1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Luận cứ bào chữa cho bị cáo trần văn tuyến bị đưa ra xét xử với tội danh vi phạm quy định cho vay trong hoạt động của tổ

21 286 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 197,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận cứ bào chữa cho bị cáo Trần văn Tuyến bị đưa ra xét xử với tội danh “Vi phạm quy định cho vay trong hoạt động của tổ chức tín dụng” tại phiên tòa sơ thẩm Kính thưa Hội đồng xét xử

Trang 1

Luận cứ bào chữa cho bị cáo Trần văn Tuyến

bị đưa ra xét xử với tội danh “Vi phạm quy định cho vay trong hoạt động của tổ chức tín

dụng” tại phiên tòa sơ thẩm

Kính thưa Hội đồng xét xử, Kính thưa nhị vị đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, Tôi là Luật sư XXX, bào chữa cho bị cáo Trần Văn Tuyến, nguyên Giám đốc Ngân hàng NN & PTNT-Chi nhánh Chợ Lớn, bị VKSND TP.HCM truy tố và Quý Tòa đưa ra xét xử sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của tổ chức tín dụng” theo khoản 3 Điều 179 Bộ Luật Hình sự

Trong quá trình Quý Tòa thụ lý vụ án, tôi đã có 2 văn bản kiến nghị ngày 12-10-2009 (đối với cáo trạng số 311/VKS-P1 ngày 13-7-2009) và kiến nghị ngày 24-5-2010 (đối với cáo trạng số 78/VKS-P1 ngày 31-3-2010) Tôi vẫn giữ nguyên các quan điểm và kiến nghị nêu trên trong 2 văn bản nói trên Hôm nay, sau khi nghe thẩm vấn công khai tại phiên tòa và vị đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố đã phát biểu luận tội, tôi xin phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Trần Văn Tuyến như sau:

I/- Một số vấn đề về tố tụng

1- Về giám định

Tại cáo trạng số 311/VKS-P1 ngày 13-7-2009, VKSND TP.HCM qui kết Trần Văn

Tuyến với tư cách Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn đã bỏ qua nhiều quy định của Nhà nước trong việc xét duyệt, thẩm định và xét cho vay, tạo điều kiện sơ hở cho Hà, Hòa chiếm đoạt tổng số tiền 10.597.029.300 đồng của chi nhánh Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn

Tại cáo trạng số 78/VKS-P1 ngày 31-3-2010, VKSND TP.HCM lại kết luận Trần Văn

Trang 2

Tuyến tạo điều kiện sơ hở cho Hà, Hòa chiếm đoạt 3.000 lượng vàng SJC và 18 tỷ đồng của Ngân hàng NN & PTNT chi nhánh Chợ Lớn!?

Sai biệt này là đặc biệt lớn, lại không có kết luận giám định nào làm căn cứ! Đáng lý ra

cơ quan điều tra phải trưng cầu giám định tư pháp về tài chính-kế toán đối với Cty Thành Phát Trong khi đó, tại Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 133-33/QĐ-PC15 (Đ8) ngày 18-01-2010, cơ quan điều tra lại chỉ yêu cầu giám định diện tích 79.652m2 đất theo 33 giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (QSDĐ) của các hộ dân có giá trị là bao nhiêu tiền, với lý do “Ngày 15-12-2006, theo kiến nghị của Cơ quan Cảnh sát Điều tra

CA TP.HCM, UBND TP.HCM có Quyết định số 5796/QĐ-UBND thu hồi 02 quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để đầu tư dự án của Cty Thành Phát tại xã Đông Thạnh, Huyện Hóc Môn” mà không đề cập gì đến việc UBND TP.HCM đã có văn bản số 3508/UBND-ĐT ngày 12-6-2007 giao cho Cty TNHH XD&TM 12 làm chủ đầu tư dự án

thay cho Cty Thành Phát! Rõ ràng, Quyết định trưng cầu giám định này và báo cáo kết

quả thẩm định giá của Cty CP Định giá & Dịch vụ Tài chính Việt Nam-Chi nhánh Miền Nam là không đúng bản chất sự việc thể hiện trong hồ sơ vụ án, không phù hợp quy định Luật Đất đai (Điều 14 khoản 2) Rất tiếc đại diện cơ quan giám định không có mặt tại phiên tòa để chúng tôi làm rõ quyền và trách nhiệm của người giám

định theo Điều 60 Bộ Luật Tố tụng Hình sự Cuối cùng thì kết quả giám định này không cần thiết, không phục vụ được gì cho vụ án!

2- Về việc thanh tra của Ngân hàng Nhà nước

Ngày 02-7-2008, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP.HCM đã có kết luận thanh tra

số 231/KL-TTR.m đối với Ngân hàng NN & PTNT chi nhánh Chợ Lớn Ngày

12-8-2008, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP HCM cũng đã có văn bản số HCM.08 báo cáo Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về kết quả thanh tra

1394/NHNN-Ngày 12-8-2008 cơ quan điều tra khởi tố vụ án, ngày 30-01-2009 bắt tạm giam Trần Văn Tuyến

Ngày 10-02-2009 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lại ra Quyết định số 16/QĐ-TTR2 tiến hành thanh tra đột xuất Ngân hàng NN & PTNT chi nhánh Chợ Lớn, và tại kết luận thanh tra số 40/KL-TTR2.m ngày 15-4-2009 đã kiến nghị phục hồi lại nợ của Cty Thành Phát

Trang 3

tại chi nhánh Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn! Việc làm này của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là một quy trình ngược, vi phạm Luật Thanh tra và Bộ Luật Tố tụng Hình sự Cụ thể là:

- Luật Thanh tra quy định: Người ra quyết định thanh tra chuyển hồ sơ vụ việc vi

phạm pháp luật sang cơ quan điều tra (CQĐT) trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, (điểm m khoản 1 Điều 42 ) CQĐT có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật quy định tại điểm m khoản 1 Điều 42 Luật này và

xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự (Điều 57)

- Bộ Luật Tố tụng Hình sự quy định: Cơ quan thanh tra khi phát hiện vụ việc có dấu

hiệu tội phạm thì phải chuyển ngay các tài liệu có liên quan và kiến nghị CQĐT, Viện kiểm sát (VKS) xem xét khởi tố vụ án hình sự (khoản 2 Điều 26) Khi không có căn cứ khởi tố vụ án hình sự thì CQĐT ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã tố giác biết rõ lý do; nếu xét cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết (khoản 1 Điều 108) Khi xét thấy cần thiết thì CQĐT ra quyết định trưng cầu giám định (khoản 1 Điều 155)

Rõ ràng, theo pháp luật quy định chỉ có trường hợp cơ quan thanh tra phát hiện tội phạm chuyển hồ sơ đề nghị CQĐT khởi tố, nếu không có dấu hiệu tội phạm, CQĐT sẽ trả hồ sơ cho Thanh tra xử lý hành chính Trường hợp CQĐT đã khởi tố vụ án, khởi tố bắt giam bị can thì Cơ quan Thanh tra không thể nhảy vào thanh tra để cung cấp kết luận thanh tra cho CQĐT làm căn cứ buộc tội; Cơ quan Thanh tra không phải là cơ quan giám định! Vì vậy, việc thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước VN là vi phạm pháp luật tố tụng,

nội dung kết luận của thanh tra thực tế cũng không ai thực hiện, nhưng đây lại là

căn cứ khởi tố và truy tố bị cáo Trần Văn Tuyến! Rất tiếc không có mặt đại diện Thanh tra Ngân hàng Nhà Nước tại phiên tòa để làm sáng tỏ các vấn đề này

3- Về sự liên quan của Cty TNHH Xây dựng và Thương mại 12

UBND TP.HCM đã ban hành 2 Quyết định số 6577/QĐ-UB ngày 30-12-2004 và số 635/QĐ-UB ngày 15-02-2005 cho phép Cty Thành Phát được chuyển mục đích sử dụng

đất để đầu tư xây dựng cụm dân cư và cụm công nghiệp sạch tại xã Đông Thạnh, huyện

Hóc Môn, Cty Thành Phát tự chịu trách nhiệm về nguồn vốn đầu tư và hiệu quả của dự

Trang 4

án Căn cứ 2 Quyết định này, Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn đã cho Cty Thành

Phát vay để thực hiện dự án Cty Thành Phát đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500,

đã nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất Cty Thành Phát đã thế chấp cho ngân hàng toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất (QSDĐ) và tài sản hình thành trên đất dự án Theo kiến

nghị của CQĐT, ngày 15-12-2006, UBND TP.HCM lại ra Quyết định số

5796/QĐ-UBND thu hồi 2 quyết định nói trên, nhưng lại không giải quyết hậu quả nguồn vốn của Cty Thành Phát đã đầu tư vào dự án Vì vậy, để khắc phục hậu quả của Quyết

định thu hồi này, theo đề nghị của Sở Kế hoạch & Đầu tư, ngày 12-6-2007 UBND

TP.HCM đã ban hành văn bản số 3508/UBND-ĐT giao cho Cty TNHH Xây dựng & Thương mại 12 làm chủ đầu tư dự án thay cho Cty Thành Phát Căn cứ văn bản này, Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn đã cho Công ty 12 vay để thanh toán nợ thay cho Cty Thành Phát và tiếp tục thực hiện dự án, tài sản thế chấp vẫn là toàn bộ QSDĐ dự án nói trên Quyết định số 5796/QĐ-UBND-ĐT ngày 15-12-2006 và văn bản số 3508/UBND

ĐT ngày 12-6-2007 của UBND TP.HCM thực chất là thủ tục để chuyển dự án đầu tư từ Cty Thành Phát qua cho Cty 12 Do đó, việc cáo trạng cắt bỏ văn bản số 3508/UBND-

ĐT ngày 12-6-2007 của UBND TP.HCM, không đưa Cty 12 vào vụ án, đã làm ảnh

hưởng đến việc “xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy

đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội…” theo quy định tại Điều 10 Bộ Luật Tố tụng Hình sự, từ đó đã đánh giá không chính xác bản chất và hậu quả của vụ án!

Theo quy định tại Điều 196 Bộ Luật Tố tụng Hình sự về giới hạn của việc xét xử: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và tòa

án đã quyết định đưa ra xét xử Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2010/QĐ ngày 12/7/2010, Tòa án Nhân dân (TAND) TP.HCM không triệu tập đại diện Cty TNHH XD&TM 12, mà chỉ triệu tập cá nhân ông Trần Duy Doanh (Giám đốc Cty 12) với tư cách nhân chứng Thế nhưng, trong phần thẩm vấn tại phiên tòa, ông Trần Duy Doanh lại phải trả lời về trình tự thủ tục để được UBND TP.HCM giao làm chủ đầu tư dự án thay cho Cty Thành Phát, về việc trả nợ thay cho Cty Thành Phát và về việc xác định yêu cầu đối với khoản nợ trả thay này sau khi dự án lại bị UBND TP.HCM thu hồi! Chúng tôi cho

Trang 5

rằng việc làm sáng tỏ các vấn đề này là hết sức cần thiết, vì nó trực tiếp liên quan đến

vụ án Nhưng rất tiếc về mặt tố tụng, toàn bộ sự việc này không hề được nêu trong cáo trạng, và ông Trần Duy Doanh được triệu tập là nhân chứng với tư cách cá nhân nên các lời khai của ông Doanh tại tòa về các vấn đề liên quan Cty TNHH XD&TM 12 không phải là chứng cứ pháp lý để Hội đồng xét xử quyết định

II/- Đối với tội danh “vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của tổ chức tín dụng”:

Cáo trạng số 311/VKS-P1 ngày 13-7-2009 kết luận: “Trần Văn Tuyến với tư cách là Giám đốc chi nhánh Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn đã bỏ qua nhiều quy định của Nhà nước trong việc xét duyệt, thẩm định và xét cho vay, tạo điều kiện sơ hở cho Hà, Hòa chiếm đoạt tổng số tiền 10.597.629.300 đồng của Chi nhánh Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn”

Cáo trạng số 78/VKS-P1 ngày 31-3-2010 lại kết luận: Trần Văn Tuyến tạo điều kiện sơ

hở cho Hà, Hòa chiếm đoạt 3.000 lượng vàng SJC và 18 tỷ đồng của Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn

Kết luận của 2 Cáo trạng trước và sau mâu thuẫn và đều không có căn cứ pháp lý Chúng tôi xin làm sáng tỏ 2 vấn đề sau đây:

+ Trần Văn Tuyến có vi phạm quy định của pháp luật khi quyết định cho Cty TNHH Thành Phát vay 3.000 lượng vàng và 18 tỷ đồng hay không?

+ Quyết định cho vay này có gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng không? Chi nhánh Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn có bị Hà, Hòa chiếm đoạt 3.000 lượng vàng và 18 tỷ đồng không?

1- Tuyến có vi phạm các quy định về cho vay hay không?

A- Các quy định về cho vay:

a) “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng”, ban hành kèm theo

Quyết định số 1627/2001/QĐ– NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, quy định:

- Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gởi cho tổ chức tín dụng (Điều 14)

Trang 6

- Khách hàng có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ trung thực các thông tin tài liệu liên quan đến việc vay vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu đã cung cấp (điểm a khoản 2 Điều 24)

b) “Quy định cho vay đối với khách hàng trong hệ thống Ngân hàng NN & PTNT

Việt Nam”, ban hành kèm theo Quyết định số 72/QĐ-HĐQT-TD ngày 31-3-2002 của Chủ Tịch HĐQT Ngân hàng NN & PTNT Việt Nam, quy định:

+ Về quy trình xét duyệt cho vay (Điều 16):

- Cán bộ tín dụng được phân công giao dịch với khách hàng có nhu cầu vay vốn có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn và tiến hành thẩm định các điều kiện vay vốn theo quy định

-Trưởng phòng tín dụng có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ và báo cáo thẩm định do cán bộ tín dụng lập, tiến hành xem xét tái thẩm định (nếu cần thiết), ghi ý kiến vào báo cáo thẩm định và trình giám đốc quyết định

- Giám đốc NHNN nơi cho vay căn cứ báo cáo thẩm định, tái thẩm định (nếu có) do phòng tín dụng trình, quyết định cho vay hoặc không cho vay

+ Về phân định trách nhiệm đối với cán bộ (Điều 30):

- Cán bộ tín dụng (CBTD) trực tiếp thẩm định là người chịu trách nhiệm về khoản vay do mình thực hiện; hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn, thẩm định các điều kiện vay vốn theo quy định; lập báo cáo thẩm định; cùng khách hàng lập Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay; thực hiện kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay; lưu giữ hồ sơ theo quy định

- Trưởng phòng tín dụng chịu trách nhiệm phân công đôn đốc cán bộ tín dụng thực hiện đầy đủ quy chế cho vay, kiểm soát nội dung thẩm định của CBTD, tiến hành tái thẩm định (nếu thấy cần thiết) và ghi ý kiến của mình trên hồ sơ

- Giám đốc ngân hàng nơi cho vay là người chịu trách nhiệm chỉ đạo điều hành nghiệp vụ kinh doanh theo quyền hạn của chi nhánh và là người chịu trách nhiệm về quyết định cho vay

c) “Quy định việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay trong hệ thống Ngân hàng NN & PTNT Việt Nam”, ban hành kèm theo Quyết định số 300/QĐ-HĐQT-TD

Trang 7

ngày 24-9-2003, quy định:

+ Điều kiện đối với khách hàng vay được bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay (Điều 19 khoản 1):

- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ

- Có dự án đầu tư khả thi và có hiệu quả

- Có mức vốn tự có tham gia vào dự án đầu tư và giá trị tài sản bảo đảm đáp ứng được một trong ba trường hợp sau:

* Có vốn tự có tối thiểu bằng 15% tổng mức vốn đầu tư

* Có vốn tự có cộng (+) giá trị tài sản bảo đảm tiền vay tối thiểu bằng 15% tổng mức vốn đầu tư

* Có giá trị tài sản bảo đảm tiền vay tối thiểu bằng 15% tổng mức vốn đầu tư

B/- Đối chiếu với thực tế quá trình xét duyệt, thẩm định và quyết định cho Cty TNHH

Thành Phát vay:

Theo cáo trạng và tài liệu trong hồ sơ đã thể hiện:

+ Căn cứ Quyết định số 6577/QĐ-UB ngày 30-12-2004 của UBND TP.HCM cho phép Cty Thành Phát chuyển mục đích sử dụng đất để đầu tư xây dựng cụm dân cư tại xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn với diện tích 72.000 m2 , ngày 09-8-2005 Trần Thị Hà lập

phương án vay vốn đầu tư thực hiện dự án, trong đó ghi rõ:

* Tổng nhu cầu sử dụng vốn: 181.220.252.000 đồng, trong đó:

- Vốn tự có của chủ đầu tư: 139.220.252.000 đồng, chiếm khoản 76,83%

- Nhu cầu sử dụng vốn vay: 42.000.000.000 đồng (23,17%)

Ngày 31-8-2005, Trần Thị Hà ký “Giấy đề nghị vay vốn” xin vay 42.000.000.000 đồng, tài sản thế chấp là toàn bộ giá trị QSDĐ và tài sản trên đất dự kiến hình thành của dự án khu dân cư (72.000m2) giá trị là 149.632.502.000 đồng

Ngày 10-9-2005, Nguyễn Công Định lập báo cáo thẩm định ghi nhận:

- Vốn tự có, coi như tự có của Cty Thành Phát là 139.220.252.000 đồng, bằng 76,83% tổng số vốn đầu tư

- Cty Thành Phát có khả năng tài chính (chi phí xây dựng dở dang là 63 tỷ đồng), có nguồn vốn tự chủ tốt (năm 2003 là 5,2 tỷ đồng, năm 2004 là 50,2 tỷ đồng), có khả năng

Trang 8

quản lý và kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh BĐS; đủ điều kiện xin vay 42 tỷ đồng,

đề nghị xét duyệt cho Cty Thành Phát vay 42 tỷ đồng

Với vai trò kiểm soát báo cáo thẩm định của nhân viên tín dụng, Lưu Thị Minh Hiền

(Trưởng Phòng tín dụng) ký duyệt vào báo cáo thẩm định, chấp nhận đề xuất cho Cty

Thành Phát được vay 42 tỷ đồng

Ngày 15-9-2005 Trương Len Sang (nhân viên phòng thẩm định) lập báo cáo thẩm

định ghi nhận Cty Thành Phát đủ điều kiện xin vay 42 tỷ đồng) ký và Trịnh Thế Việt

(Trưởng phòng thẩm định duyệt vào báo cáo thẩm định đồng ý cho Cty Thành Phát

vay 42 tỷ đồng Do đó, việc Trần Văn Tuyến quyết định cho vay là hoàn toàn đúng các quy định viện dẫn trên Theo lời khai của Lưu Thị Minh Hiền (BL 1015 ngày

13-3-2008) thì Hà và Hòa đến phòng tín dụng tiếp xúc với Hiền và Định đặt vấn đề xin vay, Hiền phân công Định trực tiếp theo dõi kiểm tra các điều kiện vay vốn Trước khi quyết định cho vay, Hiền đi cùng Định, Sang, Việt và Tuyến xem thực địa Tại lời khai ngày 19-5-2008 (BL 487), Hà cũng xác nhận trước khi ký Hợp đồng vay tiền Hà đã nhiều lần gặp Định đặt vấn đề xin vay 42 tỷ đồng

Tất cả các cán bộ: Hiền, Định, Sang, Việt đều xác nhận việc thẩm định và ký đề xuất cho vay 42 tỷ đồng hoàn toàn độc lập, không có tác động nào của lãnh đạo chi

nhánh Do đó, việc cáo trạng quy kết “do có mối quan hệ với Hà nên Tuyến đã phê duyệt 2 báo cáo thẩm định trên đồng ý cho Cty Thành Phát vay 42 tỷ đồng” là hoàn toàn không có căn cứ!

Tại Bút lục 1001 ngày 04-02-2009, Lưu Thị Minh Hiền khẳng định: “Căn cứ khoản 2 Điều 30 Quy định 72/QĐ-HĐQT-TD ngày 31-3-2002 của Ngân hàng NN & PTNT Việt Nam, khi xem xét cho Cty Thành Phát vay, tôi tin tưởng hồ sơ cung cấp của khách hàng vay, báo cáo thẩm định của CBTD, nội dung báo cáo thẩm định là đúng, vì:

1- Hồ sơ pháp lý đơn vị vay và hồ sơ dự án đầy đủ

2- Khách hàng đã vay vốn ngân hàng và đã trả nợ đầy đủ

3- Sau khi Phòng tín dụng thẩm định xong, Phòng thẩm định còn thẩm định lại

4- Dự án vay vốn đầu tư có hiệu quả, thuận lợi nằm ở trung tâm đối diện quận 12

Vì là loại vay thế chấp tài sản hình thành bằng vốn vay nên sau khi giải ngân mới có

Trang 9

được TSTC Tổng cộng 2 lần giải ngân, khách hàng nộp 33 bản chính sổ đỏ, diện tích 121.613m2, giấy nộp thuế chuyển QSDĐ, tờ khai trước bạ, biên lai thu thuế nhà đất…” Tại Bút lục số 322, ngày 04-4-2008 Trương Len Sang xác nhận: ”Phần nhận xét đánh giá

và kiến nghị của tôi: + Đánh giá: Cty Thành Phát có tình hình tài chính tốt, dự án xây dựng cụm dân cư xã Đông Thạnh đã và đang tiến hành đền bù giải tỏa Qua xem xét dự

án đảm bảo khả năng trả nợ Tài sản thế chấp hình thành từ vốn vay, cán bộ tín dụng theo dõi tiến độ dự án và quá trình hình thành tài sản để hoàn chỉnh giấy tờ tài sản, đảm bảo tài sản hình thành từ vốn vay đúng quy định + Kiến nghị: Đề nghị duyệt cho vay”

Kết luận thanh tra số 231/KL-TTr.m ngày 02-7-2008 của Thanh tra Ngân hàng Nhà Nước Chi nhánh TP.HCM đã đánh giá: Nhìn chung Chi nhánh Chợ Lớn có chấp hành quy chế cho vay theo Quy định của Thống đốc NHNN, nhưng trong quá trình giải quyết cho vay vẫn còn những điểm chưa đúng như đã nêu:

+ Thẩm định chưa chính xác vốn tự có;

+ Giải ngân không theo tiến độ thực hiện dự án;

+ Trong hồ sơ tài sản thế chấp, không có hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa Cty Thành Phát và các hộ dân

Kết luận thanh tra số 40/KL-TTr2.m ngày 15-4-2009 của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đánh giá một số vi phạm quy định như sau:

+ Vi phạm quy định kiểm tra, giám sát vốn vay: trách nhiệm chính là Nguyễn Công Định + Vi phạm phân loại nợ: Trách nhiệm chính là Nguyễn Công Định

+ Vi phạm về lưu giữ hồ sơ vay: Trách nhiệm chính là Nguyễn Công Định

Rõ ràng “những điểm chưa đúng quy định” (theo kết luận Thanh tra NHNN Chi nhánh TP.HCM) và “một số vi phạm quy định” (theo kết luận Thanh tra NHNN Việt Nam) đều không thuộc trách nhiệm của Giám đốc Trần Văn Tuyến, không làm ảnh hưởng đến Quyết định cho vay, và thực tế cũng không gây hậu quả thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho ngân hàng (như phần sau chúng tôi sẽ phân tích) Do đó, cáo trạng qui kết Trần Văn Tuyến đã bỏ qua nhiều quy định của Nhà nước trong việc xét

duyệt, thẩm định và xét cho vay, tạo điều kiện sơ hở cho Hà, Hòa chiếm đoạt tài sản ngân hàng là không có căn cứ

Trang 10

2/- Về hậu quả thiệt hại:

a) Cả 2 bản cáo trạng đều xác nhận Trần Thị Hà đã sử dụng vốn vay chi:

- 6.293.400.000 đồng để đền bù giải tỏa 20.778 m2 đất trong dự án khu dân cư (tương ứng 11 Giấy chứng nhận QSDĐ);

- Sử dụng vốn vay chi 17.594.700.000 đồng đền bù giải tỏa 58.874m2 đất trong dự án khu công nghiệp (tương ứng 22 Giấy chứng nhận QSDĐ);

- Chi nộp thuế chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng đất và nộp thuế đất trong dự án cụm dân cư là 2.446.976.000 đồng;

- Trả lãi vay cho Ngân hàng NN&PTNT Chi nhánh Chợ Lớn là 6.366.894.700 đồng;

- Còn lại 10.597.029.000 đồng Trần Thị Hà sử dụng cho cá nhân

Đối với số tiền sử dụng cho cá nhân này, Cáo trạng số 78/VKS-P1 ngày 31/3/2010 cũng

đã kết luận: “Theo đơn tố giác của Trần Thị Hà về việc Hà sử dụng tiền vay của Ngân hàng NN&PTNT Chi nhánh Chợ Lớn cho một số cá nhân khác vay nhiều tỷ đồng, đề nghị CQĐT thu hồi để khắc phục hậu quả Qua điều tra nhận thấy Trần Thị Hà còn vay nhiều cá nhân và ngân hàng khác, việc Hà khai s tiền trên là từ nguồn gốc vay của Ngân hàng NN & PTNT Chi nhánh Chợ Lớn là chưa có cơ sở Tuy nhiên, CQĐT đã có

Quyết định số 1267/QĐ-CQĐT(PC15) ngày 31-7-2009 tách việc khiếu nại, tố giác của

Trần Thị Hà để điều tra, giải quyết riêng” Chưa điều tra giải quyết xong thì chưa

có căn cứ quy kết Hà chiếm đoạt số tiền này Rõ ràng, hầu hết số tiền vay đã được Hà

đầu tư vào dự án, do đó việc quy kết Tuyến tạo điều kiện sơ hở cho Hà, Hòa chiếm

đoạt 3.000 lượng vàng và 18 tỷ đồng của ngân hàng là hoàn toàn không có căn cứ

b) Theo quy định cho vay và bảo đảm tiền vay cũng như Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản thì khách hàng vay có nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các cam kết khác Trong trường hợp khách hàng vay vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, ngân hàng có quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và xử lý tài sản thế chấp thu hồi nợ Trong trường hợp này, dự án đầu tư đang trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng chưa đáo hạn, tài sản thế chấp chưa xử lý thu hồi nợ, thì không có căn cứ gì để có thể kết luận ngân hàng bị

Hà, Hòa chiếm đoạt tiền vay của ngân hàng!

Ngày đăng: 06/12/2015, 02:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm