng thành viên hoặc Đại hội đại biểu chấp thuận và không được vượt quá tỷ lệ tối

đa do Ngân hàng Nhà nước quy định

- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác Khác với các ngân hàng, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân hàng Nói cụ thể hơn,

Trang 40

các tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không

được làm dịch vụ thanh toán

- Công ty tài chính

Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng có chức năng sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm

ở nước ta, công ty tài chính chỉ được phép hoạt động không quá 50 năm, nhưng có thể được Ngân hàng Nhà nước cho phép gia hạn thời hạn hoạt động, mỗi lần gia hạn không quá 50 năm

Các công ty tài chính được thành lập và hoạt động theo các hình thức như: công ty tài chính nhà nước (doanh nghiệp nhà nước), công ty tài chính cổ phần (công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp), công ty tài chính liên doanh (Doanh nghiệp liên doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giữa một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam với một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài, trên cơ sở hợp

đồng liên doanh), công ty tài chính 100% vốn nước ngoài và công ty tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng

- Công ty cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê (công ty cho thuê tài chính) đối với bên thuê (tổ chức, cá nhân hoạt động tại Việt Nam) Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê, bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê do hai bên thoả thuận Kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị tài sản đó tại thời

điểm ký hợp đồng

Giống như công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính là một pháp nhân, được thành lập và hoạt động dưới các hình thức như: công ty cho thuê tài chính nhà nước, công ty cho thuê tài chính cổ phần, công ty cho thuê tài chính trực thuộc của tổ chức tín dụng, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài

- Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác

Đây là doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thương mại, các chi cục kho bạc trong

hệ thống kho bạc Nhà nước Cũng như các công ty tài chính hay công ty cho thuê tài

Ngày đăng: 06/12/2015, 04:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w