Quan hệ kinh tế trong một nước là những quan hệ giữa những người tham gia vào quátrình soản xuất và lưu thông hàng hoá trên cơ sở phân công lao động và chuyên môn hoátrong nước .Quan hệ
Trang 1Hiệp định thương mại Việt- Mỹ với vấn
đề xuất khẩu hàng hoá của việt nam
sang mỹBiên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Trang 2Hiệp định thương mại Việt- Mỹ với vấn
đề xuất khẩu hàng hoá của việt nam
Trang 3MỤC LỤC
1 Khái Niệm và phát triển của thương mại quốc tế
2 Phát triển và các lý thuyết về thương mại quốc tế ở VN
3 Tổng quan về hiệp địng thương mại việt mỹ
4 Những nội dung chủ yếu của hiệp định thương mại
5 Quá trình phát triển hoạt động xuất khẩu hàng hoá
6 Cơ hội thâm nhập thị trường Mỹ của hàng hoá Việt Nam
7 Thách thức với việc xuất khẩu hàng hoá của việt nam sang mỹ
8 Các giải pháp tăng cường xuất khẩu các ngành hàng chủ lực
9 Các giải pháp từ phía nhà nước
10 Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường MỹTham gia đóng góp
Trang 4Khái Niệm và phát triển của thương mại
và làm giầu cho đất nước
Ngày nay thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sựphụ thuộc tất yếu giưa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế Vì vậy phải coitrọng thương mại quốc tế như là một tiêu đề ,một nhân tố phát triển kinh tế trong nướctrên cơ sở lựa chon một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế
Bí quyết thành công trong chiên lược phát triển kinh tế của nhiều nước là mở rộng thịtrường quốc tế và tăng nhanh xuất khẩu sản phẩm hàng hoá chế biến có hàm lượng kỹthuật cao
Thương mại quốc tế ,một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nướcphù hợp với su thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế ,mặt khác phải tính đến lợi thếtương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội Phả luôn luôn tinh toán cái có thểthu được so với cái phải trả khi tham gia buôn bán và phân công lao động quốc tế để cóchính sách thích hợp Vì vậy ,để phát triển thương mại quốc tế có hiệu quả nâu giài phảităng cường khả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thộc lẫn nhau ngay cànglớn
Quan hệ kinh tế trong một nước là những quan hệ giữa những người tham gia vào quátrình soản xuất và lưu thông hàng hoá trên cơ sở phân công lao động và chuyên môn hoátrong nước Quan hệ thương mạI quốc tế thể hiện sự phân công lao động và chuyên mônquốc tế ở trình độ kĩ thuật caovà quy mô lớn nó phát triển trong một môi trường khàchoan toàn các quan hệ kinh tế trong nước về phương thức giao dịch buôn bán,pháp luật
và nghiệp vụ
Thị trường trong nước và thi trương quốc gia là những phạm chù kinh tế khác nhau Vìvậy,các quan hệ kinh tế diễn ra giứa các chủ thể trong kinh doanh thương mại quốc tếmang tính chất kinh té xã hội hết sức phức tạp ,không thể cho phép nghĩ rằng cứ buônbán trong nước được thì buôn bán với nước ngoài cũng thành công
Trang 5Quá trình hình thành ,phát triển và lợi ích của thương mại quốc tế
thương mại quốc tế là sự trao đôỉi hàng hoá dịch vụ giữa các nước thông qua buôn bán.sự trao đổi đó là một hình thức của một quan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau
về kinh tế giữa những người soản xuất hàng hoá riêng biệt của tưng quốc gia
Thương mại quốc tế có tính chất sống còn vì một lý do cơ bản là ngoại thương mở rộngkhả năng soản xuất và tiêu dùng của một nước Thương mại quốc tế cho phép một nướctiêu dung tất cả các mặt hàng với số lương nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với ranh giớicủa khả năng soản xuất trong khi nước thưc hiện chế độ tự cung tự cấp ,không mua bán
Tiền đề xuất hiện sự trao đổi là phân công lao động xã hội với tiến bộ khoa học kĩ thuật,phạm vi chuyên môn hoá ngày càng cao số sản phẩm và dịch vụ để thoả mãn nhu cầucon người ngày một dồi dào ,sự phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng tăng
Thương mại quốc tế và chuyên môn hoá tăng nhanh đã đặt ra câu hỏi:
Buôn bán để làm gì?
Trước hết thương mại suất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của soản xuất giữacác nước cho nên chuyên môn hoá soản xuất một số mặt hàng cò lợi thế và nhập khẩucác mặt hàng khác từ nước ngoài mà soản xuất trong nước kếm lợi thế chắc chắn đêmlạI lợi nhuận lớn hơn
Sự khác nhau về điệu kiện sản xuất ít nhiều cũng giải thích được sự hình thành thươngmại quốc tế giữa các nước trong kinh doanh các mặt hàng như dầu lửa ,lương thực, dịch
vụ du lịch Song phần lớn số liệu tự nhiên vốn có của sản xuất ,Mỹ sản xuất đựơc ô tôtại sao nhập khẩu ô tô từ nhật bản ? vì sao nước ta sản xuất với xuất phát đIểm và chiphí sản xuất các mặt hàng đều lớn hơn chi phí sản xuất các cường quốc kinh tế khác vẫn
có thể duy trì thương mại với những nước đó
Năm 1817 ,nhà kinh tế học David Ricảdo đã chưng minh: chuyên môn hoá quốc tế cólợi cho tất cả các nước và gọi kết quả là quy luật lợi thế tương đối (hay lý thuyết về lợithế so sánh )
Quy luật lợi thế so sánh nhấn mạnh sự khác nhau về chi phí sản xuất ,coi đó là chìa khoácủa phương thức thương mại lý thuyết này khẳng định nếu mỗi quốc gia chuyên mônhoá sản xuất các sản phẩm mà nước đó có lợi thế tương đối hay có hiệu quả sản xuất sósánh cao nhất thí thương mại sẽ có lợi cho cả hai nước
Những lợi ích thương mại quốc tế do sự chênh lệch giữa các quốc gia về chi phí cơ hội.Chi phí cơ hội của một mặt hàng là số lượng các mặt hàng khác người ta phảI từ bỏ đểsản xuất hoặc kinh doanh thêm một đơn vị hàng đó
Trang 6Giả sử nền kinh tế khép kín có các nguồn lực nhất định có thể là đầu máy video,áo sơ
mi càng sử dụng nhiều nguôn lực vào việc sản xuất đầu máy video ,thì càng cò ít nguồnlực để sử dụng vào việc sản xuất áo sơ mi Chi phí cơ hội của đâu máy video là lương
áo sơ mi bị hi sinh do dùng nguồn lực vào việc làm ra các đâu máy vi deo
Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí tương đối đẻ làm ra các mặt hàng khác nhau sự chênhlệch giữa các nước về chi phí tương đối tronh sản xuất quyết định phương thức thươngmại quốc tế Phương thức thương mại quốc tế minh hoạ bằng quy luật lơi thế tương đối
Quy luật lợi thế tương đối nói rằng :”các nước hay cá nhân nên chuyên môn hoá trongviệc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà họ làm ra với chi phí tương đối thấp hơnthì sẽ có lợi ích kinh tế lớn hơn”
Có nhiều nguyên nhân giải thích tai sao chí phí cơ hội hoặc chi phí tương đối lại có thểkhác biệt ở các nước khác nhau chúng bắt nguồn từ sự khác biệt trong kỹ thuật côngnghệ hoặc hiệu xuắt Ví dụ ,hai nước Mỹ và Anh đang sản xuất ra hai loại hàng hoá làmáy video và áo sơ mi Giả định rằng lao động là yếu tố sản xuất duy nhất có mức lợitức không đổi theo quy mô ,ta có :
Bảng 1:lợi thé só sánh của Mỹ và Anh về máy vi deo và áo sơ mi theo giờ lao động
Cần 30giờ ở mỹ để sản xuất ra 1 máy video và 5giờ để sản xuất ra 1 áo sơ mi lao động
ở anh có hiệu suất kếm hơn ;cần 60giờ để làm ra 1 máy video và 6 giờ để sản xuất ra 1
áo sơ mi
Ta giả thiết rằng có sự cạnh tranh hoàn hảo ,do vậy giá cả các mặt hàng bằng chi phíbiên của nó vì mức lợi tức không đổi theo quy mô nên chi phí biên băng chi phí trungbình chính vì thế giá cả bằng chi phí trung bình của sản xuất do đó lao động là yếu tốsản xuất duy nhất nên trong ví dụ trên chi phí trung bình được tính bằng giá trị đầu vàolao động trên một đơn vị đầu ra sản lượng tức là chi phí lao động cho một đơn vị sảnphẩm
Giả thiết rằng công nhân Mỹ kiếm được 6 USD/giờ ,ta có chi phí lao động cho một đơn
vị của hai loạI hàng của mỗi nước như sau;
Trang 7Bảng số 2:lợi thế tương đối của Anh và Mỹ về máy videovà áo sơ mi theo chi phí laođộng.
Nếu không có thương mại quốc tế thì mỗi nước sẽ phải sản xuất cả hai loại hàng vào cácchi phí lao động cho mỗi đơn vị sản phẩm là giá trị nội địa của mỗi sản phẩm bán ra ởthị trường trong nước
Đối với cả hai sản phẩm ,yêu cầu lao động cho một đơn vị sản phẩm ở Mỹ thấp hơnmôt cách tuyệt đối so với yêu cầu này ở Anh Nhưng lao động ở Mỹ hiệu quả hơn mộtcách tương đối về máy video và áo sơ mi Còn số giờ lao động để soản suất ra một máyvideo ở Anh nhiều gấp đôi so với Mỹ nhưng ở Anh chỉ cần 6/5giờ lao động để sản xuất
ra một cái áo sơ mi ở Mỹ chính những trênh lệch tương đối về năng xuất này là cơ sởcho thương mại quốc tế
Còn nhiều lý do khác khiến cho thương mạI quốc tế rất quan trọng trong thế giới hiệnđại Một trong những lý do đó có thể là thương mại quốc tế tối cần thiết cho chuyênmôn hoá để có hiệu quả kinh tế cao trong ngành công nghiệp hiên đại chuyên môn hoáquy mô lớn làm chi phí sản xuất giảm và hiệu quả kinh tế theo quy mỗ sẽ được thực hiệntrong hàng hoá các nước sản xuât
Sự khác nhau về sở thích và mức cung cầu là những nguyên nhân giẫn tới việc xuất hiệnthương mại quốc tế Ngay cả trong trương hợp hiệu quả tuyệt đối ở hai nước giống hệtnhau ,thương mại quốc tế vẫn có thể sẩy ra do sự khác biệt về sở thích
Trang 8Phát triển và các lý thuyết về thương mại
quốc tế ở VN
Phát triển thương mại quốc tế ở việt nam hiện nay.
a.Chủ trương mở cửa nền kinh tế
Có thể nói nhu cầu trao đổi háng hoã xuất hiện từ thời cổ đại nhưng chỉ từ khi ra đời nềnsản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa mới dẫn đến sự phá vỡ tính chất khép kín của từngđơn vị kinh tế trong từng quốc gia và của từng nước tự do thương mai gắn dan tộc vớithi trường thế giới ,gắn phân công lao động trong nước với phân công lao động quốc tế Ngoại thương trở nên không thể thiếu được đối với sản xuất đó ,như LêNin nhận xét
“không có thị trương bên ngoài thí một số nước tư bản chủ nghĩa không thể sống được”
Nước ta và một số nước khác đã có lúc xêm xét vấn đề độc lập kinh tế và xây dựng mộtnền kinh tế hoàn chỉnh mang tính chất tự cung tự cấp để tránh sự lệ thuộc vào bên ngoài Thực tê đã chứng minh rằng không một quốc gia nào có thể đề ra cho mình một mụctiêu đầy tham vọngnhư vậy Bởi vì không có quốc gia nào dù giầu mạnh như Mỹ hayTrung Quốc lại xây dựng một nền kinh tế tự cung tự cấp vô cùng tốn kếm về cả vật chất
và thời gian
Mở rộng thị trường thương mại quốc tế và các mối quan hệ kinh tế đối ngoạI khác lávận dụng một trong những bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ thực tiễn của nước tatrong những năm qua về mở cửa nền kinh tế Báo cáo chính trị của ban chấp hành trungương Đảng tại đại hội lần thứ V||| nhấn mạnh “tiếp tục thực hiện đường nối đối ngoạiđộc lập tự chủ ,mở rộng địa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinhthần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới ,phấn đấu vìhoà bình độc lập và phát triển Hợp tác nhiều mặt song phương và đa phương với cácnước ,các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập ,chủ quỳen vàtoàn vện lãnh thổ ,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau ,bình đẳng ,cùng cólợi ,giảI quyết các vấn đề tồn tạI các tranh chấp bằng thương lượng “(văn kiện đại hộiVIII-ĐCSVN)
Xu thế phát triển của nhiều nước trong nhưỡng năm gần đây là thay đổi chiến lược tàđóng sang mở cửa , từ thay thế nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu
Nền kinh tế đóng cửa là nền kinh tế tự cung tự cấp sản xuất thay thế nhập khẩu Đặctrưng của nền kinh tế này là sản xuất trực tiếp tiêu dùng Tổ chức xã hội của lao độngdiễn ra trong phạm vi hẹp ,mang nặng tính bảo thủ Nó không phù hợp với các quy luật
Trang 9phát triển khách quan của thế giới Chuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá là
cả quá trình khó khăn phức tạp vì tính chất tri tuệ ,bảo thủ của nền kin tế tự nhiên.Chính sách “đónh cửa “kông thể tồn tại lâu dài do những lý do sau :
-Trong những điều kiện quốc tế quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng cao,sự phâncông lao động quốc tế ngày càng sâu , các nước phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tích cựchơn vào các quá trình liên kết kinh tế và hợp tác quốc tế ,một chính sách biệt lặp “đóngcửa “là không thích hợp
-cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh trở thành nhân tố quyết định sự pháttriển của sản xuất Trong khi đó ,chính sách “đóng cửa”đã hạn chế khả năng tiếp thu kĩthuật mới ,làm cho nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu soản xuất nhỏ là phổ biến không
có nguồn bổ sung kỷ thuật tiên tiến Kết quả là tất yếu là năng xuất lao động thấp ,hiêuqua kếm ,khả năng cạnh tranh yếu,tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm Hầu hết các nướcnghèo ,lạc hậu hoặc đang phát triển đều thiếu vốn.Trong khi đó,quá trình phát triển kinh
tế đòi hỏi nhập khẩu một lượng ngày một nhiềumáy móc thiết bị và nguyên liêụ côngnghiệp.Nếu không phải phát triển mạnh thương mại quốc tế thì vấn đề thiếu hụt trongkhâu thanh toán ngày càng lớnvà trở nên gay găt
-Thị trường trong nước nhỏ hẹp,không đủ đảm bảo cho sự phát triển công nghiệp vớiqui mô hiện đại,sản xuất hàng loạt ,do đó không tạo thêm công ăn việc làm –vấn đề màcác nước nghèo luôn luôn phải giải quyết
-trong thế giới hiện đại,không có một quốc gia nào bằng chính sách đóng cửa của mìnhlại phát triển có hiệu quả kinh tế trong nước Muốn phát triển nhanh mỗi nước khôngthể đơn độc dựa vào nguồn lực lượng của mìmh mà phải tận dụng các thành tựu kinh
tế khoa học kỹ thuật của loài người để phát triển Nền kinh tế mở cửa sẽ mở ra hướngphát triển mới tạo điều kiện khai thác lợi thế ,tiềm năng sẵn có trong nước nhằm sử dụngphân công lao động quốc tế một cách có lợi nhất
-Đối với những nước mà trình độ phát triển kinh tế còn thấp như nước ta, những yếu tốtiềm năng là tài nguyên thiên nhiên và lao động Còn những yếu tố thiếu hụt làvốn, kỹthuật ,thị trường và khả năng quản lý Chiến lược hướng vào xuất khẩu thực chất là giảpháp mở cửa nền kinh tế nên kinh tế nhằm tranh thủ vốn kỹ thuật của nước ngoài ,kếthợp chúng với tiềm năng trong nước (lao động và tài nguyên thiên nhiên )để tạo sự tăngtrương nhanh cho nền kinh tế góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với nước giầu
Với định hướng phát triỉn kinh tế xã hội của đảng ,chính sách kinh tế đối ngoại nói chung
và thương mại quốc tế nói riêng phải được coi là chinh sách cơ cấu có tầm qan trọngchiến lược nhằm phục vụ quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân Chính sách xuấtkhẩu phảI tranh thủ được tới mức cao nhất nguồn vốn kỹ thuật,công nghệ tiên tiến của
Trang 10nước ngoài nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển ,giải quyết việc làm cho ngườilao động ,thực hiện phương châm phát triển thương mại với nước ngoài để đẩy mạnhsản xuất trong nước ,vừa có sản phẩm để tiêu dùng vừa có hàng hoà để xuất khẩu.
Cho đến nay, chúng ta đã gặt hái được những kết quả đáng mừng từ chính sách thươngmại ,giao lưu kinh tế với bên ngoài Nước ta đang từng bước chuyển mình với nhịp độsản xuất mới bằng những công nghệ khoa học tiên tiến.Tin tưởng rằng với những hướng
đi đúng đắn và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và nhà nước ,Việt Nam sẽ trở thành mắtxích quan trọng trong nên kinh tế thế giới
Như vậy ,thương mại quốc tế là tất yếu khach quan tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất trôngnền sản xuất của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới Chế độ tư bản chủ nghĩa ra đờingăn chặn thị trương dân tộc với thị trương thế giới ,gắn phân công nao động trong nướcvới phân công lao động quốc tế : thương mại và thị trưòng thế giới đã trở thành tiền đềcủa phương thức sản xuất hàng hoá Ngày nay trong đIều của thế giới hiện đại khi quátrình quốc tế hoá đời sống kinh tế trở nên sâu rộng hơn bao giờ hết ,khi cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật công nghệ đã phát triển đến một trình độ cho phép có thể phân chiacác công đoạn của quá trình sản xuất thành các khâu khác nhau và phân bố những vị trí
xa nhau thì không nước nào có thể đóng cửa nền kinh tế tự mình thực hiện một chínhsách biệt lập khỏi mối quan hệ cộng đồng Nhận thức rõ đIều đó đảng và nhà nước tahướng đI mới trong lối cuả mình
Các lý thuyết về thương mại quốc tế.
Lý thuyết cổ điển
Chủ nghĩa trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương xuất hiện và phát triển ở châu Âu,mạnh nhấtlà ở Anh và Pháp
tư thế kỷ15,16 và thịnh hành vào cuối thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 18 Các học giả tiêubiểu của chủ nghĩa này là jean Bodin, Melon, (Pháp) và Thomas, Munn, (Anh) Tư tương
cơ bản của chủ nghĩa trọng thương coi vàng và các kim loại quý là đại biểu cho sự giầu
có của các quốc gia Để có sự giầu có này các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhaucác sản phẩm đặc thù của mình Lợi nhuận buôn bán theo chủ nghĩa trọng thương là kếtquả của sự trao đổi không ngang giá và lương gạt giữa các quốc gia Thương mại quốc
tế chỉ có lợi cho một bên và gây ra thiệt hại cho bên kia “ dân tộc này làm giầu bằngcách hi sinh lợi ích của dân tộc kia “ Theo tư tưởng đóthì chính phủ là chủ thể chủ yếucủa quan hệ thương mại quốc tế Để có thể có nhiều vàng và kim loại quỳ thì quốc gianày phải bóc lộtt quốc gia khác , ngoài ra chính phủ phải sử dụng các công cụ để dẩymạnh xuất khẩu và hạn ché nhập khẩu bằng cách tăng thuế nhặp khẩu
Lý thuyết về thương mại quốc tế của chủ nghĩa trọng thương đã đạt được những thànhtựu đáng kể ,tuy nhiên không tránh khỏi những hạn chế Nhìn chung ,lý thuyết trọng
Trang 11thương đã sớm đánh giá được tầm quan trọnh của thương mại quốc tế ,nó khác với tràolưu tư tưởng kinh tế phong kiến thời bấy giò đề cao nền kinh tế tự cung tự cấp Vaitrò của nhà nước với tư cách la chủ thể điều chỉnh quan hệ buôn bán của một nước vớinước khác đã được coi trọng tuy vậy lý thuyết về thương mại quốc tế này còn đơn giản,ít tính chất lý luận ,thương đựơc nêu lên dưới hình thức lời khuyên thực tiễn về chínhsách kinh tế ,lập luận mang tính chất kinh nghiệm chưa cho phép giải thích bản chất củathương mại quốc tế
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Lý thuyết tuyệt đói của AdsmSmỉtha đời gần với 3cuộc cách mạng : Cách mạng côngnghiệp ,cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp lý thuyết này được xây dựng trên cởo lýthuết về buôn bán tự do được phát triển vào thời kì này Theo Adamsmith các quốc gia
sẽ thu được lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế dựa trên lọi thế tuyệt đối của quốcgia đó
Việc sử dụng chính khái niệm lợi thế tuyệt đối này là cách giải thích đơn giản nhất vềcách ứng sử trong buôn bán Rõ ràng việc buôn bán giữa các quốc gia khác bị thiệt từthương mại thì họ sẽ từ chối ngay Giả sử thế giới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc giachỉ sản xuất hai mặt hàng giống nhau Quốc gia tứ nhất có lợi tuyệt đối trong việc sảnxuất hàng hoá X quốc gia thứ hai có lợi tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá ýo sánhvới quốc gia thứ nhất Nếu mỗi quốc gia tiến hành chuyên môn hoá trong việc sản xuấtmột mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối ,sau đó trao đổi thì cả hai quốc gia cùng có lợi.Trong quá trình này ,các nguồn lực sản xuất của cả thế giớisẽ được sử đụng một cáchhiệu quả nhất ,do đó tổng sản phẩm của thế giới sẽ gia tăng Sự tăng thêm của các sảnphẩm của toàn thế giới là nhờ vào sự chuyên môn hoá và được phân bố giưã hai quốcgia theo tỷ lệ trao đổi thông qua ngoai thương
Thực chất về lợi thế tuyệt đối có tể mimh hoạ thông qua ví dụ sau:
Bảng số 3 :Lợi thế tuyệt đối của Việt Nam và Đài Loan về mặt hàng gạo và thịt bò theosản phẩm
Như vậy ,Việt Nam có lợi thế trong việc sản xuất gạo so với đài Loan còn đài Loan cólợi thế trong việc sản suất thịt bò Việt Námẽ chuyên môn hoá ,trong việc trông lúa còn
Trang 12Đài Loan sẽ chuyên môn hoá trong việc nuôI bò ,hai nước trao đổi sản phẩm trên chonhau
Nừu tỷ lệ trao đổi quốc tế là 6 gạo đổi 6 thịt bò thì Việt Nam sẽ tiết kiệm được 2kg thịt
bò do mỗi giờ công ở Việt Nam chỉ sản xuất được 4kg thịt bò và tỷ lệ trao đổi nội địa là:6 gạo =4 thịt bò Tương tự như vậy ,6gạo mà Đài Loan nhận được từ Việt Nam tươngđương với 6giờ công lao động ở đài Loan và có thể tạo ra 30kg tịt bò như vậy Đài Loanđược lợi lợi 30-6=24kg.tỷ lệ trao đổi nội địa là 2gạo=5thịt bò Tỷ lệ trao đổi quốc tế sẽlà:
6/4 >( Gạo)/( thịt bò)= tỉ lệ trao đổi quốc tế >1/5
tuy nhiên lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích cho một phần nhỏ của thương mại quốc tế hiênnay ,đó là thương mại giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển Phần lớnthương mại thế giới ,đặc biệt là thương mại giữa các nước phát triển không thể giảI thíchđược băng lợi thế tuyệt đối
Lý thuyết về lợi thế tương đối.
Theo David Ricado nếu một quốc gia bất lợi trong việc sản xuất các mặt hàng thì có thểtham gia vào thương mại quốc tế nếu biết nự chọn mặt hàng thích hợp có lợi thế sóánh.Lợi thế sóánh là lợi thế đạt được của một quốc gia nếu quốc gia đó chuyên môn hoásản xuất và xuất khẩu những sản phẩm thể hiện mối tương quan thuận lợi hơn so vớiquốc gia khác về cùng mặt hàng đó và nhập khẩu nhữnh mặt hàng có tính chất ngược lại.Nếu quốc gia nào có hiệu quả thấp trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng thì quốc gia
đó sẽ chuyên môn hoá sản xuất và nhập khẩu các loại hàng hoá mà việc sãnuất ra chúng
ít bất lợi nhất;nhập khẩu hàng hoá bất lợi nhất Mô hình lợi thế tương đối có thể minhhoạ qua ví dụ sau:
Đài Loan có lợi thế tuyệt đối cả hai mặt hàng ,Việt Nam thì không có lợi thế tuyệt đối.Nừu theo quan đIúm của AdamSmiththì Việt Nam không nhập khẩu mặ hàng nào và
Trang 13đài Loan xuất khẩu cả hai mặt hàng ;còn theo David Ricảdo thì Việt Nam có thể thamgia thương mạI quốc tế nếu nựa chọn những mặt hàng có lợi thế so sánh.
Xét quan điểm tương quan năng xuất <tqchi phí > thì tương quan ngành thép năng xuấtlao động của Đài Loan gấp 6 lần năng xuất lao động của Việt Nam Trong nghành vảinăng xuất lao động của Đài Loan gấp hai lần năng xuất lao động cua Việt Nam VậyĐài Loan lựa chọn chuyên môn hoá thép còn Việt Nam chuyên môn hoá vải
Tỷ lệ trao đổi quốc tế :
1/2 < Tỷ lệ trao đổi quốc tế Thép/ vải < 6/4
Giả sử tỷ lẹ trao đổi quốc tế là 1/1 (6kg thép đổi 6 m vải )thì Đài Loan sẽ lợi 2m vải, tứctiết kiệm được ẵ giờ công Việt Nam nhận được 6kg thép tương đương 6 giờ công ,ViệtNam sử dụng 6 giờ công để sản xuất vải thì qua trao đổi với Đài Loan sẽ được lợi 6mvải hay tiết kiệm được 3giờ công Nừu trao đổi theo tỷ lệ của Việt Nam thì 6kg thép đổilấy 13m vải còn theo tỷ lệ của Đài Loan thì 6thép lấy 4vải Nếu tỷ lệ trao đổi gần tỷ lệtrao đổi nội địa của Đài Loan thì Việt Nam càng có lợi và ngược lại ,nếu gần tỷ lệ củaVệt Nam thì Đài Loan càng có lợi Vậy khoảng dao động của tỷ lệ trao đổi quốc tế là:4m vải <6kg thép <12m vải
Trong trường hợp 6kg thép đổi 6m vải thì Đài Loan được 2m vải còn Việt Nam sẽ được6m vaỉ Nếu trao đổi 6kg thép lấy 8m vảI thì Đài Loan được lợi 4m vải còn Việt Namcũng được lợi 4m vải Như vậy khi tỷ lệ trao đổi quốc tế thay đổi sẽ dẫn đến sự phânphối lại nguồn lợi từ thương mại giữa các nước tham gia
Cách tiếp cận của Haberler về lợi thế tương đối
Lợi thế tương đối ,cách tiếp cận của Hablẻlẻ về lợi thế tương đối
Xét từ góc độ chi phí cơ hội theo quan điểm của Hablerlerlowij thế tương đối chính xáchơn nhiều so với cách lý giải của D Ricảdotheo thuyết giá trị lao động Theo thuyết nàythì chi phí cơ hội của một hàng hoá là khối lượng các hàng hoá khác phải cắt giamr đểnhường đủ số nguồn lực sản xuất thêm một đơn vị hàng hoá thứ nhất
Quốc gia nào có chi phí cơ hội thấp về một mặt hàng nào đó thì quốc gia đó sẽ có lợi thế
so sánh về mặt hàng này và ngược lại
Bảng số5: Lợi thế tương đối của Việt Nam và Đài Loan về gạo và thịt bò theo sản phẩmlao động
Trang 14-Đối với Việt Nam:
+Chi phí cơ hội đẻ sản xuất gạo :1kg gạo = 5kg thịt bò
+Chi phí cơ hội để sản xuất thịt bò: 1kg thịt bò =3/2 kg gạo
-Đối với ĐàI Loan :
+Chi phí cơ hội để sản xuất gạo : 1kg gạo = 5kg thịt bò
+Chi phí cơ hội để soản xuất thịt bò :1kg thịt bò = 1/5 kg gạo
Đài Loan có lợi thế về thịt bò nhưng bất lợi về goạ còn Việt Nam có lợi thế về gạo nhưngbất lợi về thịt bò
1/5 >= Tỷ lệ trao đổi quốc tế gạo/thịt <= 6/4
Đường giới hạn tiềm năng sản xuất của các quốc gia trong điều kiện chi phí cơ hội không đổi
Trang 15Trong điều kiện chi phí cơ hội không thay đổi thì đường giới hạn tiềm năng sản xuất củamột quốc gia là đường thẳng:
Trang 17Tỷ lệ trao đổi quốc tế của hai quốc gia nằm ở trong khoảng 2tỷ lệ trao đổi nội địa:1/5 < Tỷ lệ trao đổi quốc tế gạo/thịt bò < 6/4
Đài Loan sẽ thu được lợi ích tối đa nếu trao đổi tỷ lệ của Việt Nam
Việt Nam thu được lợi ích tối đa nếu trao đổi tỷ lệ của Đài Loan
Nếu trao đổi hàng hoá trên cơ sở lợi thé so sánh thì các quốc gia tăng được sản xuất vàtiêu dùng Vì vậy ,các quốc gia có đIều kiện tăng trưởng nền kinh tế và điều chỉnh cơcấu Đường giới hạn khả năng sản xuất của Đài Loan sau thương mại song song vớiđương giới hạn khả năng sản xuất của Việt Nam trước thương mại ;đường giới hạn củaViêt Nam sau thương mại song song với đương giới hạn khả năng sản xuất của Đài Loantrước thương mại
Lý thuyết Hekshẻ-Ohlin về lợi thế tương đối
-Các giả định lý thuyết Hekshẻ-Ohlin là thế giới có hai quốc gia ,hai hàng hoá ,hai yếu
tố lao động và tư bản Giả định này là bước mở rộng của mô hình D Ricardo
- Một hàng hoá chứa nhiều lao động và tư bản trong một hàng hoá người ta thường xemxét tỷ lệ K/L:
-Nếu K/N lớn thì hàng có hàm lượng tư bản cao
-Nếu K/N nhỏ thì hàng hoá này có hàm lượng lao động cao
Trang 18- Công nghệ sản xuất ở hai quốc gia không thay đổi ,chi phí sản xuất không đổi
-Tỷ lệ thu hồi vốn theo quy mô là hằng số
-Cạnh tranh hoàn hảo trên thị trương các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra Điều này
có ý nghĩa là giá cả yếu tố đầu vào và đầu ra được quyết định bởi cung và cầu
- không có chi phí vâni tải ,không có hàng rào thuế quan và các trở ngại thác trong buônbán của các quốc gia
-Thương mại hoàn toàn tự do
Để xét xem hàng hoá giầu lao động hay giầu tư bản cần xem xét tỷ lệ K/L: hàng hoá nào
có tỷ lệ K/L cao thì hàng hoá này được coi là giầu tư bản ;hàng hóa có tỷ lệ K/L thấphàng hoá này gọi là hàng hoá giầu lao động
Đò thị 5:biểu diễn hàng hoá giầu tư bản và hàng hoá giầu lao động
Để xem xét hàng hoá sử dụng nhiều lao động hay hàng hoá sử dụng nhiều tư bản phảicăn cứ vào chi phí lao động và tư bản để sản xuất ra hàng hoá đó
Tỷ lệ giữa tư bản và lao động là tỷ lệ tương dối được xêm xét từ góc độ từng sản phẩm
cụ thể ,nếu ở góc độ quốc gia thì để biết được một quộc gia giầu lao động hay giầu tưbản cần phải căn cứ vào giá cả của lao động hay giá cả của tư bản Giá cả của tư bảnđược thể hiện ở lãi xuất (r) Giá cả của lao động được tính bằng tiền lương (w) ,nếu tỷ
lệ r/w cao thí đâu là quốc gia giầu lao động bởi lý do thiếu vốn cho nên giá vốn cao giálao động thấp
K/Lcao thì đây là quốc gia giầu vốn
Trang 19R/Wthấp đây là quốc gia giầu tư bản vì do dư thừa vốn nên lãi suất thấp và giá lao độngcao.
Hàng hoá X là hàng hoá sử dụng nhiều lao động còn hàng hoá Ylà hàng hoá sử dụngnhiều vốn Biểu diễn đường giới hạn khả năng sản xuất của hai quốc gia : một quốc giagiầu lao động , một quốc gia giầu vốn
Quốc gia giầu lao động sẽ sử dụng để sản xuất hàng hoá giầu lao động và quốc gia giầuvốn sư dụng sản xuất hàng hoá nhiều vốn
Đồ thị 6Đường giới hạn khả năng sản xuất của hai quốc gia
Định lý Hekshẻ-Ohlin
Một quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu những loại hàng hoá cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ
và tương đối sẵn đồng thời nhập khẩu những loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúngcần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ỏ nước đó ,đIều này có nghĩa là một nướctương đối giầu lao động sẽ xuất khẩu hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩuhàng hoá sử ụng nhiều vốnvà ngược lại
Cấu trúc cân bằng của Hekshẻ-Chlin
Để đánh giá sở thích con người sử dụng đường bàng quan tập hợp các điểm có độ thoảdụng như nhau
Đồ thị 7: biểu diễn đường bàng quan:
Trang 20Bắt đầu từ sở hữu của từng cá nhân, cộng đồng người hoặc từng quốc gia cùng với thunhập xác định về nhu cầu hàng hoá cuối cùng Nhu cầu về hàng hoá cuối cùng làm căn
Trang 21cứ để xác định nhu cầu dẫn xuất về yếu tố như lao động đất đai, vốn,công nghệ trong thịtrường cạnh tranh hoàn hảo giá cả được xác định trên cơ sở cung và cầu Vì vậy gía cảcác yếu tố sản xuất được xác định trên cơ sở cung về các yếu tố và nhu cầu về các yếu
tố Giá cả các yếu tố do tác dụng của công nghệ sẽ quyết định đến gía cả hàng hoá cuốicùng Sự khác biệt gữa cácquốc gia về mức giá này được coi là nguyên nhân trực tiếpcủa thương mại quốc tế và quyết định hangf hoá nào sẽ được đưa ra trao đổi
Dưới góc đôi tiền tệ thì sự khác nhau vè giá cả là nhân tố quan trọng nhất để xác địnhmoo hình thương mại của quốc gia
Giả thiết của HekSher-Ohlin là sở thích và thu nhập của các quốc gia như nhau , côngnghệ không đổi nên sư khác nhau về cung dẫn đến sự khác nhau về giá cả các yếu tố đó Đây là cơ sở dẫn đến sự khác về giá cả hàng hoá cuối cùng Như vậy nguồn lực pháttriển của các quốc gia là cơ sở của hoạt động trao đổi của các quốc gia
4.1.h Định lý về sự cân bắng giá cả các yếu tố sản xuất
Thương mại tự do giữa hai quốc gia sẻ làm cho giá cả các yếu tố sản xuất ở các quốc gia
đó trở nên cân bằng và nếu hai quốc gia cứ tiếp tục sản xuấthai mặt hàng đó thì gía cảcác yếu tố sản xuất của hai quốc gia sẽ thật sự bằng nhau
Mô hình cân bằng giá cả các yếu tố sản xuất:
Trang 22Định lý Stolper-Samuelson.
Một sự gia tăng về giá cả tương đối của mặt hàng cần nhiều lao động sẽ làm tăng mứctiền lương trong giá cả của hai mặt hàng v à làm giảm mức lãi xuất với cả hai mặt hàng
Kiểm nghiệm khả năng vận dụng của các nghịch lý lý thuyết (Định lý Leontief).
Leontief đã tiến hành kiểm tra bằng mô hình thực nghiệm của Heksher - Ohlin Leontiefcho rằng Mỹ là một quốc gia giàu có về tư bản do đó hàng hoá xuất khẩu của Mỹ xuấtkhẩu chưa nhiều tư bản hàng hoá xuất khẩu của Mỹ giàu lao động Tuy nhiên kết quảthực tế cho thấy rằng hàng hoá nhập khẩu của Mỹ chưa nhiều hơn 30% tư bản so vớixuất khẩu Kết quả này ngược lại với mô hình của Heksher - Ohlin nên nó được coi lànghịch lý Leontief
Nghịch lý này được g iải thích bằng nhiều cách khác nhau nhưng đến nay vẫn còn tồntại để bảo vệ cho lý thuyết Heksher - Ohlin có thể dựa vào các lập luận sau:
- Số liệu Leontief thiếu chính xác vì các yếu tố này bị biến dạng vì các yếu tố chủ quan
Trang 23- Trong nghịch lý Leoitief chỉ sử dụng 2 yếu tố lao động và tư bản nên bỏ qua yếu tố tàinguyên, đất đai, khí hậu.
- Do chính sách thuế quan của Mỹ ảnh hưởng đến nghiên cứu của Leontief
- Leontief chưa t ính đến tư bản đầu tư vào con người mà chỉ đề cập đến tư bản đầu tưvào vật chất
Lý thuyế hiện đại.
Lý thuyến về chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm
Lý thuyết này giải thích nguyên nhân của hoạt động thương mại quốc tế thông qua cácgiai đoạn chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm Khi sản phẩm ở vào giai đoạn suy giảm,triệt tiêu trên vòng đời của nó thì nó được bán ra nước ngoài để kéo dài vòng đời đảmbảo lợi nhuận cho doanh nghiệp Đây chính là nguyên nhân của hoạt động thương mạiquốc tế
Đồ thị số 9: Chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm
Lý thuyết về đầu tư.
Hoạt động đầu tư quốc tế là nền tảng cho hoạt động thương mại bởi vì đầu tư cho phépkhai thác lợi thế đầy đủ và triệt để hơn, bao gồm: Nguồn lực, công nghệ, thị trường, uytín, danh tiếng, nhãn hiệu, kinh nghiệm quản lý để thu lợi ích từ thị trường nước ngoài
và vượt qua các hàng rào thuế quan Do đó có thể nói đầu tư quốc tế là sự thay thế tốthơn cho thương mại quốc tế
Trang 24Tổng quan về hiệp địng thương mại việt mỹ
Bối cảnh cuộc đàm phán thương mại Việt – Mỹ
Bối cảnh chung.
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu thếnổi bật của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Toàn cầu hoá mà trọng tâm là toàn cầuhoá kinh tế đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển thương mại trên phạm vi toàn thếgiới Cái đích cuối cùng mà quá trình toàn cầu hoá hướng tới là một nền kinh tế toàn cầuthống nhất không còn biên giới quốc gia về kinh tế
Toàn cầu hoá kinh tế là quá trình liên kết, hợp nhất của các nền kinh tế quốc gia vào nềnkinh tế thế giới trên tất cả các lĩnh vực: sản xuất, thương mại, đầu tư, tài chính, thôngtin, vận tải với trình độ phát triển cao, dẫn đến sự hình thành các hệ thống sản xuất,phân phối, hệ thống tài chính toàn cầu, các mạng lưới thông tin liên lạc và các hệ thốnggiao thông vận tải toàn cầu, trong đó các công ty xuyên quốc gia, các hệ thống tư nhân
và các trung tâm kinh tế đóng vai trò nòng cốt
Toàn cầu hoá kinh tế là bước phát triển cao của quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế bước phát triển tất yếu khách quan được quyết định bởi sự phát triển không ngừng củacuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới Nhờ có công nghệ toàn cầu pháttriển, sự hợp tác giữa các quốc gia, các tập đoàn kinh doanh có thể mở rộng từ sản xuấtđến phân phối trên phạm vi toàn cầu Một nền công nghệ toàn cầu xuất hiện là cơ sở chocác quan hệ kinh tế toàn cầu phát triển Đầu tiên là các quan hệ thương mại, chi phí vậnchuyển liên lạc ngày càng giảm đi thì khả năng bán hàng đi các thị trường xa càng tănglên, thương mại toàn cầu càng có khả năng phát triển Đồng thời quá trình phân công,chuyên môn hoá sản xuất càng có thể diễn ra giữa các quốc gia và châu lục Các quan
-hệ sản xuất, thương mại có tính toàn cầu đã kéo theo các dòng tiền tệ, dòng vốn, dịchvụ vận động trên phạm vi toàn cầu Công nghệ thông tin đã làm cho các dòng vận độngnày thêm náo động và nhanh nhậy Cơ cấu kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ do có
sự bùng nổ tự do hoá thương mại toàn cầu Từ năm 1950 đến 1996, tổng sản phẩm thếgiới tăng 6 lần trong khi khối lượng mậu dịch tăng 16 lần Sản lượng công nghiệp tăng
9 lần trong khi khối lượng trao đổi các sản phẩm công nghiệp tăng 31 lần Tỷ lệ xuấtkhẩu so với GDP của thế giới trong thập kỷ 90 cao hơn 60% so với tỷ lệ ở năm 1913.Năm 1997, xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thương mại thế giới đạt 6500 tỷ USD - 1/5sản lượng toàn cầu Thương mại điện tử xuất hiện với khả năng ngày càng phát triển vàđang trở thành một loại hình buôn bán toàn cầu đầy triển vọng Sự phát triển của côngnghệ toàn cầu và các quan hệ kinh tế toàn cầu đang ngày càng xung đột với các thể chếquốc gia, với các rào cản quốc gia Sự phát triển của lực lượng sản xuất và các quan hệkinh tế toàn cầu đang công phá các bức tường thành quốc gia Bước vào thập kỷ 90 các
Trang 25bức tường thành quốc gia này đã bị phá vỡ ở các quốc gia trong Liên minh Châu âu, ởcác quốc gia Bắc Mỹ với mức độ thấp hơn Các quốc gia ASEAN đã cam kết giảm bớtrào cản quốc gia Các nước thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới cũng đã camkết một lộ trình dỡ bỏ hàng rào này, tuy nhiên hàng rào thương mại vẫn còn rất mạnh
ở nhiều nước và ở ngay cả Liên minh Châu âu hay Bắc Mỹ với những hình thức biếntướng đa dạng đã và đang cản trở quá trình toàn cầu hoá
Những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều, trở nên bức xúc, đòi hỏi phải
có sự phối hợp toàn cầu của các quốc gia Chúng ta có thể dẫn ra hàng loạt các vấn đềtoàn cầu như: thương mại, đầu tư, tiền tệ, dân số, lương thực, năng lượng, môi trường
…Môi trường toàn cầu ngày càng bị phá hoại, các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngàymột cạn kiệt; dân số thế giới đang gia tăng nhanh chóng trở thành một thách thức toàncầu; các dòng vốn toàn cầu vận động tự do không có sự phối hợp điều tiết đã làm nảysinh các cuộc khủng hoảng liên tiếp ở Châu âu, Châu Mỹ và Châu á trong thập kỷ 90
Vì vậy cần thiết phải có sự phối hợp toàn cầu để đối phó với các thách thức đó “Bàntay hữu hình” của các Chính phủ chỉ phát huy tác dụng ở các quốc gia riêng lẻ còn trênphạm vi toàn cầu hiện đang có quá nhiều “bàn tay hữu hình” va đập vào nhau chứ chưa
có một “bàn tay hữu hình” chung làm chức năng điêù tiết toàn cầu Ngoài ra chiến tranhlạnh chấm dứt vào đầu thập kỷ 90 đã kết thúc sự đối đầu giữa các siêu cường, tạo ra mộtthời kỳ hoà bình, hợp tác và phát triển mới
Toàn cầu hoá là một quá trình tất yếu trong lịch sử phát triển xã hội loài người, là hệquả của quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, của các phương tiện khoa học côngnghệ Toàn cầu hoá, khu vực hoá dẫn đến một hệ quả là hình thành xu thế hội nhập quốc
tế Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước,các khu vực không ngừng gia tăng, tạo điều kiện đẩy lùi nguy cơ chiến tranh thế giới,duy trì môi trường hoà bình và ổn định, tạo những điều kiện và cơ hội thuận lợi cho sựhợp tác trên quy mô khu vực và toàn cầu vì mục tiêu phát triển bền vững của mỗi nước
và của toàn thế giới
Việc tự do hoá thương mại, huỷ bỏ dần các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, xoá bỏmọi phân biệt đối xử trong quan hệ buôn bán quốc tế đã đánh dấu sự hoà nhập các nềnkinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi vào một hệ thống đa phương Như vậy là thờiđại của hàng rào thuế quan cao, của cách thức đóng cửa ở một số thị trường lớn, của một
số đặc quyền ít ỏi trong mậu dịch quốc tế dành cho các nước kém phát triển đã chấmdứt Buôn bán quốc tế chuyển sang một thời đại mới đó là mở rộng tự do buôn bán đượcđánh dấu bằng sự ra đời của WTO và những ưu đãi thương mại trong khuôn khổ hợp táccùng có lợi
Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Trong xu thế toàn cầu hoá, thương mại hoá phát triển trên phạm vi toàn thế giới, vấn đềhội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan Con đường thích hợp với nước ta trong điều
Trang 26kiện hiện nay là hội nhập quốc tế để khai thông thị trường trong nước với khu vực vàthế giới, tạo ra môi trường kinh doanh có khả năng cạnh tranh cao Việt Nam đang trongquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải tiếp tục mở rộng hợp tácquốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy nội lực, tranh thủ tối
đa ngoại lực, xây dựng nền kinh tế mở kết nối với khu vực và thế giới Với đường lốiđối ngoại rộng mở, Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước, sẵn sàng mở rộng hợptác, quan hệ hữu nghị với các nước trên thế giới nhằm tạo điều kiện quốc tế thuận lợicho công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu vì hoà bình, ổnđịnh và phát triển
Hội nhập thực chất là quá trình tham gia vào cạnh tranh quốc tế và cạnh tranh ngay trênthị trường nội địa của mình Tham gia tự do hoá thương mại quốc tế, Việt Nam - mộtnền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, năng suất lao động thấp, chi phí nguyên liệu và nănglượng tốn kém, mức sử dụng năng lượng trên một đơn vị sản phẩm nhiều hơn từ 1,5 đến2,5 lần, máy móc thiết bị lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ so với thế giới và đang trong quá trìnhchuyển đổi sang nền kinh tế thị trường sẽ có cơ hội thâm nhập vào thị trường thế giớirộng lớn để phát triển kinh tế đất nước Sản phẩm của Việt Nam sẽ có khả năng cạnhtranh trên thị trường thế giới, các nguồn đầu vào của sản xuất và kinh doanh trong nướctrở nên phong phú hơn, dễ lựa chọn những loại hàng hoá có chất lượng cao hơn và giá
cả rẻ hơn được cung cấp từ các nước khác trên thế giới Đây là một trong những nhân tốquan trọng nhằm giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm Hơn nữa, hàng hoánhập khẩu nhiều giúp người tiêu dùng có điều kiện lựa chọn nhiều hơn vì giá hàng nhậpkhẩu trở nên rẻ hơn do việc giảm thuế nhập khẩu Khi thực hiện tự do hoá thương mại,Việt Nam có điều kiện tham gia nhanh chóng vào hệ thống phân công lao động quốc tếhiện đại
Hội nhập khu vực và thế giới là một quá trình tất yếu để tạo cơ hội cho Việt Nam pháttriển kinh tế nhanh, rút ngắn khoảng cách với các nước khác trong khu vực và trên thếgiới Quá trình hội nhập sẽ thúc đẩy Việt Nam chuyển đổi kinh tế mạnh hơn sang cơchế thị trường với định hướng hướng mạnh vào xuất khẩu Chiều hướng này sẽ có lợicho Việt Nam đưa nền kinh tế nước nhà lên một quy mô lớn hơn nhiều so với bó hẹptrong khuôn khổ các chính sách bảo hộ, hướng nội không hiệu quả Việt Nam đang thamgia tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo chiều hướng và ở nhiều tầng nấc khác nhau:song phương, tiểu khu vực, liên khu vực và toàn cầu Việt Nam đã có nhiều cố gắngtrong việc mở rộng các mối quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế với nhiều nước trong
và ngoài khu vực Đáng chú ý, trong thời gian vừa qua, tiếp theo việc bình thường hoáquan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ, hai bên đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để
ký kết các Hiệp định kinh tế song phương về các vấn đề nợ, bản quyền và thương mại,từng bước bình thường hoá quan hệ kinh tế thương mại Đồng thời, ở mức độ tiểu khuvực, kể từ khi trở thành thành viên ASEAN, ta đã và đang nỗ lực tham gia thực hiện cácchương trình hợp tác kinh tế ASEAN, đặc biệt là chương trình Khu vực mậu dịch tự doAFTA Một sự kiện quan trọng và có ý nghĩa lớn lao đối với tiến trình hội nhập quốc tếcủa Việt Nam Sau một thời gian nỗ lực vận động và chuẩn bị, Việt Nam đã được các
Trang 27nhà lãnh đạo APEC tuyên bố kết nạp làm thành viên năm 1998 Đối với tiến trình hợptác á - âu (ASEM), chúng ta đã cùng các nước Châu á khác tích cực tham gia Hội nghịcấp cao ASEM - 3 ở Seoul (Hàn Quốc) trong 2 ngày 20 - 21/10/2000 Chúng ta cũngđang tích cực chuẩn bị đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), một
tổ chức mang tính toàn cầu mà việc tham gia là thể hiện sự hội nhập với thế giới Đồngthời, ta tích cực hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF nhằm tận dụngmột cách có hiệu quả sự hợp tác của các tổ chức đó phục vụ tiến trình phát triển kinh tế
và hội nhập quốc tế của mình
Việt Nam nằm trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương, một khu vực phát triển năngđộng và đạt được độ tăng trưởng cao hơn các khu vực khác Các trung tâm kinh tế trênthế giới, các nước lớn đều hướng trọng tâm hoạt động kinh tế, chính trị vào khu vực này
và xem đây là nơi chứa đựng nhiều yếu tố quyết định sự phát triển của mình Châu Thái Bình Dương chịu ảnh hưởng ngày càng lớn bởi các mối quan tâm của các nước lớnnhư Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Nga Trong bối cảnh đó, vị trí địa lý, kinh tế, chínhtrị của Việt Nam được các nước lớn ngày càng coi trọng và dần trở thành một khâuquan trọng trong chiến lược toàn cầu hoá Tuy Việt Nam chưa phải là đối tượng hàngđầu trong chính sách Châu á- Thái Bình Dương của Mỹ song một Việt Nam đổi mới,
á-mở cửa, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ đối ngoại quả là một đối tượng hợp táckhông thể thiếu trong cuộc tìm kiếm thị trường Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam khôngmuốn tụt hậu thì cần phải thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế với các nước khác trên thếgiới, đặc biệt là với Mỹ- một siêu cường chi phối mạnh mẽ nền kinh tế toàn cầu
Là một nước đang phát triển, có nền kinh tế chuyển đổi, tham gia hội nhập với xuất phátđiểm thấp hơn nhiều so với đa số các nước khác trong khu vực, vì vậy tiến trình hộinhập quốc tế một mặt đang mở ra nhiều cơ hội cho chúng ta, mặt khác cũng đặt ra nhiềuthách thức lớn đòi hỏi sự nỗ lực vươn lên của các cấp các ngành Để hội nhập có hiệuquả, chúng ta phải ra sức tăng cường nội lực, thực hiện những cải cách, điều chỉnh về cơchế, chính sách, luật lệ, tập quán kinh doanh, cơ cấu kinh tế trong nước để phù hợp với
“luật chơi chung” của quốc tế Chúng ta cần coi cải cách trong nước và hội nhập quốc tế
là “con đường hai chiều” Cải cách bên trong sẽ quyết định tốc độ và hiệu quả hội nhậpquốc tế, đồng thời quá trình hội nhập sẽ hỗ trợ và thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước
có nhịp độ nhanh hơn và hiệu quả cao hơn
Tiến trình đàm phán ký kết Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ.
Kết quả đạt được qua các vòng đàm phán.
Đàm phán ký kết Hiệp định thương mại với Mỹ là một yêu cầu quan trọng nhằm tạo môitrường pháp lý cho quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển và làm tiền đề cho việcgia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam được thuận lợi hơn Vấn
đề cốt lõi của Hiệp định thương mại giữa hai nước cũng như gia nhập WTO của ViệtNam là Mỹ dành cho Việt Nam Quy chế Quan hệ Thương mại bình thường (NTR) trong
Trang 28quan hệ song phương hay đa phương Mục tiêu cần đạt được là hai nước sẽ dành chonhau NTR trên cơ sở có đi có lại, không điều kiện và không phải xem xét lại hàng năm.Hầu hết các quôc gia có quan hệ thương mại với Mỹ đều được hưởng NTR Quy chếnày quy định các mức thuế thấp đánh vào hàng nhập khẩu đã đạt được trong các vòngđàm phán về tự do thương mại Khi Việt Nam còn chưa được hưởng NTR thì hàng ViệtNam xuất khẩu vào Mỹ phải chịu thuế suất cao, làm cho hàng hoá Việt Nam bán trên thịtrường Mỹ kém hấp dẫn, thậm chí không có khả năng cạnh tranh với hàng hoá sản xuấttại Mỹ.
Tháng 10/1995, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam và Đại diệnthương mại Mỹ thoả thuận hai bên tập trung thúc đẩy quan hệ kinh tế- thương mại vàchuẩn bị đàm phán Hiệp định thương mại
Tháng 11/1995, Đoàn Liên bộ Mỹ thăm Việt Nam để tìm hiểu hệ thống luật lệ thươngmại, đầu tư của Việt Nam
Tháng 4/1996, Mỹ trao cho Việt Nam bản “Những yếu tố bình thường hoá quan hệ kinhtế- thương mại với Việt Nam”
Tháng 7/1996, Việt Nam trao cho Mỹ bản “Năm nguyên tắc bình thường hoá quan hệkinh tế- thương mại và đàm phán Hiệp định thương mại với Mỹ” đáp lại văn bản nóitrên
Để ký kết được Hiệp định thương mại, Việt Nam và Mỹ đã tiến hành đàm phán qua cácvòng:
5 Cán cân thanh toán
6 Thuế quan nhập khẩu, bao gồm tất cả thuế quan ưu đãi, phí hải quan, miễn thuế
Trang 297 Các biện pháp tự vệ và các đền bù thương mại khác (Chống bán phá giá và thuế đốikháng).
8 Giấy phép nhập khẩu
9 Các công ty, doanh nghiệp nhà nước
10 Tiêu chuẩn và chứng nhận hàng hoá nhập khẩu, các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ
11 Hoạt động đối ngoại
12 Hệ thống thống kê và phát hành các ấn phẩm về ngoại thương
13 Hệ thống bảo hộ quyền tác giả
14 Các bước tự do hoá thương mại trong tương lai được thể hiện trong các
quy định và các bộ luật của quốc gia
- Vòng 4 : Từ 6/10/1997 đến 11/10/1997 tại Washington, sơ bộ trao đổi về
những quy định chung và chương Thương mại hàng hoá trong Hiệp định
- Vòng 9 : Từ 23/7/1999 đến 25/7/1999 tại Hà Nội, gặp mặt cấp Bộ trưởng- Hiệp định
đã được thoả thuận về nguyên tắc
- Vòng 10 : Từ 28/8/1999 đến 2/9/1999 tại Washington, xử lý các vấn đề về kỹ thuật
- Vòng 11: 3/7/2000 tại Washington, hoàn tất Hiệp định
Sau 6 vòng đàm phán đầu tiên, nhìn chung các vấn đề cơ bản của một Hiệp định thươngmại đã được đưa ra đàm phán và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ sau:
Trang 30+ Các bên cơ bản thống nhất được các lĩnh vực quan trọng là dựa trên các chuẩn mựccủa WTO để đưa ra dự thảo Hiệp định như chương về Thương mại hàng hoá, Sở hữu trítuệ, tuy nhiên có một số vấn đề có thể mở rộng hơn WTO nhưng đang bàn ở diễn đànkhác như Đầu tư.
+ Các bên qua thời gian giải thích về chính sách hiện hành cuả mình đã hiểu biết nhauhơn và đã có thể đánh giá được mức độ cam kết sẽ được các bên chấp nhận ở mức độnào nhưng chưa thể đi đến những kết luận cụ thể vì những vấn đề còn khác nhau thườngphải do cấp cao quyết định còn ở cấp chuyên viên chưa thể quyết định được
+ Các bên đã đưa ra dự thảo của mình với quy mô khác nhau nhưng cũng ở mức hàngtrăm trang (nếu kể cả các phụ lục thì dài hơn nhiều) và dựa trên cơ sở đó để so sánh vàtiến hành đàm phán rõ quan điểm của nhau
Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các công ty Mỹ ở Việt Nam, quy chế Đối xử quốcgia trong thương mại dịch vụ và đầu tư, mức độ mở cửa thị trường cho hàng hoá củanhau là những nội dung chính của vòng đàm phán thứ 6 ở cấp chuyên viên Tại vòngđàm phán này nhiều nội dung đã được làm rõ và tuy vẫn còn nhiều sự khác biệt, hai bêncũng đã thoả thuận được một số vấn đề cụ thể Bên Việt Nam đồng ý thực hiện hầu hếtnhững quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), trừ vấn đề thuế nhập khẩu,nhưng không thể đồng ý với yêu cầu của phía Mỹ muốn Việt Nam bãi bỏ ngay nhữngchính sách không phù hợp với những quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
và Khu vực tự do mậu dịch ASEAN (AFTA) như chế độ hạn ngạch, hàng rào phi quanthuế và áp dụng ngay những quy định đó trong quan hệ thương mại với Mỹ, trước khiViệt Nam trở thành thành viên chính thức của hai tổ chức này
Tại vòng đàm phán thứ 7, hai đoàn tập trung trao đổi những vấn đề quan trọng nhất cònlại chưa xử lý được trong các vòng đàm phán trước nằm ở các chương “ Phát triển Quan
hệ đầu tư”, “ Thương mại dịch vụ”, “ Thương mại hàng hoá” và “ Sở hữu trí tuệ” Cuộcđàm phán đã đạt được kết quả tốt đẹp Phần lớn các vấn đề nêu ra đã tìm được tiếngnói chung, khoảng cách giữa hai bên đã được thu hẹp Hai đoàn hài lòng với kết quảđàm phán Tuy nhiên, hai đoàn cũng ghi nhận còn một số vấn đề thuộc lĩnh vực quyềnthương mại và dịch vụ mà hai bên sẽ xem xét và thảo luận tiếp để có thể sớm đi đến
ký kết Hiệp định thương mại nhằm thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ kinh thương mại, tăng cường trao đổi phát triển hàng hoá và hợp tác đầu tư giữa hai nước
tế-Nội dung của vòng đàm phán thứ 8 là giải quyết các vấn đề còn tồn tại từ vòng trước Cảhai bên đều tỏ thái độ thiện chí và cố gắng nhằm giải quyết những vướng mắc còn tồnđọng Theo các thành viên đoàn Việt Nam, những vấn đề còn lại tuy không nhiều nhưnglại nằm rải rác ở mỗi chương, nhưng đây lại là những vấn đề khó nhất Dư luận Mỹ, đặcbiệt là giới doanh nghiệp Mỹ rất quan tâm ủng hộ việc ký kết Hiệp định thương mại giữahai nước Họ đã tổ chức viết thư lên các nghị sỹ Quốc hội Mỹ kiến nghị đẩy nhanh quátrình bình thường hoá quan hệ kinh tế với Việt Nam, điều này góp phần cải thiện bầu
Trang 31không khí quan hệ giữa hai nước Quyết định miễn áp dụng Đạo luật bổ sung Vanik đối với Việt Nam là một dấu hiệu tốt cho việc phát triển mối quan hệ Việt- Mỹ,nhất là trước vòng đàm phán thứ 8 Tại cuộc đàm phán lần này, phía Việt Nam đã đưa
Jackson-ra nhiều đề xuất mới đối với các vấn đề còn tồn tại trong tất cả các lĩnh vực của dự thảoHiệp định này như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thương mại hàng hoá Các vấn đề dophía Việt Nam đưa ra đều được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc của Tổ chức Thươngmại thế giới (WTO) và chuẩn mực quốc tế Phía Việt Nam đã đưa ra một lộ trình hợp lý
để thực hiện các nguyên tắc của WTO trong bối cảnh Việt Nam là một nước đang pháttriển và đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế
Ông Nguyễn Đình Lương, Trợ lý Bộ trưởng Thương mại, Trưởng đoàn đàm phán ViệtNam khẳng định rằng các đề xuất nói trên thể hiện nỗ lực cao nhất của Việt Nam đểtiến tới kết thúc quá trình đàm phán và ký Hiệp định thương mại giữa hai nước, thể hiệnđường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới, tạođiều kiện để Việt Nam phát huy cao độ nội lực, nhằm xây dựng một nền kinh tế vữngmạnh Ông Nguyễn Đình Lương tỏ ý mong muốn phía Mỹ thể hiện sự hiểu biết thực sự
và có đánh giá đầy đủ hơn về những nỗ lực của phía Việt Nam trong các đề xuất đượcđưa ra tại vòng đàm phán này, để có thể sớm kết thúc đàm phán và tiến tới ký kết Hiệpđịnh thương mại giữa hai nước trong thời gian sớm nhất Hai bên đã thu hẹp đáng kểnhiều vấn đề tồn tại, tạo thuận lợi cho việc bình thường hoá quan hệ thương mại giữa hainước nhưng vẫn còn một số vấn đề quan trọng chưa được giải quyết như dịch vụ ngânhàng, bảo hiểm Đại sứ Mỹ Pete Peterson cho rằng những cơ sở tài chính ở Việt Namhiện nay vẫn còn rất non nớt và phải khá lâu nữa mới có thể sánh ngang hàng với những
hệ thống tài chính quốc tế Chính vì thế, Mỹ đòi hỏi Việt Nam phải củng cố các cơ sởtài chính trong nước để có thể cạnh tranh trên thương trường quốc tế cũng như thoả mãnnhững đòi hỏi trong nước Như vậy, trong tương lai, Việt Nam sẽ phải cho phép những
cơ sở tài chính cũng như các hãng bảo hiểm của nước ngoài vào làm ăn tại đây
Qua 11 vòng đàm phán, hai bên đều thể hiện sự quyết tâm thúc đẩy nhanh tiến trình đàmphán ký kết Hiệp định thương mại Cả Việt Nam và Mỹ đều bày tỏ sự quan tâm tới quátrình bình thường hoá quan hệ về kinh tế vì các doanh nghiệp của cả hai phía đang mongđợi điều này Tuy nhiên không phải vì lợi ích trước mắt mà bỏ qua những lợi ích lâu dàinên các bên vừa quyết tâm đàm phán vừa phải bảo vệ lợi ích lâu dài của mình
Ngày 13/7/2000 tại Washington (tức ngày 14/7/2000 giờ Việt Nam), Bộ trưởng Thươngmại Việt Nam Vũ Khoan và bà Charlene Barshefsky, Đại diện thương mại thuộc phủTổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã thay mặt Chính phủ hai nước ký Hiệp địnhgiữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan
hệ thương mại, đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ kinh tế thương mại giữa hainước, kết thúc một quá trình đàm phán lâu dài và kiên trì Hiệp định được ký đúng vàodịp kỷ niệm lần thứ 5 ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, đã hoàn tất quátrình bình thường hoá quan hệ kinh tế- thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
Trang 32Ý nghĩa của Hiệp định.
Sau sự kiện Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký kết, giới báo chí và doanh nhâncủa cả hai nước đều tỏ ý vui mừng trước những nỗ lực mà hai phía đã đạt được trongsuốt 4 năm liền đàm phán bền bỉ Hiệp định được ký kết dựa trên các nguyên tắc tôntrọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng
và cùng có lợi, đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế và các nguyên tắc của Tổ chứcThương mại thế giới (WTO), có tính đến Việt Nam là một nước đang phát triển ở trình
độ thấp, đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế và đang hội nhập với nền kinh tếkhu vực và thế giới Hiệp định có hiệu lực (sau khi được Quốc hội của hai nhà nước phêchuẩn) sẽ đánh dấu việc bình thường hoá hoàn toàn quan hệ Việt- Mỹ, tạo cơ sở pháp
lý cho quan hệ kinh tế - thương mại hai nước phát triển trên cơ sở cân bằng lợi ích, phùhợp với mong muốn của nhân dân hai nước
Cho đến nay, Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại với trên 60 nước và Thoả thuận vềquy chế Tối huệ quốc với hơn 70 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Tuy nhiên, đốivới nước ta đây là lần đầu một Hiệp định thương mại mang tính chất đồng bộ, đề cậpmột cách toàn diện tới các lĩnh vực kinh tế- thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, bảnquyền, sở hữu trí tuệ được ký kết
Việc ký kết Hiệp định thương mại Việt- Mỹ vừa là kết quả vừa tạo thêm điều kiện đểtiếp tục triển khai chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá vàchủ động hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Chắc chắn Hiệp định sẽ tạo điều kiệnthuận lợi cho việc mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế- thương mại giữa hai nước, chophép tăng nhanh kim ngạch trao đổi thương mại không chỉ với Mỹ mà cả với các nướckhác, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Mỹ tham gia vào các hoạt độngkinh tế ở Việt Nam
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký kết là bước đi lịch sử trong quá trình bìnhthường hoá, hoà giải và hàn gắn giữa hai dân tộc, thúc đẩy quá trình hội nhập của ViệtNam với Cộng đồng Quốc tế và tăng cường mậu dịch giữa hai nước
Hiệp định này không chỉ bảo đảm lợi ích của hai nước Việt Nam và Mỹ mà còn là mộtđóng góp tích cực cho hoà bình, ổn định, hợp tác để phát triển ở khu vực và trên thế giới
Mỹ cũng đánh giá Hiệp định này là một bước tiến quan trọng của việc Việt Nam thamgia Tổ chức Thương mại thế giới và khẳng định tích cực ủng hộ Việt Nam gia nhập tổchức này
Với thiện chí và quyết tâm của cả hai bên, chúng ta tin rằng Hiệp định thương mại
Việt-Mỹ sẽ được thực hiện đầy đủ trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng lợi ích và chủquyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, góp phần phát triểnkinh tế- thương mại của hai quốc gia nói riêng và thế giới nói chung
Trang 33Việc ký kết và thực hiện Hiệp định là phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng và Nhànước, góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng mộtnền kinh tế độc lập, tự chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để đạt được yêu cầu đó,các ngành, các cấp và các doanh nghiệp cần ra sức phát huy tối đa nội lực, cải tiến quản
lý, tiếp thu thành tựu khoa học kỹ thuật, nhằm nâng cao hiệu quả của nền kinh tế và khảnăng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam
Trang 34Những nội dung chủ yếu của hiệp định
thương mại
Những nội dung chủ yếu của hiệp định
Hiệp Định thương mại Việt Mỹ được ký kết ngày 13/7/2000 là một sự kiện đánh dấubước phát triển tích cực của mối quan hệ song phương kể từ ngày hai quốc gia lập quan
hệ ngoại giao Hiệp định dài gần 120 trang, gồm 7 chương với 72 điều và 9 phụ lục, đềcập đến 4 nội dung chủ yếu:Thương mại hàng hoá, Thương mại dịch vụ, Sở hữu trí tuệ
và Quan hệ đầu tư Như vậy có nghĩa là bản Hiệp định này tuy được gọi là Hiệp định vềquan hệ thương mại nhưng không chỉ đề cập đến lĩnh vực thương mại hàng hoá Kháiniệm “ thương mại ” ở đây được đề cập theo ý nghĩa rộng, hiện đại, theo tiêu chuẩn của
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và có tính đến đặc điểm kinh tế của mỗi nước đểquy định sự khác nhau về khung thời gian thực thi các điều khoản Do Mỹ đã tuân thủtất cả các luật lệ của WTO và là một trong những nước tự do hoá thương mại nhất trênthế giới nên hầu như tất cả các điều khoản trong Hiệp định, Mỹ đều thực hiện ngay CònViệt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp và đang chuyển đổi từ kế hoạch hoátập trung sang kinh tế thị trường, nên kèm theo bản Hiệp định là 9 bản phụ lục có quyđịnh các lộ trình thực hiện cho phù hợp với Việt Nam
Hiệp định được xây dựng trên hai khái niệm quan trọng Khái niệm “Tối huệ quốc”(đồng nghĩa với Quan hệ Thương mại bình thường) mang ý nghĩa hai bên cam kết đối
xử với hàng hoá, dịch vụ, đầu tư của nước kia không kém phần thuận lợi so với cách đối
xử với hàng hoá, dịch vụ, đầu tư của nước thứ ba (đương nhiên không kể đến các nướcnằm trong Liên minh thuế quan hoặc Khu vực mậu dịch tự do mà hai bên tham gia, ví
dụ Mỹ sẽ không được hưởng những ưu đãi của ta dành cho các nước tham gia Khu vựcmậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và ta cũng không được hưởng tất cả các ưu đãi Mỹdành cho các nước khác trong Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) Còn kháiniệm “Đối xử quốc gia” thì nâng mức này lên như đối xử với các công ty trong nước.Hai khái niệm này quan trọng vì chúng được đề cập đến ở hầu hết các chương của bảnHiệp định Ngoài ra, các phụ lục được dùng để liệt kê các trường hợp loại trừ, chưa hoặcvĩnh viễn không áp dụng hai khái niệm trên
Chương 1: Thương mại hàng hoá gồm 9 điều
Chương 2: Quyền Sở hữu trí tuệ gồm 18 điều
Chương 3: Thương mại dịch vụ gồm 11 điều
Chương 4: Phát triển Quan hệ đầu tư gồm 15 điều
Trang 35Chương 5: Những điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động bình thường.
Chương 6: Những điều khoản minh bạch và quyền được kháng cáo
Chương 7: Những điều khoản chung
Sau đây chúng ta sẽ xem xét những nội dung chủ yếu của Hiệp định
Thương mại hàng hoá :
Những quyền về thương mại: Cả hai bên cam kết thực hiện những quyền thương mạitheo chuẩn mực quốc tế và WTO Tuy nhiên, đây là lần đầu Việt Nam đồng ý thực hiệnquyền về xuất nhập khẩu một cách cởi mở, tuân theo những quy định chặt chẽ của WTO
Do vậy, những quyền đối với các doanh nghiệp Việt Nam, các công ty do Mỹ đầu tư,
và tất cả các cá nhân và công ty Mỹ hoạt động tại Việt Nam theo Hiệp định này sẽ đượctiến hành trong từng giai đoạn từ 3- 6 năm (được áp dụng dài hơn đối với một số mặthàng nhạy cảm)
Quy chế tối huệ quốc: Việt Nam và Mỹ cam kết thực hiện đối xử thuế quan tối huệ quốcđối với tất cả các mặt hàng nhập khẩu vào mỗi nước (mức thuế quan này là 50% đối vớicác quốc gia không nhận được MFN)
Cắt giảm thuế quan: Việt Nam đồng ý cắt giảm thuế quan (mức cắt giảm điển hình là từ1/3 đến 1/2 ) đối với một loạt các sản phẩm được các nhà xuất khẩu Mỹ quan tâm nhưcác sản phẩm vệ sinh, phim, máy điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, xe gắn máy, điện thoại diđộng, video games, thịt cừu, bơ, khoai tây, cà chua, hành, tỏi, các loại rau xanh khác,nho, táo và các loại hoa quả tươi khác, bột mỳ, đậu tương, dầu thực vật, thịt và cá đãđược chế biến, các loại nước hoa quả Việc cắt giảm thuế quan các mặt hàng này được
áp dụng dần dần trong giai đoạn 3 năm Phía Mỹ thực hiện cắt giảm ngay theo quy địnhcủa Hiệp định song phương
Những biện pháp phi quan thuế: Phía Mỹ, theo quy định của WTO sẽ không có nhữngrào cản phi quan thuế (trừ hạn ngạch đối với hàng dệt may); trong khi đó, Việt Namđồng ý loại bỏ tất cả các hạn chế về số lượng đối với một loạt các sản phẩm nông nghiệp
và công nghiệp (các linh kiện lắp ráp, thịt bò, các sản phẩm cam quýt ) trong giai đoạn
từ 3 -7 năm, phụ thuộc vào từng mặt hàng
Cấp giấy phép nhập khẩu: Việt Nam sẽ loại bỏ tất cả các thủ tục cấp giấy phép một cáchtuỳ ý, và sẽ tuân thủ theo các quy định của Hiệp định WTO Về việc định giá trị đánhthuế hải quan và các khoản phí hải quan, Việt Nam cần tuân thủ các luật lệ của WTO đốivới việc định giá các giao dịch và định giá thuế hải quan, cũng như hạn chế các khoảnphí hải quan đánh vào các dịch vụ được thanh toán trong vòng 2 năm.Về phía Mỹ, theoLuật Thương mại Mỹ, các công ty của Việt Nam và các nước khác đều sẽ được cấp giấyphép hoạt động khi có yêu cầu
Trang 36Những thước đo về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm: Hai bên cam kếttuân thủ theo các tiêu chuẩn của WTO; các quy định về kỹ thuật, và những thước đo về
vệ sinh an toàn thực phẩm phải được áp dụng trên cơ sở đối xử quốc gia, và chỉ được ápdụng trong chừng mực cần thiết để giải quyết những mục đích chính đáng (bảo vệ conngười, bảo vệ cuộc sống của động vật, sinh vật)
Mậu dịch quốc doanh: Cần phải được thực thi theo các quy định của WTO (ví dụ, cácdoanh nghiệp quốc doanh Việt Nam trước kia chỉ tiến hành các cuộc giao dịch theonhững mối quan tâm về thương mại và còn ít quan tâm tới các quy định của WTO)
Các dịch vụ kế toán, kiểm toán: Cho phép công ty 100% vốn Mỹ được hoạt động tronglĩnh vực này Giấy phép được cấp trên cơ sở từng trường hợp, có hiệu lực trong 3 năm,không có giới hạn sau đó Có thể cung cấp các dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tưnước ngoài trong 2 năm đầu, không giới hạn sau đó
Các dịch vụ kiến trúc: Cho phép công ty 100% vốn Mỹ được phép kinh doanh Có thểcung cấp các dịch vụ cho các công ty nước ngoài trong 2 năm đầu, sau đó không hạnchế
Các dịch vụ kỹ thuật: Cho phép công ty 100% vốn Mỹ Có thể cung cấp các dịch vụ chocác công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong 2 năm đầu, sau đó không giới hạn
Các dịch vụ về vi tính và các dịch vụ liên quan: Cho phép công ty 100% vốn Mỹ Cóthể cung cấp dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong 2 năm đầu, sau đókhông hạn chế
Các dịch vụ quảng cáo: Chỉ các liên doanh với các đối tác Việt Nam mới được phépkinh doanh một cách hợp pháp các dịch vụ quảng cáo Phần góp vốn của phía Mỹ khôngvượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực hạn