1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Giáo trình an toàn và bảo hộ lao động trong ngành xây dựng phần i

116 518 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 747,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc các tác nhân thiên nhiên tác động khiến cho khi lập kế hoạch sản xuất xây dựng cần dự liệu mọi khả năng để tránh những tác động làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình, cản trở tiến

Trang 1

đề cương nội dung sách giáo trình an toàn và bảo hộ lao động trong ngành xây dựng

Lời nói đầu

Phần thứ nhất : các văn bản chủ yếu của nhà nước và ngành xây dựng về bảo hộ lao động

Chương I Những vấn đề chung về bảo hộ lao động

1 Khái niệm, mục đích , ý nghĩa về bảo hộ lao động

2 Nội dung bảo hộ lao động

3 Hệ thống pháp luật và các qui định về bảo hộ lao động

4 Nội dung kế hoạch bảo hộ lao động

5 Công tác thanh tra, kiểm tra bảo hộ lao động

Chương II Hệ thống tổ chức và quản lý công tác bảo hộ lao động

Trang 2

Phần thứ hai : An toàn lao động trong ngành xây dựng

Chương I Điều kiện lao động và tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong ngành Xây dựng

1 Điều kiện lao động trong ngành xây dựng

Đặc điểm của sản phẩm xây dựng

Sản phẩm xây dựng cơ bản tuy là sản phẩm công nghiệp nhưng lại rất không giống các sản phẩm công nghiệp khác Những đặc điểm của sản phẩm xây

Trang 3

dựng đã ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình chế tạo ra nó cũng như là nguyên nhân gây ra những tai nạn lao động rất đặc thù.

Sản phẩm xây dựng cơ bản chiếm diện rộng, chiếm không gian lớn và gắn liền với mặt đất ( hoặc mặt nước trên đất).

Từ đặc điểm này, chúng ta thấy không thể che phủ hoặc khó che phủ cho sản phẩm xây dựng trong quá trình chế tạo sản phẩm Phần lớn công việc của người lao động xây dựng cơ bản diễn ra ở ngoài trời Các tác nhân thời tiết, khí hậu, thiên nhiên mặc sức ảnh hưởng đến quá trình sản xuất Việc các tác nhân thiên nhiên tác động khiến cho khi lập kế hoạch sản xuất xây dựng cần dự liệu mọi khả năng để tránh những tác động làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình, cản trở tiến độ thi công cũng như gây tai nạn lao động Chúng ta biết đặc điểm khí hậu của nước ta là có hai mùa mưa và nắng rõ rệt Cần sắp xếp sao để khi không mưa, tiến hành những việc ngoài trời để khi mưa làm những việc trong mái che Các tác nhân thiên nhiên bình thường không được xem như khó khăn đột xuất để kéo dài thời hạn thi công Người lập kế hoạch thi công phải lường trước điều kiện thiên nhiên tác động mà dự báo và điều này được phản ánh trong thời hạn thực hiện dự án khi dự thầu xây lắp

Do chiếm diện rộng, chiếm không gian lớn và gắn liền với mặt đất nên khi chế tạo sản phẩm xây dựng, vật liệu để chế tạo phải vận chuyển từ nơi khai thác về vị trí công trình Từ điều này, khâu vận chuyển quyết định quá trình sản xuất xây dựng Công tác vận chuyển chiếm tỷ lệ lớn trong công sức

và giá thành xây dựng Quá trình thu mua và vận chuyển là quá trình rất dễ gặp rủi ro Xe vận chuyển phải lăn bánh trên đường tăng rủi ro gặp tai nạn giao thông

Các yếu tố địa chất công trình, địa chất thuỷ văn khu vực xây dựng

ảnh hưởng nhiều đến sản xuất xây dựng do sản phẩm xây dựng gắn liền với mặt đất, mặt nước Việc sử lý nền móng, chống các sự cố lún, sụt, nước

Trang 4

ngầm, cát chảy là những khó khăn cần được dự liệu trước trong quá trình thi công và có biện pháp để ngăn ngừa

Ngoài ra còn những yếu tố con người và xã hội gây ra các tác động tiêu cực do đặc điểm sản phẩm xây dựng chiếm không gian lớn, chiếm diện rộng gây ra: sự bảo vệ chống phá hoại, chống mất cắp tài sản, chống vi phạm

địa giới xây dựng, chống phá hoại vô hình

Thời gian chế tạo sản phẩm xây dựng dài:

So với sản xuất nhiều sản phẩm công nghiệp khác, thời gian chế tạo sản phẩm xây dựng dài nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm Thời gian chế tạo dài qua nhiều mùa khí hậu nên những yếu tố thiên nhiên tác động mạnh

mẽ đến quá trình sản xuất xây dựng Do đặc điểm của mỗi mùa khí hậu, khi sản xuất xây dựng cần tính toán, dự liệu để tránh những bị động khi có tình huống bất thường do khí hậu sinh ra

Khi thời gian chế tạo dài còn những ảnh hưởng của con người, của xã hội tác động như những biến động do thay đổi tổ chức, thay đổi chủ trương sản xuất, đầu tư, xây dựng công trình Những tác động tiêu cực đến quá trình tạo sản phẩm xây dựng cũng như dễ gây ra tai nạn lao động do thời gian thi công dài là điều tất nhiên

Thời gian chế tạo dài làm tăng chi phí bảo quản vật tư, bảo quản công trình Ngoài ra, vật tư, bán thành phẩm còn bị giảm thấp chất lượng do phải bảo quản lâu Thời gian thi công dài làm cho người lao động sản xuất phải qua nhiều thời kỳ thay đổi thời tiết trong một năm Các yếu tố khí tượng, khí hậu tác động làm cho sức khỏe người lao động bị ảnh hưởng

Thi công kéo dài thời gia n cũng tă ng mối nguy cơ mất an toà n trong sản xuấ t

Đặc điểm về tính đa dạng và phức hợp của sản phẩm xây dựng:

Trang 5

Sản phẩm xây dựng có rất nhiều hình thái khác nhau ( phản ánh tính

đa dạng): về qui mô, về loại dạng, về kích cỡ, về sử dụng vốn đầu tư Người lao động xây dựng phải thường xuyên thay đổi môi trường lao động tạo ra nguy cơ mất an toàn lao động Sản phẩm xây dựng do rất nhiều chủng loại công nhân chế tạo tham gia, rất nhiều chủng loại vật liệu tạo thành ( phản

ánh tính phức hợp) Từ đặc điểm đa dạng và phức hợp của sản phẩm xây dựng nên có nhiều quá trình điều khiển sản xuất xây dựng cùng diễn ra trên một mặt bằng xây dựng Đó là đầu mối cho sự phối hợp không ăn ý và cũng

là nguyên nhân tạo ra mất an toàn lao động Điều này đòi hỏi các tiêu chuẩn

về quản lý và điều hành sản xuất xây dựng phức tạp hơn các sản xuất khác

Do sự đa dạng của sản phẩm xây dựng nên mỗi dạng của sản phẩm xây dựng lại phải có những phòng ngừa tai nạn lao động khác nhau Do tính đa dạng của sản phẩm xây dựng mà tai nạn xảy ra cho người lao động cũng muôn hình muôn vẻ

Tổ chức sản xuất xây dựng đa dạng và phức hợp nên mỗi dạng tổ chức lại có những đặc thù riêng và những đặc thù này làm cho người lao động phải

đương đầu với những dạng tai nạn lao động không hoàn toàn giống nhau

1.2 Dự báo các tai nạn khả dĩ cho từng thao tác nghiệp vụ xây dựng là yêu cầu của quản lý an toàn trên công trường :

Phải chăng bản chất tự nhiên là tai biến và những chuyện bất ngờ ?

Người bán hàng rong đang quẩy gánh hàng trên hè phố bỗng nhiên chiếc xe máy của một người say rượu vọt lên xô ngã Với người gánh hàng là tai nạn ngẫu nhiên Thày giáo Quang lái xe đi dạy trong Huế, đến Thường Tín gặp hai xe tải đi ngược chiều nhau va nhau, xe bị quay húc ngang thân xe thày

đang nép mép đường làm xe thày bẹp rúm Ngẫu nhiên đã phá chuyến đi của thày Hầu hết các nghiên cứu khả thi của các dự án khách sạn tại nhiều thành

Trang 6

phố lớn nước ta đã làm mấy năm qua đều không tính toán đến cuộc khủng hoảng tài chính châu á bắt đầu từ 1997 dẫn đến tính trạng khách khứa vắng teo Báo chí nêu một số công trình đang xây dựng rồi ngưng để gạch đá trơ gan cùng tuế nguyệt Ngẫu nhiên đã bóp chết công trình ngay từ quá trình

đang xuất hiện Nhà đầu tư không thể tính toán được khả năng này khi lập dự

án Ngẫu nhiên đã giết công trình Người nông dân hăm hở trồng mía theo khuyến nghị của nhà quản lý địa phương Bỗng nhiên nhà máy đường chuyển đi nơi khác Thế là lao đao Nhiều người phải nêu câu hỏi nghiêm túc rằng phải chăng ngẫu nhiên là tồn tại khách quan Đúng thế , không phải ngẫu nhiên chỉ là các tác động tiêu cực mà còn có nhiều ngẫu nhiên tác động tích cực nữa Khi ấy người ta thường cho là do sự khôn khéo mà tạo nên thành tích

Hãy chấp nhận sự tồn tại của rủi ro, tai nạn và sống chung với nó

Số lượng cũng như mức độ của các rủi ro về kinh tế, các rủi ro trong quá trình đầu tư của dự án ngày càng tăng dẫn tới việc phải đưa vào quản lý dự

án những vấn đề để có thể chung sống với rủi ro Muốn vậy , phải đặt ra vấn

đề là làm sao thấu hiểu các rủi ro, tai nạn lao động hay nói cách khác là phải quản lý được rủi ro với việc sử dụng các mô hình xác xuất thống kê cho phép tính đến độ bất định của các sự kiện (ngẫu nhiên) Tại Hoa kỳ , Anh quốc ,

và các nước phát triển khác đã có nhiều hãng bảo hiểm lớn nhận bảo hiểm công việc có nhiều rủi ro, bảo hiểm tai nạn.Với sự ra đời và phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin (máy tính, các phần mềm, ) người ta có điều kiện để tiến hành mô phỏng và tính toán nhiều phương án phức tạp khác nhau để đề xuất một phương án tối ưu Trong bối cảnh đó các lý thuyết về quản lý rủi ro trong quản lý dự án đã được hình thành và ngày càng phát triển

Trang 7

Một quan điểm về quản lý rủi ro, quản lý các tai nạn lao động

Quản lý rủi ro, tai nạn là một kỹ thuật chính xác để xác định những mối đe doạ đến sự thành công của dự án, tập trung sự chú ý các hoạt động để loại bỏ những rủi ro, loại bỏ tai nạn và triển khai các kế hoạch để làm giảm bớt hoặc giảm thiểu những ảnh hưởng và tăng khả năng thành công của dự án Việc này còn bao gồm cả kế hoạch làm tăng tối đa các yếu tố tích cực liên quan

đến các rủi ro (Rủi ro tích cực) Quản lý rủi ro, tai nạn là một tập hợp của các hoạt động quản lý dự án, được thi hành cùng với các chức năng quản lý truyền thống như quản lý chi phí kế hoạch và kỹ thuật tại các cấp dự án và chức năng Ví dụ : chắc chắn rằng việc chuẩn bị trước cho các sự kiện bất lợi sẽ tốt hơn là ứng phó với chúng khi chúng xẩy ra Phương pháp đầu tiên này sẽ dành cho nhà quản lý thời gian để lựa chọn các giải pháp thay thế và các kế hoạch hành động và lựa chọn chúng để phù hợp với mục tiêu dự án

Từ đó rủi ro luôn là một phần thống nhất của dự án và đi kèm với các yếu tố bất trắc, quản lý rủi ro là một phương pháp hệ thống để đánh giá các yếu tố bất trắc và điều đó là một phần cơ bản của một phương pháp quản lý dự án hiệu quả và hoàn chỉnh

Quản lý rủi ro được chia làm hai lĩnh vực chính, kế hoạch quản lý rủi ro, tai nạn và kiểm soát rủi ro, tai nạn

Mô hình này bao gồm cả các hoạt động cần hoàn thành trong giai đoạn bắt

đầu triển khai dự án, thông thường xẩy ra trong vòng ba tháng kể từ khi ký hợp đồng và cả những hành động trong toàn bộ thời gian thực hiện hợp đồng khi dự án đang được thực hiện

Kế hoạch quản lý rủi ro:

Lập kế hoạch quản lý rủi ro, tai nạn bắt đầu cùng với việc xác định các rủi

ro, tai nạn có thể xảy ra Để chủ động đối phó với rủi ro, trước hết cần biết những khả năng có những rủi ro loại nào Rủi ro ở đây cần được hiểu là

Trang 8

những rủi ro có thể điều chỉnh và kiểm soát được trong dự án Bất cứ một rủi

ro nào không phải là một mối đe doạ cụ thể đến sự thành công của dự án hoặc không phải là một vấn đề mà nhóm dự án khống chế một cách hữu hiệu

sẽ được loại ra khỏi sự xem xét Cần lập được danh mục rủi ro độc lập liên quan đến lĩnh vực mà họ phụ trách Sau đó cần rà soát lại các danh sách đó

để chắc chắn rằng những rủi ro đó đe doạ đến sự thành công của dự án Bước này được thực hiện thông qua việc sử dụng công cụ cấu trúc chia nhỏ công việc như là một khung các nội dung để xác định rủi ro cụ thể Người quản lý

dự án hoặc người quản lý rủi ro (cho dự án lớn) sẽ phỏng vấn những người lãnh đạo của dự án những vấn đề có khả năng xẩy ra cho toàn bộ phận công việc sẽ xảy ra trong quá trình thực hiện dự án Danh mục tổng hợp các khả năng rủi ro, tai nạn sẽ được đưa ra để đánh giá

Đánh giá rủi ro, tai nạn

Là bước xác định khả năng và mức độ ảnh hưởng của mỗi rủi ro, tai nạn

ảnh hưởng của rủi ro, tai nạn là một thước đo xem dự án sẽ bị ảnh hưởng như thế nào nếu rủi ro xẩy ra ảnh hưởng sẽ được dự đoán theo các tác động

về chi phí và/hoặc kế hoạch và kỹ thuật Để đánh giá các rủi ro, tai nạn, hầu hết các phương pháp là trực tiếp ước đoán khả năng và ảnh hưởng của mỗi rủi ro đã được xác định thông qua việc sử dụng các kinh nghiệm và điều chỉnh trong quá trình thi công hoặc quản lý Những thông tin giới hạn thu

được và những phân tích cơ bản có thể hỗ trợ phương pháp “Điều chỉnh tối

ưu” này để đánh giá rủi ro Những nhà quản lý dự án hoặc quản lý rủi ro sẽ phân tích các rủi ro dự án và xác định các khả năng và ảnh hưởng của mỗi rủi ro

Trang 9

Lựa chọn các vấn đề rủi ro, các công tác có thể gây tai nạn

Là bước xác định một tập hợp tương ứng các rủi ro, các nguyên nhân gây tai nạn cơ bản đe doạ đến sự thành công của dự án, nhóm dự án, để khống chế

được và tập hợp những rủi ro này để quản lý thông qua những nguồn lực của dự án Việc này sẽ đưa đến kết quả là một danh sách những rủi ro sẽ

được quản lý Danh sách này sẽ được điều chỉnh trong quá trình thực hiện dự

án và như thế không phải là không có khả năng có rủi ro mới phát sinh và rủi

ro cũ mất đi đồng thời chỉ dẫn cho một số rủi ro mà một nhà quản lý sẽ rất khó đưa ra Nhóm dự án phải đánh giá một cách thông thường tất cả các rủi

ro trong danh sách ban đầu và lựa chọn một tập hợp các rủi ro cơ bản để

quản lý

Loại bỏ bớt rủi ro, dạng tai nạn

Là bước cần thiết để giảm bớt khả năng xẩy ra rủi ro được lựa chọn để quản

lý Mỗi một bộ phận chức năng tham gia quản lý sẽ xác định các hành động

để loại bỏ hoặc giảm khả xẩy ra các rủi ro trong phạm vi mình phụ trách Phương pháp chi phí tối ưu của mỗi cách loại trừ rủi ro là công cụ quan trọng

để thực hiện quá trình này Không có một cách thức cụ thể nào được khuyến nghị trong hoàn cảnh thông thường và phụ thuộc vào điều chỉnh thi công, quản lý trong bước xác định rủi ro, khả năng gây tai nạn

Kế hoạch rủi ro, chống tai nạn dự phòng

Xác định những gì phải làm để làm giảm thiểu ảnh hưởng của mọi rủi ro, nguyên nhân gây tai nạn xẩy ra Ngoài ra cần nghiên cứu các điều kiện bắt

đầu/kết thúc cho các hành động đó được đưa ra Không có cách thức cụ thể nào được khuyến nghị theo nghĩa thông thường mà phụ thuộc vào việc điều chỉnh trong quá trình thi công và quản lý Việc này được thể hiện trong một

kế hoạch dự phòng do mỗi rủi ro được lựa chọn để quản lý và định nghĩa các

Trang 10

điều kiện xẩy ra để bắt đầu và kết thúc các kế hoạch dự phòng rủi ro, đề

phòng tai nạn đó

Tổ chức quản lý rủi ro, đề phòng tai nạn

Tiến hành thiết lập ra các tổ chức quản lý rủi ro và giao nhiệm vụ Nhiệm vụ của người quản lý dự án là phải xác định được tổ chức quản lý rủi ro, đề phòng tai nạn và giao nhiệm vụ cho mỗi cá nhân Kết quả của bước này là

đưa ra một bảng tổ chức quản lý rủi ro và biểu phân công nhiệm vụ

Xây dựng cơ sở dữ liệu

Đầu ra chủ yếu của lập kế hoạch quản lý rủi ro, đề phòng tai nạn là một bản

kế hoạch để giúp đỡ các thành viên trong nhóm quản lý dự án có được một

sự hiểu biết rõ ràng và tổng quát về cách thức mà rủi ro và tai nạn được quản

lý trong dự án cũng như vai trò của họ trong kế hoạch, ví dụ, nhiệm vụ cá nhân Một cơ sở dữ liệu về quản lý rủi ro, phòng ngừa tai nạn sẽ được chuẩn

bị thu thập và báo cáo tất cả các dữ liệu quản lý rủi ro, phòng ngừa tai nạn Quản lý dự án ( quản lý rủi ro) sẽ chịu trách nhiệm nội dung của kế hoạch quản lý rủi ro, phòng ngừa tai nạn Kết quả của bước này là hình thành cơ sở của dữ liệu quản lý rủi ro, phòng ngừa tai nạn

Mọi quyết định sử lý với các rủi ro, tai nạn vào thời điểm đã được dự báo sẽ làm giảm các tổn thất mà rủi ro, tai nạn có thể đem lại cho việc thực hiện dự

án Đó chính là ước vọng của những người quản lý dự án

1.3 Những nguyên nhân gây ra tai nạn lao động trong ngành xây dựng

Va đập cơ học

Quá trình sản xuất xây dựng phải sử dụng vật liệu xây dựng nặng và có kích thước lớn Những vật liệu và cấu kiện xây dựng nếu không có những biện

Trang 11

pháp chu đáo để nâng cất, chuyển vận từ vị này đến vị trí khác có thể có khả năng va đập vào kết cấu, vật liệu khác hoặc va đập vào người đang lao động sinh ra tai nạn cho người làm việc trong phạm vi nguy hiểm

Rơi từ cao xuống:

Việc thi công kết cấu xây dựng có thể ở dưới sâu so với mặt đất hoặc trên cao Khi thi công dưới sâu, vật liệu, cấu kiện cũng như những vật dư thừa để trên cao có thể lăn hoặc di chuyển và rơi xuống chỗ thấp hơn Sự di chuyển vật liệu, cấu kiện, các vật dụng thi công hay rác xây dựng từ trên cao xuống mà không ngừa trước có thể rơi trúng người làm bên dưới Cũng có thể từ trên miệng hố sâu hoặc trên sàn mà khả năng rơi người từ trên cao xuống thấp xảy ra nếu không có biện pháp rào chắn Hàng năm trên các công trường xảy ra không ít tai nạn do ngã từ trên cao xuống thấp Nhiều trường hợp ngã giáo vì những lý do tưởng như khó có thể Trên giáo trát, công nhân hút thuốc lào và say thuốc, ngã từ trên cao xuống thấp gây tai nạn Trượt chân khi di chuyển hoặc gãy tấm ván gác giáo cũng hay xảy ra làm người công nhân lao từ trên cao xuống đất

Lở xụt mái đất

Đất có lực dính và ma sát giữa những hạt tạo nên đất Mái dốc tự nhiên được tạo ra tư thế ổn định nhờ lực dính và ma sát giữa các hạt đất Lực dính và ma sát phụ thuộc kích thước của hạt đất và độ ngậm nước của đất Đào đất không tạo mái dốc thường hay xảy ra hiện tượng lở xụt mái dốc Khi mưa, nước ngấm vào đất làm giảm lực dính và lực ma sát trong đất, gây ra hiện tượng xụt, lở Xụt, lở đất có thể vùi lấp người đang lao động ở chân dốc,

đồng thời làm người đang lao động ở trên cao bị ngã xuống thấp Xụt lở đất còn làm nghẽn giao thông đi lại cũng như gây tai nạn giao thông Nhà ở ven sông, ven biển bị nghiêng, đổ vì xụt lở đất Vào mùa lũ, mùa mưa , dòng

Trang 12

chảy ở sông, suối mạnh và dâng cao làm xói lở bờ sông, làm cho nhà cửa, công trình lăn xuống sông, suối và trôi theo dòng chảy

Tụt, lăn từ trên cao:

Vật nặng như vật liệu, cấu kiện chất ở bờ hố sâu hoặc tại mép sàn trên cao nếu xếp , đặt không ổn định hoặc không chèn, chắn cho cân bằng có thể bị lăn hoặc bị tụt xuống hố sâu Khi vật nặng rơi sẽ va đập vào kết cấu, gây nguy hiểm cho người lao động hoặc làm hư hỏng kết cấu hoặc các vật khác nằm bên dưới

Điện giật

Điện là nguồn năng lượng để vận hành máy móc xây dựng , để chiếu sáng nơi lao động Dây dẫn điện phải được cách ly với các bộ phận kim loại cũng như phải cách ly với các bộ phận của cơ thể người lao động tránh gây sự truyền điện làm nguy hiểm đến sức khoẻ và tính mạng con người Hiện tượng điện giật đã xảy ra nhiều làm bỏng và chết người Điện cũng là nguồn phát sinh nhiều vụ cháy do chập điện, do dây điện không đủ sức tải, dòng

điện làm nóng dây dẫn quá nhiệt độ cho phép , gây nóng và bắt cháy An toàn sử dụng điện là yêu cầu khá bức bách của ngành xây dựng Tai nạn điện xảy ra do sự chủ quan, thiếu cẩn thận, đôi khi do sự cẩu thả của sự thiết kế

và thi công hệ thống sử dụng điện

Sét đánh :

Công trường không bố trí hệ thống thu lôi hoặc là hệ thống thu lôi thiết kế và thi công không đúng các yêu cầu kỹ thuật gây ra hiện tượng sét đánh Sét có nguồn điện áp rất mạnh, gây ra phóng điện đến vài chục kiloAmpe hoặc điện nhiễm làm nguy hiểm đến tính mệnh người lao động, gây cháy hoặc hư hỏng

Trang 13

máy móc, thiết bị xây dựng Cần làm hệ thống thu lôi hợp cách, tránh rủi ro

do sét

Ngạt

Thi công trong môi trường kín, thông gió không đạt yêu cầu gây tai nạn người công nhân bị ngạt Khi cần thi công trong giếng sâu, hầm dài phải thông gió tốt mới đủ không khí cho sự thở của người lao động Cần hết sức chú ý, đảm bảo ôxy cho công nhân lao động trong các hầm tàu, trong giếng chìm, trong các bồn chứa lớn Hiện tượng gây ngạt trong các môi trường thiếu ôxy cũng thường hay gây cháy do các chất khí bốc cháy như các họ khí cacbua hydro có nồng độ đủ tạo cháy

Chất độc

Môi trường đất, môi trường nước cũng như môi trường khí ở nước ta bị ô nhiễm chất độc nhiều do sử dụng hoá chất độc trong thời kỳ chiến tranh, do người dân sử dụng chất diệt cỏ, thuốc sâu, thuốc diệt chuột, phân bón hoá học bừa bãi, thiếu thận trọng Gần đây, nhiều người lại dùng chất hoá học họ cyanua để phân ly vàng và các kim loại quý hiếm khác cũng là nguồn gây

độc hại cho môi trường lao động của công nhân xây dựng Phòng chống độc hại cho môi trường nơi lao động xây dựng là điều rất đáng quan tâm trong giai đoạn này Mùi sơn có diluăng, xăng công nghiệp hoặc axêtôn rất hại cho cơ quan hô hấp của người công nhân Bụi amiăng, bụi thuỷ tinh là nguồn gây ra ung thư phổi và viêm phổi Tiếp xúc với không khí có nhiều hơi axit, hơi của các hoá chất khác là nguồn gây bệnh phổi và các bệnh dị ứng da Trong những công trường có xử lý ngâm tẩm gỗ phải dùng crêôzôt hay các loại thuốc diệt mối mọt và các côn trùng có hại khác thì các loại thuốc hoá chất này đều là chất độc Cần có biện pháp hạn chế chất độc lan toả ra không khí cũng như tiếp xúc với các bộ phận của cơ thể

Trang 14

Bỏng

Bỏng là tai nạn làm cho cháy da của người lao động Nguồn gây tai nạn bỏng

do tiếp súc với lửa, với nhiệt độ cao Có nhiều người bị tai nạn do bị nước sôi làm bỏng da thịt Có nhiều tai nạn bị bỏng do cháy thuốc nổ Khi cháy thuốc

nổ, đám cháy gây nhiệt độ cao tức thời làm huỷ hoại cơ thể

Nước ngập

Đã có tai nạn do làm lều lán ven suối nghỉ đêm Trời không mưa nhưng lũ thượng nguồn về nhanh làm trôi lán và chết người Thi công trong hầm sâu, giếng sâu, nước tràn ngập do ống dẫn nước vỡ đột ngột, máy bơm thoát nước hỏng , không thoát được nước làm ngập úng , nguy hiểm tính mạng người lao

động Lao động trong các buồng kín của con tàu hay thuyền đang chìm có thể bị nước ngập bất ngờ

Nổ, cháy

Nổ, cháy là tai nạn hay xảy ra với công tác xây dựng Trong thi công các công tác đất có thể sử dụng dạng cơ giới phá nổ An toàn với công tác phá nổ cần thực hiện hết sức nghiêm ngặt Quá trình làm sạch các bồn chứa xăng, dầu hoặc tiến hành sửa chữa dùng hàn với các bồn trước đây chứa xăng, dầu rất hay gây tai nạn cháy nổ Cần có biện pháp thông gió để hơi cacbua hydro thấp đến mức không đủ gây cháy mới đủ an toàn

Cháy vỏ bào, vật liệu rắn như rẻ lau , mùn cưa có thể dẫn đến cháy lan toả Chập điện hay dòng điện quá lớn so với tiết diện dây dẫn cũng có khả năng gây cháy Khi hàn không chú ý đến môi trường chung quanh , xỉ hàn còn nóng bắn ra gây cháy Cháy do chất lỏng hay hơi xăng, dầu cũng là nguyên nhân thường trực Cháy bình gas, cháy axêtilen, cháy bình ôxy , bình hydro cũng đã xảy ra

Trang 15

Yếu tố sinh học

Trong lao động xây dựng còn nhiều công việc được thi công bằng phương pháp thủ công như vét bùn thoát nước cho các dòng sông, vét cống nước thải hoặc nhiều công tác mà các bộ phận cơ thể có thể tiếp súc với sinh vật gây bệnh hoặc nhiễm trùng cho con người Vi khuẩn có hại làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người lao động xây dựng đầu tiên là trong công tác giải phóng mặt bằng, di chuyển mồ mả Vét bùn, làm vệ sinh trước khi lấp đất mặt bằng cũng có thể gây bệnh tật và làm nhiễm khuẩn cho cơ thể người xây dựng

Điều kiện vệ sinh và văn minh công nghiệp kém trên công trường làm ô nhiễm môi trường khí, làm nhiễm bệnh cho công nhân Bữa ăn trưa trên công trường khi khâu an toàn vệ sinh thực phẩm chưa được chú ý đúng mức là nguồn độc hại cho sức khoẻ của người lao động Đã có nhiều vụ nhiễm độc tập thể nhiều người lao động do bữa ăn trưa kém vệ sinh, an toàn thực phẩm

Yếu tố vật lý : Âm, Quang, Nhiệt

Lao động thuộc nghề xây dựng còn có thể bị làm việc trong môi trường rất

ồn Độ ồn không khí vượt trên các tiêu chuẩn quy định về mức âm cho phép rất nhiều Điều này làm cho bộ phận thính giác của công nhân suy kém và

đồng thời năng suất lao động cũng như mức chính xác của sản phẩm chế tạo

ra bị ảnh hưởng xấu

Khi hàn hồ quang hay nhiều công đoạn khác trong nghề xây dựng như rèn, dập Khi ánh sáng mạnh như ánh sáng hàn không được che chắn cẩn thận mà tia sáng chiếu rọi trực tiếp vào mắt sẽ bị xưng do tác động của các tia cực tím hay hồng ngoại làm phá huỷ tế bào mắt

Lao động xây dựng có khi phải thường xuyên diễn ra trong điều kiện nhiệt

độ cao như tại các phân xưởng rèn, đúc luyện kim Cần có trang bị thích hợp cũng như giờ giấc lao động thích hợp nhằm tránh gây hại sức khoẻ công

Trang 16

nhân, có chế độ bồi dưỡng thoả đáng nhằm nhanh phục hồi sức lao động sau mỗi ca làm việc

2 Những nguyên nhân gây ra bệnh nghề nghiệp trong ngành xây dựng

Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện có hại của nghề nghiệp tác

động vào người lao động Bệnh xảy ra từ từ hoặc cấp tính Một số bệnh nghề nghiệp không chữa khỏi được mà để lại di chứng Bệnh nghề nghiệp có thể phòng tránh được

Nhà nước quy định có 21 loại bệnh nghề nghiệp nằm trong các nhóm như sau đây

 Các bệnh bụi phổi và phế quản do silic, do atbet, do bông

 Nhiễm độc : do chì, do thuỷ ngân, do mănggan, do TNT, do asen, do nicotin, do các loại thuốc sâu Nhiễm độc benzen và các chất đồng

đẳng của benzen

 Do các yếu tố vật lý như ồn, phóng xạ, rung, giảm áp

 Các bệnh da nghề nghiệp như sạm da, loét da

 Nhiễm khuẩn nghề nghiệp như lao, viêm gan, xoắn khuẩn

Chi tiết hoá về các loại bệnh nghề nghiệp có thể khái quát như sau :

(1) Với bệnh nhiễm độc do chì và các hợp chất của chì :

Công việc gây ra bệnh khi tiếp súc với chì :

+ Chế biến chì và các phế liệu có chì

+ Thu hồi chì cũ

Trang 17

+ Đúc, dát mỏng chì

+Hàn, mạ chì

+Gia công các dạng vật liệu chì

+Sửa chữa accu chì

+Điều chế và sử dụng các oxyt chì, muối chì

+Sử dụng các dạng sơn , men có gốc chì

+ Pha chế tetraethyl chì, xăng pha chì

Bệnh lý :

+ Hội chứng đau bụng do chì

+ Viêm thận tăng đạm huyết hoặc tăng huyết áp do chì

+ Liệt cơ duỗi ngón tay do chì

+ Bệnh não do nhiễm độc chì

+ Tai biến tim mạch do nhiếm độc chì

+ Viêm dây thần kinh mắt do nhiễm độc chì

+ Đau khớp xương do nhiễm độc chì

(2) Nhiễm độc benzen và các đồng đẳng của benzen

Công việc có thể gây bệnh do nhiễm độc benzen và các đồng đẳng của benzen :

+ Khai thác, chế biến, tinh luyện benzen

+ Dùng benzen để chế biến dẫn xuất

+ Dùng benzen để tẩy, rửa các dạng mỡ bám lên vật liệu, cấu kiện

+ Điều chế các dung môi hoà tan cao su

+ Pha chế vecni, sơn, men, máttit để trang trí nội, ngoại thất của ngôi nhà + Dùng benzen làm chất hoà tan nhựa thiên nhiên và tổng hợp khi pha sơn

Trang 18

+ Dùng benzen hút nước trong rượu hoặc cồn

Bệnh lý :

+ Tai biến cấp tính : hôn mê, co giật

+ Rối loạn tiêu hoá

+ Giảm bạch cầu ở mạch máu ngoại vi kèm giảm bạch cầu đa nhân trung tính

+ Ban xuất huyết

+ Hội chứng xuất huyết có thể tái phát trong năm, hoặc tái phát xuất huyết

mà hồng cầu dưới 2,5 triệu một năm

+ Thiếu máu kiểu thiểu năng tuỷ hoặc suy tuỷ

+ Trạng thái giả bạch cầu

+ Bệnh bạch cầu

(3) Bệnh nhiễm độc thuỷ ngân và các hợp chất của thuỷ ngân

Công việc có thể nhiễm độc thuỷ ngân

+ Chưng cất thuỷ ngân, thu hồi thuỷ ngân

+ Sửa chữa các nhiệt kế thuỷ ngân

+ Dùng thuỷ ngân trong các công việc về điện

+ Sản xuất axit acêtic, axetôn

+ Chế biến da dùng muối thuỷ ngân

+ Các bệnh lý khi nhiễm độc thuỷ ngân

+ Tẩy da bằng axit thuỷ ngân

+ Mạ vàng, mạ thiếc, mạ đồng, khảm vàng bạc dùng thuỷ ngân hoặc muối thuỷ ngân

+ Làm ngòi nổ mìn bằng Eluminate thuỷ ngân

Trang 19

+ Kỹ thuật làm đồ sứ, in hình, làm hoa nhân tạo

Bệnh lý :

+ Chứng não cấp

+ Bị run cố ý ( tremblement intentionnel )

+ Mất điều hoà tiểu não ( ataxie cérébelleuse )

+ Đau bụng, ỉa chảy

+ Viêm thận tăng đạm trong máu

(4) Bệnh nhiễm bụi phổi silic

Công việc có thể nhiễm độc bụi phổi silic

Trang 20

(5) Bệnh bụi phổi nhiễm bụi amiăng

Công việc có thể gây ra bệnh nhiễm độc bụi amiăng

+ Khoan,đập phá , khai thác quặng hay đá có amiăng

+ Tán, nghiền, sàng và thao tác khô với quặng hoặc đá có amiăng

+ Chải sợi, kéo sợi và dệt vải amiăng

+ Làm cách nhiệt bằng amiăng

+ áp dụng amiăng vào súng bắn nhiệt

+ Thao tác khô với amiăng khi chế tạo xi măng amiăng

+ Tạo gioăng bằng amiăng và cao su

+ Chế tạo má phanh bằng cao su amiăng

+ Chế tạo các tông có amiăng

Bệnh lý khi bị nhiễm độc bụi phổi amiăng

+ Xơ phổi và phế quản do hít phải bụi amiăng

+ Xơ phổi nhưng chưa đến mức rối loạn hô hấp hoặc đã đến rối loạn hô hấp + Ung thư phổi

+ Biến chứng vào tim như thiểu năng tim, suy tim không hồi phục

(6) Bệnh nhiễm độc mănggan và các hợp chất của măng gan

Công việc có thể gây ra bệnh nhiễm độc mănggan

+ Khai thác, nghiền , sàng, đóng bao và trộn khô bioxytmangan ( MnO2) nhất là trong việc chế tạo pin điện, que hàn

+ Dùng bioxytmangan trong việc làm già ngói, chế tạo thuỷ tinh, thuốc màu

Trang 21

+ Nghiền và đóng bao xỉ ở lò luyện kim có bioxytmangan

Bệnh lý khi bị nhiễm độc mănggan

+ Hội chứng thần kinh kiểu Parkinson thể hiện ở triệu chứng run tay nhẹ, run tay nặng đến mức không tự phục vụ mình được

(7) Bệnh nghề nghiệp gây ra do quang tuyến X và các tia phóng xạ

Công việc có thể gây ra bệnh do các dạng tia

+ Khi lao động có tiếp xúc với các dạng tia

+ Khai thác và chế biến quặng có chất phóng xạ

+ Điều chế và sử dụng các chất phóng xạ, các sản phẩm hoá học và dược có chất phóng xạ

+ Điều chế và áp dụng các chất phóng xạ có phát quang

+ Nghiên cứu và đo các tia phóng xạ và quang tuyến X trong phòng thí nghiệm

+ Chế tạo các máy để điều trị bằng radium và các máy quang tuyến X

+ Các công việc liên quan đến tia xạ trong bệnh viện, phòng thí nghiệm, trong công nghiệp, trong nông nghiệp khác

+ Quanh khu vực hàn hồ quang, hàn hơi

Bệnh lý có thể gây ra bệnh do các tia

+ Các bệnh về máu như : giảm bạch cầu, giảm bạch cầu đa nhân, hội chứng xuất huyết, thiếu máu, trạng thái giả bạch cầu, bệnh bạch cầu

Trang 22

+ Các dạng bệnh về mắt như : viêm mí mắt hay viêm màng tiếp hợp, viêm giác mạc, đục thuỷ tinh thể

+ Các dạng bệnh về da như : viêm da cấp, viêm da mãn tính, viêm niêm mạc mãn

+ Các bệnh về xương như hoại tử xương, ung thư xương

+ Các bệnh về phổi như ung thư phổi do hít phải bụi phóng xạ

(8) Bệnh nghề nghiệp do tiếng ồn

Công việc có thể gây ra bệnh do tiếng ồn

+ Công nhân làm việc ở những nơi bị ồn từ 6 giờ trở lên trong một ngày và

độ ồn trên 80 dB

Bệnh lý có thể gây ra do tiếng ồn

+ Bị điếc nghề nghiệp dạng tiếp âm thể đáy, giảm thính lực trên 35%

+ Tổn thương tế bào nghe ở loa đạo biểu hiện qua nghiệm pháp đo thính lực trên ngưỡng

+ Chức năng tiền đình không bị ảnh hưởng

+ Giảm thính lực không tốt lên sau 3 tháng

(9) Bệnh nghề nghiệp gây ra cho da

Công việc có thể gây ra bệnh cho da

Trang 23

+ Chế tạo accuy, sản xuất xi măng, đồ gốm, bột màu pha sơn hay pha vôi màu, men sứ, thuỷ tinh, cao su, bản kẽm, gạch chịu lửa, hợp kim nhôm, nghề

nề và phụ nề, mạ điện, mạ crôm

Bệnh lý về da

+ Loét da và niêm mạc

+ Loét vách ngăn mũi

+ Viêm da tiếp xúc, chàm tiếp súc

+ Xạm da do tiếp xúc với dầu hoả, than cốc, nhựa đường, bitum, luu huỳnh

(10) Bệnh nghề nghiệp gây ra do làm việc trong môi trường bị rung

Trang 24

+ Bệnh Raynaud nghề nghiệp như rối loạn thần kinh vận mạch ở các ngón, rối loạn cảm giác

(11) Bệnh bụi bông phổi ( byssinosis )

Công việc gây bệnh

+ Lao động khi xé bông, chải thô, làm sợi bông, đay, gai làm các vật liệu nhồi trong xây dựng, làm vật liệu tẩm trong xây dựng, làm các lớp cách ẩm, cách nhiệt

Bệnh lý

+ Khó thở, tức ngực ngay từ ngày đầu tiên lao động

+ Biến đổi chức năng hô hấp từ nhẹ đến trung bình

Trang 26

Luận chứng phải được cơ quan thanh tra nhà nước về an toàn lao động hoặc

vệ sinh lao động phối hợp với cơ quan hữu quan chấp thuận

Nhà nước cũng quy định về sử dụng các tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn lao

động, về nơi làm việc phải an toàn, về nơi làm việc phát sinh độc hại, trang

Trang 27

bị bảo hộ lao động, định kỳ khám sức khoẻ, về huấn luyện về an toàn cho người lao động

Khi lập thiết kế công trình cũng như thiết kế biện pháp thi công cần đề xuất biện pháp đảm bảo an toàn lao động

Chủ đầu tư là người có tư cách pháp nhân đầu tư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về an toàn lao động trên công trình mình là chủ đầu tư Chủ đơnvị

sử dụng người lao động phải chịu trách nhiệm về an toàn của người công nhân, về vệ sinh lao động trong quá trình lao động

Các Bộ Lao động và Thương binh xã hội, Bộ Y tế và Tổng Công đoàn đã có nhiều thông tư liên tịch hướng dẫn về tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao

động trong doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh

Sự quan tâm đến an toàn lao động và vệ sinh lao động của Nhà nước đã biến thành trách nhiệm của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh Sự quan tâm này

được thể hiện thành sự phân định trách nhiệm quản lý của cán bộ quản lý và các bộ phận chuyên môn của doanh nghiệp Điều này phản ảnh qua kế hoạch

và biện pháp cụ thể về bảo hộ lao động, về an toàn và vệ sinh lao động Nội dung, hình thức và tổ chức việc kiểm tra an toàn lao động cũng được quy

định rất cụ thể

Những biện pháp quản lý rất khắt khao và cụ thể cùng với ý thức của người lao động sẽ hạn chế tai nạn , làm cho người lao động yên tâm, có hiệu quả, tạo nên năng suất cao và chất lượng công trình tốt

Chương II An toàn lao động trong lập nghiên cứu khả thi và bộ Hồ sơ

đấu thầu

1 Nội dung bảo đảm an toàn phải được phản ảnh trong báo cáo nghiên cứu khả thi

Trang 28

Trong bản nghiên cứu khả thi phải đặt vấn đề an toàn cho sử dụng công trình cũng như phải đảm bảo an toàn lao động trong suốt quá trình thực hiện đầu tư Khi thiết kế công trình phải tuân theo các quy định cấu tạo kiến trúc sao cho bảo đảm an toàn cho người sử dụng công trình về lâu dài Một số thí dụ như những khoảng trống, hở phải có lan can bảo đảm cho người không thể ngã, rơi từ trên cao xuống thấp do vô tình Lan can không làm xọc ngang để người có thể dẫm chân vào các thanh ngang của lan can mà dễ dàng vượt qua lan can Chiều cao của tường chắn mái đủ giữ an toàn không cho người bị lộn qua tường chắn mái ngã khỏi sân thượng Cửa sổ nhà cao tầng không

được lắp bản lề đứng mà phải là cửa trượt trong mặt phẳng cửa Đầu mũi các bậc thang phải có các vạch ngang chống trơn khi lên, xuống thang

2 Nội dung hồ sơ mời thầu phải yêu cầu nhà thầu khi lập biện pháp kỹ thuật thi công phải kèm biện pháp an toàn cho sản xuất, cho người lao động Chủ

đầu tư phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về an toàn lao động nên khi thông qua các biện pháp thi công cần chú ý đúng mức đến các biện pháp an toàn cho người lao động

3 Nội dung hồ sơ mời thầu phải gắn sự phối hợp tiến độ với an toàn lao

động

Cần yêu cầu trong hồ sơ mời thầu sự khẩn trương thi công theo nguyên tắc triển khai những việc có điều kiện triển khai được, nhưng những việc đang thi công không được gây tai nạn cho những việc khác Để đảm bảo an toàn cho nhau khi triển khai nhiều công việc đồng thời thì trên một mặt bằng thi công cho một công việc không nên bố trí việc khác tiến hành trong đó Trên cùng một chiều cao mà khi thi công có thể ảnh hưởng mất an toàn cho công việc bên dưới thì không được bố trí hai việc cùng làm Bố trí việc làm đồng

Trang 29

thời chỉ khi có đủ mặt bằng cho nhiều công việc tiến hành mà không cản trở hoặc làm mất an toàn cho nhau

Chương III Các yêu cầu gắn kết an toàn lao động với biện pháp kỹ thuật thi công

1 Quy định chung cho đảm bảo an toàn lao động

1.1 Qui định về rào chắn

Mọi chỗ có thể rơi người từ trên cao xuống như từ các sàn tầng cao, từ miệng

hố sâu đều phải rào chắn, ngăn không cho người rơi do thiếu chú ý

Những nơi có thể rơi vật treo trên cao xuống lối đi hay mặt bằng công tác của người lao động như phạm vi làm việc của cần trục, phải rào chắn hoặc có chỉ giới không cho người qua lại nhằm tránh tai nạn

Rào chắn có những gối đỡ cho các thanh chắn ngang là các thanh đứng được bắt chặt vào chắc chắn với nền Khoảng cách giữa thanh đứng không quá 2 mét , Những thanh ngang phải tỳ vào thanh đứng sao cho nếu có lực tác

động, những thanh này không bị bật bung làm té ngã người cần bảo vệ Thanh ngang phải sơn vằn đen vàng , chiều rộng vằn lớn hơn 20 cm

Rào chắn phải được thiết kế chi tiết khi đề xuất giải pháp thi công Phải làm xong rào chắn mới được thực hiện các thao tác kỹ thuật khác

Qui định về chỉ giới nguy hiểm

Đường phân giới giữa khu vực nguy hiểm, có khả năng xảy ra tai nạn với khu vực an toàn là chỉ giới nguy hiểm Chỉ giới tạm thường làm thành hàng rào Nếu tính di động khá thường xuyên thì chỉ giới có thể làm dưới hình thức

Trang 30

thanh chắn ngang hoặc dây ngăn an toàn Dây phải được móc treo vào những trụ đỡ bằng bê tông cốt thép, bằng thép hay bằng gỗ tạm thời Trụ đỡ đủ chân

đế để tự ổn định và có thể di chuyển được để có thể chuyển chỗ khi cần điều chỉnh khu vực nguy hiểm

Dây hoặc thanh ngang làm đường ngăn chỉ giới phải có chiều rộng bản trên

50 mm đủ để nhận biết bằng mắt thường Phải sơn vằn vàng-đen thành khoang mà chiều dài mỗi khúc vằn phải sơn là 200 mm

Màu sắc và chữ cho các tín hiệu an toàn : Chữ để chỉ dẫn các tín hiệu về an toàn phải viết kiểu chữ in chân phương Chiều cao của chữ phải lớn hơn 20

cm và chiều rộng nét chữ trên 20 mm Nền để viết chữ phải là màu sáng, thường là màu vàng Chữ có thể màu đỏ hay đen Chữ tín hiệu an toàn cần chỉ dẫn khi thiếu ánh sáng phải có đèn chiếu rọi đủ sáng để đọc được trong mọi tình huống

Qui định về thông báo tín hiệu an toàn lao động: Những thông báo bằng tín hiệu cho công tác an toàn phải để người đọc nhận biết được trước khi vào khu vực mà tín hiệu chỉ dẫn một khoảng cách đủ để kịp có hành động ngăn ngừa tai nạn Tín hiệu thông báo về an toàn không được treo ngược sáng làm cho người đọc nhìn không rõ Khi buộc lòng phải treo tín hiệu ngược sáng, phải có đèn chiếu trực tiếp vào bảng tín hiệu để người đọc nhận rõ được tín hiệu

1.3 Về Ergonomics, nhân trắc và không gian tác nghiệp

Trong thiết kế biện pháp kỹ thuật, người kỹ sư, kỹ thuật viên phải chú ý đến ergonomics Ergonomics được gọi theo tiếng Việt là công thái học là môn khoa học liên ngành, kết hợp giữa khoa sinh học người và khoa học kỹ thuật

Trang 31

tạo ra sự thích ứng giữa phương tiện kỹ thuật , môi trường lao động với khả năng của con người về giải phẫu sinh lý, tâm lý nhằm đảm bảo cho lao động

có hiệu quả nhất, bảo vệ sức khoẻ, an toàn lao động và tiện nghi cho con người Khi nghiên cứu ergonomics trong lao động xây dựng, phải sử dụng những số liệu nhân trắc của con người Việt nam tương quan đến công cụ lao

động, máy móc cho phù hợp thao tác, thích ứng với điều kiện an toàn lao

động cho người công nhân Việt nam Những vấn đề cụ thể là giàn giáo thi công, một mặt phải phù hợp với mô đun độ cao của ngôi nhà đồng thời phải phù hợp với độ cao trung bình của người Việt nam, sao cho thao tác trong lao

động được an toàn nhất

Không gian tác nghiệp của một công nhân phải phù hợp với số liệu nhân trắc của con người Việt nam Tổ chức không gian tác nghiệp của một công nhân hợp lý là lựa chọn kích thước khu vực lao động sao cho giảm nhẹ sự di chuyển trong quá trình lao động Quan hệ giữa con người lao động với đối tượng lao động thuận tiện nhất nhằm tạo ra năng suất lao động cao, ít hao phí năng lượng nhất đồng thời phải đảm bảo an toàn nhất

Về mặt phẳng tác nghiệp các phương

Khi thiết kế tư thế trong lao động cần hết sức chú ý đến mặt phẳng tác nghiệp Trước mặt là mặt phẳng tác nghiệp thuận lợi nhất: đạt năng suất cao,

đạt độ chính xác của sản phẩm cao nhất đồng thời thuận với tư thế lao động,

ít gây tai nạn Hạn chế mọi tư thế lao động khi phải quay xương sống quanh trụ sống để thao tác ở những mặt phẳng làm với mặt phẳng đối xứng trước sau theo phương đứng của cơ thể Làm việc ở những tư thế này không huy

động được sức cơ bắp đến mức cao nhất, dễ gây ra sự co rút cơ do cơ bị vận

động không phù hợp với quy tắc sinh học Về độ cao của mặt phẳng công tác, tuỳ tư thế đứng hay ngồi mà chọn cho phù hợp với nhân trắc người Việt nam Khi lao động với tư thế đứng thì độ cao công tác tốt nhất là ở độ cao 90

Trang 32

cm so với mặt chân đứng Khi lao động trong tư thế ngồi thì độ cao của mặt công tác tốt nhất là 30 cm cách mặt ghế ngồi Mặt công tác không phù hợp với tư thế lao động, không những lao động bị giảm năng suất mà còn dễ gây

ra tai nạn lao động

Dụng cụ và trang bị tạm, nhất thời

Dụng cụ cầm tay phải phù họp với sức khoẻ và nhân trắc người Việt nam Không được quá nặng , khó sử dụng cũng như dễ gây tai nạn Những dụng

cụ có khả năng tuột, văng khi lao động, tay cầm phải tạo gợn sóng hợp với bàn tay khi nắm và có lớp lót, tráng cao su, tăng độ ma sát khi nắm chắc Khi lao động ở những tư thế mà công cụ bị văng tuột sẽ gây nguy hiểm cho người chung quanh hay bên dưới , dụng cụ ấy phải có lỗ buộc dây néo giữ khi công cụ bị văng hay tuột Độ dài của dây không cản trở khi thi công nhưng không quá dài gây tình trạng neo giữ không có tác dụng Dụng cụ phải đảm bảo độ an toàn khi sử dụng, không gây tai nạn cho người sử dụng

và người chung quanh

Trang bị bảo hộ thích hợp cho từng tác nghiệp xây dựng:

Với mỗi dạng công tác xây dựng đòi hỏi phải có trang bị bảo hộ lao động thích ứng Mỗi công nhân cần điều chỉnh cho những trang bị lao động vừa vặn với cơ thể và nhân trắc của mình Quần áo bảo hộ không thể mặc rộng thùng thình, ngăn cản sự nhanh nhẹn cũng như cản trở các thao tác khi lao

động Mũ đội phải có quai và không bị quá lỏng hay quá chật Mũ chật sinh tức máu trên đầu, gây ra đau đầu và nhức đầu Găng tay phải đi vừa, không chật mà không lỏng Lỏng sẽ bị tuột và chặt sẽ cản trở khi cầm, nắm dụng cụ hoặc vật liệu xây dựng

Trang 33

2 Sự gắn liền biện pháp kỹ thuật, biện pháp kiểm tra chất lượng và biện pháp an toàn lao động thành một thể thống nhất

Theo mục e điều 16 của bản Quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng ban hành theo quyết định số 18/2003/QĐ-BXD ngày 27-6-2003 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng thì chủ đầu tư phải kiểm tra biện pháp thi công, biện pháp an toàn lao động cho công trình và an toàn cho các công trình lân cận

do doanh nghiệp xây dựng lập Lập biện pháp thi công là xây dựng tài liệu cơ

sở để tiến hành thi công, tạo ra sản phẩm xây dựng bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật và an toàn lao động do chủ đầu tư nêu ra trong hồ sơ mời thầu Kiểm tra chất lượng sản phẩm xây dựng do nhà thầu tạo ra phải đồng thời kiểm tra những biện pháp bảo đảm an toàn lao động vì chất lượng công trình không thể tách rời an toàn lao động Người lao động có làm việc trong điều kiện an toàn mới tạo ra sản phẩm tốt Vừa lao động vừa lo ngay ngáy cho sự an toàn trong quá trình lao động của mình thì khó tạo được sản phẩm có chất lượng Trách nhiệm của nhà thầu là phải đề xuất các biện pháp đảm bảo chất lượng cũng như biện pháp an toàn lao động Trách nhiệm của chủ đầu tư là xem xét

và phê duyệt các biện pháp kỹ thuật thi công cùng với biện pháp an toàn sao cho sản xuất có chất lượng đồng thời bảo đảm an toàn

Chương IV Sắp xếp trình tự thi công trong tiến độ phải đảm bảo không gian lao động đủ an toàn

1 Sự phối hợp các yếu tố kỹ thuật nhằm thi công nhanh

Có ba cách tổ chức thi công có thể thực hiện trên một mặt bằng hạng mục công trình là thi công tuần tự, thi công song song và thi công kiểu dây chuyền Trong việc sắp xếp thi công hợp lý, phải triển khai đến mức tối đa

Trang 34

những công việc có thể triển khai được nhằm tranh thủ hoàn thành công việc tạo sản phẩm xây dựng nhanh nhất Cách thi công theo tuần tự, mặt bằng thi công rộng rãi, lực lượng thi công huy động thấp nhưng thời gian tạo ra sản phẩm xây dựng bị kéo dài Cách thi công song song, nhiều việc được thi công đồng thời nên thời gian tạo ra sản phẩm xây dựng rút ngắn Thi công song song phải huy động lực lượng thi công lớn và vì nhiều người cùng tham gia thi công đồng thời nên khả năng mất an toàn trong lao động cũng lớn Thi công kiểu dây chuyền đòi hỏi chia mặt bằng thi công thành các phân

đoạn và chia lao động thành những nhóm chuyên Nguyên tắc của tổ chức dây chuyền là tạo nên sự đồng đều khối lượng trong các phân đoạn để điều phối lao động một cách điều hoà, nhịp nhàng Trong một phân đoạn không gian lao động chỉ có một nhóm thợ chuyên vào lao động Nhóm này ra, nhóm kia mới vào trong phân đoạn Trên một phân đoạn chỉ có một nhóm thợ chuyên thực hành thi công Phải tạo ra điều kiện lao động liên tục cho người lao động và trên từng phân đoạn không gian liên tục có việc cho người làm

Có hai dạng trình tự trong việc tiến hành các biện pháp thi công như sau: Trình tự tiếp nối là biện pháp tạo ra sản phẩm xây dựng có nhiều thao tác mà thao tác này phải tiến hành trước, phải đợi thực hiện xong mới tiến hành

Nguyên tắc phối hợp giữa những công việc của các nhóm chuyên môn hay là giữa những thao tác khác nhau trong một quá trình sản xuất chung là tạo

Trang 35

điều kiện thuận lợi cho nhau, không gây mất an toàn lao động cho nhau Tuyệt đối không bố trí hai hay nhiều đội sản xuất cùng thi công trong cùng một mặt bằng công tác khi điều kiện an toàn lao động không cho phép

2 Các yêu cầu phải đảm bảo an toàn lao động trong không gian lao

động

Trong một không gian lao động tức là trong một phân đoạn công trình được chia để tiến hành thi công không nên bố trí hai nhóm lao động chuyên môn cùng thi công

Khi tiến hành công tác chuyên môn, công tác cần có không gian để triển khai công việc của mình Không gian cần thiết để triển khai có thể diễn ra theo mặt bằng nhưng nhiều công tác cần không gian theo chiều cao hoặc nhiều công tác lại cần không gian theo cả mặt bằng, cả chiều cao Lấy thí dụ như để tiến hành công tác láng nền Láng nền nhà đòi hỏi mặt bằng để trải vữa tạo lớp nền hoàn chỉnh Khi láng nền một gian phòng không thể bố trí dựng cốp pha cho sàn tầng trên của gian phòng ấy được vì làm cốp pha đòi hỏi mặt bằng để chống những cây chống, đồng thời lại đòi hỏi không gian trên cao để trải hệ thống tấm cốp pha cho sàn bên trên

Như thế, trong một gian buồng, không thể vừa láng nền, vừa làm cốp pha Từ

đặc điểm khi triển khai công tác đòi hỏi không gian để lao động, nguyên tắc

bố trí công việc là không bố trí hai hay nhiều công tác chuyên môn cùng tiến hành trong một không gian lao động

3 Các yêu cầu về an toàn lao động khi phối hợp các yếu tố kỹ thuật trong cùng một không gian :

Để đẩy nhanh tiến độ hoàn thành nhiều công việc phải tiến hành, cần thiết phải sắp xếp để cùng lúc có thể tiến hành nhiều công việc đồng thời Nhưng

Trang 36

như mục trên đã phân tích, khi tiến hành đồng thời nhiều công việc trong cùng một không gian lao động, việc nọ sẽ cản trở việc kia hoặc việc này có thể gây tai nạn cho người làm việc khác

Nguyên tắc để bố trí phối hợp các công việc trong cùng một không gian lao

động là phải phân khu, phân vùng lao động để khi tiến hành công việc, các thao tác của công việc này không gây cản trở cho việc khác cũng như không gây mất an toàn lao động cho việc khác Nếu không có vật liệu chống đỡ, ngăn cách không gian theo chiều đứng thành các khu vực an toàn khi tiến hành đồng thời nhiều việc, không được bố trí hai nay nhiều việc làm đồng thời theo chiều cao Không có ranh giới rõ ràng theo mặt bằng cũng không tiến hành cùng một lúc nhiều việc theo mặt bằng

Cần phân khu rõ ràng, giữa các khoảng không gian tiến hành các thao tác nghiệp vụ không để phạm vi công tác của việc này lấn sang phạm vi công tác của việc khác mà sự lấn ấy có thể làm mất an toàn cho nhau

Chương V Thiết kế tổng mặt bằng thi công hay là sự cung cấp dịch vụ thi công phải có quan điểm an toàn lao động

1 Tổng mặt bằng phải được sắp xếp ngăn nắp và đồng bộ:

Các thành phần được sắp xếp trên tổng mặt bằng nhằm phục vụ các điều kiện của thi công Tổng mặt bằng là khu đất hạn chế ở quanh công trình xây dựng chính được sử dụng phục vụ cho các giai đoạn thi công công trình Cần thiết phải lựa chọn sao cho để thành phần nào trên tổng mặt bằng thì thành phần

ấy phải phục vụ được tốt cho thi công ở giai đoạn tiến hành công việc Tổng mặt bằng thi công được làm cho nhiều thời kỳ thi công nên không phải chỉ

có một tổng mặt bằng chung cho mọi giai đoạn thi công mà mỗi giai đoạn

Trang 37

thi công có một tổng mặt bằng Tuy nhiên cố gắng để ít thay đổi vị trí các thành phần của tổng mặt bằng qua các thời kỳ thi công khác nhau nhưng cũng không nên quá khiên cưỡng mà chỉ làm một tổng mặt bằng chung Trước khi sắp xếp các thành phần của tổng mặt bằng vào vị trí, cần tính toán

và quyết định diện tích của thành phần tổng mặt bằng được sắp xếp tại công trường Cách tính toán được trang bị trong môn tổ chức thi công Tuy nhiên tại công trường xây dựng đất đai để bố trí tổng mặt bằng thường nhỏ hơn diện tích theo tính toán Người thiết kế tổng mặt bằng cần cân nhắc trên quan

điểm phục vụ tốt nhất cho thi công và an toàn nhất để quyết định diện tích cần triển khai cho các thành phần của tổng mặt bằng công trường

Sự sắp xếp từng thành phần của tổng mặt bằng phải xem xét rằng thành phần

ấy phục vụ công tác thi công nào, vị trí của thành phần ấy liên quan đến những thành phần khác thế nào để quyết định vị trí sắp xếp Sự sắp xếp vị trí của thành phần tổng mặt bằng liên quan đến đường vận chuyển trên công trường, liên quan đến quan hệ giữa các thành phần và nhất là hướng gió Vật liệu, cấu kiện dùng trong xây dựng đều nhiều về số lượng và nặng về trọng lượng nên những nơi chứa vật liệu và cấu kiện phải xếp ven đường vận chuyển Tuy nhiên có những bãi cấu kiện khi di chuyển phải dùng cần trục

để bốc , xếp thì vị trí những nơi này phải thuận lợi cho việc chuyên chở và bốc xếp Những nơi chứa vật liệu gây bụi như bãi cát cần xếp ở cuối gió, không để cho gió thổi bụi vào nơi thi công

Những khu vực phát ra khói, phát ra khí độc hại cũng cần lưu ý và sắp xếp sao cho thuận lợi theo gió Cần lưu tâm rằng, có thể một vị trí cuối gió của công trường của ta lại là đầu gió, gây bất tiện cho công trình sẵn có của nhà liền kề Những trường hợp này phải có biện pháp khử bụi, khử khói, khử hơi

độc một cách chủ động và nhân tạo Không thể để các chất gây ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến môi trường của cả khu vực xấy dựng và chung quanh

Trang 38

2 Các yêu cầu về an toàn với đường tạm cho các dạng phương tiện Tiến hành vạch đường tạm phục vụ để thi công phải căn cứ vào giai đoạn thi công của tổng mặt bằng Giai đoạn san ủi, đường thi công phục vụ chủ yếu cho việc vận chuyển đất , đường thi công cần làm rõ lối xe vào lấy đất và lối

để chở đất ra khỏi công trường Tổng mặt bằng thi công giai đoạn làm phần móng, đường cần sử dụng để chuyển đất đến hoặc đi, cần chuyển vật liệu để thi công móng công trình Tổng mặt bằng thi công phần thân công trình thì

đường thi công phục vụ việc vận chuyển vật liệu đến, vận chuyển cấu kiện

đến công trình, vận chuyển dư phẩm hoặc rác xây dựng đi nơi khác Khiu thi công phần thân công trình, xe đến công trình đa dạng hơn khi thi công phần

đất, móng Cần thiết kế luồng giao thông sao cho thuận lợi trong quá trình thi công: kết cấu nền đường phải đủ sức chịu tải, luồng đường không giao cắt hoặc ít giao cắt với các luồng vận chuyển khác, hạn chế đến mức tối thiểu việc phải di chuyển trong phạm vi hoạt động của cần trục

Phải bố trí lối vào hoặc vành đai di chuyển cho công nhân di chuyển trên công trường Lối di chuyển cần quang đãng , không có chướng ngại vật, chú

ý đến những sự cố gây nguy hiểm cho công nhân khi di chuyển như rơi vật liệu từ trên cao, lăn vật liệu từ bên ngoài, từ bãi chứa vào đường đi của công nhân Cần có chỉ dẫn ở những chỗ bố trí máy nâng vật liệu như cần trục , thăng tải để mọi người đề phòng hoặc cảch giác khi di chuiyển gần phạm vi này.Dọc theo đường đi phải có biển hiệu thông báo, chỉ dẫn cho người qua lại để có thể nhận biết tình trạng quãng đường sắp di chuyển đến

Cần bố trí lối vào và ra cho các phương tiện cấp cứu

Khi đường di chuyển dọc theo biên có độ sâu trên 1,2 mét , cần làm lan can

để tránh người vô ý ngã từ trên cao xuống thấp Khi di chuyển qua những độ cao khác nhau phải làm bậc hoặc làm thang

Trang 39

Nên bố trí để việc di chuyển xe và người trên công trường theo các đường một chiều tránh tắc nghẽn do luồng giao thông giao cắt hoặc phải chờ đợi gây ra

Vị trí của kho , bãi chứa vật liệu, cấu kiện , thiết bị nên bám sát đường giao thông Vật liệu, cấu kiện càng gần nơi sản xuất càng tốt thí dụ đá, sỏi , xi măng gần nơi chế, trộn bê tông hoặc vữa

3 Các yêu cầu về thoát nước đảm bảo an toàn

Khi chuẩn bị mặt bằng để khởi công công trình, nhất thiết phải thoát nước trên mặt bằng Mọi chỗ đọng nước cần làm khô.Không được để đọng từng vũng nước trên mặt bằng Nếu địa hình dốc, cần làm những con trạch ở phía trên của hố đào để nếu mưa, nước không dồn vào hố đào Cần làm những

đường hào hoặc mương nhỏ dẫn nước tụ về những điểm có quy hoạch, có thiết kế theo chủ định rồi bơm thoát Sau khi mưa ngưng, trên mặt bằng phải khô ráo ngay, không để có vũng nước, không để ngập nước

Nếu công trường thi công cọc nhồi, tường barrette, cần thiết kế biện pháp thu hồi dung dịch bentonite Làm rãnh, mương dẫn bentonite đùn lên từ lỗ khoan khi đổ bê tông về hố thu, trang bị máy lọc cát để sử dụng lại bentonite Nếu không sử dụng lại bentonite thì bentonite cũng phải được tập trung để thoát vào nơi thích hợp Không được đổ trực tiếp bentonite vào hệ thoát nước công cộng vì bentonite sẽ làm cho hệ cống công cộng bị tắc nghẽn nhanh chóng

4 Các yêu cầu về cấp nước đảm bảo an toàn

Nguồn nước cấp từ nhà máy nước cần được bảo vệ chống thất thoát Đường ống dẫn từ điểm cấp đến các nơi tiêu thụ nước trong công trường cần được bảo vệ an toàn, chống bị vỡ ống khi đường dẫn cắt qua đường giao thông

Trang 40

ống nước cắt qua đường giao thông phải chôn ngầm ở độ sâu trên 50 cm cách mặt trên của áo đường Đoạn ống qua đường phải luồn qua ống vỏ để bảo vệ cho ống dẫn Đường kính ống vỏ phải lớn hơn đường kính ống dẫn nước tối thiểt 3 lần Phải đảm bảo các điểm nối của ống dẫn nước được nối

đủ ren, có sử dụng vật liệu chống rò rỉ nước Vị trí nối ống không được nằm trên đoạn ống luồn qua đường giao thông Nên đặt ống dẫn nước song song với đường giao thông Càng hạn chế việc bố trí ống qua đường càng giảm

được mối lo vỡ ống Trên đường ống cần bố trí van, khoá đầy đủ để khi sửa chữa đường dẫn nước tại vị trí nào đó, không làm ảnh hưởng đến các điểm tiêu thụ nước chỗ khác

5 Các yêu cầu về điện, máy xây dựng phải đảm bảo an toàn và phục vụ tốt cho sử dụng

Điện là nguồn năng lượng hết sức quan trọng cho mọi hoạt động trên công trường Tuy nhiên tai nạn về điện cũng là nguy cơ đáng kể Đặc điểm của tai nạn do điện gây ra thường khó nhận biết trước được, yếu tố ngẫu nhiên rất cao Theo thống kê lâu năm của Tổ chức Lao động Quốc tế , cứ 30 tai nạn về

điện có một tai nạn làm cho chết người Cách chống tai nạn do điện gây ra là phải tuân thủ hết sức nghiêm ngặt các quy định về hệ thống điện Việc chọn tuyến dây điện trên không hay đường dây cáp phải rất hợp lý và đảm bảo an toàn Việc lựa chọn các thiết bị điện phải phù hợp với điều kiện sản xuất và

an toàn Phải thường xuyên kiểm tra độ an toàn của hệ thống dây dẫn điện Nếu độ cách điện có dấu hiệu không đủ an toàn, phải có biện pháp bổ cứu kịp thời Tuy là lưới điện tạm nhưng nhất thiết phải làm hệ tiếp điạ cho đủ an toàn khi sự cố hoặc khi giông bão

Khi thiết kế tổng mặt bằng phải nghiên cứu đặc biệt đến việc sử dụng cần trục tháp và phải vạch ra phạm vi hoạt động của cần trục tháp Tuy nhiên không phải mọi thời gian đều cấm không được di chuyển hoặc lao động

Ngày đăng: 06/12/2015, 01:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 17 -  11. Sơ đồ đặt mô men đơn vị lên cột - Giáo trình an toàn và bảo hộ lao động trong ngành xây dựng   phần i
Hình 17 11. Sơ đồ đặt mô men đơn vị lên cột (Trang 70)
Hình 17 -  15. Sự uốn dọc của cột có gối tựa đàn hồi ở giữa - Giáo trình an toàn và bảo hộ lao động trong ngành xây dựng   phần i
Hình 17 15. Sự uốn dọc của cột có gối tựa đàn hồi ở giữa (Trang 78)
Bảng 1. Quy cách, tải trọng công tác của ván và sàn công tác chế tạo sẵn - Giáo trình an toàn và bảo hộ lao động trong ngành xây dựng   phần i
Bảng 1. Quy cách, tải trọng công tác của ván và sàn công tác chế tạo sẵn (Trang 88)
Bảng 2. kích thước tối thiểu các bộ phận dàn giáo chân vuông - Giáo trình an toàn và bảo hộ lao động trong ngành xây dựng   phần i
Bảng 2. kích thước tối thiểu các bộ phận dàn giáo chân vuông (Trang 93)
Bảng 3. kích thước nhỏ nhất các bộ phận chân ngựa - Giáo trình an toàn và bảo hộ lao động trong ngành xây dựng   phần i
Bảng 3. kích thước nhỏ nhất các bộ phận chân ngựa (Trang 94)
Bảng  4.  thông  số  nhỏ  nhất  cho  dàn  giáo  hệ  khung  đỡ  số  4,  tải  trọng  125  kg/m 2 - Giáo trình an toàn và bảo hộ lao động trong ngành xây dựng   phần i
ng 4. thông số nhỏ nhất cho dàn giáo hệ khung đỡ số 4, tải trọng 125 kg/m 2 (Trang 114)
Bảng 6. thông số nhỏ nhất cho dàn giáo hệ khung đỡ  - 125 kg/m 2 - Giáo trình an toàn và bảo hộ lao động trong ngành xây dựng   phần i
Bảng 6. thông số nhỏ nhất cho dàn giáo hệ khung đỡ - 125 kg/m 2 (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w