Nếu liên hệ với ba cột trụ cơ bản của phát triển bền vững là “tăng trưởng kinh tế nhanh”, “x0 hội ổn định, tiến bộ” và “môi trường trong sạch”, thì có thể nhận thấy rằng những chủ trương
Trang 1Chương II: quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế - x hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao
“Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” và xem đây là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH Trong mô hình này, chúng ta sử dụng cơ chế thị trường với tư cách là thành quả của nền văn minh nhân loại làm phương tiện để năng động hoá và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân Đồng thời, chúng ta đề cao vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh
tế nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, x0 hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Mô hình kinh tế tổng quát được xác định tạo cơ sở rất quan trọng cho sự hình thành những quan niệm về phát triển kinh tế- xJ hội Nếu liên hệ với ba cột trụ cơ bản của phát triển bền vững là “tăng trưởng kinh tế nhanh”, “x0 hội ổn
định, tiến bộ” và “môi trường trong sạch”, thì có thể nhận thấy rằng những chủ trương được vạch ra trong các nghị quyết quan trọng của Đảng đều hướng tới phát triển bền vững Văn kiện Đại hội VI của Đảng khẳng định phải gắn kết chính sách kinh tế với chính sách xJ hội, xem “trình độ phát triển kinh tế là
điều kiện vật chất để thực hiện chính sách x0 hội, nhưng những mục tiêu x0 hội
Trang 2lại là mục đích của các hoạt động kinh tế… Trên cơ sở phát triển sản xuất, tăng thêm thu nhập quốc dân, từng bước mở rộng quỹ tiêu dùng x0 hội, làm cho nó giữ vị trí ngày càng lớn trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá và các sự nghiệp phúc lợi khác”14 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, được thông qua tại Đại hội VII của Đảng, chỉ rõ:
“Phương hướng lớn nhất của chính sách x0 hội là: phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ x0 hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng x0 hội”15 Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xJ hội 10 năm 1991- 2000 được thông qua tại đại hội VII của
Đảng nêu rõ: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng x0 hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường”16 Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng(1/1994) nhấn mạnh thêm: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng x0 hội ngay trong từng bước phát triển”17 Đại hội VIII của Đảng tiếp tục khẳng định những nội dung cốt lõi có liên quan đến phát triển bền vững Đặc biệt trong Chiến lược phát triển kinh tế-
xJ hội 10 năm 2001-2010, được thông qua tại Đại hội IX, Đảng ta đJ đặt ra nhiệm vụ “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng x0 hội và bảo vệ môi trường… Phát triển kinh tế- x0 hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo và môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”18
Theo những chủ trương nêu trên, các cơ quan chức năng và các chủ thể có liên quan đJ hoạch định và thực thi các thể chế, chính sách nhằm từng bước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Ngày 17/8/2004, Chính phủ đJ ban hành
“Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình Nghị sự
21 của Việt Nam) Đây là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở để các bộ, các địa phương, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện Cho đến nay, nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đJ đi vào đời sống và dần dần trở thành xu thế phát triển tất yếu của đất nước Điều này phần
Trang 3
nào cho thấy quan niệm về phát triển kinh tế- xJ hội nhanh, bền vững và chất lượng cao ở nước ta từng bước đJ trở nên sáng rõ hơn
Công cuộc tổng kết thực tiễn của nước ta, phân tích kinh nghiệm trên thế giới và nghiên cưú lý luận để bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống luận điểm và đường lối phát triển đất nước vừa có ý nghĩa cơ bản vừa có tính thời sự cấp bách Cùng với những cố gắng của Hội đồng lý luận trung ương, gần đây một số nhà nghiên cứu đJ có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này Thí dụ, Ngô DoJn Vịnh
và cộng sự (2005) đJ gợi ra một số nội dung quan trọng, có tính bản chất và cốt yếu về phát triển kinh tế của Việt Nam, bao gồm:
“- Mục đích phát triển: kinh tế là đích phát triển và động lực của sự phát triển; kinh tế vì con người và xJ hội văn minh;
- Yêu cầu của sự phát triển: quy mô lớn lên và có chất lượng cao hơn;
- Phương thức phát triển: các yếu tố vật chất kết hợp với nhau theo một kết cấu có tri thức trên cơ sở thực hiện cách mạng khoa học- công nghệ;
- Điều kiện phát triển: ổn định, lợi ích chia sẻ hợp lý, có sự hợp tác quốc tế rộng rJi và môi trường thể chế thuận lợi;
- Chủ thể của sự phát triển: Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và công dân tham gia tự giác trong khuôn khổ thể chế rõ ràng, minh bạch”19
Những nội dung này có lẽ chỉ là sự tập hợp những ý tưởng và chủ trương
đJ có, chưa thực sự thêm được gì mới, song đây là sự ghi nhận một luận điểm phát triển hướng tới phát triển bền vững Những nghiên cứu tương tự cần tiếp tục
và phát triển thêm
Thực tế phát triển của nền kinh tế trong những năm vừa qua cho thấy rằng vấn đề chất lượng tăng trưởng cần được chú ý hơn bao giờ hết Trong hoạt động chỉ đạo và điều hành của Chính phủ, vấn đề chất lượng tăng trưởng kinh tế luôn
được đặt lên hàng đầu
Những nội dung chính biểu hiện chất lượng tăng trưởng mà WB, UNDP
và nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới nêu lên đều đJ được thể hiện trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
Ngoài ra, các tiêu chí để đánh giá cụ thể hơn tốc độ, tính chất bền vững và chất lượng của sự phát triển cũng từng bước được làm rõ hơn Ví dụ, theo Ngô
sang, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 37.
Trang 4DoJn Vịnh và cộng sự (2005), những tiêu chí chủ yếu được thể hiện ở Bảng 1 dưới đây
Bảng 6 Một số tiêu chí chủ yếu đánh giá tốc độ, tính chất bền vững và
chất lượng của sự phát triển kinh tế- xã hội
(GDP/LĐ)
Phản ánh chất lượng của tăng trưởng và phát triển
Xuất, nhập khẩu/GDP Độ mở của nền kinh tế
Tỷ trọng GDP ngành phi nông
nghiệp trong nền kinh tế
Đánh giá mức độ công nghiệp hoá
Tỷ lệ ngành dịch vụ/sản xuất Đánh giá độ hài hoà của sự phát triển
Tỷ lệ đầu tư cho chi phí sản
xuất trong tổng đầu tư
Đánh giá mức độ đầu tư cho công nghiệp hoá
An sinh xã hội
HDI Chỉ số phát triển con người liên quan đến ba
mặt: thu nhập, kiến thức và tuổi thọ
Trang 5HPI Chỉ số đánh giá mức độ nghèo đói
Bảo đảm môi trường
Chất lượng môi trường:
Mức độ tái tạo, bảo vệ môi trường
Nguồn: Ngô DoJn Vịnh (chủ biên) (2005)
Những trình bày trên đây đJ phần nào thể hiện sự tiến triển về quan niệm phát triển kinh tế- xJ hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao ở Việt Nam trong thời kỳ 20 năm đổi mới vừa qua
2 Thực trạng phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới nhìn theo cách tiếp cận mối quan hệ giữa tốc độ, tính chất bền vững và chất lượng
2.1 Những thành tựu và điểm mạnh
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Một trong những thành quả nổi bật của nền kinh tế Việt Nam trong suốt thời kỳ đổi mới chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao Nếu như thời kỳ trước đổi mới 1976- 1985, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm ở nước ta chỉ đạt khoảng 2%, thì sau khi đổi mới tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm được ghi nhận là 4,5% trong giai đoạn 1986-1990, 8,4% trong giai
đoạn 1991-1997, và vẫn đạt tới 6,6% trong giai đoạn 1998-2004 cho dù nền kinh tế phải chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế châu á (Hình 1) Sau một thời gian suy giảm vào cuối những năm 1990, thì từ năm 2000 GDP đJ trở lại xu hướng tăng trưởng khá ổn định Dự báo, tăng trưởng GDP năm 2005 có thể đạt 8-8,5% và tiếp tục đạt cao trong những năm tiếp theo
Hình 1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế, 1986-2004, (%)
Trang 63.4 4.6
2.7
5.1 6
8.6 8.1 8.8
9.5 9.4
8.8
5.8 4.8
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của nước ta trong những năm qua đJ có sự chuyển dịch tích cực, với tỷ trọng các lĩnh vực kinh tế có giá trị gia tăng cao ngày càng lớn hơn Xem xét cơ cấu kinh tế theo ba ngành (nông- lâm- ngư nghiệp, công nghiệp- xây dựng và dịch vụ) thì thấy rằng tỷ trọng nông- lâm- ngư nghiệp trong GDP đJ giảm khá đều đặn và tỷ trọng công nghiệp- xây dựng và dịch vụ đJ tăng lên tương ứng (Bảng 2) Điều này cho thấy trình độ phát triển của nền kinh tế đJ từng bước được nâng lên Tổng cộng tỷ trọng các ngành công nghiệp- xây dựng
và dịch vụ năm 2004 đạt tới 78,24% và tiếp tục đang trong xu hướng tăng lên, cho thấy nền kinh tế nước ta đang tiến triển trên con đường công nghiệp hoá
Bảng 7 Tỷ trọng các ngành trong GDP (%)
Nông- lâm- ngư nghiệp 38,06 38,74 27,18 24,30 21,76 Công nghiệp- xây dựng 28,88 22,67 28,76 36,61 40,09
Nguồn: Tổng cục Thống kê
- Mức độ mở cửa của nền kinh tế
Trang 7Trong hai thập kỷ qua, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
đJ đạt được nhiều thành tựu quan trọng Xuất khẩu, nhập khẩu tăng cao và ổn
định, nguồn vốn FDI đJ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ Tỷ trọng của xuất khẩu trong GDP những năm gần đây đJ đạt trên dưới 50%, tỷ trọng của khu vực FDI trong GDP đạt gần 14% (Bảng 3) Tỷ lệ tổng xuất khẩu
và nhập khẩu so với GDP tăng nhanh, đJ vượt mốc 100% vào năm 2002 và đạt tới gần 130% vào năm 2004, cho thấy độ mở cửa của nền kinh tế đạt mức cao và
đang tiếp tục gia tăng
Bảng 8 Xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài, 1995-2004
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 Thương mại
24,9 45,2 74,6
34,3 43,3 77,6
34,5 42,4 76,8
40,2 40,9 81,2
46,5 50,2 96,6
46,2 49,9 96,1
47,5 56,1 103,6
50,1 62,6 112,7
58,1 70,4 128,5
Chú thích: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được tính dựa trên luồng vốn
đổ vào nước ta bao gồm cả phần vay nước ngoài của các công ty liên doanh Nguồn: Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Thu nhập của nhân dân và giảm nghèo đói
Thành tựu tăng trưởng kinh tế khá cao của Việt Nam trong hai thập kỷ đJ góp phần làm mức tăng GDP đầu người đạt 5,8%/năm trong giai đoạn 1990-
2004, từ 114 USD năm 1990 lên 397 USD năm 2000 và 545 USD năm 2004
Trang 8Điều này đJ góp phần làm giảm tỷ lệ nghèo từ 58,1% năm 1993 xuống còn 28,9% năm 2002( theo chuẩn quốc tế), có nghĩa là Việt Nam đJ hoàn thành trước thời hạn kế hoạch toàn cầu “giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015” mà Liên hợp quốc đề ra Đây là một thành tựu được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Lợi ích tăng trưởng kinh tế được phân phối ngày càng rộng khắp, thể hiện ở chỗ tỷ lệ nghèo của tất cả các vùng và các bộ phận dư cư đều giảm xuống đều
9,2 45,5
6,6 35,6
Tỷ lệ nghèo phân theo nhóm dân tộc:
- Người Kinh và người Hoa
- Dân tộc thiểu số
53,9 86,4
31,1 75,2
23,1 69,3
64,2 29,3 48,1 34,5 62,4 12,2 36,9
43,9 22,4 43,9 25,2 51,8 10,6 23,4
Chi chú: Tỷ lệ nghèo tính bằng tỷ lệ phần trăm dân số
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trang 9
Sự gia tăng thu nhập một cách khá vững chắc đJ cho phép người dân nâng cao đáng kể mức chi tiêu cho cuộc sống, góp phần giảm mạnh tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ Nếu như năm 1990 tỷ lệ dân số sống dưới mức 1 USD/ngày (tính theo ngang giá sức mua-PPP) và 2 USD/ngày ( theo PPP) tương ứng là 50,8% và 87,0% thì đến năm 2004 các chỉ số này tương ứng giảm xuống còn 10,6% và 53,4%, một thành tích khá ngoạn mục (Bảng 5)
Bảng 10 Tỷ lệ nghèo của Việt Nam theo ngưỡng “1 USD/ngày”
và “2 USD/ngày”
Tỷ lệ dân số sống dưới mức
Năm Chi tiêu bình quân
đầu người (USD PPP/tháng) 1 USD/ngày
(PPP) (%)
2 USD/ngày (PPP) (%)
Trang 10chuyển biến rõ rệt, thể hiện ở chỗ tỷ lệ lao động làm công ăn lương và tỷ lệ lao
động làm việc trong các doanh nghiệp của chính mình gia tăng, trong khi tỷ lệ lao động làm việc trên ruộng của mình giảm xuống Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực tư nhân năm 2002 tăng lên đáng kể so với năm 1998, và từ 2002
- Làm việc trên ruộng của mình
- Làm việc trong doanh nghiệp của hộ gia đình
Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn
2002 2003 2004 2002 2003 2004
Trang 11Nguồn: Điều tra lao động và việc làm 2004
- Giáo dục, y tế và an sinh x0 hội
Cùng với quá trình phát triển nền kinh tế theo hướng thị trường, trong các lĩnh vực xJ hội, những năm qua đJ diễn ra xu thế xJ hội hoá với sự tham gia của nhiều chủ thể sở hữu khác nhau Tuy vậy, Nhà nước luôn luôn đặc biệt quan tâm
đến đầu tư cho các lĩnh vực này khi tiếp tục duy trì mức ngân sách chi tiêu cho các lĩnh vực xJ hội chiếm khoảng 30% tổng chi tiêu của Chính phủ (Bảng 8) Sự quan tâm này càng được thể hiện rõ nét khi xét đến bối cảnh ngân sách Nhà nước thường xuyên phải chịu sức ép chi tiêu cho phát triển kinh tế trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng 13 Tỷ trọng chi tiêu cho các lĩnh vực xã hội trong tổng chi tiêu của Chính phủ (%)
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Tỷ trọng chi tiêu
cho các lĩnh vực 33,4 33,5 32,1 32,7 29,8 29,8 31,4 29,7 30,0
Trang 128,7 4,4 13,0 6,1
10,1 4,3 13,0 6,1
10,2 4,1 11,7 6,7
9,4 3,4 10,6 6,4
9,6 3,4 10,4 6,4
10,1 2,9 11,2 7,1
10,4 3,0 9,3 7,0
12,3 3,1 8,0 6,6
Nguồn: Bộ Tài chính
Những kết quả đạt được là khả quan Người dân đJ được hưởng thụ những
điều kiện tốt hơn về giáo dục, y tế, văn hoá,… có tác dụng trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống Một số chỉ tiêu về xJ hội đJ liên tục gia tăng trong những năm vừa qua (Bảng 9) Tuy vậy, số liệu của Bảng 9 cũng cho thấy rằng một số chỉ tiêu về giáo dục đạt được là chưa vững chắc, thậm chí tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ người đi học trong độ tuổi 6-24 giảm đi, đó là chưa nói đến vấn đề chất lượng giáo dục ở nước ta
Trang 13Tỷ lệ suy dinh dưỡng của
Tỷ lệ người tham gia bảo
hiểm xJ hội trong dân số
- Phát triển con người
Những tiến triển khả quan về thu nhập, giáo dục và chăm sóc y tế đJ tác
động trực tiếp đến sự phát triển con người Chỉ số HDI của Việt Nam đJ tăng từ 0,539 năm 1995 (xếp hạng 120/174 nước) lên 0,691 năm 2004 (112/177) (Bảng 10)
Bảng 15: Chỉ số phát triển con người (HDI) qua các năm của Việt Nam
Trang 14tế (năm)
Chỉ
số
GDP bình quân
đầu người (USD-PPP)
Chỉ
số
Tỷ lệ biết chữ
của người lớn (%)
Tỷ
lệ đi học (6-
24 tuổi) (%)
Chỉ
số
Giá trị HDI
Thứ hạng so với các nước có trong báo cáo
Nguồn: Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP)
Một điểm đáng lưu ý: thứ bậc phát triển con người của Việt nam luôn luôn cao hơn thứ bậc phát triển kinh tế, chứng tỏ sự phát triển kinh tế của Việt Nam có xu hướng phục vụ con người và bảo đảm công bằng xJ hội (Bảng 11 cho thấy Việt Nam xếp hạng 112 về HDI và xếp hạng 124 về chỉ số GDP/đầu người, chênh lệch 12 bậc) Nhận định này càng được khẳng định khi quan sát tỷ
lệ số người sống dưới mức nghèo khổ của Việt Nam thấp hơn đáng kể so với cả những nước có mức GDP/đầu người cao hơn vượt trội Thí dụ, năm 2002, GDP/đầu người của Việt Nam thấp hơn Philippin, Trung Quốc và ấn Độ (Bảng 11), tuy vậy tỷ lệ dân số sống dưới mức 1 USD (PPP)/ngày của Việt Nam
Trang 15(13,6%) lại thấp hơn đáng kể so với ba nước này (tương ứng là 14,6%, 16,1%
Xếp hạng GDP/đầu người
Trang 16Xiêralêôn 0,273 177 520 176
Nguồn: Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP)
- Bảo vệ môi trường sinh thái
Khoảng thời gian hơn một thập kỷ qua đánh dấu những nỗ lực của nước ta trong việc bảo vệ môi trường, thể hiện ở việc ban hành và thực thi các thể chế, chính sách và tham gia các công ước quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường sinh thái Cụ thể là:
+ Về các văn bản pháp lý quan trọng, có: Kế hoạch hành động quốc gia
về môi trường và phát triển bền vững (1993); Luật Bảo vệ môi trường (1993); Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia giai đoạn đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020 (Quyết định 256/2003/QĐ-TTg, 2/12/2003); Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Quyết định 153/2004/QĐ-TTg, 17/8/2004) Ngoài ra, cần kể đến một số đạo luật quan trọng khác cũng đề cập
đến bảo vệ môi trường như: Luật Đất đai (1993, sửa đổi 2004); Bộ luật Lao
động (1994, sửa đổi 2001); Bộ luật Dân sự (1995, sửa đổi 2004); Luật Khoáng sản (1996); Luật Tài nguyên nước (1998); Luật Bảo vệ rừng; Luật Khoa học và Công nghệ; Pháp lệnh Bảo vệ các nguồn lợi thuỷ sản…;
+ Về các chương trình và chính sách quan trọng, có: Chương trình 327
“phủ xanh đất trống, đồi núi trọc” (1994); Chương trình 661 “tái tạo 5 triệu
héc-ta rừng”; Quyết định đóng cửa rừng vào năm 2003 (1997); thành lập Quỹ môi trường (1997);
+ Về tham gia các công ước quốc tế, có: Công ước Phát triển bền vững (1994); Công ước về buôn bán các loài có nguy cơ tuyệt chủng trong hệ thống
động, thực vật hoang dJ (CITES) (1994); Công ước về Luật biển của Liên hợp quốc (1994); Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn (1994); Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn (1994); Công ước khung về biến
đổi khí hậu của Liên hợp quốc (1994); Công ước Đa dạng sinh học (1994); và Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới các chất thải nguy hiểm và việc tiêu huỷ chúng (1995)
Thực hiện các thể chế và chính sách nêu trên, nước ta đJ thành lập hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về môi trường và tài nguyên đến cấp huyện và cấp xJ, thực hiện lồng ghép vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế- xJ hội ở các cấp, tăng cường và đa dạng hoá các nguồn
đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường và tài nguyên, đẩy mạnh công tác xJ hội hoá bảo vệ môi trường Tỷ lệ chi ngân sách cho sự nghiệp khoa học, công nghệ
và môi trường đJ tăng từ 1,14% của tổng chi ngân sách năm 2000 lên 1,27%
Trang 17năm 2003, trong đó chi riêng cho lĩnh vực môi trường là 0,5% Những nỗ lực nêu trên đJ bước đầu mang lại một số kết quả tích cực Theo nghiên cứu của nhiều chuyên gia môi trường nước ta, tỷ lệ tốc độ tăng ô nhiễm so với tốc độ tăng GDP ở nước ta thấp hơn một số nước có cùng trình độ Đi đôi với việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xJ hội, việc thực hiện các mục tiêu về môi trường được nêu ra trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo có tiến triển rõ rệt, chẳng hạn như tỷ lệ diện tích có rừng che phủ trong diện tích cả nước đJ tăng từ 28,3% năm 1990 lên 38,7% năm 2004 (vượt mức mục tiêu 38% vào năm 2005), tỷ lệ dân số được dùng nước sạch tăng từ 43% năm 1997 lên 77% năm 2004 (trong đó, tỷ lệ dân cư nông thôn được dùng nước sạch năm 2004 là 58%, có nhiều khả năng đạt mục tiêu 60% vào năm 2005), v.v Tuy nhiên, nhìn tổng thể, những kết quả đạt được còn rất hạn chế,
và hiện nay sự suy thoái và xuống cấp của môi trường đang trở thành một thực trạng đáng báo động ở nước ta Vấn đề này sẽ được trình bày cụ thể hơn trong phần II.2
- Đổi mới hệ thống chính trị và mở rộng tự do, dân chủ
Song hành với đổi mới về kinh tế và xJ hội, đổi mới trong lĩnh vực chính trị của nước ta trong 20 năm qua cũng đạt được những chuyển biến tích cực Chế độ tập trung quan liêu, với phương thức quản lý kinh tế hành chính mệnh lệnh đang được chuyển sang dân chủ hoá các lĩnh vực của đời sống xJ hội phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bước đầu thực hiện trách nhiệm giải trình và tính công khai minh bạch trong các hoạt động của Nhà nước, cải cách nền lập pháp, nền hành pháp, nền tư pháp trong đó trung tâm là cải cách hành chính, tăng cường sự kiểm tra, giám sát của nhân dân gắn liền với đề cao luật pháp, kỷ cương xJ hội Đổi mới trong lĩnh vực này đJ góp phần quan trọng vào việc tháo
gỡ những lực cản đối với phát triển kinh tế Nó góp phần hình thành một xJ hội công bằng, dân chủ, văn minh với các quá trình tự do, dân chủ hoá ngày càng
được đẩy mạnh, tăng cường sự ổn định và đồng thuận xJ hội Điều đó cùng với việc nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân đJ góp phần sản sinh ra những nhân tố mới, động lực mới thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển đất nước
- Phát triển văn hoá
Thực hiện đường lối phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, những năm qua nước ta đJ đạt được nhiều thành tựu về phát triển văn hoá Nền văn hoá dân tộc thống nhất trong đa dạng ngày càng phát triển, với sự bừng
nở văn hoá của 54 dân tộc trong một quốc gia thống nhất Bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn, đồng thời những tinh hoa văn hoá của nhân loại được tiếp thu một cách có chọn lọc Việc tiếp nhận, hưởng thụ văn hoá của người dân qua
Trang 18nhiều kênh khác nhau được cải thiện rõ rệt Nhiều công trình văn hoá được các ngành, các cấp quan tâm đầu tư giữ gìn, tôn tạo, các di sản văn hoá phi vật thể
được bảo tồn và phát huy Những hoạt động giao lưu văn hoá trong và ngoài nước được đẩy mạnh Đến nay Việt Nam đJ có quan hệ hợp tác văn hoá với hơn
50 nước ở tất cả các châu lục, với 45 hiệp định, chương trình hợp tác đJ ký kết
Đặc biệt, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng văn hoá đJ phát triển rộng khắp, góp phần khơi dậy ý thức tự giác, nhập thân văn hoá của mỗi người Những thành tựu nêu trên đJ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đồng thời đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước
2.2 Những thiếu sót và điểm yếu
- Chất lượng tăng trưởng kinh tế
+ Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua chưa thực sự ổn định
và chưa tương xứng với tiềm năng Sự chưa ổn định thể hiện ở chỗ tốc độ tăng trưởng GDP diễn biến trồi sụt theo thời gian, như đJ thể hiện rõ trên biểu đồ ở Hình 1 có thể nhận thấy rõ tính chất trồi sụt, năm 1986 tốc độ tăng trưởng đạt 6,5%, sau đó giảm xuống còn 3,4% năm 1987, rồi tăng lên 4,6% năm 1988, rồi giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 20 năm qua còn 2,7% năm 1989 Tiếp
đó, tốc độ tăng trưởng tăng liên tiếp trong ba năm đạt 8,6% năm 1992, sau đó giảm xuống còn 8,1% năm 1993, rồi tiếp tục tăng đạt mức đỉnh điểm 9,5% vào năm 1995 Kể từ mức đỉnh điểm này, tốc độ tăng trưởng giảm liên tiếp trong vòng bốn năm xuống chỉ còn 4,8% năm 1999, sau đó mới có xu hướng tăng trở lại và đạt 7,7% năm 2004 Tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng
được nhìn nhận từ khía cạnh Việt Nam là một nước nhỏ, đang trong giai đoạn
đầu phát triển, có nhiều tiềm năng đạt được tốc độ tăng trưởng cao để có thể rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước đi trước, tuy nhiên động thái tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng vốn có Tốc
độ tăng trưởng như vậy là thấp hơn đáng kể so với các nước trong khu vực vào giai đoạn đầu tiến hành công nghiệp hoá, hoặc khôi phục kinh tế; như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài loan, Singapor đJ từng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân một năm trên dưới 10% trong vòng 1-2 thập kỷ Trung Quốc là một nền kinh tế chuyển đổi giống Việt Nam, có tới hơn 1,3 tỷ dân và nông dân chiếm tới gần 70% dân số, nhưng nước này đJ duy trì được mức tăng trưởng bình quân hàng năm đạt xấp xỉ 9% trong suốt hai thập kỷ 1980 và 1990
+ Thứ hai, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, thể hiện rõ nét ở chỗ kém năng động của khu vực dịch vụ Tỷ trọng dịch vụ trong GDP trồi sụt theo từng năm và chưa thể hiện một xu thế chuyển dịch rõ ràng hướng tới một cơ cấu hiện
đại và có hiệu quả (năm 2004 đạt 38,15%, thấp hơn so với năm 2000 (39,09%), năm 1995 (44,06%), năm 1990 (38,59%) Tỷ trọng các loại dịch vụ cao cấp và
Trang 19chất lượng cao cũng còn rất thấp Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế có liên quan chặt chẽ đến cơ cấu lao động và cơ cấu đầu tư Cơ cấu lao động chưa có sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng tiến bộ, lao động chưa có việc làm còn lớn, đang
bị “tắc nghẽn” trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn Trong khi đó, cơ cấu
đầu tư, đặc biệt là đầu tư của nhà nước thể hiện sự mất cân đối lớn giữa nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản có hạn và tình trạng đầu tư tràn lan ở cả cấp trung
ương và các địa phương
+ Thứ ba, tăng trưởng kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào các nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng Điều này thể hiện ở chỗ tăng trưởng những năm qua chủ yếu dựa vào những ngành, sản phẩm truyền thống, hao phí vật tư cao, chưa đi mạnh vào những sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trí tuệ cao Phân tích sự
đóng góp của các nhân tố đầu vào đối với tăng trưởng GDP sẽ cho thấy rõ thực
Nguồn: Kinh tế Việt Nam 2003-2004, Thời báo Kinh tế Việt Nam
Sự đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP qua hai giai đoạn 1993-1997
và 1998-2002 đJ tăng lên, tương ứng từ 15% lên 22,5%, tuy nhiên tỷ trọng như vậy vẫn rất thấp, còn thua kém một số nước trong khu vực như Thái lan đạt 39%, Philippin 41% và Inđônêsia 43% Tăng trưởng do yếu tố vốn và lao động còn chiếm tới 77,5%, có nghĩa rằng phần đóng góp của khoa học, công nghệ và
Trang 20trí tuệ cho tăng trưởng chưa được bao nhiêu; nền kinh tế vẫn dựa vào những ngành sản phẩm truyền thống, chi phí trung gian cao, chưa đi mạnh vào những sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trí tuệ cao Điều này đồng nghĩa với việc nước ta chưa thoát khỏi hình thái kinh tế dựa vào tài nguyên, trong khi thế giới
đJ bước vào kinh tế tri thức
+ Thứ tư, hiệu quả kinh tế thấp thể hiện ở chỗ sử dụng lJng phí các nguồn lực và năng suất lao động xJ hội thấp Nguồn nhân lực được coi là một lợi thế phát triển quan trọng của nước ta, tuy nhiên lợi thế này không được sử dụng hết, thậm chí đang bị lJng phí nghiêm trọng Tính ở thời điểm 1/7/2004, cả nước có tới 5,6% lao động ở thành thị thất nghiệp và 20,66% lao động ở nông thôn chưa
được sử dụng (theo tính toán của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tương đương với gần 9 triệu lao động thất nghiệp hoàn toàn) Nguồn vốn hiện nay cũng đang bị sử dụng kém hiệu quả, thể hiện ở chỗ hệ số ICOR của nền kinh tế ở mức cao Năm 2004,
hệ số ICOR ở mức 4,7 lần (tức là để tăng 1 đồng GDP thì cần tới 4,7 đồng vốn
đầu tư phát triển), trong khi năm 1995- 1996 chỉ ở mức 3,4 lần Hệ số này cũng cao hơn các nước trong khu vực ( ICOR của Trung Quốc năm 2004 là 3,5 lần, của ấn Độ là 3,7 lần, của Singapore là 4,3 lần và của Malaysia là 4,6 lần) Tình trạng đầu tư chưa đúng mục tiêu, trùng lắp, dàn trải, không giám sát dẫn đến chất lượng các công trình kém, có khi không sử dụng được phải loại bỏ, gây ra
sự lJng phí vốn đầu tư lớn Đây là hậu quả của tình trạng “đầu tư theo phong trào”, của “hội chứng đầu tư” đJ kéo dài từ nhiều năm trước vẫn chưa chấm dứt Ngoài ra, sự lJng phí còn thể hiện ở chỗ trong xJ hội còn một lượng tiền vốn lớn chưa được huy động cho đầu tư phát triển Nguồn tiền này bao gồm tiết kiệm của dân cư, kiều hối gửi từ nước ngoài về, ngoại tệ do lao động ở nước ngoài gửi
về nước… Ước tính lượng tiền này lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng đang được găm giữ dưới dạng vàng, ngoại tệ mạnh, bất động sản,… mà không được đưa ra
đầu tư, kinh doanh Với một nền kinh tế đang có nhu cầu sử dụng vốn lớn như nước ta, rõ ràng việc không huy động được một lượng tiền vốn “nhàn rỗi” lớn trong dân cư là một sự lJng phí lớn
Nhân tố thứ hai cho thấy hiệu quả kinh tế thấp là năng suất lao động xJ hội thấp So với các nước ASEAN, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn từ 2-15 lần và chưa có dấu hiệu cải thiện Chi phí trung gian trong giá trị sản xuất chiếm tỷ lệ cao, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp- xây dựng, và có xu hướng gia tăng (Bảng 13)
Bảng 18 Tỷ lệ chi phí trung gian trong giá trị sản xuất (%)
1997 1998 1999 2000 2001 2002
Trang 21Toàn bộ nền kinh tế 48,76 47,83 47,75 50,35 51,57 52,10 Lĩnh vực công nghiệp- xây
dựng
65,16 63,76 62,30 63,90 64,58 65,12
Nguồn: Tổng cục Thống kê- Số liệu tài khoản quốc gia thời kỳ 1995- 2002
Chi phí trung gian cao đJ góp phần làm tăng giá thành các sản phẩm của Việt Nam Hiện nay, giá bán của nhiều sản phẩm trong nước cao hơn đáng kể so với giá quốc tế Điều này có ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của các sản phẩm, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế Việt Nam
+ Thứ năm, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và của sản phẩm còn rất thấp và có xu hướng giảm sút Theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2004- 2005 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) mới công bố, thứ hạng về năng lực cạnh tranh tăng trưởng (GCI) của Việt Nam năm 2004 đJ giảm 17 bậc
so với thứ hạng của năm 2003 (77/104 nước so với 60/102 nước) Cũng theo Báo cáo này, thứ hạng về cạnh tranh kinh doanh (BCI) cũng giảm từ 50/95 nước xuống 79/103 nước (giảm 29 bậc) (Bảng 14)
Bảng 19 Thứ hạng GCI và BCI của một số nước được lựa chọn
Quốc gia Năm 2004
(trên 104 nước)
Năm 2003 (trên 102 nước)
Quốc gia Năm 2004
(trên 103 nước)
Năm 2003 (trên 95 nước)
Trang 22Philippin 76 66 Philippin 70 54
Chú thích: Các số liệu đưa vào báo cáo có độ trễ một năm
Nguồn: Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2004)
Theo đánh giá của WEF, tuy Việt Nam đạt được nhiều thành tích trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô nhưng còn rất yếu kém về đổi mới công nghệ
và chậm trễ trong cải cách thể chế và hành chính Điều này là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụt giảm thứ hạng GCI của Việt Nam WEF cũng chỉ rõ một loạt nhân tố gây cản trở kinh doanh ở Việt Nam như: tham nhũng, bộ máy hành chính kém hiệu quả, kết cấu hạ tầng chưa thích hợp, lực lượng lao động chưa
được đào tạo tương xứng, quy định về thuế bất hợp lý, khả năng tiếp cận các nguồn tài chính yếu… Đây chính là những nhân tố chủ yếu dẫn đến sự giảm sút thứ hạng BGI của Việt Nam
Bảng sắp xếp thứ hạng trên đây đJ bị một số cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu của nước ta cho là không đúng Cũng như nhiều tính toán khác của các tổ chức quốc tế, ví dụ như các tính toán về HDI (chỉ số phát triển con người), TFP ( năng suất nhân tố tổng), tính toán về năng lực cạnh tranh trên đây chỉ có một giá trị tham khảo nhất định chương này dẫn ra tính toán đó cũng chỉ cốt nêu một tài liệu tham khảo Còn chính Đảng và Nhà nước ta từ nhiều năm nay đJ vạch rõ rằng năng lực cạnh tranh kinh tế của nước ta còn kém và chậm
được cải thiện
- Sự phân hoá giàu- nghèo
Mặc dù tăng trưởng kinh tế cao đJ làm cho tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam giảm đáng kể trong thời gian qua, tuy nhiên tỷ lệ nghèo ở Việt Nam vẫn đang ở mức cao Hơn thế nữa, còn khoảng 5-10% dân số Việt Nam vẫn thuộc diện dễ bị rơi vào tình trạng nghèo đói Số liệu của Bảng 4 cho thấy, từ năm 1993 đến
1998, tỷ lệ giảm nghèo theo tiêu chuẩn quốc tế giảm được 20,7 điểm phần trăm (từ 58,1% xuống còn 37,4%), nhưng từ năm 1998 đến năm 2002 tỷ lệ giảm nghèo chỉ đạt thêm được 8,5 điểm phần trăm (từ 37,4% xuống 28,9%) Người nghèo còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xJ hội cơ bản Khả năng tiếp cận các dịch vụ, lợi ích của tăng trưởng và thành quả
Trang 23do sự phát triển mang lại cho mọi công dân một cách khách quan và công bằng chưa cao
Một hiện tượng rất đáng lưu tâm là khoảng cách giàu- nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi đang
có xu hướng doJng ra (Bảng 15) Số liệu của Bảng 15 cho thấy rằng, hệ số chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất trong tổng dân số cả nước đJ tăng từ 4,98 năm 1993 lên 5,28 năm 1998 và lên 5,88 năm 2002 Hệ số GINI của Việt Nam, cũng như của hầu hết các vùng, miền trong cả nước, có xu hướng tăng trong những năm qua phản ánh rõ sự chênh lệch giàu- nghèo ngày càng doJng ra (Bảng 16)
Bảng 20: Tỷ lệ các nhóm 20% có thu nhập khác nhau trong dân số (%)
0,34 0,27
0,35 0,28
Trang 240,26 0,32 0,29 0,33 0,31 0,36 0,30
0,34 0,36 0,30 0,33 0,36 0,38 0,30
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Sự bất bình đẳng giữa nhóm nghèo nhất và nhóm giàu nhất thể hiện rõ nét
ở hầu hết các chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sinh kế và chất lượng cuộc sống của các nhóm Thí dụ, năm 2002, thu nhập bình quân đầu người một tháng của nhóm giàu nhất cao gấp hơn 8 lần so với nhóm nghèo nhất Số giờ làm việc trung bình của nhóm giàu nhất nhiều hơn nhóm nghèo nhất đến 1,7 lần, không phải vì những người nghèo làm ít giờ và không muốn làm việc, mà do tình trạng thiếu việc làm, đặc biệt là tình trạng thời gian nhàn rỗi ở khu vực nông thôn (Bảng 17)
Bảng 22 Bất bình đẳng giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất, 2002
Nhóm giàu nhất
Nhóm nghèo nhất
Tỷ lệ nhóm giàu nhất/nhóm nghèo nhất
Trang 25Thu nhập bình quân đầu người tháng
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới nghèo đói ở nước ta, trong đó nổi bật lên là những nguyên nhân thiếu vốn, thiếu đất sản xuất, thiếu lao động, thiếu kinh nghiệm làm ăn và đông người (Bảng 18) Điều này phần nào cho thấy rằng các chính sách phát triển kinh tế còn thiếu sót, chưa đủ để tạo dễ dàng và linh hoạt hoá sự phân bổ và luân chuyển các nguồn lực sản xuất, kinh doanh Cơ hội làm
ăn, tìm kiếm thu nhập do sự phát triển kinh tế tạo ra cho người nghèo còn hạn chế Bảng 18 dưới đây cho thấy kết quả điều tra xác định hộ nghèo của Bộ Lao
động, Thương binh và XJ hội thực hiện năm 2002, các con số trong Bảng phản
ánh tỷ lệ % ý kiến đánh giá từng tiêu chí so với tổng số ý kiến Số liệu của Bảng
18 gợi ra những điểm rất đáng chú ý phục vụ cho việc hoạch định chính sách, giải pháp xoá đói giảm nghèo ở nước ta trong thời gian tới
Bảng 23 Các nguyên nhân dẫn tới nghèo đói, 2002
Thiế
u vốn
m
Bệnh tật
Tệ nạn
Rủi
ro
Đôn
g ngườ
21,3
8 10,4
8,26 5,56 17,5
33,45 47,37 23,29
7,79 5,78 36,2
2,30 0,58 1,46
1,2
6 0,5
12,0
8 9,39
Trang 266 80,9
5 50,8
4 65,9
5 79,9
2 48,4
4
6 8,54 18,9
0 12,5
9 26,1
2 20,0
8 47,7
3
0 14,6
0 10,8
0 7,76 8,64 5,47
50,65 17,57 27,11 20,60 5,88
6 14,4
2 31,9
5 9,03 17,5
4 4,22
0,80 0,83 1,22 0,37 0,87
2 2,3
9 1,9
2 1,3
4 1,3
2 0,3
9 1,8
0
7,30 16,6
1 20,7
1 13,7
2 9,50 11,9
5
Nguồn: Bộ Lao động, Thương binh và XJ hội, Số liệu nghèo đói năm 2002
Chỉ số HDI giữa các địa phương trong cả nước cũng có sự chênh lệch lớn
Số liệu Bảng 19 dưới đây cho thấy rằng, năm 2001, chỉ số HDI của vị trí số 1 trong bảng xếp hạng (Bà Rịa- Vũng Tầu) cao gấp gần 2 lần chỉ số của vị trí cuối cùng (Lai Châu) Rõ ràng đây là một thách thức lớn đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển vì con người
Bảng 24 Chỉ số HDI của một số địa phương năm 2001
Đà Nẵng
Gia Lai
0,835 0,798 0,796 0,760
0,546
Trang 270,534 0,503 0,486
Nguồn: Tổng cục Thống kê
- Sự xuống cấp về môi trường
Mặc dù nước ta đJ có nhiều cố gắng trong việc hoạch định các thể chế, chính sách và tham gia các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, tuy nhiên, trên thực tế, quá trình phát triển kinh tế đJ gây ra những vấn đề ngày càng nghiêm trọng về môi trường sinh thái Tình trạng khai thác khoáng sản quá mức, phá rừng, xói mòn đất, ô nhiễm các nguồn nước, ô nhiễm môi trường công nghiệp, đô thị và nông thôn, thiên tai thường xuyên với tần suất cao và diễn biến phức tạp, sự suy giảm các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, tình trạng ô nhiễm xuyên biên giới,… đang là một thực tế ngày càng nghiêm trọng ở nước
ta Hầu hết các ngành công nghiệp của Việt Nam đều có mức tiêu hao tài nguyên lớn, dẫn đến phát thải lớn (Bảng 20) Trong số 10 ngành công nghiệp Hà Nội được lựa chọn ở Bảng 20 dưới đây thì có tới 5 ngành gây ra bụi với mức độ
ô nhiễm nặng, 4 ngành thải ra khí độc, 5 ngành thải nước với mức độ ô nhiễm nặng, v.v
Bảng 25 Đánh giá chung về ô nhiễm của các ngành công nghiệp
ở Hà Nội, 2003