1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề cương ôn tập ngữ văn 11 học kỳ i

51 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 458,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được hoàn thành vào nămNguyễn Công Trứ cáo quan về hưu 1848, bài hát nói nổi tiếng này vừa mang tính chất “hồikí” của một cuộc đời nhiều thăng trầm, sóng gió nhưng không ít vinh quang, v

Trang 1

- Giới thiệu những nét chính về tác giả: Lê Hữu Trác là một danh y đồng thời là một nhà

văn, nhà thơ Sự nghiệp của ông được tập hợp trong công trình “Hải thượng y tông tâm

lĩnh” Tác phẩm gồm 66 quyển, biên soạn trong 40 năm, vừa mang giá trị y học - là công

trình nghiên cứu y học xuất sắc nhất trong thời trung đại của Việt Nam, vừa mang giá trị văn

học sâu sắc

- Giới thiệu đoạn trích: “ Vào phủ chúa Trinh” là một đoạn trích trong tác phẩm Thương

kinh ký sự của danh y Lê Hữu Trác Đoạn trích là một bức tranh sinh động về quang cảnh và

cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa, đồng thời thấy được một nhân cách cao đẹp của danh y

Hải Thượng lãn ông Lê Hữu Trác và nghệ thuật viết kí sự bậc thầy của ông

II, Thân bài

1, Quang cảnh nơi phủ Chúa:

a, Phủ chúa là một chốn thâm nghiêm, kín cổng cao tường, vô cùng xa hoa, tráng lệ

- Từ cửa sau để đến được nơi ở của chúa phải qua rất nhiều lần cửa, với “những dãy hành

lang quanh co nối tiếp nhau”

- Thiên nhiên: hài hòa, thơ mộng Trong phủ chúa, khắp “đâu đâu cũng là cây cối um tùm,

chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”

- Kiến trúc: xinh đẹp, lộng lẫy, tráng lệ…

+ Phủ chúa có điếm “Hậu mã quân túc trực”, một công trình kiến trúc kiểu cách, biểu thị cho

chốn tráng lệ, xa hoa Điếm được làm bên hồ, có “những cái cây lạ lùng và những hòn đá kì

lạ”, với những cái “cột và bao lơn lượn vòng”

+ Nhưng không chỉ có vậy, qua “cửa lớn” sau điếm Hậu Mã, đi theo hành lang phía tây,

người đọc còn thấy được hai công trình kiến trúc to lớn và uy nghi khác Đó là nhà “Đại

đường” (hay còn gọi là Quyền bồng) và Gác tía Cả nhà “Đại đường” và “Gác tía” đều là

những nơi xa hoa, lộng lẫy, “thật là cao và rộng” và ánh lên ánh sáng hào nhoáng của sơn

son thếp vàng

- Đồ vật: từ mâm vàng, chén bạc, đến những vật như kiệu của vua chúa, đồ nghi trượng, bàn

ghế, sập, võng, cột, hết thảy đều là những thứ nhân gian chưa từng thấy

- Đồ ăn: toàn những của ngon, vật lạ cũng là “chưa tùng thấy trong nhân gian”

- Lộng lẫy, xa hoa nhất trong phủ chúa phải kể đến nội cung, nơi ở của cha con thế tử

+ Nội cung của thế tử là một chốn thâm cung

+ Đường đi: từ ngoài đi qua năm, sáu lần trướng gấm, tối om, “không thấy cửa ngõ gì cả”

+ Quang cảnh: “nệm gấm”, “màn là”, “đèn sáp” lấp lánh, “ghế rồng sơn son thếp vàng”,

“xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”

- Sự giàu sang của phủ chúa khiến tác giả cũng phải ngỡ ngàng mà thốt lên: “Cả trời Nam

sang nhất là đây” Vốn sinh trưởng trong một gia đình quan lại

b, Phủ chúa là chốn uy quyền tối thượng.

- Tất cả những gì thường thấy chỉ xuất hiện trong cung vua thì nay đều hiện diện ở phủ chúa

Trong phủ chúa, chúa được gọi là thánh thượng, lệnh chúa ban xuống được xem là thánh

chỉ, ngọc thể của chúa được gọi là thánh thể, Mọi đồ nghi trượng, các chức quan đều giống

như ở chốn cung đình

- Muốn đến phủ chúa phải có thánh chỉ, có thẻ mới được vào

- Phủ chúa có cả một “guồng máy” phục vụ đông đúc, tấp nập (giảng văn)

Trang 2

- Lời nói: kính cẩn, lễ phép và không được phạm vào lệ “kị húy” (Thánh thượng đang ngự ởđấy, chưa thể yết kiến, hầu mạch Đông cung thế tử, hầu trà, )

- Khám bệnh cho thế tử phải tuân theo một loạt những phép tắc: Bắt đầu là đứng ở xa chờđợi, tiếp đó khi được thế tử cho phép trước khi xem bệnh, thầy thuốc phải quỳ lạy bốn lạy.Muốn được ngồi bắt mạch và xem thân hình bệnh nhân để chẩn đoán thì cần phải được sựcho phép của thế tử Khi xem bệnh xong, trước khi đi ra còn phải lạy bốn lạy nữa

Tóm lại: Với việc chọn lọc được những chi tiết đặc sắc, gây ấn tượng mạnh mẽ, tác giả đã

ghi lại trong đoạn trích một bức tranh phủ chúa chân thực, có “hồn” và sống động Đó là mộtchốn cao sang, uy quyền tột đỉnh với cuộc sống hưởng lạc xa hoa Bức tranh phủ chua cũng

là bức tranh chân thực về cuộc sống của giai cấp trống trị VN trong những năm chế độphong kiến đang suy tàn

2 Vẻ đẹp con người LHT: Vẻ đẹp của một lương y giỏi, có kiến thức y học uyên thâm,

giàu kinh nghiệm, có lương tâm và y đức cao quý; Vẻ đẹp của một nhân cách thanh cao,khinh thường danh lợi quyền quý, thủy chung với mong ước được bạn bạn cùng thiên nhiên,trọng nếp sống thanh đạm, giản dị nơi quê nhà Thể hiện:

* Thái độ, tâm trạng của tác giả trước cuộc sống nơi phủ chúa.

Thấy rõ cảnh giàu sang, lộng lẫy nơi phủ chúa nhưng tỏ ra dửng dưng trước cuộc sốngvương giả ở đây và không đồng tình với nó: một cuộc sống quá đầy đủ tiện nghi, xa hoanhưng lại thiếu khí trời và không khí tự do

*Thái độ, tâm trạng của tác giả khi kê đơn cho thế tử

- Sự khác nhau trong cách chữa bệnh cho thế tử của các vị thầy thuốc khác và quan Chánh

đường với LHT

+ Cách chữa bệnh của các vị thầy thuốc khác và quan Chánh đường là “có bệnh thì trước hếtphải đuổi bệnh Khi đã đuổi cái tà đi rồi thì hãy bổ, thì mới là các phép đúng đắn nhất”.+ LHT lí giải căn bệnh của thế tử là do “ở trong chốn màn che, trướng phủ, ăn quá no, mặcquá ấm nên phủ tạng yếu đi ( ) nguyên khí đã hao mòn, tồn thương quá mức Đó là cănbệnh có nguồn gốc từ cái xa hoa, no đủ, hưởng lạc trong phủ chúa Bệnh từ trong mà phát ra,

do nguyên khí bên trong không vững mà âm hỏa đi càn Cho nên cách chữa không phải là

“công phạt” mà là “không bổ thì không được”

- Diễn biến tâm trạng:

+ Đưa ra những luận giải hợp lí và có thể chữa trị hiệu quả ngay căn bệnh của thế tử nhưngnếu chữa khỏi ngay bị danh lợi ràng buộc, không thể “về núi” Để tránh được chuyện này,ông đã nghĩ đến “phương thuốc hòa hoãn”, chữa bệnh cầm chừng, vô thưởng vô phạt.Nhưng nếu làm thế thì lại trái với y đức, trái lương tâm, phụ lòng ông cha Hai suy nghĩ nàygiằng co, xung đột nhau Cuối cùng, lương tâm, phẩm chất trung thực của người thầy thuốc

đã chiến thắng Tác giả đã gạt sang một bên sở thích cấ nhân để làm tròn trách nhiệm vàlương tâm người thầy thuốc Khi đã quyết, ông dám nói thẳng và chữa thật căn bệnh của thế

tử Ông kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình dù ý kiến đó không đồng thuận với ý kiếncủa các lương y và quan Chánh đường

 Chân dung một nhân cách trong sạch giữa dòng đục của cuộc sống nơi phủ chúa

3, Nghệ thuật

Nghệ thuật viết kí sự chân thực và sắc sảo:

- Quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực

- Tả cảnh sinh động

- Đan xen tác phẩm thơ ca tạo cho tác phẩm đậm chất trữ tình

- Tạo nhiều chi tiết đặc sắc

Có thể nói tới Lê Hữu Trác, thể kí văn học đích thực ra đời

Trang 3

2, Đề 02

Từ hình tượng nhân vật “tôi” trong đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”, anh chị có suy nghĩ gì

về người thầy thuốc hiện nay?

+ Không những thế còn tỏ thái độ khinh thường cảnh giàu sang, quyền quý

- Là những người có đức độ, lương tâm Vì người khác sẵn sàng chịu khổ, sẵn sàng hi sinh

sở thích của riêng mình

* Tác động của vẻ đẹp nhân cách ấy đối với con người ngày nay

- Giúp con người không vì tiền tài, danh vọng mà lãng quên tất cả

- Có tác dụng tích cực trong việc giáo dục tinh thần “tương thân tương ái” trong xã hội ngàynay

+ Chạy theo đồng tiền mà lãng quên y đức

+ Vô tâm, vô cảm,

3, Đề 03

Chi tiết: Thế tử - một đứa bé ốm yếu, bệnh tật – ngồi chễm chệ trên sập vàng để cho thầythuốc – một cụ già – quỳ dưới đất lạy bốn lạy, rồi cười và ban một lời khen “Ông này lạykhéo” là một trong những chi tiết đặc sắc nhất của đoạn trích

- Nó cho ta thấy quyền uy tối thượng nơi phủ Chúa

- Biến tất cả những lễ nghi trong phủ chúa thành một trò hề

Trang 4

TỰ TÌNH (II)

Đề 01: Cảm nhận về bài thơ “Tự tình”

I, Mở bài

Trong lịch sử văn học Việt Nam, HXH là một hồn thơ độc đáo: nhà thơ nữ viết về phụ

nữ, trào phúng mà đậm chất trữ tình, đậm đà bẳn sắc đân gian, tục mà thanh Sáng tác của

XH gồm cả chữ H và chữ N được tập hợp trong tập “Lưu hương kí”, ngoài ra có trên dưới

40 bài thơ Nôm nữa cũng được tương truyền là của bà Nổi bật lên trong sáng tác của XH làtiếng nói thương cảm của nữ sĩ đối với người phụ nữ, là lời khẳng định, đề cao vẻ đẹp vàkhát vọng hạnh phúc của họ trong xã hội xưa Và trong thế giới nghệ thuật vô cùng độc đáo

ấy, “Tự tình (II)” là bài thơ tiêu biểu nhất Nằm trong chùm thơ tự tình gồm ba bài, đượcsáng tác khi nữ sĩ đã bước vào cuộc đời làm lẽ, bài thơ đã thể hiện tâm trạng vừa buồn tủi,vừa phẫn uất trước duyên phận éo le và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của nhà thơ.Đồng thời, tìm hiểu tác phẩm ta cũng thấy được tài năng nghệ thuật bậc thầy của nữ sĩ

II,

1, Hai câu đề:

* Câu 01:

Khung cảnh nhân vật trữ tình xuất hiện:

+Thời gian: “đêm khuya”, khoảng thời gian tâm tư con người sâu lắng nhất Trong cô đơn,đối diện với chính mình, NVTT cảm nhận được đầy đủ nhất, sâu sắc nhất, thấm thía nhất,cảnh cô đơn, nỗi bất hạnh của chính bản thân mình

+Không gian: mênh mông, vắng lặng càng làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng của NVTT

- Cảm nhận của nhân vật trữ tình: nghe thấy tiếng trống cầm canh từ xa vọng lại văng vẳngnhưng lại dồn dập, liên hồi “Trống canh dồn” không chỉ báo hiệu bước đi dồn dập, vội vã,gấp gáp của thời gian mà còn thể hiện tâm trạng rối bời, buồn bã của nhân vật trữ tình, mộtcon người luôn khao khát tình yêu, hạnh phúc mà phải chịu cảnh sống cô đơn Thời gian vật

lí đã hòa cùng thời gian tâm lí

*Câu 02: nỗi đau đớn, xót xa, cay đắng, bẽ bàng của nhà thơ trước tình cảnh và duyên phậncủa mình

-Câu thơ có lẽ là độc đáo vào bậc nhất của thơ xưa khi viết về người phụ nữ sử dụng thơĐường

-Nói về nhan sắc của mình mà dùng hai từ “hồng nhan”, có lẽ nhân vật trữ tình đã tự ý thứcđược mình là một người phụ nữ có tài năng, nhan sắc Nhưng ý thức được không phải đểsung sướng, tự hào mà trái lại, càng thêm ngậm ngùi cay đắng Nhờ sự cách kết hợp từ độcđáo của XH, ta thấy được nhan sắc con người thật mỉa mai, rẻ rúng biết bao Thật là mỉa maikhi từ “hồng nhan”, từ dùng để chỉ nhan sắc của người phụ nữ lại được kết hợp với từ “cái”,

từ dùng chỉ đồ vật tầm thường Cụm từ “cái hồng nhan” gợi cho ta một nỗi đau khi ngườiphụ nữ cùng với nhan sắc của mình đã bị “đồ vật hoá”, coi thường, bị người ta khinhthường, vứt bỏ Nhưng đâu chỉ có thế, khi hạ bút đặt một chữ “trơ” trước “cái hồng nhan”,

nữ sĩ còn nhân lên gấp bội nỗi đau đớn, tủi nhục ấy Bởi “trơ” là lẻ loi, trơ trọi, mà “trơ”cũng là phơi ra, bày ra Phơi ra, bày ra “cái hồng nhan”, thật là bẽ bàng, tủi hổ Câu thơ sửdụng nghệ thuật: đảo ngữ, đặt từ “trơ” lên đầu câu, kết hợp với cách ngắt nhịp độc đáo 1/3/3hiếm thấy trong thơ Đường, càng khiến nỗi đau thêm thấm thía, bi kịch thêm cay đắng, xót

xa Phải đau, phải tủi hổ, bẽ bàng đến thế nào mới viết nên được một câu thơ như vậy Bốnchữ “Trơ cái hồng nhan” đã nén chặt nỗi đau ghê gớm của người phụ nữ về duyên phận, làmnên cái nét riêng dường như chỉ có ở XH

Trang 5

-Nhưng câu thơ không chỉ cho ta thấy nỗi đau mà còn cho ta thấy bản lĩnh XH Dù duyênphận éo le, dù tâm trạng có tủi hổ, bẽ bàng nhưng XH vẫn vững vàng, thách thức với nó Bởi

“trơ” không chỉ là tủi hổ, bẽ bàng mà còn là thách thức “Trơ nước non” là trơ ra, tháchthức với cả nước non, với một không gian rộng lớn Chữ “trơ” trong trường hợp này đồngnghĩa với chữ “trơ” trong bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan

2 Hai câu thực: Bi kịch được nhấn mạnh và khắc hoạ sâu hơn làm cho nhân vật trữ tình

càng thấm thía hơn nỗi đau duyên phận

- Cụm từ “Say lại tỉnh”: một lần nữa cho ta thấy tài năng sử dụng và kết hợp từ ngữ của Bàchúa thơ Nôm (“lại”: quay lại, lặp ,lại) → cum từ được cấu tạo theo lối khép kín, gợi lên cáivòng luẩn quẩn, trở đi trở lại, bế tắc trong tâm trạng và số phận XH Nữ sĩ tìm đến hươngrượu mong muốn được say để quên đi hiện thực nhưng càng say lại càng tỉnh, càng cảmnhận nỗi đau thân phận rõ ràng hơn

3 Hai câu luận: ngoại cảnh hòa cùng tâm cảnh Hình ảnh thiên nhiên cũng chính là hình

→ Nhấn mạnh hình ảnh thiên nhiên và tâm trạng con người

- Thể hiện phong cách và tạo nên nét đặc sắc trong thơ XH:

+ Hai câu thơ cho ta thấy đặc điểm cá tính con người XH: bản lĩnh, mạnh mẽ, không chấpnhận số phận, hoàn cảnh

Trang 6

+ Từ ngữ được sử dụng trong hai câu thơ thể hiện rõ nét những nét riêng trong phong cáchnghệ thuật của bà chúa thơ Nôm “Xiên ngang”, “đâm toạc” là cách dùng từ “rất XH” Nữ sĩđặc biệt thành công trong việc sử dụng các từ làm phụ ngữ “mỏi mắt dòm”, “rơi lõm bõm”,

“chín mõ mòm”, “khua lắc cắc”, “vỗ long bong”, những phụ ngữ này góp phần làm cảnhvật trong thơ XH bao giờ cũng sinh động và căng tràn sức sống, một sức sống mãnh liệtngay cả trong những tình huống bi thảm nhất

4 Hai câu kết:

Như vậy, hai câu luận đã thể hiện sâu sắc bản lĩnh, cá tính của XH Nhưng dù có gắnggượng vươn lên thì cuối cùng vẫn là rơi vào bi kịch Bài thơ khép lại bằng một lời than choduyên phận của mình của nhân vật trữ tình trong tâm trạng chán trường, buồn tủi

* Câu 07:

-Câu thơ bộc lộ rõ tâm trạng chán chường, ngán ngẩm của XH khi ý thức rõ sự trôi chảy củathời gian, đời người với bao xót xa, nuối tiếc Trong câu thơ XH đã sử dụng hai từ “xuân” vàhai từ “lại” với các tầng ý nghĩa khác nhau ( ) góp phần quan trọng trong việc thể hiện tâmtrạng của nhân vật trữ tình

-XH ngán lắm rồi “Xuân đi, xuân lại lại”, ngán lắm rồi sự trở lại của mùa xuân, bởi sự trởlại của mùa xuân đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân Với nhịp điệu đều đều, dàn trải câuthơ là một tiếng thở dài ngao ngán, một nỗi chua chát khôn nguôi Hình ảnh “Xuân đi, xuânlại lại” gợi cho người đọc về sự ra đi của biết bao mùa xuân, tuổi trẻ tàn phai thế mà tình yêuvẫn không đến

-Cô thiếu nữ XH khao khát tình yêu, náo nức đón chờ tình yêu là thế mà cuối cùng cái nhậnđược thật là ít ỏi, chẳng đáng là bao Chỉ là một mảnh tình (vốn đã nhỏ bé)→ (bị) san sẻ →(trở thành) tí con con (có mà như không) Thủ pháp nghệ thuật tăng tiến được sử dụng trongcâu thơ có tác dụng nhấn mạnh sự nhỏ bé dần, làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn, hoàncảnh càng xót xa hơn Câu thơ là tiếng thở dài buông xuôi trước dòng đời của nữ sĩ

Hai câu thơ được viết ra từ tâm trạng của một con người khi đã mang thân đi làm lẽ nhưngtầm khái quát lại lớn hơn một hoàn cảnh lấy chồng chung Nó là nỗi lòng của người phụ nữxưa khi hạnh phúc với họ là một chiếc chăn quá hẹp Họ càng khao khát hạnh phúc thì càngthất vọng, ước mơ càng lớn thì thực tại càng mỏng manh

- Nghệ thuật:

+ Thơ Đường luật nhưng mang đậm nét dân tộc, dân gian

+ Từ ngữ giản dị mà đa nghĩa, giàu sức gợi

+ Các biện pháp đảo ngữ, đối, được sử dụng thành công

→ in đậm cá tính mà mang phong cách riêng độc đáo của XH

Bài thơ mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc khi khẳng định quyết tâm vượt lên trên sốphận và khao khát tha thiết, mãnh liệt của người phụ nữ được sống trong hạnh phúc, tình yêu

dù rơi vào hoàn cảnh bi kịch nhất

2, Hình ảnh người phụ nữ xưa trong bài thơ tự tình (II) của HXH.

a, Số phận bất hạnh

- Tuy có chồng mà phải sống trong cảnh cô đơn Một mình xuất hiện giữa đêm khuya để dãibày tâm trạng

- Có nhan sắc nhưng không được trân trọng mà bị khinh thường, mỉa mai , rẻ rúng

-Hạnh phúc mà họ nhận được quá nhỏ bé, mỏng manh

b, Là những con người giàu bản lĩnh

- Vững vàng, thách thức trước duyên phận

- Phẫn uất, phản kháng trước số phận của mình

c, Có gắng gượng vươn lên thì cuối cùng vẫn rơi vào bi kịch

Trang 7

Bài thơ mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc khi khẳng định quyết tâm vượt lên trên số phận

và khao khát tha thiết, mãnh liệt của người phụ nữ được sống trong hạnh phúc, tình yêu dù rơi vào hoàn cảnh bi kịch nhất

CÂU CÁ MÙA THU

A, Kiến thức trọng tâm.

1, Nội dung

- Bức tranh phong cảnh mùa thu:

+ Mang vẻ đẹp cổ điển của mùa thu ngàn đời

+ Điển hình cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam

- Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Khuyến:

+ Tình yêu thiên nhiên tha thiết

+ Tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng không kếm phần sâu sắc

1, Cách 1: giới thiệu từ tác giả rồi thu gọn lại đến bài thơ

- Giới thiệu Nguyễn Khuyến: là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam thời trung đại.Sáng tác của ông gồm cả chữ Hán và chữ Nôm với số lượng còn lại khoảng trên 800 bàigồm cả thơ, văn, câu đối, nhưng chủ yếu là thơ Thơ Nguyễn Khuyến nói lên tình yêu quêhương đất nước, gia đình, bạn bè; phản ánh cuộc sống của những con người cực khổ, thuầnhậu, chất khác; châm biếm, đả kích bọn thực dân phong kiến, đồng thời bộc lộ tấm lòng ưu

ái với dân, với nước Và bài thơ “Câu cá mùa thu” (Thu điếu) được trích từ chùm thơ viết vềmùa thu gồm ba bài: là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất trong thế giới nghệ thuậtphong phú ấy của nhà thơ

-Được sáng tác sau khi nhà thơ đã cáo quan về ở ẩn, bài thơ đã vẽ lên trước mắt người đọcmột bức tranh điển hình cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam, thể hiện tình yêu thiên nhiên,đất nước tha thiết, tâm trạng thời thế của thi nhân Đồng thời, qua tác phẩm ta cũng thấyđược nghệ thuật tả cảnh, tả tình và khả năng sử dụng tiếng Việt tài tình của Nguyễn Khuyến

2, Cách 2:

Không biết tự bao giờ, mùa thu đã trở thành đề tài muôn thuở, gần gũi và quen thuộc của thơ

ca Mùa thu huyền diệu, mùa thu chan chứa yêu thương đã được thể hiện ở tất cả các góccạnh khác nhau qua ngòi bút thi nhân Có khi mùa thu xuất hiện như một cô gái đáng yêunhu mì và nhút nhát “Em không nghe mùa thu – Lá thu rơi xào xạc – Con nai vàng ngo ngác– Đạp trên lá vàng khô”, có khi lại xuất hiện trong tình yêu rộn rã, vui sướng, vồ vập củanhân vật trữ tình “Đây mùa thu tới, mùa thu tới – Với áo mơ phai dệt lá vàng”, để rồi khibước vào thơ Nguyễn Khuyến, bước vào thơ của “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”, mùathu kiều diễm, hoa lệ ấy đã trở thành một cô thôn nữ dân dã mà say đắm lòng người Chỉbằng một chùm thơ viết về mùa thu gồm ba bài, Nguyễn Khuyến đã thâu tóm được tất cảnhững gì là đặc trưng nhất của vẻ đẹp mùa thu vùng ĐBBB.Và trong chùm thơ thu nức danh

ấy, “Câu cá mùa thu” (Thu điếu) là “tiêu biểu hơn cả” và “điển hình hơn cả cho mùa thu củalàng cảnh VN” Khám phá thế giới nghệ thuật của bài thơ, người đọc không chỉ được đắmchìm vào không gian thu rất riêng của vùng ĐBBB mà còn thấy được tình yêu thiên nhiên,

Trang 8

đất nước tha thiết, tâm trạng thời thế, thấy được nghệ thuật tả cảnh, tả tình và khả năng sửdụng tiếng Việt tài tình của thi nhân.

II, Thân bài

1, Bức tranh phong cảnh mùa thu trong Câu cá mùa thu mang vẻ đẹp cổ điển cổ điển của thơ thu muôn đời.

- Với thi đề, thi liệu: quen thuộc Đó là vẻ đẹp của thu thủy (nước thu), thu thiên (trời thu).Chúng ta tưởng chừng gặp lại ý thơ của người xưa “thu thủy cộng trường thiên nhất sắc” Đócòn là các thi liệu thu diệp (lá thu), ngư ông (người câu cá)

- Câu cá mùa thu cũng sử dụng đắc địa bút pháp của thơ cổ điển, lấy cái động để thức dậycái tĩnh Phải là một không gian tĩnh lặng tới mức gần như tuyệt đối mới có thể thấy rõ cáihơi gợn tí của sóng biếc mặt ao và chút khẽ đưa của là lá vàng Tĩnh đến độ cả con người vàthiên nhiên cùng như giật mình bởi âm thanh cá đâu đớp động dưới chân bèo

2, Nhưng cảnh trong câu cá mùa thu đâu chỉ có vậy, nhắc đến cảnh thu trong tác phẩm còn

là nhắc đến một mùa thu “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh VN” Hồn quê xứ sở

đã thấm vào hồn thơ để tạo nên một ấn tượng đặc biệt, giống như ta thấy Huế khi nghe điệumái nhì, mái đẩy, thấy sông nước Nam Bộ mênh mông khi nghe câu lí, câu hò Đọc Câu cámùa thu, ta thấy ngay trước mắt mình mùa thu nơi ĐBBB với những nét riêng tiêu biểu màmùa thu ở những vùng miền khác không có được Với cách đón nhận cảnh thu độc đáo: từgần đến cao xa, rồi từ cao xa trở lại gần, ( ) Nguyễn Khuyến đã tạo nên một bức tranh mùathu với những đặc điểm nổi bật nhất của cảnh thu vùng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam

a, Một bức tranh mùa thu đẹp, trong trẻo, bình dị, quen thuộc, thanh sơ, dịu nhẹ nhưng cũngrất đỗi nên thơ

- Cảnh vật: ao thu, lá vàng, thuyền câu, ngõ trúc, bầu trời, tầng mây, → những cảnh vậtbình dị, gần gũi, quen thuộc ở làng quê Cái tài của NK là từ những vật bình dị ấy nhà thơ

đã khám phá ra những vẻ đẹp hết sức nên thơ: cái ao làng bình thường → ao thu nước trongveo (“Ao thu”, sáng tạo rất mới của Nguyễn Khuyến tạo một cảm giác thơ mộng ngay từ đầubài thơ, Cảm nhận từ “trong veo”); sóng trong ao → sóng biếc; lá rụng → lá vàng khẽ đưatrước gió, )

sự “thú vị” tạo nên một không gian thu xanh mang sắc thu quê

- Đường nét:

Đường nét được miêu tả trong bức tranh thơ cũng là những đường nét rất riêng, mang vẻ đẹpnên thơ của mùa thu vùng đồng bằng BB Đó là những đường gợn của làn sóng ao thu,những nét uốn lượn của chiếc lá vàng rơi, đó cũng là những đường bao thanh mảnh, quanh

co của rặng trúc và sự lơ lửng của những đám mây giữ bầu trời

b, Bức tranh phong cảnh mùa thu ấy thật đệp nhưng tĩnh lặng và đượm buồn.

- Không gian tĩnh lặng, vắng người, vắng tiếng

+ “Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo”

+ Các chuyển động: sóng hơi gợn, mây lơ lửng, lá khẽ đưa → những chuyển động rất nhẹ,rất khẽ, không đủ tạo âm thanh

+ Tiếng cá đớp mồi → càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật

Trang 9

- Sử dụng nhiều gam màu lạnh với độ xanh trong của nước, độ xanh biếc của sóng, xanhngắt của trời, → gợi buồn da diết.

2, Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Khuyến (tình thu):

* Một tâm hồn thanh cao, gắn bó, yêu tha thiết cảnh vật quê hương, đất nước

Đi câu thực chất chỉ là cái cớ để nhà thơ đón nhận cảnh thu, trời thu vào cõi lòng Không cótình yêu thiên nhiên tha thiết làm sao nhà thơ có thể viết được về mùa thu hay như thế?

* Một tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng không kém phần sâu sắc

- Không gian: tĩnh lặng và đượm buồn → một tâm trạng không yên, một tâm sự đau buồntrước hiện tình đất nước của nhà thơ

+ Những gam màu lạnh: cái buồn hắt hiu của cảnh vật, cái lạnh trong tâm trạng con người.(Vậy, cái lạnh của trời thu, nước thu đã thấm vào tâm hồn nhà thơ hay chính cái lạnh từ cảnh vật?)

+ Khi tìm hiểu bài thơ, có người cho rằng Từ “vèo” trong câu thơ: “lá ” có phần không hợplý: lá vàng khẽ đưa trước gió không thể có độ “ vèo” khi bay thực ra điều đó có vẻ khônghợp lý ấy lại rất lô gíc, rất thống nhất tâm trạng Nó không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn cho

ta thấy tâm trạng thời thế của thi nhân, một tâm trạng không yên, một tâm sự đau buồn trướchiện tình đất nước: thời thế thay đổi quá nhanh, thoáng chốc non sông đã lọt vào tay kẻ thù

mà mình không làm được gì để giúp nước, giúp đời (Tâm trạng NK giống tâm trạng Tản Đàkhi ông viết “Vèo trong lá rụng

+ Tiếng cá đớp động dưới chân bèo: là tiếng giật thột trong lòng nhà thơ khi ông ngồi trầm

tư trên mảnh ao làng nghĩ về thời cuộc Nghe tiếng cá đớp động dưới chân bèo mà tưởngnhư tiếng non sông đang gọi mình

3, Nghệ thuật

- Ngôn ngữ: giản dị, trong sáng đến kì lạ, có khả năng diễn đạt những biể hiện rất tinh tế của

sự vật, những uẩn khúc thầm kín, khó giãi bày trong tâm trạng con người

- Vần “eo”, tử vận, khó làm được sử dụng rất thần tình, diễn tả không gian vắng lặng, thunhỏ dần, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của nhà thơ

- Nghệ thuật lấy động tả tĩnh,

Đề 02: “Trong hoàn cảnh đất nước đang bị giặc ngoại xâm, tấm lòng yêu nước phải được thể

hiện cụ thể bằng những hành động chống lại kẻ thù chứ không phải như Nguyễn Khuyến trong “Câu cá mùa thu” đã không dám đứng lên dùng ngòi bút đánh giặc mà chỉ gửi gắm kínđáo vào cảnh vật Hành động như vậy chỉ có thể có ở những kẻ ham sống, sợ chết, không có lòng yêu nước”

Ý kiến của anh (chị) về nhận xét trên

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

A, Nội dung bài học

1,Đánh giá chung về bài thơ.

“Bài ca ngất ngưởng” là một tác phẩm kiệt xuất của NCT Được hoàn thành vào nămNguyễn Công Trứ cáo quan về hưu (1848), bài hát nói nổi tiếng này vừa mang tính chất “hồikí” của một cuộc đời nhiều thăng trầm, sóng gió nhưng không ít vinh quang, vừa như bứcchân dung tự họa về một cá tính mạnh mẽ, một con người xuất chúng dám lấy cách sốngngang tàng, ngông ngạo, trái khoáy như một phương diện khẳng định bản ngã, vừa như mộttuyên ngôn cho lối sống phóng khoáng, tận hưởng những thú vui ở đời, đối lập giữa cá nhân(những kẻ có tài) với xã hội tầm thường, cổ lỗ

2,Hình tượng “cái tôi” “ngất ngưởng” của NCT trong bài thơ.

a, Cách sống, lối sống, thái độ sống “ngất ngưởng” của NCT.

Trang 10

- Là tạo nên những cái khác thường:

+ là thái độ đề cao bản thân, xem mình cao hơn người khác

+ là thái độ khinh đời ngạo nghễ

+ cố tình làm những điều khác thường, trái khoáy để thách thức, trêu ngươi, chọc tức nhữngngười, những gì mình ghét

(Khác thường: thái độ khác thường, việc làm khác thường, lời nói khác thường)

- Là phát huy tận độ tài năng để phò vua, giúp nước, là coi thường được mất, khen chê

”Ngất ngưởng” là một lối sống, một cách sống, thái độ sống tích cực của kẻ sĩ quân tử,đấng trượng phu tuy có pha chút phóng túng nhưng về cơ bản vẫn là vì nước, vì dân

b,Cơ sở tư tưởng của hình tượng.

-Lối sống “ngất ngưởng” của NCT được hình thành, xuất phát từ chính bản thân của cuộcsống nhà thơ trước cuộc đời Sống trong cái thời chế độ phong kiến suy tàn, triều thần cónhiều phe cánh, lắm kẻ đó kị, xúc xiểm, gièm pha thì Nguyễn Công Trứ, một con người vốnrất có ý thức về tài năng của mình lại đầy nhiệt huyết giúp đời, giúp nước ắt phải tìm chomình một lẽ sống riêng, một thái độ sống, một quan niệm sống riêng để chơi ngông với giớiquan lại bất tài, vô dụng, để có thể vượt lên trên thói đời đen bạc, đặt mình lên trên cái môitrường quan lại tầm thường dung tục đang vây bọc lấy ông

Vì thế, có thể nói rằng tạo cho mình một lối sống riêng, lối sống “ngất ngưởng” khinh đờingạo nghễ, thực chất chỉ là phản ứng của một kẻ sĩ quân tử, một đấng trượng phu trước mộtmôi trường tầm thường, dung tục để thể hiện bản lĩnh cá nhân của mình và có thể phát huyđược tận độ tài năng giúp nước, giúp đời

3,Biểu hiện của “cái tôi” “ngất ngưởng” của NCT trong tác phẩm.

a, “Ngất ngưởng” tại triều (06 câu đầu)

*Biểu hiện

- Kiêu hãnh, tự hào về sự có mặt của mình trên cõi thế; tự đề cao vao trò lớn lao của mìnhtrong trời đất: không có việc gì là không phải phận sự của ta

- Tự khen mình: “ông Hi Văn tài bộ” một cách tự cao, tự đại, hơn nhiều kẻ khác

- Nói việc làm quan là tự chui vào lồng (bị giam hãm, mất tự do)  lối nói ngông (nhà nho

bám quan hãnh diện)

- Khoe tài năng hơn người:

- Khoe danh vị xã hội hơn người:

Ngất ngưởng: làm trái với lễ nghĩa khiêm tốn của nhà nho, ngang nhiên khoe tài, khoe trí.Nhưng đó không phải là thói khoe khoang hợm hĩnh mà chỉ là để khoe cái cốt cách tài tử,phóng túng của mình mà thôi Và ẩn chứa đằng sau đó là một cái tôi ý thức về tài năng vàdanh vị bản thân

*Vì sao NCT lại cho rằng việc ra làm quan là tự chui vào lồng (vào nơi bị gian hãm,mất tựdo) nhưng lại vẫn ra làm quan

Làm quan không chỉ là vinh mà còn là nợ

(Hs cần giải thích để thấy rằng việc NCT ra làm quan không chỉ đơn thuần vì danh vị củabản thân mà quan trọng hơn là vì dân, vì nước)

b,“Ngất ngưởng” khi treo ấn từ quan

Thể hiện ở việc làm cố tình làm cho chướng mắt để trọc tức, trêu ngươi

c,“Ngất ngưởng” khi là một hưu quan.

* Lối sống hưởng thụ, khác người

* Quan niệm sống, thái độ sống coi thường sự được mất, khen chê ở đời

d, Lời tổng kết cả một đời ngất ngưởng.( ba câu cuối)

Trang 11

- Khẳng định mình là một người tài năng, nổi tiếng, hiển hách có thể sánh ngang với TráiNhạc, Hàn Tín, những con người tài năng xuất chúng đời Hán, Tống ở TQ

- Khẳng định mình là một bề tôi trung thành, luôn giữ trọn đạo nghĩa vua tôi

- Khẳng định: “trong triều ” tức khẳng định trong triều không ai như mình, bằng mình.Điều đó làm nổi bật sự đối lập giữa NCT với đám quan lại đương thời

4,Đánh giá lối sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ.

-Trước hết, lối sống ngất ngưởng phải là lối sống của một con người có tài như NguyễnCông Trứ Lối sống đó đã tạo ra những sự đối lập với lối sống của xã hội pk lúc bấy giờ:+Một lối sống ngang tàng, ngông ngạo, phóng khoáng, tự do đối lập với xã hội tầm thường,

“ngất ngưởng” thái quá, nhưng nếu đặt vào hoàn cảnh xã hội phong kiến lúc đó và vào connguời tài hoa – khí phách NCT thì lại thấy hoàn toàn hợp lí và rất tự nhiên như vốn nó làvậy Như chính ông đã tự nói về mình một cách đầy bản lĩnh, tự hào:

“Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”

Đó là một sự ý thức sâu sắc về giá trị cá nhân, một tuyên ngôn khẳng định cá tính Và nhưvậy, NCT đã rất hài lòng, thậm chí còn kiêu hãnh với cái “ngất ngưởng” của mình

- Mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc: giải phóng con người khỏi những ràng buộc để được sống

tự do, đề cao cá tính và khẳng định bản ngã con người

B,Đề luyện tập.

Đề 01: Phân tích bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”

Đề 02: Học xong tác phẩm bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ, anh (chị) có suy nghĩ

gì về cách sống của nhà thơ? Theo anh (chị) thế hệ trẻ hôm nay có nên sống theo cách sống của Nguyễn Công Trứ? Lí giải vì sao?

Đề 03: Trong xã hội hiện nay có một số bạn trẻ cố tình tạo cho mình một cách sống khác thường để khẳng định cái “tôi” cá nhân của mình Vậy theo anh (chị) họ tạo cho mình một cách sống như vậy có hợp lí không? Hãy so sánh với cách sống “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ để làm sáng tỏ

Đề 04: “Dù ở trong thời đại nào thì lối sống của Nguyễn Công Trứ trong bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” cũng không thể chấp nhận được Đó thực chất là lối sống lập dị của một kẻ tự cao, tự đại, ngông cuồng” Ý kiến của anh (chị)

Đề 05: Lối sống “ngất ngưởng” của NCT với lối sống lập dị của một số người trong xã hội hiện nay

Trang 12

BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT

A, Nội dung bài học

I Khái quát chung về tác phẩm.

“Bài ca ngắn đi trên bãi cát” (Sa hành đoản ca) được CBQ được sáng tác trong những lầnCao Bá Quát đi thi hội qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng như: Quảng Bình, Quảng Trị.Mược hình ảnh người đi khó nhọc trên bãi cát, nhà thơ đã thể hiện sự chán ghét con đườngmưu cầu danh lợi mà ông buộc phải theo đuổi và niềm khao khát đổi mới trong hoàn cảnh bếtắc của xã hội nhà Nguyễn trì trệ, bảo thủ lúc bấy giờ

II, Hình tượng nhân vật trữ tình.

1, Hình tượng nhân vật trữ tình trong bốn câu đầu

* Hình tượng nhân vật trữ tình trong bốn câu đầu là hình ảnh của người lữ khách đi trên bãicát

- Bãi cát mà khách đang đi: nối tiếp nhau trải dài tới vô tận Đó là một không gian mênhmông tới rợn ngợp, hoang vắng tới vô cùng, không biết đâu là điểm bắt đầu, đâu là điểm kếtthúc Không gian đó mở ra con đường xa tắp, bất tận, nhiều trắc trở, khó nhọc Đó là Nhữngbãi cát, cồn cát trải dài bao la của thiên nhiên miền Trung khắc nghiệt

- Tình thế:

+ Đi một bước như lùi một bước

+ Mặt trời đã lặn mà không dừng lại được, vẫn phải tất tả đi

- Tâm trạng: mệt mỏi, sốt ruột, căng thẳng, buồn nản, cô đơn, lạc lõng, hoang mang Giọtnước mắt cho ta thấy rõ tâm trạng bế tắc của người lữ khách

* Hình ảnh của người lữ khách đi trên bãi cát cũng chính là hình ảnh một con người đi trên con đường đời mịt mù, chông gai, nhọc nhằn, gập ghềnh, trắc trở trong xã hội phong kiến o

bế, trì trệ, tương lai mù mịt nhưng không dừng lại được mà vẫn phải bước đi, bước đi trong

bế tắc và vô vọng

2, Hình tượng nhân vật trữ tình trong sáu câu tiếp.

* Khách, nhân vật trữ tình, lí giải nguyên nhân vì sao mình lại không thể từ bỏ con đường

đầy mịt mù, chông gai, nhọc nhằn, gập ghềnh, trắc trở mà mình đang đi.

- Nguyên nhân thứ nhất (câu 5 – 6): vì không những “không học được ông tiên có phép ngủkĩ” mà còn trèo non, lội nước mãi

Nghệ thuật: sử dụng điển tích Nhắc lại cách hành sử của người xưa trước thói đời đen bạc

để khẳng định cách hành sử của mình (Người xưa: Hạ Hầu Ấn nhắm mắt ngủ say là “nhắmmắt làm ngơ, mặc kệ sự đời, mặc thây kẻ thức” để khỏi nhọc lòng trước những thăng trầm,trắc trở, rước họa vào thân; CBQ: không học được người xưa, học phép tiên để vừa đi vừangủ, có nghĩa nhà thơ từ chối lối sống đó một cách cao ngạo Ông đối lập với hiện thựcnhưng không quy lưng với hiện thực, dù hiện thực đó có đen tối đến mức nào)

NVTT không thể từ bỏ con đường mà mình đang đi vì anh ta không thể bỏ mặc cuộc đời,hơn nữa vì cuộc đời thêm một lần nữa anh ta khẳng định sẽ tiếp tục dấn thân vào con đườngđầy chông gai mà mình đã chọn

- Nguyên nhân thứ hai (bốn câu tiếp): CBQ nêu lí do mấu chốt: sở dĩ ông không thể từ bỏđược con đường mình đang đi bởi đó là con đường công danh, con đường duy nhất để lậpthân thời phong kiến

Công danh là lí tưởng lập thân của tư tưởng Nho giáo và đã trở thành lí tưởng lập thân củanam nhi thời phong kiến Dã làm thân nam nhi thì phải khẳng định vị thế tồn tại của mìnhgiữa cuộc đời, phải phấn đấu để có công danh để thi thố tài “kinh bang tế thế”, để thực hiện

lí tưởng” tề gia trị quốc bình thiên hạ” giúp ích cho đời Đến thời CBQ, lí tưởng này tuy đã

Trang 13

lỗi thời và không còn sâu sắc nữa nhưng vẫn là con đường lập thân duy nhất của đấng namnhi khi xã hội chưa tìm ra được hướng đi mới tiến bộ hơn Ta hiểu vì sao mang trong mìnhbao nhiêu hoàn bão, CBQ đã không thể thoát khỏi cái vòng danh lợi tầm thường dù nhà thơ

vô cùng chán ghét nó

* Tâm trạng nhân vật khách khi đi trên con đường đời, con đường công danh

đau đớn, chán nản, tự trách bản thân vì tự mình hành hạ thân xác của mình theo đuổi côngdanh, không học được sự thảnh thơi để xa lánh chốn trần ai

* Nhận thức của CBQ về công danh và kẻ sĩ đương thời:

-Xưa: công danh là lý tưởng đẹp, là cái đích để những người quân tử hướng tới với mongmuốn lập thân, giúp nước, giúp đời

-Tới thời CBQ: công danh đã bị biến tướng, trong cái thời đảo điên, nó không còn là lýtưởng đẹp của kẻ sĩ như xưa kia mà đã trở thành một miếng mồi ngon cho kẻ sĩ đương thời

và biến họ thành những kẻ ham danh lợi Với loại người này, công danh có một sức cám dỗghê gớm, nó cũng là một thứ rượu ngon dễ làm say lòng người mà ai cũng cố giành giật lấy

để mưu cầu lợi ích cá nhân bần tiện của mình Và khi tìm tới công danh, đa phần những kẻ

đó đều bị nó cám dỗ trở nên mê muội “nguời say vô số, tỉnh bao người” Cả một xã hội đangsống giữa cơn mê và quá hiếm người tỉnh để nhận ra sự nguy hại của nó

Những trăn trở, suy tư về danh lợi, về kẻ sĩ đương thời đã cho ta thấy sự chán ghét conđường mưu cầu danh lợi tầm thường của nhà thơ trước sự xuống cấp của khoa cử, học thuậtthời Nguyễn Đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của CBQ

3, Hình tượng nhân vật trữ tình trong đoạn thơ cuối.

* Đi trên con đường cùng Đồng nghĩa với nó là con đường đời, đường công danh màNVTT đang đi đã lên tới đỉnh điểm của sự bế tắc và cùng đường không lối thoát

* Tâm trạng nhân vật trữ tình:

+ Băn khăn

+ Bi quan

+ Cùng đường, bế tắc (không thể đi tiếp, không thể quay lại), không tìm ra lối thoát

* Câu kết: Lời thức tỉnh, giục giã bản thân của người đi trên cát phải quyết định dứt khoát,tìm con đường đi mới cho cuộc đời Câu thơ thể hiện khao khát thay đổi cuộc sống đươngthời, khao khát một sự đổi mới của nhà thơ

vì không tìm được lối thoát Điều đó thể hiện sự phản kháng âm thầm nhưng quyết liệt vớihiện thực xã hội phong kiến thời Nguyễn và lời cảnh bào một sự đổi thay tất yếu trong tươnglai

THAM KHẢO BÀI “BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT”

Trong số những nhà thơ tài năng và có bản lĩnh ở thế kỉ XIX, CBQ được tôn thờ là

“thánh Quát” (Thần Siêu, thánh Quát) Ông là một nhà thơ lớn, thơ văn của ông bộc lộ thái

độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng những điều khai sáng

có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Và nổi

Trang 14

tiếng nhất trong những vần thơ độc đáo ấy của ông là tác phẩm “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”(Sa hành đoản ca) Được sáng tác trong những lần Cao Bá Quát đi thi hội qua các tỉnh miềnTrung đầy cát trắng, bài thơ đã bộc lộ sự chán ghét của nhân vật trữ tình đối với con đườngmưu cầu danh lợi tầm thường và niềm khao khát đổi mới cuộc sống trong hoàn cảnh xã hộinhà Nguyễn “xuống cấp”, mục nát lúc bấy giờ.

Nổi lên từ đầu bài thơ là hình tượng bãi cát dài nối tiếp tới vô tận với không gian rợnngợp, hoang vắng tới vô cùng, không biết đâu là điểm đầu, đâu là điểm kết, mở ra một conđường xa tắp nhiều trắc trở và khó nhọc Xuất hiện trên bãi cát mênh mông đó là bóng mộtcon người nhỏ bé đang bước đi từng bước nặng nề, mệt nhọc Từng bước chân đi trên cátdường như trở nên vô nghĩa, thời gian đâu có chờ đợi ai bao giờ:

“Mặt trời đã lặn, chưa dừng được

Lữ khách trên đường nước mắt rơi”

Trong tình thế ấy, trong hoàn cảnh ấy thật không có gì khó khăn, cực khổ hơn: mặt trời đãlặn, bóng đêm đã xuất hiện nhưng người lữ khách vẫn bước đi tất tả mà không dừng lạiđược Sự khó nhọc, vất vả giữa cồn cát mênh mông và tâm trạng đau khổ của tác giả nhưđang bộc lộ hết ra ngoài: nước mắt lã chã rơi Giọt nước mắt ấy là sự mệt mỏi, căng thẳng,

cô đơn, lạc lõng, hoang mang và buồn nản trong sự bế tắc đến cùng cực của nhân vật trữtình Bãi cát ở đây ngoài ý nghĩa tả thực còn có ý nghĩa tượng trưng cho con đường đời mịt

mờ xa hút đầy chông gai, trắc trở trong xã hội phong kiến o bế, trì trệ mà con người buộcphải dấn thân vào Ngay cả con người trong cuộc hành trình này cũng mang tính biểu trưng

Đó là con người đi trên con đường đời , đi tìm lí tưởng, mục đích đích thực có ý nghĩa chocuộc đời giữa cuộc đời mịt mờ không xác định được phương hướng nhưng không dừng lạiđược mà vẫn phải bước đi, dù phải bước đi trong bế tắc, vô vọng

Vì sao đây? Tại sao “anh ta” vẫn phải bước tiếp rên con đường mà biết trước rằngkhông có đích đến? Vì “anh ta” không học được phép ngủ của ông tiên Xưa Hạ Hầu Ấnnhắm mắt ngủ say là “nhắm mắt làm ngơ, mặc kệ sự đời, mặc thây kẻ thức” để khỏi nhọclòng trước những thăng trầm, trắc trở, rước họa vào thân nhưng CBQ thì hoàn toàn khác, nhàthơ đối lập với cuộc đời nhưng không quay lưng với cuộc đời, không những thế vì cuộc đờithêm một lần nữa anh ta khẳng định sẽ tiếp tục dấn thân vào con đường đầy chông gai, nhọcnhằn mà mình đã chọn Tác giả bán rẻ thời gian và tuổi trẻ của mình chỉ để đi tìm cái đíchđến cho con đường mình đang đi, bởi đó là con đường công danh, con đường duy nhất đểlập thân thời phong kiến, con đường duy nhất để đấng nam nhi thể hiện tài “kinh bang tếthế” và lí tưởng “tề gia trị quốc bình thiên hạ” giúp nước, giúp đời Thoạt đầu đọc qua, tatưởng như sáu câu thơ tiếp từ câu “Không học được ông tiên phép ngủ “ có vẻ rời rạc vớibốn câu thơ đầu, nhưng càng đi sâu ta mới thấy được sự liên kết logic chặt chẽ trong từng ýthơ Lúc đầu thể hiện tâm sự chán nản của khách, tự giận mình đã phải hành hạ thân xác đểtheo đuổi công danh và vế sau là sự lí giải cho những suy nghĩ và hành động ấy

Xưa nay, công danh là lí tưởng đẹp, là cái đích để các kẻ sĩ đương thời hướng tới vớimong muốn lập thân, giúp nước, giúp đời; nhưng thời CBQ đã hằn sâu vào trong tư tưởngcủa ông nhận định về sự biến chất trong xã hội đảo điên vì danh lợi, công danh không còn là

lí tưởng đẹp xưa kia nữa mà đã trở thành một thứ có sức cám dỗ ghê gớm giống như một thứrượu ngon:

“Đầu gió hơi men thơm quán rượu – Người say vô số, tỉnh bao người?”

Công danh đã biến những người quân tử thành những kẻ ham danh, ham tài, tranhgiành, chém giết nhau để mưu cầu lợi ích cá nhân bần tiện của mình; những con người ấy đãquá mê muội mà không có đủ nhận thức để thấy được sự nguy hại của nó Nói đến đây, tâmtrạng nhân vật trữ tình càng nặng nề, sâu lắng hơn, khách đã nhận ra rõ “cái đen”, “cái bẩn”

Trang 15

của con đường công danh một khi bị biến tướng nhưng lại không thể dừng chân được Vì thế

sự đau đớn, chán nản được tăng lên gấp bội lần:

“Bãi cát dài lại bãi cát dài

Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!”

Trong những câu thơ trên, cách sử dụng nghệ thuật điệp từ của nhà thơ được phát huyđến cao độ, nhấn mạnh vào suy nghĩ của người đọc về một bãi cát, một con đường dài khôngbiết đâu là nơi đến Và giữa cái không gian bao la, hoang vắng ấy đột ngột xuất hiện một câuhỏi tu từ đầy thắc mắc, lo âu và trăn trở: “Biết tính sao đây?” Biết tính sao đây khi conđường công danh kia còn mờ mịt, gập ghềnh và chứa đựng biết bao điều đáng sợ Biết tínhsao đây khi tiến lên là đường cùng và lùi lại cũng là đường cùng:

“Phía bắc muôn đợt”

Hai câu thơ đã diến tả thật đắc địa tình thế, tâm trạng của người lữ khách khi lâm vào tìnhcảnh bế tắc, cùng đường, buộc phải chôn chân giữa những cồn cát mênh mông, giữa khônggian rợn ngợp, chứa chất muôn vàn những điều nguy hiểm Và như thế, cũng có nghĩa, conđường đời, con đường công danh mà người lữ khách đang đi cũng đã tới bước đường cùng,không lối thoát Thật đau đớn khi phải cất lên “khúc cùng đồ” khi trong mình vẫn còn biếtbao khát vọng, ước mơ, vẫn còn bao khát khao được đóng góp sức mình để giúp đời, giúpnước Đọc những câu thơ này, ta thấu hiểu được những cảm xúc thấm đẫm nước mắt củanhà thơ và càng căm giận hơn cái xã hội thối nát, bảo thủ đã kìm kẹp nhân tài, không tạo cơhội cho họ có điều kiện được giúp nước, giúp đời cho dù họ đã nhận về mình phần thuathiệt Về cuối bài, mọi cảm giác khó thở trên gần như tan biến khi nhân vật trữ tình đặt câuhỏi “ Anh còn đứng làm chi trên bãi cát” Câu hỏi đó là gì nếu không phải là một lời thúcgiục, giục giã bản thân của nhân vật trữ tình Giục giã bản thân mình phải dứt khoát đoạntuyệt với con đường công danh, với con đường cùng, với “cái bẫy” mà mình đang đi cùngbao nỗi băn khoăn, phiền muộn để tìm ra một con đường đi mới có ý nghĩa hơn với cuộcđời Lời thúc giục ấy cũng cho ta thấy niềm khao khát mãnh liệt, cháy bỏng muốn đổi mớicuộc sống của nhà thơ Đây là sự khởi đầu mới của một tư tưởng mới đang hình thành trongtâm tưởng của con người giàu lòng yêu nước, thương dân CBQ Cái tư tưởng ấy dù lúc nàymới chỉ bắt đầu mờ nhoà, chưa rõ nét nhưng theo thời gian nó đã được CBQ trả lời dứt khoátkhi đứng lên chống lại triều đình phong kiến nhà Nguyễn chuyên chế sau này Đứng dưới lá

cờ nghĩa với hai dòng chữ lớn: “Bình Dương, Bồ Bản vô Nghiêu Thuấn – Mục Dã, MinhĐiền hữu Võ Thang” (Ở Bình Dương, Bồ Bản không có những ông vua tốt như NghiêuThuấn – Thì ở Mục Dã, Minh Điền có những người chống lại như Võ Thang), sinh mạngCBQ có thể mất đi, nhưng nhà thơ có thể mãi kiêu hãnh, tự hào khi đã giải quyết được khốimâu thuẫn lớn đã đè nặng trên cuộc đời mình trong bao nhiêu năm mò mẫm tìm đường màchưa tìm ra lối thoát

“Bài ca ngắn đi trên bãi cát” (Sa hành đoản ca) được xây dựng với hình tượng thơ độcđáo, mới mẻ, sáng tạo và đa nghĩa vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượngsâu sắc biểu lộ sự chán ghét của một người trí thức đối với con đường công danh khoa cửcủa triều Nguyễn lúc bấy giờ Nhịp điệu bài thơ cũng góp phần diễn tả thành công nhữngcảm xúc của nhân vật trữ tình và vào việc thể hiện nội dung, truyền tải tư tưởng của tác giả

Ngày nay, đọc “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”, thế hệ trẻ chúng ta càng hiểu thêm vàcàng tôn kính hơn tấm lòng yêu nước, yêu dân sắc son của CBQ Nhìn lại quá khứ, chúng talại càng tin hơn vào tương lai của đất nước khi với mọi người hai từ công danh đã được trả

về đúng với ý nghĩa của nó Dưới ánh sáng của Đảng, của tư tưởng HCM, những kẻ sĩ, quân

tử, những người có đức có tài không còn phải mò mẫm tìm đường bất cứ lúc nào cũng có thể

Trang 16

đem tài đức của mình phục vụ nhân dân, đất nước mà không cần phải băn khoăn, do dự.Riêng đối với bản thân, học “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” đã cho em hiểu sâu sắc hơn về haichữ “công danh”, bài thơ đã giúp em hiểu được làm người phải sống thế nào cho đáng sống.

Vì vậy, trong vườn hoa văn học Việt Nam, với em (và có lẽ với nhiều người), “Bài ca ngắn

đi trên bãi cát”, mãi mãi là một trong những bông hoa thơ đẹp nhất

Bài viết của học sinhNguyễn Thị Vân Anh

lớp 10A3 năm học

2010 -2011

“Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sứcmạnh để bước qua những ranh giới ấy ”

(Mùa lạc, Nguyễn Khải)Nếu như một ngày nào đó đứng trước bạn là những con người bị dồn tới bước đườngcùng hay những con người có thể nay mai sẽ trở về với cát bụi, hay bất cứ một người nào,bạn hãy đọc cho họ nghe những lời này Lúc đó, không chỉ bạn đã làm một việc tốt khitruyền cho họ một ngọn lửa của niềm tin mà quan trọng hơn là bạn còn tự thắp cho mìnhmột ngọn lửa của tình yêu cuộc sống!

VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

NĂM 1945.

Chuyên đề 1:

THẠCH LAM VÀ TRUYỆN NGẮN HAI ĐỨA TRẺ

I,Đôi nét về tác giả Thạch Lam và truyện ngắn Hai đứa trẻ.

1,Tác giả Thạch Lam.

-Thạch Lam (1910 - 1942) tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi thành Nguyễn Tường

Lân, quê gốc ở Quảng Nam nhưng được sinh ra tại Hà Nội Thuở nhỏ ông sống ở quê ngoại

Cẩm Giàng - Hải Dương, sau khi học xong bậc thành chung ông sống ở Hà Nội viết văn,làm báo

-Trên văn đàn văn học Việt Nam trước cách mạng tháng tám, Thạch Lam chưa được xếp ở

vị trí số một nhưng cũng là một tên tuổi rất đáng coi trọng Ông là một trong số ít các nhàvăn đương thời khá tự giác về quan điểm nghệ thuật và điều đáng quý hơn là TL có quanđiểm nghệ thuật tiến bộ, lành mạnh Trong đó, ông đặc biệt khẳng định chức năng cao quý

của văn chương đối với cuộc sống Trong tiểu luận Theo giòng, TL viết "Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly trong sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn" Và ở chỗ khác ông cũng khẳng định: “Thiên chức của nhà văn cũng như những chức vụ cao quý khác là phải nâng đỡ những cái tốt để trong đời có nhiêu công bằng, yêu thương hơn” Điều này lí giải tại sao mặc dù là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn (một

văn đoàn sáng tác theo khuynh hướng văn học lãng mạng do Nhất Linh, anh trai Thạch Lam,

và một số nhà văn khác sáng lập vào năm 1933), song trước sau văn phong Thạch Lam vẫnchẩy riêng biệt một giòng Đề tài quen thuộc của nhóm Tự Lực văn đoàn là những cảnh sốngđược thi vị hóa, những mơ ước thoát ly mang mầu sắc cải lương, là những phản kháng yếu

Trang 17

ớt trước sự trói buộc của đạo đức phong kiến diễn ra trong các gia đình quyền quý ThạchLam, trái lại, đã hướng ngòi bút về phía lớp người lao động bần cùng trong xã hội đươngthời Khung cảnh thường thấy trong truyện ngắn Thạch Lam là những làng quê bùn lầy nướcđọng, những phố chợ tồi tàn với một bầu trời ảm đạm của tiết đông mưa phùn gió bấc,những khu phố ngoại ô nghèo khổ, buồn, vắng Trong khung cảnh ấy, các nhân vật cũnghiện lên với cái vẻ heo hút, thảm đạm của số kiếp lầm than - Đó là mẹ Lê, người đàn bànghèo khổ, đông con, góa bụa ở phố chợ Đoàn Thôn, là bác Dư phu xe ở phố Hàng Bột, làThanh, Nga với bà nội và cây hoàng lan trong một làng quê vùng ngoại ô, là cô Tâm hàngxén với lối đường quê quen thuộc trong buổi hoàng hôn Tất cả những cảnh, những người

ấy đều được mô tả bằng một số đường nét đơn sơ, thưa thoáng nhưng vẫn hết sức chânthực

Tác phẩm của Thạch Lam vì thế có nhiều yếu tố hiện thực tuy nhân vật không dữ dội nhưChí Phèo, lão Hạc của Nam Cao, hay bị đày đọa như chị Dậu của Ngô Tất Tố Cái riêng, cáiđộc đáo, cái mạnh của Thạch Lam, chính là ở lòng nhân ái, và vẻ đẹp tâm hồn quán xuyếntrong mọi tác phẩm của ông Nhân vật Thạch Lam, bất luận ở hoàn cảnh nào, vẫn ánh lêntrong tâm hồn cái chất nhân ái Việt Nam Đọc văn Thạch Lam rõ ràng ta thấy yêu conngười, quý trọng con người hơn Và cũng từ đó ta thương cảm, nâng niu, chắt gạn từng chúttốt đẹp trong mỗi một con người

-Thạch Lam tuy có viết truyện dài nhưng sở trường của ông là truyện ngắn, bởi ở đó tàinăng, phong cách nghệ thuật của nhà văn được bộc lộ một cách trọn vẹn Ông là nhà truyệnngắn xuất sắc, tài hoa “Nói đến Thạch Lam người ta vẫn nhớ đến truyện ngắn nhiều hơn làtruyện dài” (Nguyễn Tuân) Xuất hiện trên văn đàn, TL là một trong số ít người mở đườngcho lối viết “Truyện không có chuyện”, mỗi tác phẩm của ông không phải được xây dựngbởi nhưng cốt truyện cầu kì, giàu kịch tính mà “truyện” thường được tạo bằng việc đi sâuvào khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ, tinh tếvới sự đan cài của hai yếu tố hiện thực và lãng mạn trữ tình Bằng một giọng điệu riêng,giọng điệu trữ tình trong truyện ngắn, mỗi truyện ngắn của TL đều như một bài thơ trữ tìnhđầy thương xót chứa đựng biết bao tình cảm yêu mến chân thành và sự nhạy cảm của tác giảtrước những biến thái của cảnh vật và lòng người

2,Truyện ngắn “Hai đứa trẻ”.

-Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” được in trong tập “Nắng trong vườn” (1938) là một trong nhữngtruyện ngắn đặc sắc, rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo của TL Truyện giốngnhư một áng văn xuôi được dệt bởi những cảm xúc thấm đẫm chất trữ tình Tác phẩm có cốttruyện rất đơn giản, là kiểu truyện không có chuyện, không có mâu thuẫn, xung đột gay cấn

Nó giống như một bài thơ trữ tình đầy thương xót và ẩn hiện kín đáo, lặng lẽ sau mỗi hìnhảnh, mỗi dòng chữ là tâm hồn TL đôn hậu, giàu tình yêu thương với mọi biến thái tinh vi củalòng người và tạo vật mà ông vô cùng trân trọng và yêu mến

-Bối cảnh của truyện là một phố huyện nghèo tiêu điều, xơ xác với những con người nghèokhổ, bất hạnh được lấy nguyên mẫu từ phố huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), là quê ngoại của

TL và cũng là nơi nhà văn sống thời thơ ấu

-Tóm tắt:

+“ Hai đứa trẻ” là một mẩu chuyện sinh hoạt kéo dài của hai chị em đứa trẻ thay mẹ trôngnom một gian hàng vặt ở một phố huyện gần một cái ga xép Đêm đêm những bóng ngườibình thường cũng lù mù đi qua trước gian hàng Những bóng người ấy cũng lù mù như nhiềuchấm lửa ở những nguồn sáng quanh quất nơi phố huyện Trong cái bốn bề chìm chìm nhạtnhạt, bỗng có tiếng động mạnh và những luồng sáng mạnh của một chuyến xe lửa kéo qua

Trang 18

hàng ngày Hai chị em ngày nào cũng chờ chuyến tàu đêm kéo qua ra mới chịu đóng cửahàng.(Tóm tắt của Nguyễn Tuân).

+ “Hai đứa trẻ” kể về những sinh hoạt thường ngày về một chiều, một đêm nơi phố huyện:Hai đứa trẻ, một chị một em, theo lời mẹ dặn, trông coi một cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu, lời lãichẳng được bao nhiêu, và ngày nào cũng ngồi chờ chuyến tàu đêm khởi hành từ Hà Nội điqua rồi mới đóng cửa hàng đi ngủ Trong lúc chờ tàu, hai chị em cô bé ngắm nhìn, lắng nghequang cảnh, nhịp điệu phố huyện diễn ra trước mắt, từ lúc hoàng hôn cho đến tận đêmkhuya

-Những nội dung cần chú ý khi học tác phẩm:

+Bức tranh phố huyện nghèo nàn, tiêu điều, xơ xác với những kiếp người tàn tạ, nghèo khổ,sống cuộc sống lay lắt, bế tắc, quẩn quanh

+Cảnh đợi tàu của chị em Liên

+Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

+Sự đan cài giữa hai yếu tố lãng mạn và trữ tình

+Những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm

+Hình tượng ánh sáng và bóng tối

II,Các nội dung bàn luận

Vấn đề 01: Tìm hiểu chung về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam.

Thạch Lam (1910-1942) tên thật là Nguyễn Tường Vinh (sau đổi là Nguyễn Tường Lân) lànhà văn có biệt tài về truyện ngắn Ông là nhà truyện ngắn xuất sắc, tài hoa “Nói đến ThạchLam người ta vẫn nhớ đến truyện ngắn nhiều hơn là truyện dài” (Nguyễn Tuân) Xuất hiệntrên văn đàn, TL là một trong số ít người mở đường cho lối viết “Truyện không có chuyện”,mỗi tác phẩm của ông không phải được xây dựng bởi nhưng cốt truyện cầu kì, giàu kịch tính

mà “truyện” thường được tạo bằng việc đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm của nhân vậtvới những cảm xúc mong manh, mơ hồ, tinh tế với sự đan cài của hai yếu tố lãng mạn và trữtình Bằng một giọng điệu riêng, giọng điệu trữ tình trong truyện ngắn mỗi truyện ngắn của

TL đều như một bài thơ trữ tình đầy thương xót chứa đựng biết bao tình cảm yêu mến chânthành và sự nhạy cảm của tác giả trước những biến thái của cảnh vật và lòng người Vàtruyện ngắn “Hai đứa trẻ” được in trong tập “Nắng trong vườn” (1938) là một trong nhữngtruyện ngắn đặc sắc, rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo ấy của ông Lấy bốicảnh là một phố huyện nghèo nàn, tiêu điều, xơ xác, Thạch Lam đã thể hiện tình cảm xótthương đối với những kiếp người nghèo khổ, quẩn quanh và sự cảm thông, trân trọng trướcnhững mong ước của những con người nghèo khổ ấy về một cuộc sống tươi sáng hơn

1, Tác phẩm được mở đầu bằng những câu văn chậm dãi, giàu chất thơ, chất nhạc, vớinhững âm thanh, hình ảnh báo hiệu một ngày tàn Đó là “Tiếng trống thu không trên cái chòicanh của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều”, là vầng mặt trời ở phươngtây “đỏ rực như lửa cháy”, là “những ánh mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” và “dãy trelàng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời” Cảnh phố huyện khi chiều buôngxuống thật gần gũi, quen thuộc, êm ả và đẹp mộng mơ Có lẽ chỉ trong văn của TL mới cónhững buổi chiều quê như thế Đọc tác phẩm, ta làm sao có thể quên được “một buổi chiều

êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”, vàngay cả tiếng muỗi vo ve hay cái mùi riêng, cái mùi ẩm mốc nơi phố huyện cũng gợi chochúng ta biết bao xao xuyến Cảnh phố huyện lúc chiều tàn thật đẹp nhưng nhạt nhoà, tiêuđiều, xơ xác và cũng thật buồn Để làm nổi bật lên cái nhạt nhoà, tiêu điều, xác xơ ấy, TL đãđiểm vào đó “cảnh tàn” của một phiên chợ quê nghèo trước khi màn đêm buông xuống Lúcnày “chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu, người về hết và tiếng ồn ào cũng mất”, chỉ còn một sốngười về muộn đang thu xếp hàng hoá và nói chuyện với nhau thêm ít câu nữa (Chắc là

Trang 19

những lời than thở) rồi khuất dần vào những ngõ quê ngập đầy bóng tối Họ để lại phía saumột mặt đất đầy rác rưởi toàn những “vỏ buởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía”, những đồ phế thảithảm hại của một phiên chợ nghèo Họ đi khỏi, những đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ vội

ùa ra để bòn mót, nhưng làm sao chúng có thể kiếm được gì từ những đồ phế loại tồi tàn ấy.Người này trông vào người kia để sống nhưng tất cả chỉ trông vào vô vọng! Suốt một ngàychợ phiên mà chị em Liên không bán được gì ngoài vài thứ lặt vặt, nhỏ mọn Ngày chợphiên còn vậy, những ngày thường thì sẽ ra sao?

Theo bước đi của thời gian, những đặc trưng nơi phố huyện càng được thể hiện rõ hơnkhi màn đêm buông xuống Phố huyện vào đêm thật êm đềm và tĩnh mịch Chất thơ, chấtlãng mạn trong ngòi bút của TL đã đem đến cho phố huyện những vẻ đẹp thật nên thơ khichiều xuống, đêm về Giữa muôn ngàn vì sao lấp lánh trên bầu trời cao của một đêm mùa hạ

“êm như nhung” là những làn gió nhẹ thoảng đùa qua kẽ lá, là những cánh hoa bàng, từngđợt một, rơi khe khẽ rụng xuống vai Liên, là tâm hồn thơ ngây, mộng mơ của hai đứa trẻ dõitheo bầu trời xa xăm để tìm con vịt và sông Ngân Hà, tất cả những chi tiết ấy, hình ảnh ấyhiện lên thật đẹp, thật thơ, thật mộng qua tâm hồn giàu tình yêu thiên nhiên, quê hương đấtnước của nhà văn đất Quảng

Nhưng sẽ còn là mờ nhạt nếu khi nói đến bức tranh u ám của phố huyện mà không kểđến bóng tối nơi đây Có thể nói ít có tác phẩm nào trong thế giới nghệ thuật của TL mà hìnhảnh bóng tối lại được miêu tả đậm đặc, trở đi, trở lại như một ám ảnh không dứt như trongtruyện ngắn này Toàn bộ câu chuyện được đặt trong một cuộc tương tranh giữa bóng tối vàảnh sáng Mở đầu là “phương tây đỏ rực như lửa cháy” và “những đám mây ánh hồng nhưnhững hòn than sắp tàn”, “Dãy tre làng nền trời” Ánh sáng vẫn còn nhưng yếu thế, bóngtối mới xuất hiện nhưng bắt đầu lấn át Rồi cứ từng bước bóng tối ngập dần, đậm dần, lantràn khắp cả phố huyện Ánh mặt trời đã tắt, ánh sáng giữa màn đêm nơi phố huyện xuấthiện với tần số khá cao nhưng nhỏ nhoi, yếu ớt Chúng chỉ là những khe ánh sáng, đốmsáng, vệt sáng, quầng sáng, của những ngọn đèn, của ngàn sao và của những con đom đóm.Thạch Lam đã dùng ánh sáng để tả bóng tối Bóng tối của màn đêm ngự trị và bao trùm toànphố huyện: đường phố và các con ngõ dần dần chứa đầy bóng tối, “tối hết cả, con đườngthăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơnnữa”, Như vậy, hiện lên trong tác phẩm, bóng tối được tác giả miêu tả thật ấn tượng Nókhông chỉ là đêm tối của thiên nhiên, của không gian và thời gian mà còn là bóng tối củacuộc đời, của những kiếp người nơi phố huyện Nó đã trở thành một hình tượng nghệ thuậtđặc sắc, đầy ám ảnh làm nổi bật cái cảnh “đen tối” của mỗi kiếp người, của những cư dânphố huyện Vậy những con người nghèo khổ ấy là những ai? Họ được nhà văn miêu tả nhưthế nào?

2, Trong cái phông của một khung cảnh bóng tối dày đặc những cư dân phố huyệnhiện lên là những mảnh đời của những con người sống trong tăm tối Họ là những con ngườibình thường, chỉ xuất hiện thoáng qua, chỉ như một cái bóng Tất cả họ không được ThạchLam miêu tả chi tiết: nguồn gốc, xuất thân, số phận, nhưng có lẽ nhờ thế mà số phận họhiện lên càng thêm bé nhỏ, tội nghiệp, ai cũng sống một cách âm thầm, nhẫn nhục, lam lũlay lắt, tội nghiệp đáng thương

+Mẹ con chị Tí có lẽ là điển hình cho cuộc sống ngoi ngóp, quẩn quanh, lay lắt của phốhuyện này.Ngày mò cua bắt tép, tối đến lại ra sân ga bày hàng bán nước Cái đáng sợ là vẫnbiết bán không được gì mà vẫn cứ phải đi Đó đâu phải là sự sống thực sự mà chỉ là sự cầm

cự, cầm chừng trong vô vọng mà thôi Cách chị trả lời câu hỏi của Liên: không trực tiếp trảlời ngay mà còn làm thêm để chõng xuống đất, bày biện các bát uống nước mãi rồi mới chépmiệng: “Ối chao, sớm muộn mà có ăn thua gì” đã cho ta thấy nhịp sống chập chạp, lẩn quẩn

Trang 20

của mẹ con chị Tí Cuộc đời của mẹ con chị thu lại trên cái chõng hàng nước tồi tàn vớingọn đèn con giữa màn đêm dày đặc, mênh mông của phố huyện.

+Bác phở Siêu lưng vốn có vẻ khá hơn nhưng nguy cơ lại lớn hơn bởi phở của Bác là “mộtthứ quà xa xỉ”, ở cái đất nghèo này liệu có mấy người có đủ tiền ăn khi mà ngay cả chị emLiên, đời sống có vẻ khá hơn, cũng chỉ dám nhìn mà mơ ước?

+Vợ chồng bác xẩm với manh chiếu rách tồi tàn, với cái thau trắng để trước mặt, gópchuyện bằng mấy tiếng đàn bầu ế ẩm bật lên trong đêm yên lặng Thằng con nhỏ thì “bò rađất, ngoài manh chiếu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường”

+Và trong đám cư dân ấy, dễ sợ nhất là bà cụ Thi, một bà cụ già “hơi điên” lại nghiện rượuvới tiếng cười khanh khách, ghê sợ, với cái dáng hình lảo đảo đi lần vào bóng tối Cụ là “cáisản phẩm nhỡn tiền của cuộc sống mòn mỏi ở cái phố huyện này” (Chu Văn Sơn) và mặc dùchỉ xuất hiện trong mấy dòng truyện ít ỏi nhưng con người ấy đã ám ảnh người đọc, thứcdậy trong ta lòng trắc ẩn chân thành

+Ở vị trí tiền cảnh của bức tranh đời sống buồn thảm, tối tăm ấy là hình bóng của chị emLiên Hai đứa trẻ xuất hiện âm thầm bên cái “cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu” (mẹ Liên thuê từkhi cả gia đình dọn từ Hà Nội về đây vì thầy Liên mất việc) mà khách hàng là những ngườikhốn khổ có khi không đủ tiền mua nổi một bánh xà phòng hoặc chỉ đủ tiền cho cút rượunhỏ “uống một hơi cạn sạch” Liên xót xa cho những kiếp người lay lắt nhưng cuộc sống củaLiên cũng cầm chừng không kém Nỗi khổ của Liên có lẽ còn cao hơn nỗi khổ vật chất củanhững người khác, đó là bi kịch tinh thần bởi họ khổ mà không biết mình khổ còn Liên đãthực sự thấm thía cảnh sống tẻ nhạt tù hãm và đơn độc hết ngày này sang ngày khác

Mỗi người, mỗi cảnh đời, mỗi số phận, nhưng đều là những con người nhỏ bé, tộinghiệp, ai cũng sống âm thầm, nhẫn nhục, lam lũ, giống như những cái bóng lầm lũi, lặng lẽtrong cái bóng tối bao trùm và ngự trị tất cả phố huyện Họ đang sống nhưng là sống mộtcuộc sống lê vào bóng tối Cuộc sống đó không chỉ có sự nghèo đói, tội nghiệp, đáng thương

mà nó còn là một cuộc sống tẻ nhạt, quẩn quanh, không tương lai, không lối thoát Cảnh phốhuyện chiều tối hôm nay cũng giống như hôm qua và sẽ lặp lại trong ngày mai, nhịp sốngcủa những người dân nghèo nơi phố huyện này ngày nào cũng như ngày nào lặp đi, lặp lạimột cách đơn điệu, buồn tẻ: chiều nào chị Tí cũng dọn hàng “từ chập tối cho đến đêm”, tốinào bác Siêu bán phở cũng nhóm lửa, gia đình bác xẩm cũng chờ khách, người nhà cụ thừa,

cụ lục cũng đi gọi người đánh tổ tôm, chị em Liên cũng “ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốccây bàng” và ngày nào cũng vậy “cứ chập tối, mẹ Liên lại tạt ra thăm hàng một lần”, Nhưvậy, “chừng ấy con người trong bóng tối” ngày này qua ngày khác sống quẩn quanh, tù túngtrong cái “ao đời bằng phẳng” (Xuân Diệu) Hình ảnh những con người này khiến ta nhớ đếncuộc sống đơn điệu, nhạt nhẽo “cơm mai rồi lại cơm chiều, rút cục mỗi ngày hai bữa cơm”

của cô Quỳnh, cô Giao trong tác phẩm Toả nhị kiều của Xuân Diệu, nhớ đến những câu thơ của Huy Cận trong tác phẩm Quẩn quanh: “Quẩn quanh mãi với vài ba dáng điệu, – Tới hay

lui cũng ngần ấy mặt người – Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười, - Môi nhắc lại cũng ngần

ấy chuyện”

Thật đáng thương cho những con người phải sống một cuộc sống lay lắt, ảm đạm, nơi

“bùn lầy, nước đọng” Những thân phận, những con người nhỏ bé ấy đang sống lay lắt,nghèo khổ, đang héo mòn nơi phố huyện tối tăm Họ đang sống cuộc sống của những kiếpngười tàn tạ nhưng không mất đi hi vọng và niềm tin vào cuộc sống Trong bóng tối mênhmông, dưới sự bủa vây của cuộc sống, nghèo nàn, không lối thoát, họ vẫn ước mơ, vẫnmong đợi “một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày” Dù ước mơ, mong đợi

đó của họ thật mơ hồ, xa xăm, không biết bao giờ mới đến nhưng nó đã khẳng định dù tronghoàn cảnh nào, con người vẫn không thôi ước mơ về những điều tốt đẹp Thấy được điều

Trang 21

này, chúng ta sẽ hiểu được vì sao, đêm nào chị em Liên (cùng với nhiều người dân nghèo)cũng cố thức để đợi đoàn tàu đêm đi qua phố huyện

3, Chị em Liên đêm nào cũng cố thức để đợi tàu không phải là để bán được hàng vìLiên biết dù khi đoàn tàu đến thì cũng “không trông mong còn ai đến mua nữa Với lại, đêm

họ chỉ mua bao diêm hay bao thuốc lá là cùng” Hai chị em cố thức đợi tàu là vì cớ khác, bắtnguồn từ chính cuộc sống hiện tại và những kí ức đẹp trong quá khứ của chị em Liên Ngàytháng, quanh năm sống giữa những cảnh đời, những kiếp người khốn khổ, đầy bóng tối, chị

em Liên luôn thấm sâu một nỗi buồn nên chúng luôn khao khát muốn thoát khỏi cuộc sống

tù túng tối tăm ấy và con tàu là phương tiện duy nhất để chúng có thể gửi gắm ước mơ.Không những thế, đoàn tàu là phương tiện giúp hai chị em được sống lại kí ức của tuổi thơ,

kí ức của một thời phong lưu, gia đình có của ăn của để Có lẽ chính vì vậy, chuyến tàu được

TL tập trung bút lực miêu tả một cách tỉ mỉ, kĩ lưỡng theo trình tự thời gian, qua tâm trạngmong chờ của hai đứa trẻ

Dấu hiệu đầu tiên của đoàn tàu là sự xuất hiện của người gác ghi Tiếp theo là Liêntrông thấy “ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất như ma chơi”, rồi cô nghe thấy tiếng còi xe lửa

“kéo dài ra theo ngọn gió” Sau đó, “hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnhvào ghi”, kèm theo “một là khói bừng sáng trắng lên đằng xa”, “tiếng hành khách ồn ào khekhẽ” Thế rồi, “tàu rầm rộ đi tới”, “các toa đèn sáng trưng”, “những toa hạng trên sang trọng

lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh”, Đoàn tàu tới đã đem đến cho phố huyện mộtthế giới khác hẳn, thế giới của ánh sáng và âm thanh, một thế giới biểu tượng cho sự sốngmạnh mẽ, sự giàu sang, hoa lệ Dù chỉ đến trong chốc lát rồi lại vun vút lao vào bóng tốinhưng đoàn tàu ấy đã giúp chị em Liên (và có thể không ít người dân phố huyện) bỗng chốcđược thoát ra khỏi cuộc sống cuộc sống mỏi mòn, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của cáiphố huyện nghèo để được sống trong mơ tưởng về một thế giới huyên náo, vui vẻ, đầy ánhsáng và sự giàu sang Riêng đối với chị em Liên, chuyến tàu đêm còn gợi nhớ về những kỉniệm của ngày xưa sung sướng, nhớ về Hà Nội “một vùng sáng rực lấp lánh”, nhớ lại nhữngngày bố còn đi làm, mẹ nhiều tiền, được đi chơi bờ Hồ, uống những cốc nước lạnh xanh đỏ

Và như vậy, đợi tàu đối với hai đứa trẻ đâu phải là một việc làm vô nghĩa, khác người, nó làbiểu hiện của niềm khao khát được thoát khỏi “chỗ tối” để tìm tới “ánh sáng”, khao khátđược thoát khỏi cuộc sống nghèo nàn để tìm tới sự giàu sang Nó là món ăn tinh thần khôngthể thiếu, là nơi để chị em Liên (và nhiều người dân phố huyện) gửi gắm ước mơ được sốngmột cuộc sống tốt đẹp hơn

Nhưng cuộc thoát li, dù chỉ bằng tưởng tượng cũng chỉ diễn ra trong chốc lát, khi “chiếcđèn xanh treo trên toà sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre”, phố huyện lại trở về vớikhung cảnh quen thuộc hàng ngày của nó, bóng tối và sự im lặng lại bao bọc lấy tất cả Phốhuyện chính thức chấm dứt mọi hoạt động khi đoàn tàu đêm đi qua Cùng với sự nuối tiếc,nỗi buồn chán lại quay trở lại trong tâm trạng của Liên Hình ảnh ngọn đèn leo lét của chị Tíchập chờn trước khi cô ngập chìm vào giấc ngủ “yên tĩnh”, “tịch mịch và đầy bóng tối”

Miêu tả cảnh đợi tàu cảu hai đứa trẻ, TL đã thể hiện tấm lòng trân trọng, nâng niu khátvọng vươn ra ánh sáng, vượt thoát ra khỏi cuộc sống tù túng, quẩn quanh, chật hẹp, khôngcam chịu cái hiện tại tầm thường, nhạt nhẽo đang vây quanh mình của hai đứa trẻ và cũng làcủa những người dân nghèo nơi phố huyện

- Gửi gắm bức thông điệp cho tất cả mọi người:

+ Đừng bao giờ để cuộc sống của mình chìm trong cái “ao đời phẳng lặng” Đã sống là phảisống cho ra sống, phải không ngừng khao khát và xây dựng một cuộc sống có ý nghĩa

+ Những con người đang phải chịu một cuộc sống tối tăm, mòn mỏi, nghèo nàn, tù túng hãytìm cho mình một lối thoát, hãy cố vươn ra ánh sáng, hướng tới một cuộc sống sáng tươi

Trang 22

Chỉ bằng một cốt truyện giản đơn miêu tả tâm hồn của hai đứa trẻ trong một cái phố huyệnnhỏ khi chiều xuống, đêm về, TL đã gieo vào lòng người đọc biết bao nỗi niềm cảm thương,dịu ngọt Đọc Hai đứa trẻ giúp ta thấy yêu mến thêm cuộc sống, con người, thương mến hơnnhững cảnh đời bất hạnh Để kết thúc bài viết này, tôi xin trích lời của Nguyễn Tuân khi viết

về tác phẩm: “Truyện “Hai đứa trẻ” có một hương vị thật man mác Nó gợi một nỗi niềm thuộc về quá vãng, đồng thời cũng dóng lên một cái gì còn ở trong tương lai Nơi cái thế giới quan của đôi trẻ ở một phố quê, hình ảnh đoàn tàu và cái tiếng còi tàu đã trở thành một thói quen của cảm xúc và của ước vọng Đọc “Hai đứa trẻ”, thấy bận bịu vô hạn về một tấm lòng quê hương êm ái và sâu kín”.

Trong cuộc đời cầm bút ngắn ngủi của mình, TL đã để lại cho đời nhiều tác phẩm hayđộc đáo như Sợi tóc, nhà mẹ Lê, nhưng trong các tác phẩm đó, ít có tác phẩm nào hình ảnhđêm tối lại được miêu tả đậm đặc, trở đi trở lại, như một ám ảnh không dứt trong truyệnngắn này Với việc được lặp đi, lặp lại nhiều lần (không dưới ba mươi lần), cái bóng đêm ấy

đã trở thành hình tượng bóng tối đầy ấn tượng, hàm chứa ý nghĩa sâu sắc Nó bao trùm lêncảnh vật và con người và trở thành một ám ảnh, một sự hăm doạ như một quái vật đè nặnglên cảnh vật và nhưng cảnh đời nơi phố huyện Nó được tác giả miêu tả rất nhiều ở nhữngtrạng thái khác nhau: Bóng tối đến với tiếng trống thu không từ trên chòi cao, bóng tối sắpđến với những đám mây hồng như hòn than sắp tàn, bóng tối đến với dãy tre làng đen lại,bóng tối đến với tiếng muỗi vo vo, bóng tối đến với những viên đá nhỏ trên con đường mấp

mô, bóng tối trùm lên đường phố và các ngõ huyện… Như vậy, ở đây, bóng tối như một cái

gì hãi hùng đang hoạt động, đang thâm nhập, đang len lỏi, luồn lách, bám sát vào mọi cảnhvật, mọi trạng thái hoạt động của phố huyện nghèo và của những con người nơi đây Nó giaotranh mạnh mẽ với ánh sáng (Toàn bộ câu chuyện là cuộc giao tranh giữa bóng tối và ánhsáng) Tác phẩm mở đầu bằng “Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánhhồng như hòn than sắp tàn, dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”,ánh sáng vẫn còn nhưng yếu thế, bóng tối mới xuất hiện nhưng đã bắt đầu lấn át Rồi cứtừng bước bóng tối ngập dần, đậm dần, lan tràn khắp cả phố huyện Ánh mặt trời đã tắt, ánhsáng giữa màn đêm nơi phố huyện xuất hiện với tần số khá cao nhưng nhỏ nhoi, yếu ớt.Chúng chỉ là những khe ánh sáng, đốm sáng, vệt sáng, quầng sáng, từ ngọn đèn của chị tí,

từ ngọn đèn trong quán của chị em Liên, từ bếp lửa bác Siêu, từ ngàn sao trên trời và nhữngcon đom đóm, Thạch Lam đã dùng ánh sáng để miêu tả bóng tối Bóng tối của màn đêmngự trị và bao trùm toàn phố huyện: đường phố và các con ngõ dần dần chứa đầy bóng tối,

“tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lạicàng sẫm đen hơn nữa”, tất cả chìm vào trong đêm tối mênh mông, dày đặc Đó đâu phảichỉ là đêm tối của thiên nhiên, của không gian và thời gian mà còn là bóng tối của cuộc đời,

Trang 23

của những kiếp người nơi phố huyện Và vì thế, khi xuất hiện trong những trang viết của TL,ánh sáng (và âm thanh), bóng tối (và sự tĩnh mịch) còn mang giá trị biểu trưng sâu sắc Ởđây ánh sáng là dấu hiệu của sự sống, của ước mơ còn bóng tối là dấu hiệu của sự hư vô, củacuộc sống nghèo nàn, tăm tối Hiểu được điều này, ta hiểu được vì sao những con người nơiđây, đặc biệt là Liên, lại ham ánh sáng đến thế Mỗi lần nhớ lại, mơ tưởng về “Hà Nội xaxăm”, Liên cũng chỉ nhớ về những âm thanh và những luồng ánh sáng.

Trong kí ức của Liên, Hà Nội là “một vùng sáng rực lấp lánh” “Hà Nội nhiều đènquá”, “Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”, cái ánh “sáng rực vui vẻ và huyên náo” ấy nó

là thế giới của một cuộc sống giàu sang, khác hẳn hoàn toàn với cuộc sống hiện thực nghèokhổ, tối tăm mà Liên đang sống Và còn tất cả những con người khác: Chị Tí, bác Siêu, dù

bị bóng tối của cuộc sống tù đọng vây quanh nhưng họ vẫn thắp lên quanh mình nhữngluồng ánh sáng, dù chúng thật yếu ớt, nhỏ nhoi nhưng chỉ cần từng ấy thôi cũng đủ cho tathấy được những con người nơi đây đều ham ánh sáng Họ thắp lên những ngọn lửa quanhmình phải chăng chính là thắp lên những khao khát, ước mơ để cùng nhau ngồi trong bóngtối mong đợi “một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày” Ước mơ, mong đợi

đó của họ thật mơ hồ, xa xăm và không biết bao giờ mới đến nhưng nó đã khẳng định dùtrong hoàn cảnh nào, con người vẫn không thôi ước mơ về những điều tốt đẹp Cảnh chị emLiên (cùng những người dân phố huyện) cố thức để được nhìn thấy, nghe thấy chuyến tàuđêm chạy qua càng khẳng định rõ hơn điều đó

Chuyến tàu được miêu tả trong tác phẩm là “hoạt động cuối cùng của đêm khuya”, nóxuất phát từ Hà Nội và chạy qua phố huyện hàng đêm Chị em Liên (cùng những người dânphố huyện) cố thức chờ đợi nó không phải là để cố bán thêm được ít hàng vì Liên biết dù khiđoàn tàu đến thì cũng “không trông mong còn ai đến mua nữa Với lại, đêm họ chỉ mua baodiêm hay bao thuốc lá là cùng”, chị em Liên cố thức đợi tàu là vì cớ khác, là vì muốn đượcsống trong cái thế giới đầy ánh sáng và âm thanh mà đoàn tầu mang tới để có thể thoát khỏi(dù chỉ trong chốc lát) cuộc sống nghèo nàn, tối tăm, lay lắt nơi đây, để được sống trong thếgiới của sự sống giàu sang, hoa lệ

Vấn đề 03: Bóng tối của thiên nhiên, bóng tối của cuộc đời trong bức tranh phố huyện nghèo và niềm khát khao về một cuộc sống tốt đẹp hơn của nhưng người dân nghèo phố huyện.

1,Bức tranh phố huyện nghèo trong đêm tối của thiên nhiên và bóng tối của cuộc đời a,Bóng tối của thiên nhiên bao phủ và ngự trị lên phố huyện nghèo.

-Bức tranh phố huyện trong Hai đứa trẻ hiện lên đầy ấn tượng với nhiều ám ảnh day dứt.Trong bức tranh đó, không phải không có những nét đẹp thơ mộng, êm ả của một buổi chiềuquê gần gũi, quen thuộc ( ) Nhưng nổi lên và bao trùm tất cả vẫn là cảnh tàn lụi, hiu hắt,buồn lặng trong “cái giờ khắc của ngày tàn” Thời gian, không gian, ánh sáng, âm thanh đềuđang lầm lũi đi vào bóng tối Bóng tối đang nhấn chìm dần ánh mặt trời trong cơn hấp hối,bóng tối làm cho “dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”, bóng tốilàm cho “đường mấp mô thêm” và “những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối”, bóng tốitrải rộng dần theo bước đi của thời gian dưới tiếng gọi của tiếng trống thu và của dàn nhạcếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng Được lặp đi, lặp lại nhiều lần (không dưới ba mươi lần)trong tác phẩm, hình ảnh bóng tối đã trở thành một hình tượng nghệ thuật đầy ấn tượng, hàmchứa ý nghĩa sâu sắc Có thể nói, ít có tác phẩm nào hình ảnh đêm tối lại được miêu tả đậmđặc, trở đi trở lại, như một ám ảnh không dứt trong truyện ngắn này Tác phẩm được mởđầu bằng dấu hiệu của một ngày tàn và kết thúc bằng một “đêm tĩnh mịch và đầy bóng tối”,

ở trong đó, màu đen, bóng tối bao trùm ngự trị tất cả: đường phố và các con ngõ dần dần

Trang 24

chứa đầy bóng tối, “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, cácngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”; một tiếng trống cầm canh ở huyện đánh tung lênmột tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa, rồi cũng chìm ngay vào bóng tối; ngay cảđoàn tàu từ Hà Nội mang theo cả một thế giới của ánh sáng và âm thanh thì cũng chỉ lướtqua trong phút chốc rồi cũng đi vào đêm tối tất cả đều chìm vào trong đêm tối mênh mông,dày đặc Đó đâu phải chỉ là đêm tối của thiên nhiên, của không gian và thời gian mà còn làbóng tối của cuộc đời, của những kiếp người nơi phố huyện.

b,Bóng tối của cuộc đời trùm lên những con người nhỏ bé, tội nghiệp.

Trong cái bóng tối dày đặc bao phủ kín mít cả cái phố huyện nghèo nàn ấy là những conngười sống trong tăm tối Họ lặng lẽ, âm thầm như những cái bóng giữa màn đêm Đó làhình ảnh của những kiếp người tàn (bên cạnh một ngày tàn, một phiên chợ tàn và các đồ vậttồi tàn), những cuộc đời nhỏ bé, tội nghiệp trong xã hội cũ Vậy họ là những ai?

+Đó là mẹ con chị Tí, những con người điển hình cho cuộc sống ngoi ngóp, quẩn quanh, laylắt của phố huyện này Ngày mò cua bắt tép, tối đến lại ra sân ga bày hàng bán nước Cáiđáng sợ là vẫn biết bán không được gì mà vẫn cứ phải đi Đó đâu phải là sự sống thực sự màchỉ là sự cầm cự, cầm chừng trong vô vọng mà thôi Cách chị trả lời câu hỏi của Liên:không trực tiếp trả lời ngay mà còn làm thêm để chõng xuống đất, bày biện các bát uốngnước mãi rồi mới chép miệng: “Ối chao, sớm muộn mà có ăn thua gì” đã cho ta thấy nhịpsống chập chạp, lẩn quẩn của mẹ con chị Tí Cuộc đời của mẹ con chị thu lại trên cái chõnghàng nước tồi tàn với ngọn đèn con giữa màn đêm dày đặc, mênh mông của phố huyện.+Đó là bác phở Siêu Bác phở Siêu lưng vốn có vẻ khá hơn nhưng nguy cơ lại lớn hơn bởiphở của Bác là “một thứ quà xa xỉ”, ở cái đất nghèo này liệu có mấy người có đủ tiền ăn khi

mà ngay cả chị em Liên, đời sống có vẻ khá hơn, cũng chỉ dám nhìn mà mơ ước?

+Đó là vợ chồng bác xẩm với manh chiếu rách tồi tàn, với cái thau trắng để trước mặt, gópchuyện bằng mấy tiếng đàn bầu ế ẩm bật lên trong đêm yên lặng Thằng con nhỏ thì “bò rađất, ngoài manh chiếu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường”

+Và trong đám cư dân ấy, dễ sợ nhất là bà cụ Thi, một bà cụ già “hơi điên” lại nghiện rượuvới tiếng cười khanh khách, ghê sợ, với cái dáng hình lảo đảo đi lần vào bóng tối Cụ là “cáisản phẩm nhỡn tiền của cuộc sống mòn mỏi ở cái phố huyện này” (Chu Văn Sơn) và mặc dùchỉ xuất hiện trong mấy dòng truyện ít ỏi nhưng con người ấy đã ám ảnh người đọc, thứcdậy trong ta lòng trắc ẩn chân thành

+Ở vị trí tiền cảnh của bức tranh đời sống buồn thảm, tối tăm ấy là hình bóng của chị emLiên Hai đứa trẻ xuất hiện âm thầm bên cái “cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu” (mẹ Liên thuê từkhi cả gia đình dọn từ Hà Nội về đây vì thầy Liên mất việc) mà khách hàng là những ngườikhốn khổ có khi không đủ tiền mua nổi một bánh xà phòng hoặc chỉ đủ tiền cho cút rượunhỏ “uống một hơi cạn sạch” Liên xót xa cho những kiếp người lay lắt nhưng cuộc sống củaLiên cũng cầm chừng không kém Nỗi khổ của Liên có lẽ còn cao hơn nỗi khổ vật chất củanhững người khác, đó là bi kịch tinh thần bởi họ khổ mà không biết mình khổ còn Liên đãthực sự thấm thía cảnh sống tẻ nhạt tù hãm và đơn độc hết ngày này sang ngày khác Hằngngày phải sống trong cái bóng tối dày đặc của phố huyện, của những kiếp người nghèo khổ,

tâm hồn Liên luôn thấm đẫm một nỗi buồn, và không biết tự bao giờ “đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không còn sựo nó nữa” “Không sợ nó nữa” nghĩa là đã từng sợ Chỉ mấy từ

“Không sợ nó nữa” mà gợi cho ta bao liên tưởng, bao nỗi xót xa! Sống mãi trong bóng tốirồi cũng thành quen, cũng như khổ mãi người ta cũng quen dần với nỗi khổ Có một cái gìthật tội nghiệp, cam chịu qua hai từ “quen lắm” được TL dùng Tuổi thơ của Liên và tâmhồn ngây thơ, non trẻ của cô bé đã bị vùi sâu trong bóng tối của cuộc đời đến mức thànhchai sạn

Trang 25

Mỗi người, mỗi cảnh đời, mỗi số phận, nhưng đều là những con người nhỏ bé, tội nghiệp, aicũng sống âm thầm, nhẫn nhục, lam lũ, giống như những cái bóng lầm lũi, lặng lẽ trong cáibóng tối bao trùm và ngự trị tất cả phố huyện Họ đang sống nhưng là sống một cuộc sống lêvào bóng tối Cuộc sống đó không chỉ có sự nghèo đói, tội nghiệp, đáng thương mà nó còn

là một cuộc sống tẻ nhạt, quẩn quanh, không tương lai, không lối thoát Cảnh phố huyệnchiều tối hôm nay cũng giống như hôm qua và sẽ lặp lại trong ngày mai Nhịp sống củanhững người dân nghèo nơi phố huyện này ngày nào cũng như ngày nào lặp đi, lặp lại mộtcách đơn điệu, buồn tẻ: chiều nào chị Tí cũng dọn hàng “từ chập tối cho đến đêm”, tối nàobác Siêu bán phở cũng nhóm lửa, gia đình bác xẩm cũng chờ khách, người nhà cụ thừa, cụlục cũng đi gọi người đánh tổ tôm, chị em Liên cũng “ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc câybàng” và ngày nào cũng vậy “cứ chập tối, mẹ Liên lại tạt ra thăm hàng một lần”, Như vậy,

“chừng ấy con người trong bóng tối” ngày này qua ngày khác sống quẩn quanh, tù túngtrong cái “ao đời bằng phẳng” (Xuân Diệu) Hình ảnh những con người này khiến ta nhớ đếncuộc sống đơn điệu, nhạt nhẽo “cơm mai rồi lại cơm chiều, rút cục mỗi ngày hai bữa cơm”

của cô Quỳnh, cô Giao trong tác phẩm Toả nhị kiều của Xuân Diệu, nhớ đến những câu thơ của Huy Cận trong tác phẩm Quẩn quanh: “Quẩn quanh mãi với vài ba dáng điệu, - Tới hay

lui cũng ngần ấy mặt người - Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười, - Môi nhắc lại cũng ngần

ấy chuyện”

2, Ước mơ khao khát một cuộc sống tốt đẹp hơn, có ý nghĩa hơn.

Thật đáng thương cho những con người phải sống một cuộc sống lay lắt, ảm đạm, nơi “bùnlầy, nước đọng” Những thân phận, những con người nhỏ bé ấy đang sống lay lắt, nghèokhổ, đang héo mòn nơi phố huyện tối tăm Họ đang sống cuộc sống của những kiếp ngườitàn tạ nhưng không mất đi hi vọng và niềm tin vào cuộc sống Trong bóng tối mênh mông,dưới sự bủa vây của cuộc sống, nghèo nàn, không lối thoát, họ vẫn ước mơ, vẫn mong đợi

“một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày” Dù ước mơ, mong đợi đó của họthật mơ hồ, xa xăm, không biết bao giờ mới đến nhưng nó đã khẳng định dù trong hoàn cảnhnào, con người vẫn không thôi ước mơ về những điều tốt đẹp Và cái mơ ước thật bình dịnhưng cũng thật cao quý, đáng trân trọng đó của họ được TL gửi gắm kín đáo vào những suynghĩ, việc làm, hành động và mơ ước của Liên

Như chúng ta vừa nói ở trên hằng ngày phải sống trong cái bóng tối dày đặc của phố huyện,của những kiếp người nghèo khổ, tâm hồn Liên luôn thấm đẫm một nỗi buồn, và không biết

tự bao giờ “đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không còn sựo nó nữa” nhưng Liên “quen

lắm” với bóng tối không có nghĩa là cô hoàn toàn cam chịu sống trong cái bóng tối ấy suốt

cả cuộc đời Sống mãi trong bóng tối, Liên càng khao khát hướng về ánh sáng, cô theo dõi,tìm kiếm ánh sáng từ mọi phía: từ “ngàn sao lấp lánh trên trời” đến “từng hột sáng lọt quaphên nứa”, Liên rung động trước cái ánh sáng xanh nhỏ li ti lẫn trên kẽ lá của những conđom đóm, rồi mơ tưởng đến ánh sáng của quá khứ, của những kỉ niệm về “Hà Nội xa xăm,

Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo” đã lùi xa tít tắp Để rồi cuối cùng bùng lên thành niềmkhao khát mãnh liệt như là một nhu cầu bức thiết về tình thần không thể thiếu được: đêmđêm thức đợi chuyến tàu đêm đi qua phố huyện Chuyến tàu đêm đi qua phố huyện làchuyến tàu xuất phát từ Hà Nội chạy qua phố huyện hàng đêm đem theo một thế giới củaánh sáng và âm thanh với “các toa đèn sáng trưng”, “đồng và kền lấp lánh”, “cửa kính sáng”.Đêm đêm Liên và em (cùng với nhiều người dân nghèo phố phuyện) thức để đợi tàu là đểđược trong chốc lát, thoát ra khỏi cuộc sống buồn chán, nghèo nàn, tối tăm, bế tắc, quẩnquanh nơi phố huyện, để được sống với một cuộc sống khác hẳn, một cuộc sống nhộn nhịp,huyên náo và đầy ánh sáng biểu trưng cho sự sung túc, giàu sang Ta hiểu vì sao đêm nàoLiên cùng em cùng thức để đợi chuyến tàu đi qua trong niềm háo hức và nuối tiếc khi nó xa

Ngày đăng: 06/12/2015, 01:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w