1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

triết học cổ điển đức thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX

4 341 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 301,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Can-tơ, Hê-ghen, Phơ-bách là những đại biểu lớn của triết học cổ điển Đức đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển triết học vào cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX góp phần làm c

Trang 1

- Triết học cổ điển Đức ra đời và phát triển trong những điều kiện của chế

độ chuyên chế nhà nước Phổ và nó cũng là sự bảo vệ về mặt tư tưởng cho chế

độ đó Thời kỳ cuối thế kỷ XVIII cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) ảnh hưởng mạnh đến nước Phổ Đồng thời xã hội Phổ lúc này với những điều kiện kinh tế

xã hội đặc biệt đã làm nảy sinh hệ tư tưởng có tính chất tiểu tư sản, thỏa hiệp Tất cả cái đó tạo nên nét riêng của triết học cổ điển Đức

- Đặc trưng những học thuyết duy tâm của triết học cổ điển Đức là khôi

phục lại truyền thống phép biện chứng; bước chuyển từ chủ nghĩa duy tâm chủ quan, tiên nghiệm của Can-tơ đến chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hê-ghen; phê phán phép siêu hình truyền thống “lý tính”; chú ý đến vấn đề triết học lịch

sử

Can-tơ, Hê-ghen, Phơ-bách là những đại biểu lớn của triết học cổ điển Đức đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển triết học vào cuối thế kỷ XVIII

và nửa đầu thế kỷ XIX góp phần làm cho triết học cổ điển Đức trở thành một tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác

- Can-tơ (1724 - 1804) Nét nổi bật trong triết học của Can-tơ là đã trình

bày những quan niệm biện chứng của mình về giới tự nhiên Triết học Can-tơ là triết học nhị nguyên, một mặt ông thừa nhận sự tồn tại của thế giới các “vật trưng” ở bên ngoài con người Thế giới đó có thể tác động tới các giác quan của chúng ta Ở điểm này, Can-tơ là nhà duy vật Nhưng mặt khác, trong lĩnh vực nhận thức luận, Can-tơ là người theo thuyết “không thể biết” (mặc dù có khác với thuyết “không thể biết” của Hi-um) Nhận thức luận của Can-tơ có tính chất duy tâm là sự phản ứng đối với chủ nghĩa duy vật Pháp, là sự khôi phục thượng

đế Ông nói rằng, trong nhận thức cần hạn chế phạm vi của lý tính để dành cho đức tin

Trang 2

- Tính chất duy tâm trong triết học của Can-tơ còn thể hiện ở chỗ ông coi

không gian, thời gian, tính nhân quả cũng như các quy luật của giới tự nhiên không phải là những cái thuộc bản thân giới tự nhiên, mà là sản phẩm của lý trí tiên nghiệm, có trước kinh nghiệm

- Khi nhận xét về tính không nhất quán mâu thuẫn trong triết học của

Can-tơ, Lê-nin đă nói rằng, triết học đó là sự dung hòa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, thiết lập sự thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đó, kết hợp hai khuynh hướng triết học khác nhau và đối lập nhau trong một hệ thống duy nhất

- Hê ghen (1770 - 1831) - nhà biện chứng, đồng thời là nhà triết học duy tâm khách quan

Triết học của ông đầy mâu thuẫn Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển, thì hệ thống triết học duy tâm của ông phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong, vốn có của sự phát triển của tự nhiên

và xã hội Ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới” Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của

sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Cho nên, triết học của Hê-ghen là sự biện hộ cho tôn giáo

- Hê-ghen đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu tiên trình bày

toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Đồng thời trong khuôn khổ của hệ thống triết học duy tâm của mình Hê-ghen không chỉ trình bày các phạm trù như chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn mà còn nói đến cả các quy luật như “lượng đổi dẫn đến chất đổi” và ngược lại; “phủ định của phủ định”, và quy luật mâu thuẫn Nhưng tất cả những cái đó chỉ là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối Trong hệ thống triết học của Hê-ghen, không phải ý thức, tư tưởng phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của tự nhiên

và xã hội, mà ngược lại, tự nhiên, xã hội phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối

- Trong các quan điểm xã hội, Hê-ghen đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa sô-vanh, đề cao

dân tộc Đức, miệt thị các dân tộc khác, coi nước Đức là “hiện thân của tinh thần vũ trụ mới” Chế độ nhà nước Phổ đương thời được Hê-ghen xem nó như đỉnh cao của sự phát triển nhà nước và pháp luật

- Hệ thống triết học của Hê-ghen (gồm ba bộ phận chính: lô-gíc học, triết học về tự nhiên,

triết học về tinh thần) là một hệ thống duy tâm, mà thực chất của nó như Lê-nin đánh giá “là ở

Trang 3

chỗ lấy cái tâm lý làm điểm xuất phát, từ cái tâm lý suy ra giới tự nhiên” Hệ thống triết học duy tâm đó cùng với các quan điểm chính trị phản động của Hê-ghen đã được các nhà lý luận

tư sản kế thừa và phát triển dưới các hình thức khác nhau Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chủ nghĩa Hê-ghen mới đã trở thành xu thế điển hình của triết học tư sản và là một bộ phận của hệ tư tưởng phát xít

- Tuy nhiên, phép biện chứng của Hê-ghen đã mâu thuẫn với hệ thống triết học duy tâm của

ông và trở thành một trong những nguồn gốc lý luận của triết học mác xít

- Lút-vích Phơ-bách (1804 - 1872) - nhà duy vật chủ nghĩa kiệt xuất thời kỳ trước Mác, đại

biểu nổi tiếng của triết học cổ điển Đức, nhà tư tưởng của giai cấp tư sản dân chủ Đức

- Phơ-bách đã có công lớn trong việc phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hê-ghen cũng như chủ

nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung, khôi phục vị trí xứng đáng của triết học duy vật

- Khi chống lại luận điểm duy tâm của Hê-ghen coi giới tự nhiên là “tồn tại khác” của tinh

thần, Phơ-bách đã chứng minh thế giới là vật chất, giới tự nhiên tồn tại ngoài con người không phụ thuộc vào ý thức con người, là cơ sở sinh sống của con người Giới tự nhiên không

do ai sáng tạo ra, nó tồn tại, vận động nhờ những cơ sở bên trong nó

- Triết học của Phơ-bách mang tính chất nhân bản Nó chống lại nhị nguyên luận về sự tách

rời giữa tinh thần và thể xác, ông coi ý thức tinh thần cũng là một thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao là óc người Từ đó cho phép khẳng định mối quan hệ khăng khít giữa tồn tại và tư duy

- Phơ-bách không chỉ chống lại chủ nghĩa duy tâm, mà với triết học nhân bản của mình ông

còn đấu tranh chống những quan điểm duy vật tầm thường quy các hiện tượng tâm lý, tinh thần về các quá trình lý hóa, không thấy sự khác nhau về chất giữa chúng

- Mặt tích cực trong triết học nhân bản của Phơ-bách còn thể hiện ở chỗ ông đấu tranh chống

các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo Thiên chúa, đặc biệt quan niệm về thượng đế Trái với các quan niệm truyền thống của tôn giáo và thần học cho rằng thượng đế tạo ra con người, ông khẳng định, chính con người sáng tạo ra thượng đế Khác với Hê-ghen nói đến sự tha hóa của ý niệm tuyệt đối, Phơ-bách nói đến sự tha hóa của bản chất con người vào thượng

đế Ông lập luận rằng, bản chất tự nhiên của con người là muốn hướng tới cái chân, cái thiện, nghĩa là hướng tới những cái gì đẹp nhất trong một hình tượng đẹp nhất về con người, nhưng trong thực tế những cái đó con người không đạt được nên đã gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào hình tượng thượng đế, từ đó Phơ-bách phủ nhận mọi thứ tôn giáo và thần học về một vị thượng đế siêu nhiên đứng ngoài sáng tạo ra con người chi phối cuộc sống con người

- Triết học của Phơ-bách cũng bộc lộ những hạn chế Khi ông đòi hỏi triết học mới - triết học

nhân bản, phải gắn liền với tự nhiên thì đồng thời đã đứng luôn trên lập trường của chủ nghĩa

Trang 4

tự nhiên để xem xét mọi hiện tượng thuộc về con người và xã hội Con người trong quan niệm của Phơ bách là con người trừu tượng, khi xã hội mang những thuộc tính sinh học bẩm sinh Triết học nhân bản của Phơ-bách chứa đựng những yếu tố của chủ nghĩa duy tâm Ông cho rằng bản tính con người là tình yêu, tôn giáo cũng là một tình yêu Do vậy, thay thế cho thứ tôn giáo tôn sùng một vị thượng đế siêu nhiên cần xây dựng một thứ tôn giáo mới phù hợp với tình yêu của con người Ông cho rằng cần phải biến tình yêu thương giữa con người thành mối quan hệ chi phối mọi mối quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội Trong điều kiện của xã hội tư sản Đức thời đó, với sự phân chia và đối lập giai cấp thì chủ nghĩa nhân đạo của Phơ-bách về tình yêu thương giữa con người trở thành chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng, duy tâm

- Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm của Hê-ghen, Phơ-bách đã không biết rút ra

từ đó cái “hạt nhân hợp lý”, mà đã vứt bỏ luôn cả phép biện chứng của Hê ghen

- Mặc dù còn những hạn chế, triết học của Phơ-bách vẫn có ý nghĩa to lớn trong lịch sử triết

học và trở thành một trong những nguồn gốc lý luận quan trọng của triết học Mác

Ngày đăng: 05/12/2015, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w