1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Ứng dụng của luật so sánh trong xây dựng luật sở hữu trí tuệ năm 2005

18 352 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 189,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ Luật so sánh được công nhận là công cụ đắc lực trợ giúp cho hoạt động lập pháp và sửa đổi pháp luật, giải thích

Trang 1

Ứng dụng của luật so sánh trong xây dựng luật sở hữu trí tuệ năm 2005

1 Lý do ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ

Luật so sánh được công nhận là công cụ đắc lực trợ giúp cho hoạt động lập pháp

và sửa đổi pháp luật, giải thích pháp luật, hiểu các quy định pháp luật và hỗ trợ cho sự thống nhất, hài hoà hoá pháp luật[1] Trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 của nước ta (sau đây gọi là Luật sở hữu trí tuệ)[2], Luật so sánh cũng đã chứng tỏ vai trò đặc biệt quan trọng của nó Việc thông qua Bộ luật dân sự (Bộ luật dân sự sửa đổi)[3] và Luật sở hữu trí tuệ trong năm 2005 đã đánh dấu thành công trong hoạt động đổi mới hệ thống pháp luật, thể hiện thành công của tiến trình hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ nước ta Trong bài viết này, tác giả bàn về vấn đề ứng dụng của Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ bằng việc giải quyết ba câu hỏi: Tại sao phải ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ? Luật so sánh được ứng dụng như thế nào trong

Trang 2

quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ? Việc ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ đem lại những kết quả ra sao?

Cho đến nay, còn nhiều ý kiến khác nhau về Luật so sánh, tuy nhiên, cho dù Luật

so sánh là một môn khoa học hàn lâm hay một phương pháp nghiên cứu, mọi người đều thừa nhận rằng Luật so sánh có tính ứng dụng rất cao, bao gồm ứng dụng trong hoạt động lập pháp[4] Việc ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ xuất phát từ những lý do sau đây:

- Xuất phát từ đặc trưng của pháp luật trí tuệ

Pháp luật sở hữu trí tuệ điều chỉnh các quan hệ liên quan đến tài sản trí tuệ với đặc tính vô hình, lan toả, dễ dàng vượt qua biên giới quốc gia Chính điều này làm cho pháp luật sở hữu trí tuệ mang đậm tính chất quốc tế hơn so với nhiều lĩnh vực pháp luật khác Để bảo hộ quyền sở hữu trí tụê, đòi hỏi pháp luật của mỗi quốc gia phải tương thích với các điều ước quốc tế và pháp luật của các quốc gia khác Bởi vậy, khi xây dựng hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung, Luật sở hữu trí tuệ nói riêng, việc ứng dụng Luật so sánh là không thể tránh khỏi nhằm làm cho pháp luật sở hữu trí tuệ của nước ta đạt được sự hài hoà với pháp luật quốc tế

- Xuất phát từ yêu cầu đặt ra khi xây dựng Luật sở hữu trí tuệ

Hiện nay, các tài sản hữu hình ngày càng cạn kiệt, “mặc dù tài sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu chuẩn so sánh tình trạng kinh tế, điều

Trang 3

này không còn đúng nữa Động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội đương thời là tài sản dựa trên tri thức”[5] Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, cùng với những tài sản hữu hình, tài sản trí tuệ cũng được luân chuyển mạnh mẽ và liên tục giữa các quốc gia, giữa các vùng lãnh thổ Chính vì vậy, bên cạnh vai trò truyền thống[6], pháp luật sở hữu trí tuệ còn có vai trò rất quan trọng trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, bảo vệ lợi ích quốc gia và thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế về văn hoá, kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài[7] Để thực hiện được những vai trò mới này, đòi hỏi Luật sở hữu trí tuệ được ban hành phải hoàn thiện hơn những quy định pháp luật sở hữu trí tuệ trước đây; tương thích với pháp luật của các quốc gia khác; đồng thời phù hợp với điều kiện của Việt Nam[8]

Để đáp ứng được những yêu cầu đặt ra khi xây dựng Luật sở hữu trí tuệ, chúng ta không thể không ứng dụng Luật so sánh Bởi vì, ứng dụng Luật so sánh cung cấp cho chúng ta hiểu biết tốt hơn về các điều ước quốc tế sở hữu trí tuệ cũng như pháp luật sở hữu trí tuệ của các quốc gia khác; giúp chúng ta thấy được những điểm giống nhau và khác nhau giữa pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành của nước ta với các điều ước quốc tế sở hữu trí tuệ và pháp luật sở hữu trí tuệ của các quốc gia khác Trên cơ sở đó, chúng ta xây dựng Luật sở hữu trí tuệ sao cho tương thích với các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ và pháp luật sở hữu trí tuệ của các quốc gia khác Nói cách khác, ứng dụng Luật so sánh giúp chúng ta thực hiện hiệu quả tiến trình hài hoà hoá, thống nhất hoá pháp luật sở hữu trí tuệ– một tiến trình đầy khó

Trang 4

khăn do những khác biệt của các hệ thống pháp luật khác nhau; do thiếu hiểu biết của cá nhân, tổ chức thuộc hệ thống pháp luật này về các hệ thống pháp luật khác[9]

Hơn nữa, ứng dụng Luật so sánh còn giúp chúng ta loại bỏ những hạn chế của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành, học hỏi ưu điểm của các hệ thống pháp luật khác để đưa vào Luật sở hữu trí tuệ Như vậy, ứng dụng Luật so sánh có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng và đổi mới pháp luật pháp luật sở hữu trí tuệ nước

ta

2 Ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ

Quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ nói chung và ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ nói riêng, có sự tham gia của nhiều tổ chức,

cá nhân khác nhau Trong đó, đặc biệt phải kể đến các chuyên gia pháp luật, những cán bộ chuyên môn về sở hữu trí tuệ của Quốc hội, Văn phòng Chính Phủ, Cục Bản quyền Tác giả Văn học-Nghệ thuật (Bộ Văn hoá-Thông tin), Cục sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học-Công nghệ), các Công ty/Văn phòng Luật, Công ty/Văn phòng tư vấn sở hữu trí tuệ, và các trường đại học Bên cạnh các tổ chức, cá nhân trong nước, hoạt động so sánh luật trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ còn có sự tham gia nhiệt tình, hiệu quả của các tổ chức, cá nhân nước ngoài Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã cử chuyên gia tư vấn xây dựng Luật sở hữu trí tuệ; Cộng đồng Châu Âu, Dự án STAR Việt Nam, Dự án SPC đã cử chuyên gia

Trang 5

(đồng thời cung cấp tài chính) và tổ chức hội thảo về dự thảo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tổ chức hội thảo tại Hoa Kỳ và khu vực Châu Á để bình luận và tham gia ý kiến đối với dự thảo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Liên đoàn Quốc tế các nhà soạn nhạc và soạn lời (CISAC), Liên đoàn Quốc

tế các tổ chức quản lý tập thể quyền ghi âm (IFPI) cũng gửi ý kiến đóng góp cho

dự thảo Một số doanh nghiệp, trong đó có Microsoft đã chuyên gia cùng Việt Nam tổ chức toạ đàm về Luật sở hữu trí tuệ, tập trung vào các quy định liên quan đến chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu

Trong những hoạt động này, chúng ta không chỉ đơn thuần xem xét, nghiên cứu luật nước ngoài mà thực chất chúng ta đã so sánh pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam với pháp luật sở hữu trí tuệ nước ngoài để hoàn thiện hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ nước ta, làm cho pháp luật sở hữu trí tuệ nước ta tương thích hơn với pháp luật sở hữu trí tuệ trên thế giới

Không như hoạt động so sánh luật đơn thuần (chẳng hạn so sánh pháp luật trong nước và pháp luật nước ngoài về một vấn đề nhất định để chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau), ứng dụng Luật so sánh trong hoạt động lập pháp đòi hỏi chủ thể ứng dụng cần phải có kiến thức trong lĩnh vực pháp luật đó Đương nhiên, nếu chủ thể ứng dụng Luật so sánh đồng thời có kiến thức sâu sắc về Luật so sánh và lĩnh vực pháp luật cần xây dựng sẽ làm cho hiệu quả ứng dụng Luật so sánh cao hơn rất nhiều Ở nước ta, hoạt động so sánh luật hay sử dụng phương pháp so sánh trong nghiên cứu luật, giảng dạy luật, xây dựng luật diễn ra từ lâu, tuy nhiên,

Trang 6

những người hiểu biết thực sự về Luật so sánh lại không nhiều Điều này cũng xảy

ra đối với hoạt động ứng dụng Luật so sánh trong xây dựng Luật sở hữu trí tuệ Trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ, việc ứng dụng luật so sánh chủ yếu

do các chuyên gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tiến hành mà thiếu sự tham gia của những chuyên gia pháp luật so sánh hoặc thiếu các chuyên gia đồng thời có kiến thức pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật so sánh

Trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ, Luật so sánh được ứng dụng để xem xét giữa: một bên là toàn bộ các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ đã ban hành của nước ta và bên kia là các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ và pháp luật sở hữu trí tuệ của các quốc gia Việc so sánh nhằm xây dựng Luật sở hữu tuệ sao cho Luật này đáp ứng được những đòi hỏi đặt ra khi xây dựng Luật

Toàn bộ các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ đã ban hành bao gồm tất cả các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng trong Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như những văn bản hướng dẫn thi hành (đây là những quy định trực tiếp về sở hữu trí tuệ) và những quy định pháp luật có liên quan khác (ví dụ: Luật thương mại, Luật doanh nghiệp…)

Xuất phát từ đặc tính vô hình của tài sản trí tuệ, các quốc gia sớm hợp tác với nhau

để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Cũng chính vì vậy, các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ ra đời rất sớm[10] và trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có nhiều điều ước quốc tế

Trang 7

điều chỉnh Các điều ước quốc tế, do đó, là nguồn không thể thiếu khi so sánh trong hoạt động xây dựng pháp luật sở hữu trí tuệ Bên cạnh các Công ước quốc

tế, cũng phải kể đến các hiệp định song phương về sở hữu trí tuệ đã được Việt Nam ký kết với các nước khác Trong quá trình nghiên cứu xây dựng Luật sở hữu trí tuệ, Ban soạn thảo đã tổ chức nghiên cứu, tham khảo, so sánh với luật mẫu của

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO); các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đã và sẽ là thành viên (như: Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, năm 1883; Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, năm 1886; Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu hàng hoá, năm 1891; Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng (UPOV), năm 1961; Hiệp ước

về hợp tác sáng chế (PCT), năm 1970; Công ước Brussels về việc phổ biến các tín hiệu mang chương trình được truyền qua vệ tinh, năm 1974; Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs), năm 1995…); và các hiệp định song phương về quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định song phương giữa Việt Nam-Hoa

Kỳ, Việt Nam-Thuỵ Sĩ)

Mặc dù sử dụng nhiều điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ, tuy nhiên, pháp luật của các quốc gia là nguồn không thể thiếu được khi ứng dụng Luật so sánh trong xây dựng Luật sở hữu trí tuệ Bởi vì, các điều ước quốc tế chỉ bao gồm những quy định mang tính nguyên tắc và dành quyền quy định cụ thể cho các quốc gia thành viên Dựa trên những nguyên tắc chung, mỗi quốc gia có quy định quy thể cho phù hợp với điều kiện của mình Nguồn luật mà chúng ta đã sử dụng cho các nghiên cứu so

Trang 8

sánh khi xây dựng Luật sở hữu trí tuệ là luật của nhiều quốc gia khác nhau, thuộc các truyền thống pháp luật khác nhau Trong đó, có những quốc gia hệ mà thống pháp luật sở hữu trí tuệ được hình thành từ lâu đời cũng như bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ (Ví dụ: Mỹ, Nhật, Pháp…) và những quốc gia có điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá tương tự với Việt Nam (Ví dụ: Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan…)

Bên cạnh việc sử dụng luật thực định, Ban soạn thảo Luật sở hữu trí tuệ còn quan tâm đến truyền thống pháp lý, văn hoá pháp lý, điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia có nguồn luật được so sánh với ý nghĩa đây là những yếu tố không thể tách rời trong hoạt động so sánh luật Hơn nữa, có như vậy mới thực sự làm cho Luật sở hữu trí tuệ mới được tạo ra vừa tương thích với pháp luật thế giới, vừa phù hợp với điều kiện của nước ta

Trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ, nhiều phương pháp so sánh khác nhau đã được sử dụng[11] Cụ thể, các nhà làm luật đã mô tả các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ trong các điều ước quốc tế, pháp luật của các quốc gia và pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Sau đó, phân tích, đánh giá, đối chiếu quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam với những quy định pháp luật sở hữu trí tuệ trong các điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài Trên cơ sở đó, chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam với các điều ước quốc tế

về sở hữu trí tuệ và pháp luật sở hữu trí tụê của các quốc gia khác; chỉ ra những điểm hợp lý cũng như bất hợp lý của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và của

Trang 9

pháp luật sở hữu trí tuệ của quốc gia khác; giải thích những điểm giống nhau, khác nhau trên cơ sở xem xét các yếu tố liên quan như truyền thống pháp luật, văn hoá pháp lý, điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội Cuối cùng, xem xét mục đích, yêu cầu xây dựng Luật hữu trí tuệ, yêu cầu đối với từng chế định, từng điều luật, đồng thời xem xét điều kiện cụ thể của Việt Nam để đưa ra quy định pháp luật sở hữu trí tuệ cho phù hợp Điều này cho thấy rằng: ứng dụng Luật so sánh trong hoạt động xây dựng Luật sở hữu trí tuệ nói riêng không đơn thuần là hoạt động tham khảo pháp luật nước ngoài hay học hỏi kinh nghiệm từ nước ngoài

Trong thực tiễn xây dựng Luật sở hữu trí tuệ, Luật so sánh đã được ứng dụng khi xác định hình thức của Luật này (xây dựng Bộ luật sở hữu trí tuệ hay Luật sở hữu trí tuệ), phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật và trong qúa trình xây dựng các chế định, các điều luật cụ thể của Luật Sau đây là một số dẫn chứng cụ thể:

Theo quy định của pháp luật Việt Nam[12]: tác giả, chủ sở hữu tác phẩm có quyền nhân thân và quyền tài sản Quyền của các chủ thể này khác nhau trong từng trường hợp cụ thể: tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm (Điều 751-Bộ luật dân

sự năm 1995); tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm (Điều 752-Bộ luật dân sự năm 1995); chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả (Điều 753-Bộ luật dân sự năm 1995) Tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có đầy đủ mọi quyền tài sản và quyền nhân thân đối với tác phẩm Cụ thể, quyền nhân thân bao gồm: quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác

Trang 10

phẩm; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm (các nhà khoa học pháp lý gọi ba quyền nhân thân đầu tiên này là quyền nhân thân không gắn với tài sản hay quyền nhân thân không thể chuyển giao); quyền công bố, phổ biến tác phẩm; quyền cho người khác sử dụng tác phẩm (các nhà khoa học pháp lý gọi hai quyền nhân thân này là quyền nhân thân gắn với tài sản hay quyền nhân thân có thể chuyển giao) Các quyền tài sản bao gồm: quyền hưởng nhuận bút; quyền hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng; quyền được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới một số hình thức nhất định; quyền nhận giải thưởng khi tác phẩm được giải Còn tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm và chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả có các quyền không đầy đủ, nếu tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có quyền nào đó thì chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả không có quyền này và ngược lại Trong khi đó, Công ước Berne năm 1883 và pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định hai loại quyền tác giả là quyền tinh thần và quyền kinh tế Quyền tinh thần gồm: quyền đứng tên tác giả của tác phẩm và quyền phản đối bất kỳ sự cắt xén, bóp méo hoặc sửa đổi tác phẩm, hoặc các hành vi xúc phạm khác liên quan đến tác phẩm

mà có thể phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả (Điều 6bis Công ước Berne) Quyền kinh tế bao gồm một số quyền sau đây: quyền dịch thuật, quyền thực hiện phóng tác và chuyển thể tác phẩm; quyền trình diễn công cộng tác phẩm kịch, nhạc kịch, âm nhạc, quyền trần thuật công cộng tác phẩm văn học, quyền truyền thông công cộng trình diễn các tác phẩm; quyền phát sóng; quyền làm bản

Ngày đăng: 05/12/2015, 23:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w